Quyền dân tộc tự
quyết, quyền tự do tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các tôn giáo
được bảo đảm
Mọi người dân Việt Nam được pháp luật bảo đảm để tự do theo
hoặc không theo tôn giáo; mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền tự do tôn
giáo của người dân đều bị trừng trị.
Phật giáo: Số lượng tín đồ Phật giáo được thống kê vào năm
1999 là 7,1 triệu người, hiện nay là 10 triệu người;
Các dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển; ngày
nay đó chính là việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa đồng
bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo là nguyên tắc cơ bản trong quan điểm,
chính sách dân tộc, tôn giáo.
Hệ thống chính
trị vùng đồng bào dân tộc và miền núi, đồng bào tôn giáo được tăng cường và
củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân
tộc và miền núi, vùng tôn giáo cơ bản ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ
vững.
Đời sống vật
chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, miền núi và đồng bào tôn giáo được
cải thiện[1].
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được hình thành, phát
triển. Đã hình thành nhiều vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp như: cà
phê, chè, hồ tiêu, điều với số lượng lớn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được
kết quả to lớn, hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu và miền núi giảm
đáng kể.
Trình độ dân trí của
đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo từng bước được nâng lên, đã hoàn
thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; văn hoá truyền thống của
các dân tộc thiểu số, các tôn giáo được tôn trọng, bảo tồn và phát huy; Việc
khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày
càng được quan tâm.
[1] Tổng cục Thống Kê: Tổng điều tra dân số
1.4.2019. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được
cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn
4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét