Thứ Tư, 28 tháng 4, 2021

Không thể đánh lừa, mê hoặc tuổi trẻ Việt Nam .

Gần đây, trên một số trang mạng, các thế lực thù địch lại tuyên truyền xuyên tạc, chống phá, hòng mê hoặc, gây phân tâm, tác động tiêu cực đến niềm tin của thế hệ trẻ Việt Nam đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây vẫn là thủ đoạn cũ, những ý kiến "lạc điệu", nhạt nhẽo... mà họ đã từng thực hiện trong những năm qua. . Về thời điểm, họ tập trung vào dịp diễn ra các sự kiện chính trị của đất nước, lần này là đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và tháng 3-2016 tới, chúng ta kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Về luận điệu, họ tiếp tục phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, "soi mói" một số hạn chế, khuyết điểm, một số vụ việc mang tính đơn lẻ để phê phán, phủ nhận đường lối lãnh đạo và thực tiễn những thành tựu to lớn, quan trọng của công cuộc đổi mới đất nước, hòng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng và kêu gọi nhân dân, nhất là thế hệ trẻ chống lại Đảng, Nhà nước, chế độ... Về đối tượng, họ tập trung vào lực lượng quân đội, công an, học sinh, sinh viên, trong đó thanh niên là một mục tiêu trọng điểm chống phá, nhằm tạo hiệu ứng tiêu cực ra toàn xã hội… Về giọng điệu, các thế lực thù địch đã có sự điều chỉnh, vừa tỏ ra hằn học, thậm chí sử dụng nhiều ngôn từ “vô văn hóa” để minh chứng cho luận điệu sai trái của họ, nhưng lại rất “mềm dẻo” khi nói về vai trò của tuổi trẻ Việt Nam, từ đó đánh đồng một số gương mặt cơ hội chính trị, những phần tử “thanh niên” phản cách mạng… để rồi đi đến kết luận: “Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đã có sự chuyển hướng về suy nghĩ…”-thực chất, họ ám chỉ là sự chuyển hướng về chính trị. Và họ kêu gọi: “Mong rằng ý thức ấy ngày càng phát triển vững mạnh, đông đảo, tạo thành dòng thác cách mạng…”. Thoáng nghe qua, những luận điệu trên có vẻ khách quan, nhất là khi họ ngụy biện rằng: Tư duy của con người sẽ thay đổi để phù hợp với cuộc sống; và rằng: Nếp nghĩ hôm nay sẽ không là nếp nghĩ của ngày mai, mà nó sẽ biến dạng để thích nghi… Nhưng thực chất sâu xa, đây là âm mưu đánh đổ niềm tin của thanh niên Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng, vào tiền đồ tương lai tươi sáng của đất nước, mà trong đó tuổi trẻ Việt Nam, sức trẻ Việt Nam có đóng góp quan trọng. Nguy hại hơn là âm mưu của chúng kích động thanh niên, sinh viên phai nhạt mục tiêu, lý tưởng phấn đấu, thay đổi “ý thức hệ”, từng bước làm giảm, tiến tới mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Đoàn, lực lượng thanh niên; kích động thanh niên, sinh viên chống đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, đòi đa nguyên, đa đảng… Tuy nhiên, khi đưa ra những luận điệu trên, một số cá nhân có tư tưởng thù địch, phản động lại thiếu hiểu biết, hoặc cố tình “không hiểu” thực tiễn sống động ở Việt Nam, qua đó tiếp tục khẳng định sự đúng đắn, tính cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của tuổi trẻ, những đoàn viên, thanh niên cộng sản thế hệ Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn xác định thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng, là “Lực lượng quan trọng của dân tộc”; “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”(1). Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thanh niên thành lực lượng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc. Đương nhiên, ở từng thời kỳ, Đảng luôn có sự đổi mới trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác thanh niên để phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, nhằm phát huy cao độ nhiệt huyết chính trị, sức mạnh và tinh thần cống hiến của tuổi trẻ Việt Nam cho Tổ quốc, cho nhân dân. Kế tục truyền thống đánh giặc, giữ nước của ông cha ta, ngay từ khi cách mạng Việt Nam còn trong trứng nước, biết bao thanh niên Việt Nam yêu nước đã tự nguyện đứng lên cùng dân tộc chống áp bức, bất công, tiêu biểu là tấm gương của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp thế giới, đến với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tìm ra “cẩm nang cách mạng” đúng đắn để cứu nước, giải phóng dân tộc từ khi tuổi đời còn rất trẻ. Cũng phải nhắc lại để những kẻ đang cố tình “lập lờ” về ý thức hệ của thanh niên Việt Nam hiểu rõ rằng: Ngay từ giữa năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, tổ chức cách mạng Việt Nam đầu tiên có xu hướng cộng sản được hình thành, đó là: Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, với 9 hội viên là những thanh niên Việt Nam đầu tiên được Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giác ngộ, kết nạp đưa vào tổ chức. Sự xuất hiện của nhóm thanh niên cách mạng này tuy còn nhỏ bé, nhưng đó là thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên mới, một sự kiện quan trọng mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam. Tiếp đó, sự xuất hiện của Nhóm thiếu nhi cộng sản đầu tiên của Việt Nam vào năm 1926 với 8 thiếu nhi đầu tiên là quá trình chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, lực lượng để hình thành tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào tháng 3-1931, sau khi Đảng ta ra đời một năm. Lịch sử vẻ vang của cách mạng Việt Nam và truyền thống gần 85 năm xây dựng, phấn đấu, trưởng thành của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cho thấy: Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nhà nước luôn coi trọng việc quản lý thanh niên và công tác thanh niên, thể chế hóa thành pháp luật, chính sách, chiến lược, đề án phát triển. Về phần mình, các thế hệ đoàn viên, thanh niên Việt Nam đều thể hiện sự kiên định vững chắc Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nguyện suốt đời phấn đấu theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì đó là lý luận và thực tiễn đã giải phóng và đem đến sự phát triển đúng đắn của cả dân tộc; vì đó là nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam, là điều kiện phát triển, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi thanh niên Việt Nam. Thực tiễn cũng cho thấy, trong mọi thời kỳ cách mạng, thanh niên Việt Nam luôn nêu cao tinh thần yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; chưa khi nào và không bao giờ thiếu niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và tiền đồ tươi sáng của đất nước. Thanh niên Việt Nam trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong thời kỳ kiến thiết đất nước sau chiến tranh, cũng như thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước luôn nêu cao tinh thần xung phong, tình nguyện, xung kích đi đầu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Về sự phát triển của thanh niên ngày nay, Đảng ta đã nhận định: Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước là đã xây dựng được thế hệ thanh niên thời kỳ mới có đạo đức, nhân cách, tri thức, sức khỏe, tư duy năng động và hành động sáng tạo; tiếp nối truyền thống hào hùng của Đảng và dân tộc, nêu cao lòng yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; không ngại khó khăn, gian khổ, tình nguyện vì cộng đồng; có trách nhiệm với gia đình, xã hội; có ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; mong muốn được tin tưởng, cống hiến cho đất nước, có việc làm, thu nhập ổn định, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh phong phú, môi trường sống an toàn. Dù còn có những tâm trạng khác nhau, song tuyệt đại đa số thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và phát triển của đất nước… Đồng thời Đảng ta tiếp tục khẳng định, thanh niên “là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước"(2). Với bề dày truyền thống gắn bó, cống hiến, hy sinh của thanh niên Việt Nam cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta; với hàng vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú tự nguyện phấn đấu để được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam mỗi năm; với hàng nghìn công trình, phần việc thanh niên tiêu biểu, hầu hết ở những nơi “cần thanh niên” và nơi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy đã được gắn biển, vinh danh. Với hình ảnh hàng chục nghìn đoàn viên, thanh niên thủ đô Hà Nội và các địa phương tự tập hợp nghiêm trang đứng dưới cờ Đảng, cờ Tổ quốc hát vang Quốc ca, Đoàn ca, thể hiện tình yêu đất nước nồng nàn và khát vọng cống hiến. Với chương trình sử thi nghệ thuật ấn tượng sâu sắc “Niềm tin Việt Nam - sức mạnh Việt Nam” của hơn 10.000 thanh niên quân đội tại Quảng trường Ba Đình lịch sử cùng sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân và cựu chiến binh. Hoặc câu chuyện xúc động do đảng viên trẻ Lê Hoài Thu ở U-crai-na kể tại buổi tọa đàm “Triệu tấm lòng - một niềm tin” vào Đảng, với việc nhiều thanh niên, sinh viên Việt kiều ở Ki-ép (Thủ đô của U-crai-na) tổ chức thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng hơn một nửa số người tham dự và các em sinh ra, lớn lên ở đây không nói sõi tiếng Việt, khi kể chuyện các em còn ấp úng, nhưng trong mỗi câu chuyện đều thể hiện tình cảm sâu sắc của mình với quê hương, với Bác Hồ - đó cũng là tình yêu thiết tha với Đảng. Tất cả những điều đó cho thấy: Thanh niên Việt Nam đã và sẽ tiếp tục tuyệt đối tin tưởng và trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, luôn xung kích, sáng tạo, phát huy tốt vai trò, trọng trách nặng nề, nhưng hết sức vẻ vang của mình trong sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế đó khẳng định, không bao giờ có chuyện “chuyển hướng suy nghĩ” của thanh niên và những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kích động, bóp méo sự thật… của các thế lực thù địch càng trở nên nhạt nhẽo, lạc điệu, theo kiểu “tự nói, tự nghe” mà thôi!

Phát huy vai trò nòng cốt tiên phong của giai cấp công nhân và đội ngũ công nhân, viên chức, lao động cả nước .

Sáng 28/4, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 135 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 – 1/5/2021), phát động Tháng Công nhân, Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2021. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới dự và có phát biểu tại buổi lễ. . Cùng dự có các đồng chí: nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Ban, Bộ, ngành Trung ương và thành phố Hà Nội. Suốt 135 năm qua, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới luôn khẳng định vị thế cách mạng, đi đầu trong mọi trào lưu, xu hướng tiến bộ trên toàn cầu. Tại Việt Nam, Ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã trở thành ngày lễ quốc gia với Sắc lệnh số 22c do Chủ tịch Hồ Chí Minh kí ban hành vào ngày 18/2/1946 và Sắc lệnh số 56 ngày 29/4/1946 quy định cụ thể, chi tiết hơn về việc hưởng lương ngày nghỉ Lễ Quốc tế Lao động 1/5. Sau 35 năm đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện khát vọng dân tộc. Trong diễn văn kỷ niệm, Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam Nguyễn Đình Khang khẳng định: Tinh thần Ngày Quốc tế Lao động 1/5 đã gắn kết chặt chẽ giai cấp công nhân với vô sản cần lao quốc tế, với các giai cấp tầng lớp khác trong xã hội. Từ tinh thần đoàn kết đó, giai cấp công nhân Việt Nam đã khẳng định vai trò sứ mệnh lịch sử là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là lực lượng nòng cốt trong liên minh công nông, trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng; có những đóng góp to lớn trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Tháng 5 hằng năm cũng được coi là tháng cao điểm tổ chức các hoạt động chăm lo cho đoàn viên, người lao động về mọi mặt, cả vật chất, tinh thần và sức khỏe. Và vì thế, Tháng 5 hàng năm đã trở thành khoảnh khắc chờ đợi của rất nhiều đoàn viên, người lao động và cán bộ công đoàn. Vào tháng 5, các cấp Công đoàn sẽ tổ chức hàng loạt các hoạt động khác nhau hướng về người lao động. Năm 2021 là năm thứ 2 Tháng Công nhân và Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động được đồng thời phát động nhằm tăng cường nguồn lực, sức mạnh, giúp cho hoạt động của Tháng Tháng Công nhân và Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động được gắn kết, hướng tới hiệu quả thiết thực. Đây cũng là năm thứ 10 các cấp Công đoàn triển khai Tháng Công nhân theo kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng. Năm 2021, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chọn chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, vượt khó, phát triển” gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, trong đó tập trung vào các chương trình: “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển” - tuyên dương đoàn viên, công nhân, viên chức, lao động; “Lắng nghe - Thấu hiểu - Chia sẻ”; các hoạt động “Cảm ơn người lao động”. Đến nay, Chương trình: “75 nghìn sáng kiến, vượt khó, phát triển” đã nhận được hơn 245 nghìn sáng kiến của công nhân viên chức lao động cả nước… Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt tới giai cấp công nhân, người lao động và tổ chức công đoàn. Đặc biệt là sau 30 năm đổi mới, công nhân và người lao động đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện khát vọng dân tộc. Chủ tịch nước biểu dương các cấp Công đoàn đã thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Bí thư luôn nỗ lực, sáng tạo triển khai các hoạt động có ý nghĩa để gần 10 năm qua Tháng Công nhân thực sự trở thành những ngày hội của công nhân, viên chức, lao động cả nước. Chủ tịch nước đánh giá cao các sáng kiến của đoàn viên, người lao động cả nước vì sự lớn mạnh của doanh nghiệp của cơ quan, đơn vị và sự phát triển của đất nước. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: Chúng ta rất thấu hiểu những khó khăn vất vả mà người mọi người công nhân nói riêng và người lao động nói chung đã và đang trải qua trong bối cảnh Việt Nam cũng như toàn thế giới đang đấu tranh phòng, chống dịch COVID-19, mất việc làm, thu nhập, giảm sút các chế độ phúc lợi bị cắt giảm, đặc biệt cuộc sống của những người lao động ở khu vực phi chính thức sẽ còn khó khăn hơn. Đảng, Nhà nước rất quan tâm, thực hiện nhiều biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả, hoàn thành mục tiêu kép để kinh tế chóng phục hồi, thu nhập sẽ tăng trở lại và nhiều việc làm mới sẽ tạo ra không chỉ bù đắp cho giai đoạn vừa rồi mà còn tạo ra sức bật cho sự phát triển tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trên tinh thần đó, Chủ tịch nước đề nghị Tổ chức Công đoàn cần sớm xây dựng chương trình hành động của Công đoàn Việt Nam thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đảm bảo khoa học cụ thể, khả thi. Trong đó, tập trung lựa chọn các nội dung liên quan trực tiếp đến lao động, công đoàn, phát huy vai trò nòng cốt tiên phong của giai cấp công nhân và đội ngũ công nhân, viên chức, lao động cả nước. Cùng với đó, các cấp Công đoàn cần tiếp tục đổi mới cách thức hoạt động hướng đến thực hiện nhiệm vụ đại diện, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của công nhân. Tại buổi Lễ, thay mặt Ban Chỉ đạo Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động Trung ương, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung phát động Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2021 với chủ đề “Tăng cường đánh giá, kiểm soát các nguy cơ, rủi ro về An toàn, vệ sinh lao động và tham gia của an toàn vệ sinh viên”. Triển khai Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động năm 2021, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chỉ đạo các cấp Công đoàn tăng cường công tác thông tin tuyên truyền; triển khai các phong trào thi đua và nâng cao hiệu quả phong trào quần chúng làm công tác an toàn vệ sinh lao động gắn với công tác phòng, chống dịch COVID-19; đẩy mạnh việc phát triển về số lượng, đồng thời nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của mạng lưới an toàn vệ sinh viên ở các cơ sở sản xuất; khen thưởng kịp thời đoàn viên, người lao động có các sáng kiến, giải pháp cải tiến kỹ thuật, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao năng suất lao động và bảo đảm an toàn vệ sinh lao động; tăng cường các hoạt động phối hợp trong thanh tra, kiểm tra, giám sát an toàn vệ sinh lao động.../.

Đổi mới mà không "đổi màu" .

Một “nhà dân chủ” nổi danh trên bàn phím thời gian qua, sau khi đã vắt kiệt trí lực của mình để tìm cách chê bai thành tựu 30 năm đổi mới của Việt Nam, rốt cục cũng phải thừa nhận một thực tế là sau 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn vững vàng “danh chính ngôn thuận” trên cương vị là Đảng cầm quyền của Việt Nam. Đây cũng là điều trái ngược hoàn toàn với suy đoán của những người thiếu thiện chí với Việt Nam thời kỳ đầu đổi mới. Những ngày gần đây, lướt qua một số báo mạng điện tử tiếng Việt như BBC, RFA, VOA… điều khiến nhiều người phải bật cười là những bài viết “thi” nhau dự đoán tương lai của Việt Nam vào cuối năm 2016. Họ tiên đoán điều gì? Những người tự xưng là tiến sĩ A, tiến sĩ B ấy đoán rằng các tổ chức “công đoàn độc lập”, “đảng phái đối lập” sẽ đua nhau mọc lên, dù chưa được pháp luật công nhận nhưng sẽ “cạnh tranh hòa bình” với Đảng Cộng sản Việt Nam? Họ còn thể hiện “trình độ” bằng dự đoán rằng, cuối năm 2016, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ “ngấm ngầm thừa nhận xu thế đa nguyên, đa đảng là không thể đảo ngược”. Vì sao họ phải tìm cách hà hơi, tiếp sức ầm ĩ cho những dự đoán viển vông như vậy? Ngược dòng lịch sử, trở lại với thực trạng Việt Nam những năm đầu đổi mới thì mới thấy những gì mà họ đang ra sức “khuếch đại” hôm nay vẫn là sự “tiếp âm” những bài vè lạc điệu của 30 năm trước. Vào giai đoạn đó, trước những khó khăn chồng chất tưởng như không thể vượt qua nổi của cách mạng Việt Nam, nhiều “chuyên gia lật đổ” đã phán như “đinh đóng cột” rằng, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và những yếu tố tác động khác, Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ đánh mất vai trò lãnh đạo. Thậm chí, có người còn viết sách rêu rao rằng “Năm 1999-chiến thắng không cần chiến tranh”. Với những suy đoán từ bên ngoài như vậy, không ngạc nhiên khi nhiều kẻ cơ hội đã nhân lúc Đảng ta khởi xướng và bắt đầu sự nghiệp đổi mới, vội chạy ra nước ngoài, lớn tiếng tuyên bố “trở cờ” với hy vọng sẽ trở về tranh giành quyền lãnh đạo với Đảng Cộng sản khi nước nhà “có biến”. Trong hành trình đổi mới gian nan ấy, cũng đã có không ít cán bộ, đảng viên, thậm chí cả cán bộ cấp cao ngã lòng, hoang mang, dao động, thiếu niềm tin vào Đảng và con đường CNXH, “tự chuyển hóa” sang hàng ngũ cơ hội, thậm chí phản động. Nhìn lại những chuyện buồn cùng những võ đoán về vai trò của Đảng từ chặng đường 30 năm qua là để thấy rõ hơn quá trình trưởng thành, ngày càng dạn dày kinh nghiệm, ngày một bản lĩnh vững vàng hơn của Đảng ta hiện nay, với tư cách Đảng cầm quyền. Ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã khẳng định những vấn đề có tính nguyên tắc, đó là “đổi mới mà không đổi màu”, là kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dự thảo Hiến pháp 2013 với 27 triệu lượt ý kiến góp ý rộng rãi trong nhân dân, được Quốc hội thông qua với tỷ lệ ủng hộ rất cao, trong đó Điều 4 khẳng định một vấn đề nguyên tắc: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tính chính danh của Đảng thêm một lần nữa được công nhận và hiến định. Nhắc lại Điều 4 Hiến pháp 2013 là để chúng ta cùng nhận thấy rõ hơn thành tựu 30 năm đổi mới. Đây là một sự ghi nhận của lịch sử dân tộc, một sự chính danh vốn được xác lập từ Cách mạng Tháng Tám-1945. Vấn đề càng được khẳng định rõ ràng hơn khi chúng ta tham khảo kết quả khoa học được rút ra từ một công trình nghiên cứu do Viện Phát triển quốc tế Harvard (Hoa Kỳ) và Quỹ SIDA (Thụy Điển) tiến hành tại Việt Nam. Công trình này cho rằng: “So với các chế độ cộng sản cùng đang cải cách khác, Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng… Năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Đảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục được Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Đảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản và đảng viên của Đảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam”. Công trình này cũng đưa ra dự báo: “Ở Việt Nam trong tương lai khó có thể hình dung cơ sở xã hội cho việc xây dựng một đảng có khả năng cạnh tranh với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Rõ ràng, qua 30 năm đổi mới, Đảng ta đã vượt qua những thử thách của lịch sử, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn, là tổ chức chính trị duy nhất của dân tộc có thể đề ra đường lối đáp ứng yêu cầu lịch sử, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, phù hợp quy luật khách quan của sự phát triển trong thế giới đầy biến động hiện nay. Đoàn kết “Đảng-Dân”, “Đảng-Nhà nước” Càng gần đến ngày Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, trên các trang mạng phản động xuất hiện càng nhiều các bài viết chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài việc ra sức phủ nhận những thành tựu của công tác xây dựng Đảng, họ còn tìm mọi cách xuyên tạc, phá hoại mối liên hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, giữa Đảng với Nhà nước. Những bài viết của họ, dù che giấu ý đồ, ngụy trang bằng những xảo thuật ngôn từ cỡ nào, cuối cùng cũng bộc lộ ra bằng thái độ, lời lẽ phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy thoái, biến chất, xa dân (thậm chí họ còn rêu rao là Đảng đã phản bội dân). Một hoạt động đơn giản như công tác diễn tập bảo vệ an ninh trước thềm Đại hội Đảng, một việc làm vốn dĩ rất bình thường, nước nào cũng phải làm như vậy thì họ cho rằng đó là biểu hiện Đảng không tin dân, Đảng sợ dân?... Hay như chuyện Đảng thảo luận công tác nhân sự theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chặt chẽ, kín kẽ, công phu, chu đáo, cụ thể, tỉ mỉ thì họ cho rằng Đảng “cướp” quyền được bàn của dân, hô hào Đảng ta phải “trả lại chính quyền cho nhân dân”. Toàn bộ những la lối um xùm của họ không thể làm mờ đi những giá trị, thành quả to lớn của công tác xây dựng Đảng, mà trước hết là việc xây dựng, giải quyết các mối quan hệ lớn giữa Đảng với Nhân dân, Đảng với Nhà nước. Trong thành tựu to lớn về xây dựng Đảng 30 năm qua, trước hết phải kể đến thành tựu Đảng ta xác định rõ hơn, đầy đủ hơn bản chất của Đảng. Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Bản chất Đảng được diễn đạt như thế, vừa khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, vừa khẳng định nét đặc thù của Đảng ta theo sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp thực tế Việt Nam và đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, 30 năm qua là 30 năm Đảng ta nỗ lực cao độ, không ngừng nâng cao trình độ, nhận thức ngày một rõ hơn yêu cầu đối với một Đảng lãnh đạo, Đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong 30 năm đổi mới không chỉ là một thành tựu, mà còn là một sáng tạo của Đảng ta góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lê-nin trong tình hình mới. Mác, Ăng-ghen và các nhà cách mạng cùng thời chưa đề cập gì đến vấn đề này. Chỉ từ sau Cách mạng Tháng Mười, Đảng Cộng sản Liên Xô mới dần đưa ra khái niệm Đảng cầm quyền. Tuy nhiên, thời kỳ các nước XHCN còn tồn tại như một hệ thống, Liên Xô và các nước XHCN còn nhiều cách hiểu không đúng về “đảng cầm quyền”, cho nên có nhiều việc làm không phù hợp, bên cạnh hiện tượng buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng, tình trạng khá phổ biến là Đảng làm thay chính quyền, bận rộn với các công việc quản lý Nhà nước và của các tổ chức kinh tế khiến Đảng gần như cũng là cơ quan quyền lực nhà nước, đứng trên Nhà nước. Trong 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn ra hạn chế này và trên thực tế đã đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo của Đảng, không chỉ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị mà còn đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Hiến pháp 2013, thể chế hóa Cương lĩnh 2011 của Đảng khẳng định: Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống đó. Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của Nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Khi nói Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là nói Đảng lãnh đạo toàn bộ xã hội, thông qua bộ máy Nhà nước quy tụ và phát huy sức mạnh của toàn thể nhân dân để làm cho quan điểm của Đảng giữ vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của xã hội; mục tiêu, đường lối của Đảng được thực hiện trong toàn xã hội. Qua thực tế đổi mới, chúng ta ngày càng nhận thấy rõ ràng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước là hai mặt thống nhất, không cản trở nhau, trái lại, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trên cơ sở xác định rõ và làm đúng chức năng của hai tổ chức. Đảng cầm quyền là định ra đường lối, chủ trương, lãnh đạo Nhà nước đưa đường lối, chủ trương đó vào nội dung hoạt động của Nhà nước, thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành chính sách, luật pháp và quản lý, điều hành, tổ chức việc thực hiện. Một giải pháp lãnh đạo có tính quyết định là Đảng lựa chọn, đề cử những cán bộ, đảng viên có uy tín, phẩm chất, năng lực vào hoạt động trong các cơ quan Nhà nước, đồng thời có cơ chế kiểm tra hoạt động của các đảng viên đó. Các đảng viên hoạt động trong cơ quan Nhà nước có trách nhiệm chấp hành các quyết định của Đảng, phục tùng kỷ luật của Đảng; vận động, thuyết phục các cơ quan và công chức, viên chức thực hiện các quan điểm, đường lối của Đảng và đưa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiện thực; luôn lắng nghe ý kiến của các cơ quan Nhà nước để kiến nghị với Đảng, kịp thời điều chỉnh các chủ trương, chính sách chưa phù hợp. Như vậy, với quy trình đó, mỗi kỳ đại hội của Đảng, việc Đảng ta tiến hành chặt chẽ, công phu, thận trọng, tỉ mỉ công tác nhân sự chính là để lựa chọn, đề cử với dân (thông qua các cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) những đảng viên có đủ đức, đủ tài đảm đương các vị trí trong cơ quan Nhà nước. Làm như vậy là sự thể hiện trách nhiệm rất cao của Đảng trước Nhân dân, chứ không hề là sự “chia chác”, là “cướp quyền” của Nhân dân như một số trang mạng thù địch, phản động vẫn thường rêu rao. Một thành tựu to lớn không thể phủ nhận là mối liên hệ đoàn kết chặt chẽ giữa Đảng với Nhân dân được thể hiện rất phong phú, sinh động trong suốt tiến trình đổi mới. Trước hết cần khẳng định, mục tiêu duy nhất và lớn nhất của Đảng khi tiến hành sự nghiệp đổi mới là để phục vụ lợi ích của Nhân dân, ngoài lợi ích của Nhân dân, Đảng đổi mới không nhằm bất kỳ lợi ích nào khác. Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân là một trong những nhân tố quyết định tạo ra sức mạnh của Đảng. Đây là mối quan hệ “tin cậy lẫn nhau”, “tín nhiệm lẫn nhau”, là quá trình làm cho “lòng dân” với “ý Đảng” luôn hòa hợp làm một. Thực tế 30 năm đổi mới, Đảng ta luôn gắn bó chặt chẽ với Nhân dân, được Nhân dân ủng hộ, giúp đỡ hết lòng. Và chính nhờ như thế mà Đảng đã vượt qua những thử thách, khó khăn tưởng chừng như không vượt qua nổi. Thời gian gần đây, Đảng có nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nghiêm khắc nhìn lại chính mình, thẳng thắn thừa nhận tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa vào suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để có hệ thống giải pháp đồng bộ khắc phục tình trạng này. Những nỗ lực của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Nhân dân ghi nhận là đã góp phần siết lại kỷ cương, có tác dụng cảnh báo, răn đe, cảnh tỉnh và ngăn chặn các hành vi tiêu cực, tạo tiền đề đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng trong thời gian tới. Hơn ai hết, Đảng ta nhận rõ nguy cơ lớn nhất và đáng sợ nhất đối với một Đảng cầm quyền là sự quan liêu, xa dân, làm mất tình cảm và sự tin yêu của Nhân dân. Điểm qua những thành tựu của Đảng trong giải quyết các mối quan hệ Đảng-Dân, Đảng-Nhà nước như vậy để thấy rằng: Ba mươi năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch, phản động tìm mọi cách tiến công vào Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng Đảng ta luôn vững vàng, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc và CNXH, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định đường lối đổi mới, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện Đảng cầm quyền, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng vừa phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch; vừa phải tự khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, yếu kém của chính mình. Với những điều tốt đẹp đã làm được sau 30 năm đổi mới, được nhân dân thấu hiểu, tin cậy và ủng hộ, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất định sẽ từng bước tiến lên hoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng và lòng mong đợi của Nhân dân./.

Không nên nhìn nhận văn hóa ở Việt Nam dưới con mắt… “thầy bói xem voi”!

Khi nhìn nhận, đánh giá về bức tranh văn hóa ở Việt Nam, thời gian qua, nhìn từ một số hoạt động văn hóa thiếu lành mạnh, chưa chuẩn mực trong đời sống xã hội, một số ý kiến vội vã cho rằng, môi trường văn hóa xã hội bị vẩn đục, đời sống văn hóa của người dân nghèo nàn, tù túng; văn hóa đạo đức xuống cấp trầm trọng. Thậm chí có ý kiến còn “lập luận” là “người dân Việt Nam bị “o bế” vào một thứ văn hóa độc đoán, không dám “mở miệng”, ít có điều kiện tiếp cận với thế giới văn minh ở bên ngoài...(!) Những ý kiến trên hoặc là nhìn nhận theo kiểu “thầy bói xem voi”, thiếu thấu đáo, khách quan, toàn diện do chỉ nhìn vào hiện tượng hời hợt bên ngoài rồi quy kết thành bản chất; hoặc là cố tình “nghiêm trọng hóa vấn đề” do cái nhìn thiếu thiện chí, động cơ chính trị lệch lạc, sai trái. Dù trong thực tế, đời sống văn hóa của một bộ phận người dân chưa phong phú, văn hóa đạo đức có mặt xuống cấp, hiện tượng sùng bái văn hóa nước ngoài chưa được ngăn chặn hiệu quả, một số hoạt động văn hóa thiếu lành mạnh chưa bị đẩy lùi... nhưng những hạn chế, bất cập đó không phải là “dòng chủ lưu chính” của văn hóa Việt Nam. Do đó, khi xem xét, đánh giá về thành tựu văn hóa của một đất nước, phải nhìn toàn diện từ hệ thống cơ chế, chính sách, pháp luật đến quá trình triển khai tổ chức thực hiện và đặc biệt là hiện thực sinh động đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân. Đi đôi với việc chăm lo phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống dân sinh, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chú trọng xây dựng môi trường văn hóa và nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân. Năm 1998, sau khi Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) của Đảng về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được ban hành, trong 18 năm qua, Đảng, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hơn 140 nghị quyết, chỉ thị, luật, nghị định, quyết định... liên quan đến lĩnh vực văn hóa nhằm tạo cơ chế, hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy văn hóa của đất nước phát triển. Không ngẫu nhiên mà có tổ chức quốc tế đã từng đánh giá dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc hạnh phúc và có chỉ số lạc quan thuộc loại cao hàng đầu trên thế giới. Dù rất thận trọng khi tiếp nhận lời đánh giá đó từ bên ngoài, nhưng xem xét một cách khách quan, điều nhận định ấy ít nhiều có cơ sở. Bởi khi nhìn vào một quốc gia, ngoài sức mạnh vật chất và tiềm lực kinh tế, người ta còn xem xét cả sức mạnh văn hóa và tiềm lực tinh thần của cộng đồng dân tộc. Việt Nam tuy chưa phải là một quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh, song đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân đã và đang trên đà phát triển lành mạnh. Người dân ngày càng có điều kiện hưởng thụ các giá trị văn hóa tốt đẹp không chỉ ở trong nước, mà còn tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại để không ngừng làm giàu đời sống tâm hồn của mình. Thành quả đó có được là nhờ công cuộc “chấn hưng văn hóa” từ năm 1986 đến nay. Điều này cũng phù hợp với nhận định của bà Pha-ri-đa Sa-hit (Farida Shaheed), Báo cáo viên đặc biệt về quyền văn hóa của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, trong dịp đầu năm 2015: “Việt Nam đã có những kết quả nổi bật trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ cũng như cải thiện các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là việc mở rộng tiếp cận của người dân với giáo dục và văn hóa tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa”.

Tăng cường vị thế văn hóa dân tộc trong hội nhập quốc tế

Một thành tựu văn hóa rất đáng kể trong thời kỳ đổi mới là chúng ta không chỉ chú trọng bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc, mà còn tiếp thu có chọn lọc nhiều loại hình, sinh hoạt văn hóa có xuất xứ từ nước ngoài. Bên cạnh tăng cường nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước ngoài như phim, ảnh, sách, băng đĩa ca nhạc và đón hàng trăm đoàn, nhóm ca sĩ, nghệ sĩ của các nước đến Việt Nam tham gia biểu diễn và giao lưu với công chúng, chúng ta cũng chứng kiến sự “bùng nổ” của rất nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa mới như các cuộc thi sắc đẹp, khiêu vũ, nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn, pop-art, video-art, digital-art... Nhiều lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam cũng được giới trẻ nhiệt tình đón nhận như: Ngày lễ Tình yêu (Valentine 14-2), Lễ hội hóa trang Halloween (31-10), Ngày lễ Giáng sinh (Noel 25-12)... Những hình thức văn hóa mới này vừa làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam, vừa khẳng định chính sách nhất quán của Nhà nước ta là luôn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được tiếp cận, hưởng thụ các giá trị văn hóa tiến bộ, nhân văn cả ở trong nước và nước ngoài. Chính sách mở cửa, hội nhập với thế giới cũng tạo điều kiện cho hình ảnh văn hóa Việt Nam tỏa sáng trên bầu trời nhân loại. Kể từ năm 1993, sau khi quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, đến nay, Việt Nam đã có 20 di sản được vinh danh. Điều đáng nói là, trong số 20 di sản văn hóa thế giới của Việt Nam được UNESCO vinh danh trong hơn hai thập niên qua, chỉ có 2 di sản thiên nhiên và 1 di sản hỗn hợp, còn lại là 17 di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Đấy là chưa kể đầu tháng 12-2015 vừa qua, di sản Kéo co của 4 nước Việt Nam, Cam-pu-chia, Phi-líp-pin và Hàn Quốc đã được ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Những ví dụ sinh động này trái ngược hẳn với ý kiến thiển cận cho rằng, văn hóa Việt Nam “không chịu hội nhập với văn hóa nhân loại” (!). Văn hóa không chỉ là diện mạo, hình ảnh của quốc gia, mà còn là sức sống bền bỉ và sức mạnh to lớn của cộng đồng dân tộc. Việc Việt Nam chú trọng quan tâm thúc đẩy phát triển văn hóa không chỉ nhằm củng cố, tăng cường “sức mạnh mềm” của đất nước, mà còn khẳng định vị thế văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Vì vậy, cùng với những thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, những thành tựu về văn hóa đã minh chứng con đường đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta được khởi xướng từ năm 1986 là hoàn toàn đúng đắn, hợp xu thế thời đại và là tiền đề, động lực để thúc đẩy đất nước ta tiếp tục phát triển trong những năm tới.

Sự thật bằng vàng

Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập đến nay, trải qua 91 mùa xuân, gắn bó thủy chung, máu thịt cùng Tổ quốc Việt Nam, nhân dân Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cùng nhân dân, đất nước làm nên những điều kỳ diệu, đã đưa một đất nước phong kiến nửa thuộc địa, nghèo nàn, lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, thành một nước độc lập, tự do, dân chủ, là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng hàng đầu trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, là điểm đến tin cậy của các nhà đầu tư hàng đầu quốc tế, là đối tác chiến lược của các cường quốc năm châu, là nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong Cộng đồng ASEAN. . Đạt được thành quả đó là nhờ sự hi sinh không tiếc máu xương của hàng triệu đảng viên cộng sản, quần chúng nhân dân để giành độc lập, bảo vệ chủ quyền đất nước; là sự phát huy trí tuệ cao độ của toàn Đảng, toàn Dân, toàn quân trong 30 năm của sự nghiệp đổi mới. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đang cận kề giờ khai mạc, toàn dân Việt Nam cũng như kiều bào ở nước ngoài đang hướng về, mong mỏi với vai trò là Đảng của dân tộc Việt Nam, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo sẽ chọn lựa được những con người đại diện cho trí tuệ của Đảng, tiếp tục dẫn dắt nhân dân Việt Nam đến những thắng lợi mới, thắng lợi của hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, giữ vững hòa bình, chủ quyền biển đảo quê hương. Tuy nhiên, bên cạnh sự mong mỏi của toàn dân vào thành tựu của sự nghiệp đổi mới, vào Đại hội XII của Đảng, thì vang lên đâu đó những tiếng hô hào lạc lõng, hay nói đúng hơn tiếng kêu gào thảm thiết kiểu Chí Phèo thời @ của những “nhà dân chủ”. Trước Hội nghị Trung ương 14 khóa XI của Đảng, họ tung lên tràn ngập các trang mạng xã hội, blog, facebook, những thông tin “như thật”, cứ như là đang trong cuộc họp nói ra! Mục đích của họ là chia rẽ đoàn kết trong Đảng, kích thích tâm lý đám đông, gây xáo trộn xã hội. Tâm địa của họ là kích động, gây tâm lý hoang mang, hòng giảm niềm tin của nhân dân với Đảng. Đi sâu vào mục đích của họ, ta thấy động cơ của những "nhà dân chủ" này, xin nói thẳng, họ làm vậy là để kiếm tiền, để tự đánh bóng bản thân, tìm chút hư danh trên mạng ảo, tự cho mình là trí tuệ đứng trên tất cả. Họ “dân chủ” đến mức nếu ai có ý kiến tích cực, trái chiều với họ thì bị họ chửi bới, đả phá không ra gì! Còn tại sao tôi nói là để kiếm tiền, bất kỳ bà con Việt kiều ở hải ngoại cũng không xa lạ với các "nhà dân chủ" trong nước. Thông qua việc tung tin, đồn nhảm trên facebook cũng để thực hiện mục đích xin tiền ở bên ngoài vì vụ lợi cá nhân mà thôi. Thật buồn cười, cho những người hôm qua mới là anh xe ôm, chị bán rau, anh nông dân, hôm nay vì bất mãn một việc nhỏ của cá nhân, gia đình hoặc bị dụ dỗ với vài đồng dollar đã trở "nhà dân chủ", phán chuyện đất nước như thánh, như thần. Và càng buồn cười hơn, khi các đầu sỏ “dân chủ” bí nguồn tiền thì lập tức nảy sinh chiêu trò bán vịt sạch, rau sạch, mít sạch, mứt dừa sạch… cho bà con nghèo khó để thu lãi khủng. Tất cả những tấm trò đời đó của các "nhà dân chủ"không qua được mắt của những người có trí tuệ, nhìn thẳng được bản chất thật của họ. Tôi, một Việt kiều, được sinh ra tại Việt Nam, lớn lên trên đất nước cờ hoa, có quốc tịch Mỹ, nhưng tôi chưa bao giờ quên nguồn cội của mình, gia đình tôi cũng vậy. Khép lại quá khứ đã qua, một thời khắc lịch sử khác sắp điểm, chúng tôi những người con xa xứ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì nhờ có Đảng, bà con dòng họ tôi được sống an bình, không mang một nỗi lo an ninh bất ổn như ở bên này; nhờ Đảng lãnh đạo mà bà con tôi làm ăn kinh tế bền vững, ai cũng có nhà riêng, có xe và có tài khoản gửi ngân hàng. Mặc dù, xã hội Việt Nam hiện tại vẫn còn có những điều đáng phải quan tâm, nhưng trên con đường phát triển lúc nào cũng phải trải qua chông gai. Là một người con nước Việt, tôi xin chúc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII thành công tốt đẹp! Đó là sự thật bằng vàng mà không một ai có thể chối cãi được./.

Vai trò sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định .

Trong lịch sử phát triển của dân tộc ta, việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1930) là sự kiện chính trị quan trọng đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Từ đó đến nay, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thực tiễn lịch sử ghi nhận và quy định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Dân tộc Việt Nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX khi chưa có Đảng chìm đắm trong đêm dài nô lệ, bởi sự nô dịch, đàn áp, bóc lột của thực dân-phong kiến. Nhưng từ khi có Đảng ra đời, tổ chức và lãnh đạo, cách mạng Việt Nam từng bước phát triển, giành những thắng lợi vĩ đại. Cách mạng Tháng Tám thành công là một dấu mốc lịch sử khởi đầu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta và tiếp đó là công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thắng lợi oanh liệt đó đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đúng đắn, sáng tạo. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc. Điều đó được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng của Đảng là lãnh đạo nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, tiến tới chủ nghĩa cộng sản; chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động; đồng thời, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng thường xuyên liên hệ mật thiết với quần chúng, lấy tự phê bình và phê bình làm phương châm hành động, quy luật phát triển... Cần khẳng định, việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với chủ nghĩa yêu nước, mà biểu hiện tập trung là sự kết hợp của phong trào công nhân với phong trào yêu nước của quần chúng cách mạng; mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và toàn thể nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định, Đảng ta không những là đảng của giai cấp công nhân, mà còn là đảng của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất. Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã khẳng định giai cấp công nhân và đảng tiên phong của mình đứng ở vị trí trung tâm, giữ vai trò lãnh đạo cách mạng; đồng thời, quyết định xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phù hợp với xu thế của thời đại, được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (1917). Cần nhấn mạnh rằng, đây là sứ mệnh lịch sử mà nhân dân, dân tộc Việt Nam đã tin cậy và trao cho Đảng, hoàn toàn mang tính hiện thực khách quan chứ không phải là sự chủ quan, áp đặt nào đó như một số người vẫn thường rêu rao, xuyên tạc, kích động. Với mục tiêu, lý tưởng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại, hoạt động không có lợi ích nào khác ngoài việc phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đã có biết bao cán bộ, đảng viên của Đảng anh dũng chiến đấu, hy sinh trong lao tù đế quốc, trên chiến trường chống ngoại xâm, giữ vững chí khí của người cộng sản để thực hiện một chân lý là đánh đổ đế quốc, tay sai, giành độc lập cho dân tộc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Trong thời bình, mặc dù phải đối mặt với những cám dỗ, tiêu cực của nền kinh tế thị trường, hội nhập, mở cửa, nhưng đại bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn giữ vững bản lĩnh chính trị vững vàng, trong sạch về phẩm chất đạo đức, lối sống, gắn bó máu thịt với nhân dân và trở thành tấm gương sáng, ấn tượng đẹp trong lòng nhân dân. Mặc dù vậy, trước những khó khăn, thách thức, phức tạp mới của tình hình hiện nay, Đảng ta càng phải không được chủ quan, tự mãn. Để làm tròn vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn; cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh, năng lực, trí tuệ, đạo đức cách mạng và phương pháp, tác phong công tác, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử, tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên. Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc nhất để nhân dân ta luôn giữ trọn niềm tin, một lòng đi theo Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời, cũng là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu thù địch hòng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng. Thực tiễn hơn 85 năm qua đã khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách chính đáng, hợp lòng dân, được lịch sử chấp nhận, Hiến pháp quy định và giao phó sứ mệnh mà không một lực lượng nào có thể thay thế được. Thực tiễn cũng cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng gặp không ít khó khăn, trở ngại, có lúc do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, hành động chưa đúng quy luật khách quan dẫn đến sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng là ở chỗ, mỗi khi phạm phải sai lầm, khuyết điểm, Đảng không bảo thủ, bàng quan, trái lại đều kiên quyết sửa chữa, thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm chính trị trước nhân dân, dân tộc. Nhưng, trớ trêu là một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình lờ đi điều ấy, hơn thế họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm đó và quy kết Đảng ta không đủ năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong điều kiện mới của đất nước. Cần phải dè chừng và hết sức tỉnh táo với những luận điệu thâm độc này. Đảng ta không né tránh và phủ nhận hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng trên và đề ra hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục đổi mới, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong Đảng đã tạo sự chuyển biến bước đầu, có tác dụng cảnh báo, răn đe, phòng ngừa những hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy, không thể vin vào những khuyết điểm, hạn chế, yếu kém hiện nay để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội về cho Đảng. Làm như vậy là “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, không thấy được bản chất cũng như công lao to lớn của Đảng đối với dân tộc. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc. Gần 86 năm đồng hành cùng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định được vai trò sứ mệnh lịch sử đối với cách mạng Việt Nam. Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, bước ngoặt lịch sử thì bản lĩnh, trí tuệ, ý chí của Đảng càng tỏa sáng; đường lối, chủ trương của Đảng càng thể hiện sự đúng đắn, khoa học, bám sát thực tiễn đất nước và đòi hỏi bức thiết của nhân dân. Mỗi khi tình hình cách mạng có sự biến động, phát triển, Đảng đều chủ động điều chỉnh, hoàn thiện Cương lĩnh, đường lối, phương thức lãnh đạo, đề ra chủ trương, giải pháp, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ, đảng viên, huy động sức mạnh toàn dân tộc, vượt qua khó khăn, thách thức để lãnh đạo hoàn thành mục tiêu cách mạng đề ra. Điều đó đã thể hiện bản lĩnh của một Đảng được tôi luyện trong các phong trào đấu tranh cách mạng, đủ khả năng giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Thực tế là vậy, song các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn không ngừng chĩa mũi nhọn công kích, bôi nhọ, nói xấu Đảng bằng những lời lẽ quy chụp, bịa đặt. Chúng lấy quan điểm “dân chủ”, “nhân quyền” tư sản để đồng nhất dân chủ với đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhà nước pháp quyền với thiết chế tam quyền phân lập; nhân quyền với tuyệt đối hóa quyền của cá nhân rồi vu cáo Đảng ta là “mất dân chủ”... Không phải ngẫu nhiên mà chúng lại đưa những bài viết xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, nói xấu một số cán bộ, đảng viên cấp cao của Đảng đúng vào thời điểm Đảng ta đang chuẩn bị đại hội các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng. Với kiểu tuyên truyền như vậy, chúng hy vọng làm cho người dân hiểu rằng cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là những người nắm những chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã lợi dụng quyền hạn để vun vén cá nhân; gây ra mối nghi ngờ, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chế độ... Đối với các đảng viên cộng sản chân chính và quảng đại quần chúng nhân dân, không còn lạ lẫm gì kiểu tuyên truyền "chọc ngoáy" này và chắc chắn sẽ nhận ra đó chỉ là những sự bịa đặt không hơn không kém. Sự thực Đảng có còn vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội hay không chỉ có người dân Việt Nam mới có quyền trả lời điều đó. Chính nhân dân-chứ không phải ai khác mới là người đánh giá chính xác nhất vai trò, uy tín của Đảng, là người có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn sự lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Còn những người vụ lợi chính trị, tuyên truyền bịa đặt... thì đều không đủ tư cách để có tiếng nói trong vấn đề này. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là căn cứ xây dựng toàn bộ hệ thống pháp luật, điều chỉnh các mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội và công dân. Do đó, việc Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định về mặt nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" không phải do Đảng tự đề xướng, mà là có tính chất bắt buộc đối với chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp và pháp luật. Vi phạm nguyên tắc này là vi phạm pháp luật, phải bị xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội không chỉ được quy định trong Hiến pháp, mà còn được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hoặc điều lệ của các cơ quan, tổ chức tùy theo mối quan hệ cụ thể. Có thể nói, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được xây dựng trên cơ sở pháp lý đồng bộ (hệ thống các văn bản pháp luật) và đồng thuận (điều lệ, quy định) của các tổ chức có liên quan, không phải do Điều lệ Đảng "đơn phương" quy định. Đây là một yếu tố quan trọng bảo đảm tính chính danh đầy đủ được quy định tại Điều 4 Hiến pháp và Điều lệ Đảng, điều lệ các tổ chức chính trị-xã hội và tổ chức xã hội nghề nghiệp về mối quan hệ của Đảng với các tổ chức khác. Để giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, Đảng phải thường xuyên đổi mới, thống nhất về nhận thức và hành động, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là thủ đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo đảm giữ vững trong sạch nội bộ Đảng. Trước mắt, phải phát huy trí tuệ tập thể, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận trong Đảng và trong xã hội, tiến hành thành công Đại hội lần thứ XII của Đảng, đề ra đường lối đúng đắn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đang đặt ra những yêu cầu mới rất cao và toàn diện, song còn nhiều khó khăn, thách thức, trở ngại. Nhưng, với bản lĩnh đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua, làm tốt sứ mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nhằm làm mất uy tín, danh dự, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nhất định sẽ thất bại thảm hại.

Không được đánh đồng “công” và “tội”! .

Thời gian gần đây, trong khi “xét lại lịch sử”, có tác giả cho rằng Hoàng Cao Khải là người “có tinh thần dân tộc”, Trương Vĩnh Ký là “người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc”,…! Các ý kiến này xuất phát từ sự thật lịch sử, hay chỉ dựa vào một vài kết quả mà những người đó vô tình có được rồi biến thành giá trị để tôn vinh, xưng tụng, bỏ qua việc họ đã đi ngược lại lợi ích dân tộc, thậm chí bỏ qua tội ác của họ đối với dân tộc? . Nghiên cứu lịch sử thế giới, chúng ta đều biết, hơn 200 năm trước, các cuộc chiến tranh do Napoléon (Na-pô-lê-ông) tiến hành mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nước Pháp đã “vô tình” giúp nhiều nước châu Âu ra khỏi hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, và mở ra con đường đi tới hình thái kinh tế - xã hội tư bản. Sau các cuộc xâm lăng đó, Đạo luật Napoléon (gồm: luật dân sự, luật gia đình, luật hình sự) đã được sử dụng để áp đặt lên lãnh thổ bị chinh phục như Hà Lan, Bỉ, một phần của I-ta-li-a, Đức. Rồi khi đế chế Napoléon sụp đổ, Đạo luật tiếp tục tồn tại ở nhiều quốc gia, được dùng làm cơ sở cho nhiều phần trong một số bộ luật ngoài châu Âu. Điều này cho thấy giá trị, tầm ảnh hưởng của Đạo luật, thậm chí được đánh giá như một “dự án cách mạng” khuyến khích sự phát triển của một xã hội tư sản ở Đức bằng việc mở rộng quyền đối với tài sản tư hữu và đẩy nhanh sự kết thúc của chế độ phong kiến. Tuy được coi là “người làm thay đổi châu Âu” nhưng nhiều quốc gia châu Âu lại không tạc tượng Napoléon để tỏ lòng biết ơn. Có lẽ vì người ta không quên các tổn thất nặng nề về người và của từ những cuộc chiến tranh do Napoléon tiến hành. Cũng không vì câu nói “lừa, ngựa và các nhà khoa học đi vào giữa” của ông trong chiến dịch Ai Cập mà quên sự cướp bóc, tình trạng hoang tàn ở nhiều quốc gia sau các cuộc xâm lăng dưới sự lãnh đạo của Napoléon… Từ câu chuyện liên quan Napoléon, và nhiều sự kiện khác nữa, có thể rút ra kết luận: ự ngộ nhận, thậm chí đánh giá sai lầm bản chất một nhân vật của lịcSh sử không dựa trên sự thật khách quan là điều phải được xem xét nghiêm túc. Đáng tiếc ở Việt Nam gần đây có một số ý kiến “đánh giá lại” một số nhân vật vốn gây nhiều tranh cãi, từ đó nhập nhèm giữa “công” và “tội” có thể gây ra nhầm lẫn, làm sai lệch sự thật lịch sử; như việc mấy năm trước một nhà sử học đề nghị “đánh giá lại” Hoàng Cao Khải là một thí dụ. Không thể bác bỏ sự thật Hoàng Cao Khải là nhân vật từng tận tụy phục vụ chính quyền thực dân Pháp, dân gian đã lưu truyền “công trạng” của người này bằng những câu ca để đời: “Hỏi ai bán nước buôn dân - Ấy Hoàng Cao Khải, Nguyễn Thân một phường”, “Hoàng Cao nhục nhã đã xong - Nguyễn Thân đâu cũng vào vòng khuyển nô - Lại cùng Tây tặc mưu mô - Người Nam lại phá cơ đồ người Nam”…! Từ chỗ cho rằng “bia miệng” quá nặng nề khi đánh giá Hoàng Cao Khải, nhà sử học muốn bảo vệ nhân vật này, cho rằng đây là người có… “tinh thần dân tộc”! Chẳng nhẽ khi “xét lại”, nhà sử học (vô tình, cố tình?) bỏ qua báo cáo của thống sứ người Pháp Parreau (Pa-gô): Tháng 3-1889, Hoàng Cao Khải tiến hành “một trận đánh vang dội khắp vùng làm quân nổi loạn hoang mang, nhiều tên tướng bị bắt, Hoàng Cao Khải xử tử ngay lập tức. Hơn thế, Hoàng Cao Khải không để cho quân nổi loạn kịp hoàn hồn. Thám tử của ông tỏa đi khắp nơi, bắt giữ những kẻ tình nghi, hễ có dấu hiệu thông đồng với giặc (tức nghĩa quân) thì xử chém ngay tức khắc… Hàng loạt tên nổi loạn bị xử tử, làng Phù Đổng theo giặc bị đốt sạch”. Một ghi chép khác về Hoàng Cao Khải được trung úy F.Berard (Ph.Béc-na) viết trong thư ngày 16-10-1891 khiến người đọc khônng khỏi rùng mình: “Ông ta chặt 1.800 đầu trong ba tháng, nhưng ông ta đã thu được các tin tình báo quý báu đã giúp chộp được những tên cướp (tức nghĩa quân) và gặt hái được một số lượng lớn súng ống”. Dưới trướng Hoàng Cao Khải, đã hình thành một “thế hệ binh lính tàn bạo đến mức không chịu được” (lời Toàn quyền De Lanessan (Đờ La-nê-xăng)). Không ngẫu nhiên, một chí sĩ yêu nước đương thời từng nhận xét: “Phàm người Việt mà đi làm tôi tớ cho người Pháp đều là bọn tham bỉ mất lương tâm, quỳ lạy giống khác, xẻo thịt đồng bào, không bằng cầm thú… Hai người ấy (Khải và Thân) đành bỏ tất cả liêm sỉ danh tiết một người đời, đem hết tâm huyết tài lực giết hại đồng bào để cầu được công với người Pháp, chẳng qua là chỉ thèm thuồng ba chữ “có quyền thế” đó thôi…”. Đó là sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó cũng không phải “bia miệng”, nên không thể chỉ dựa vào một cuốn sách viết về lịch sử của Hoàng Cao Khải để ca ngợi ông ta là người “có tinh thần dân tộc”. Bởi người có tinh thần dân tộc không bao giờ theo chân ngoại bang giết hại đồng bào mình! Năm 2015, việc Trương Vĩnh Ký được một Quỹ văn hóa tôn vinh “nhân vật kiệt xuất có công đối với văn hóa Việt Nam” khiến nhiều người ngạc nhiên. Sau đó lại xuất hiện một bài viết khẳng định Trương Vĩnh Ký là “người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc”! Vậy người được tôn vinh này là ai? Đó là người vào tháng 3-1859, hơn một tháng sau khi Pháp chiếm thành Gia Định, trước cảnh nước mất nhà tan, phong trào chống thực dân lan rộng khắp cả nước lại có hành động khó hiểu là viết thư gửi người Pháp để cầu cứu: “Xin đừng chần chừ nữa, xin mở rộng bàn tay giải phóng của Ngài để chấm dứt những nỗi cơ cực của dân tộc chúng tôi” (Vũ Ngự Chiêu trích dịch Thư của Petrus Key); rồi tinh thần “không chần chừ” ấy được biểu hiện cụ thể bằng việc xăng xái làm thông ngôn cho người Pháp; và đảm nhiệm luôn cả việc làm “tay trong” cho người Pháp như đã thể hiện trong thư Trương Vĩnh Ký gửi cho P.Bert (P.Be): “Tôi cũng đang lo tiếp xúc để cung cấp cho ngài những tin tức chính trị hữu ích. Tôi hết lòng tán đồng dự án hoàn mỹ của ông Pène (Pen) về công cuộc bình định thi hành bởi những yếu nhân bản xứ và, ở đây, tôi đang bám sát nhà vua cùng Viện cơ mật. Như sứ giả tiên khu của Chúa, tôi tìm cách dọn đường cho ngài” (thư ngày 10-5-1886); “Tôi sẽ trấn áp tất cả các hãnh thần và bao vây nhà vua, tôi sẽ kiếm những người thật sự có khả năng cho Viện cơ mật” (thư ngày 17-6-1886)… Vậy nhưng, để đánh giá công lao Trương Vĩnh Ký, một số người chỉ căn cứ vào số tác phẩm của ông ta để kết luận đó là “người đi tiên phong trong việc chuẩn bị cho sự nghiệp duy tân”, “tác phẩm đa dạng như thế có tác dụng xã hội lớn lao. Nó giúp cho đồng bào ta vượt qua vòng kiềm tỏa u minh của lối sống phong bế, mở mang sự hiểu biết thiên nhiên, hiểu biết con người” mà không xét tới mục đích xuất bản các tác phẩm này. Hơn nữa, họ lấy gì chứng minh các cuốn sách ấy đã giúp người Việt đương thời “vượt qua vòng kiềm tỏa u minh của lối sống phong bế, mở mang sự hiểu biết thiên nhiên, hiểu biết con người”? Chẳng lẽ họ không biết chính Trương Vĩnh Ký đã nói rất rõ trong thư gửi “Các vị trong ban duyệt xét bản thảo” rằng: “Người Pháp với tư cách là chủ, cần biết tiếng An Nam để giảng dạy người An Nam là học trò những tư tưởng và khái niệm cần thiết cho việc cải tạo và phục sinh của người An Nam”; thậm chí còn không ngần ngại tự nhận mình là “người bề tôi tận tâm và vâng lời”, khẳng định “lòng tôi luôn luôn thuộc về nước Pháp, và những công việc phục vụ nhỏ mọn của tôi cũng thuộc về nước Pháp” (trích thư ngày 3-9-1868 gửi Giám đốc Nội trị để xin từ chức). Rõ ràng rất nhiều việc làm của Trương Vĩnh Ký chỉ là nhằm phụng sự quyền lợi của nước Pháp, không nhằm phụng sự đất nước đã sinh ra ông ta, tức là đâu có yêu dân tộc mình tới mức phải được ca ngợi, vậy vinh danh ông là “người thầy, nhà văn hóa lớn của dân tộc” chẳng phải là sự xúc phạm với người Việt chân chính hay sao? Hoàng Cao Khải, Trương Vĩnh Ký không phải trường hợp cá biệt mà một số người nhân danh “nhà nghiên cứu” đánh giá, tôn vinh quá mức. Gần đây, hiện tượng này đang có xu hướng gia tăng với những việc khó tin như: có nhân vật cho rằng Pháp đánh chiếm Việt Nam là do “thượng đế an bài… nếu chống lại thì sẽ giống như châu chấu lay trụ đá”, vì vậy “tốt nhất là quân lính nên nghỉ ngơi” vẫn được ca ngợi “có tấm lòng yêu nước”; lại có nhân vật nói rằng: “Nay các nước phương Tây, đã bao chiếm từ Tây Nam cho đến Đông Bắc,... ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa, ai hòa với họ thì được yên, huống hồ nước Việt Nam ta là một nước nhỏ bé, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được” lại được ca ngợi là “yêu nước thiết tha”… Đáng nói là tại một số hội thảo, tọa đàm, có tác giả đưa ra logic kỳ quặc: “Văn hóa là nền tảng, người có đóng góp vào văn hóa dân tộc thì không lý gì không yêu nước, không có những đóng góp ưu việt cho nước nhà”; thậm chí có người kiên trì dựng lên cái gọi là “nỗi oan khuất chưa có người giải” và tìm mọi cách “minh oan”. Trong khi đó, một số tờ báo lại chưa thận trọng tỉnh táo, thiếu kiểm chứng, đã tạo diễn đàn công bố, vô tình trở thành công cụ tuyên truyền luận điểm thiếu chính xác tới công chúng, nếu tình trạng này tiếp diễn vô hình trung sẽ biến cái sai thành cái đúng, biến “ngụy sử” thành chính sử, tác hại sẽ khôn lường. Có thể thấy sự bất thường từ hiện tượng một số người nhân danh “xét lại lịch sử” để đưa đánh giá khác lạ, thậm chí sai lầm, về một số nhân vật lịch sử mà hành vi của họ từng làm tổn hại đến lợi ích dân tộc để tạo dựng nên “giá trị ảo”, thậm chí ca ngợi cả người theo ngoại bang, phản bội Tổ quốc,… rồi từ đó gieo rắc sự hoang mang, gây mất lòng tin, hoài nghi về những giá trị đích thực, phủ nhận những thành quả mà các thế hệ cha ông đạt được sau bao nhiêu năm đấu tranh giữ nước, bảo vệ độc lập dân tộc. Ghi nhận tên tuổi một số nhân vật lịch sử qua việc đặt tên một số trường học, công viên, đường phố là thể hiện tính nhân văn của truyền thống dân tộc. Nhưng không vì thế mà đánh đồng “công” và “tội”, người yêu nước và kẻ phản quốc, bởi điều đó là thiếu tôn trọng sự thật lịch sử và khiến nhận thức của thế hệ sau bị tác động tiêu cực, dẫn tới nhận thức lệch lạc, ngộ nhận.

Dòng chảy chính hướng về cội nguồn .

Niềm tự hào, tự tôn dân tộc Việt luôn được bà con phát huy thông qua các hoạt động gắn kết, xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, hòa nhập tốt với nước sở tại. Hoạt động quảng bá và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế thông qua các lễ hội văn hóa Việt Nam ở nước ngoài đã trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng của bà con... Bất chấp những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, suy diễn lệch lạc về đất nước của các thế lực thù địch, tình cảm hướng về quê hương bản quán với lòng yêu nước nồng nàn và mong muốn được đóng góp xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp, luôn luôn là dòng chảy chính trong cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài... Mỗi dịp Tết cổ truyền, kiều bào trên khắp thế giới dù bận rộn tới đâu cũng thu xếp về nước đón năm mới, đoàn tụ bên gia đình, trong bầu không khí ấm áp của Tết quê hương. Đã thành hiện tượng quen thuộc, từ nhiều năm nay, cứ mỗi dịp gần Tết cổ truyền, các chuyến bay quốc tế tới Việt Nam hầu hết đều kín chỗ, các sân bay trong nước đông nghẹt người vì số lượng kiều bào trở về tăng đột biến... Bà con ta dù sống xa quê hương nhưng vẫn luôn giữ gìn truyền thống và bản sắc văn hóa tốt đẹp của ông cha, dù đi đâu, ở đâu, đến ngày Tết vẫn luôn tìm cách trở về đoàn tụ bên gia đình, người thân. Bởi sự thực là Tết Việt ở trời Tây dù cũng đủ đầy nhưng vẫn “nhớ lắm Tết quê hương” vì thiếu đi “phần hồn dân tộc và sự ấm áp của gia đình”. Đạo lý “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn”, “lá lành đùm lá rách” luôn được bà con người Việt ở nước ngoài gìn giữ thể hiện bằng những phong trào quyên góp rộng khắp gửi về nước ủng hộ các gia đình chính sách, các hoàn cảnh khó khăn, nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin, đồng bào bị thiên tai... Bà Trần Thị Chang, kiều bào tại Ma-lai-xi-a về đón Tết Bính Thân ở quê hương, chia sẻ rằng: “Ở Ma-lai-xi-a, chúng tôi thường tổ chức cho cộng đồng đón Tết cổ quyền, Tết Trung thu, dạy con em tiếng Việt, phát động các phong trào ủng hộ trong nước, tham gia hoạt động bảo vệ chủ quyền đất nước... Dù ở đâu, chúng tôi luôn ý thức cần phải giữ gìn bản sắc của người Việt Nam”. Niềm tự hào, tự tôn dân tộc Việt luôn được bà con phát huy thông qua các hoạt động gắn kết, xây dựng cộng đồng đoàn kết, vững mạnh, hòa nhập tốt với nước sở tại. Hoạt động quảng bá và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế thông qua các lễ hội văn hóa Việt Nam ở nước ngoài đã trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt cộng đồng của bà con. Được biết có một nhóm trí thức người Việt ở nước ngoài và trong nước đã tập hợp lại thành lập Nhóm vận động tổ chức Ngày Việt Nam trên toàn cầu nhằm gắn kết sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, giới thiệu tâm hồn Việt với bạn bè quốc tế và quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam một cách hệ thống, đồng bộ, toàn diện và thường niên với thế giới. Chị Nguyễn Thị Bích Yến, kiều bào tại Áo, người đưa ra sáng kiến tổ chức Ngày Việt Nam trên toàn cầu, chia sẻ: “Niềm tự hào dân tộc, tự hào quê hương đổi mới luôn thôi thúc tôi phải làm gì đó để xứng đáng là người Việt Nam. Trước mắt, tôi và các cộng sự sẽ thúc đẩy chiến lược phối hợp tổ chức Ngày Việt Nam và Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương trên toàn cầu”. Và trên tất cả, trong bầu huyết quản của mỗi người con đất Việt xa quê hương luôn nóng bỏng tình yêu quê hương, đất nước. Nếu không vậy, sao có những nhà khoa học, trí thức kiều bào sẵn sàng từ bỏ mức lương đáng mơ ước để trở về quê hương làm việc với đồng lương khiêm tốn hơn nhiều. Số lượng trí thức, nhà khoa học và doanh nhân kiều bào trở về nước làm việc và đầu tư ngày càng đông. Với sự chung tay góp sức của kiều bào, Việt Nam đang triển khai dự án xây dựng Nhà máy sản xuất Chip đầu tiên. Theo ông Bùi Ngọc Châu, Ủy viên Ban chấp hành Hội Việt kiều tại Thụy Sĩ, hiện nay, một số trí thức Việt Nam tại Thụy Sĩ đang hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để đào tạo chuyên viên và cố vấn cho những dự án công nghệ hóa đất nước như thiết kế và sản xuất vi mạch. Có những người dù một thời lầm lỗi có những suy nghĩ và hành động lệch lạc đối với quê hương, nhưng cuối cùng cũng đã vượt qua được rào cản định kiến, quay trở về và làm những việc có ích cho quê hương. Chưa bao giờ phong trào ủng hộ biển, đảo quê hương mạnh mẽ và lan tỏa rộng khắp như thời gian qua trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Hiện nay, các trí thức Việt Nam ở các nước đang tìm cách liên lạc và kết nối với nhau để khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông trước thế giới và làm những công việc góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Nổi lên trong số đó là Nhóm Biển Đông tại Pháp, được coi là cầu nối chuyển tải các thông tin, kiến thức về Biển Đông đến cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, người Pháp và đến toàn thế giới. Điều có ý nghĩa quan trọng là các hoạt động vì chủ quyền biển, đảo quê hương như của Nhóm Biển Đông nhận được sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng vì đã xoáy đúng vào tinh thần yêu nước, hướng về Tổ quốc của đông đảo người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài. Ngay tại địa bàn Mỹ, nơi có tình hình cộng đồng tương đối phức tạp, các hoạt động vì chủ quyền biển, đảo quê hương đã khơi gợi sự đồng lòng hướng về quê hương của kiều bào, từng bước xóa dần khoảng cách giữa cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ với đất nước. Đó là chia sẻ của chị Võ Thị Thanh Tuyền, Giám đốc điều hành của Hội Doanh nhân Việt Nam tại Mỹ. Có mặt trong đoàn kiều bào tiêu biểu về dự Chương trình Xuân Quê hương năm 2016 do Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức vừa qua, anh Trần Bằng, kiều bào Pháp, trưởng Nhóm Biển Đông đã cho thấy bầu nhiệt huyết của một người con luôn đau đáu về biển, đảo quê hương. Điều anh trăn trở là phải làm sao kết nối và đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cùng đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ biển, đảo quê hương. Anh là người từng có chuyến đi thực tế tại Trường Sa và tổ chức một cuộc triển lãm ảnh sau chuyến đi này gây ấn tượng cho người xem. Dù đôi lúc bà con vẫn băn khoăn về những bất cập ở trong nước, nhưng trên hết, họ vẫn có niềm tin vững chắc vào triển vọng tốt đẹp của quê hương. Doanh nhân Vũ Quốc Trung, Việt kiều Áo, Phó chủ tịch Hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Áo cho hay, bên cạnh những trăn trở về vấn đề giao thông mà anh cho là khó thích nghi ở Việt Nam, đã ngỡ ngàng đến không thể nhận ra khi đi trên con đường làng mình vì được bê tông hóa và thay đổi rất nhiều. Anh bày tỏ niềm tự hào Việt Nam không hề thua kém nước nào ở khu vực Đông Nam Á. An tâm và tin tưởng vào thể chế chính trị ở Việt Nam, cùng những thay đổi trong ban lãnh đạo đất nước vừa qua, anh Trung tin tưởng Việt Nam sẽ trở thành một nước ngang tầm châu Á trong một tương lai không xa. Cùng chung những cảm nhận hạnh phúc về quê hương đổi mới, ông Phạm Văn Đức, Chủ tịch Hội Người Việt Nam ở Ăng-gô-la chia sẻ ấn tượng về sự đổi thay kỳ diệu của đất nước trong quá trình đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là những thay đổi đi lên về thu nhập quốc dân, đời sống người dân, công tác xóa đói giảm nghèo... Tới thăm tỉnh Lào Cai, một trong những tỉnh miền núi đạt tốc độ phát triển nhanh chóng những năm gần đây, với tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 9% trong những năm trước nay xuống còn hơn 2%, đúng dịp Đại hội lần thứ XII của Đảng vừa kết thúc thành công, ông Đức bày tỏ niềm vui: “Đại hội đã đáp ứng được kỳ vọng của đông đảo người dân cả nước tiếp tục đưa đất nước đổi mới mọi mặt, làm cho cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, đất nước phát triển mạnh mẽ hơn. Cộng đồng người Việt Nam tại Ăng-gô-la kỳ vọng và tin tưởng ban lãnh đạo mới sẽ dẫn dắt đất nước phát triển đi lên trong giai đoạn tới”. Tuy nhiên, bất chấp thực tế phát triển đi lên của đất nước, vẫn còn một số ít những ý kiến nhìn nhận sai lầm, có thể do thiếu thông tin hoặc cố tình xuyên tạc thực tế khách quan do vẫn mang tâm thế hằn học, định kiến. Trong số họ có nhiều người vì xa quê hương lâu năm vì một số lý do nên còn e ngại chưa dám trở về, dẫn đến thiếu thông tin về tình hình thực tế đất nước. Chị Võ Thị Thanh Tuyền cho biết nhiều bà con ở Mỹ, nhất là những người cao tuổi, cũng rất muốn trở về thăm quê hương nhưng còn tâm lý e ngại. Thậm chí, có một số trường hợp Hội của chị Tuyền đã phải đứng ra cam đoan rằng, họ sẽ được an toàn khi trở về Việt Nam. Nhưng đáng trách hơn là những người cùng mang dòng máu đỏ, da vàng, sống ở trong nước biết rõ tình hình, vẫn đang tâm đưa ra những phát ngôn bị bóp méo làm xấu hình ảnh đất nước. Như trường hợp một nữ nhà văn nọ xin tị nạn chính trị tại Đức đã có những phát biểu tùy tiện trên BBC về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mấy năm gần đây, nữ nhà văn này còn đưa ra những phát ngôn xuyên tạc sự thật phê phán lãnh đạo và Nhà nước Việt Nam, phủ nhận trắng trợn các thành tựu phát triển được cả thế giới ghi nhận... Đáng lên án hơn là chính họ đang bị các thế lực thù địch, các tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng để tiếp tục bịa đặt, vu khống Việt Nam. Chia sẻ về vấn đề này, ông Hồ Ngọc Thắng, người Việt Nam sống và làm việc đã nhiều năm tại Đức, khẳng định: “Tôi có đủ điều kiện và cơ hội để biết rằng, đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về quê hương và bằng nhiều cách khác nhau đã và đang tích cực góp một phần của mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước”. Theo ông Hồ Ngọc Thắng, chỉ còn một bộ phận rất nhỏ vẫn còn tư tưởng hay hành động chống lại Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ngoài ra có một vài cá nhân, ra nước ngoài trong những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, hiện nay đã bán rẻ lương tâm và trở thành bồi bút của các thế lực thù địch như Bùi Tín, Dương Thu Hương... Ở trong nước, gần đây, một số cá nhân đã đội lốt “đấu tranh dân chủ”, hoạt động vì “nhân quyền, tự do tôn giáo, dân oan” để chống phá Việt Nam. Ông Hồ Ngọc Thắng bức xúc cho biết: “Là một người khi vừa tròn 18 tuổi, 1972 đã vượt Trường Sơn vào chiến đấu ở tuyến đầu tại chiến trường Quảng Trị và trở về sau khi nước nhà thống nhất, tôi đặc biệt bức xúc trước thực tế, một số người trong những năm tháng chiến tranh đã không tham gia chiến đấu, chỉ ăn học ở Hà Nội hay ở nước ngoài, ngày nay đang tìm mọi cách để xuyên tạc sự thật, cố tình gây ấn tượng xấu về Việt Nam trước thế giới. Tôi và đại đa số người dân Việt Nam trong và ngoài nước lên án những việc làm của họ vì họ đã đi ngược lại lợi ích quốc gia và phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Chắc chắn họ sẽ thất bại vì người dân Việt Nam đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước”. Là người con sống xa quê hương mang tình cảm đong đầy với Đất Mẹ và niềm tin vững vàng với Tổ quốc, ông Hồ Ngọc Thắng kiên quyết phản đối các luận điệu sai trái cùng những biểu hiện cố tình đi ngược lại với lợi ích chung của dân tộc bằng những bài viết có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ, được đăng trên một số tờ báo uy tín trong nước. Có thể khẳng định rằng, hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất ít bị tác động bởi lối tuyên truyền suy diễn lệch lạc về đất nước và hơn bao giờ hết, dòng chảy chính vẫn là hướng về quê hương bản quán với lòng yêu nước nồng nàn. Với chủ trương thông suốt “người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cùng các chính sách cởi mở đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc đã được phát huy ngày càng hiệu quả, tận dụng tốt hơn tiềm lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, gắn kết tình cảm với quê hương của bà con. Không thể phủ nhận, sau gần 30 năm tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc. Trong quá trình phát triển đó, không thể tránh khỏi những bất cập, tồn tại cần phải khắc phục nên chưa thể đáp ứng được hết những trông đợi. Nhưng nếu dựa vào đó để phủ nhận các thành tựu phát triển, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình đất nước là hành động đáng bị lên án mạnh mẽ. Và những người cũng mang dòng máu đỏ, da vàng lại đang làm những việc đi ngược lợi ích của dân tộc mình, thiết nghĩ, rất nên tự vấn lương tâm và hãy tự thấy xấu hổ trước những người con đất Việt dù ở phương trời nào vẫn đang từng ngày đóng góp tài trí, sức lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đã không làm được gì cho quê hương, tốt nhất hãy giữ yên lặng và chấm dứt ngay những hành động trái đạo lý truyền thống ấy./.

Chủ động nhận diện, đấu tranh ngăn chặn “tự diễn biến” .

Làm thế nào để sớm phát hiện và ngăn chặn mầm mống của “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”? Đây là việc không hề đơn giản, là quá trình đấu tranh lâu dài, kiên trì, bền bỉ, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, sau khi Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng thành công tốt đẹp và chuẩn bị bầu cử hội đồng nhân dân các cấp khóa 2016-2021, bầu cử Quốc hội khóa XIV, các đối tượng thù địch, phản động đang tìm mọi cách chống phá, làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, gây hoài nghi trong dân chúng… Trong chuyến kiểm tra thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW của Ban Bí thư về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa” tại một số đơn vị ở phía Bắc, Thủ trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị hỏi một sĩ quan trẻ: Đồng chí hiểu thế nào là “tự diễn biến?”. Đồng chí sĩ quan trẻ trả lời: “Với cán bộ, đảng viên và quân nhân, đó là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực, trong đó, yếu tố tiêu cực dần dần tăng lên, yếu tố tích cực phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ chuyển sang hành động của chủ thể…”. Đồng chí sĩ quan trẻ trả lời khá rõ ràng, rành mạch, nhưng khi hỏi đến những biểu hiện cụ thể của “tự diễn biến” đang diễn ra hằng ngày, thì đồng chí đó chưa trả lời được một cách đầy đủ. Đúng là để nhận biết, điểm mặt, chỉ tên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không phải dễ, bởi nó diễn ra âm ỉ, thầm lặng, lâu dài, từ bên trong; diễn biến hết sức phức tạp, khó nhận biết. Khi nhận biết rõ ràng về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì nhiều khi đã quá muộn. Thời gian diễn ra quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" dài hay ngắn phụ thuộc vào từng con người, từng tổ chức, phụ thuộc vào độ vững vàng về chính trị của từng cán bộ đảng viên và độ "liêm" về đạo đức, lối sống của họ; nó như “căn bệnh”, phụ thuộc vào sức đề kháng của người bệnh. Theo các chuyên gia nghiên cứu thì ở giai đoạn ban đầu của “tự diễn biến”, đối tượng thể hiện sự hoang mang, dao động về tư tưởng chính trị, sự hoài nghi về sự lãnh đạo của Đảng, tính khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những biểu hiện này nếu không được kiểm soát bằng giáo dục, kiểm điểm phê bình để tự phê bình thì đối tượng bắt đầu chủ động hơn trong tiếp nhận những thông tin trái chiều, những luận điệu chống đối, những lý luận phản động. Kết quả là một số đối tượng bắt đầu có các hoạt động câu kết với các phần tử thù địch từ bên ngoài để tiếp tay cho chúng "thực tiễn hóa" hoạt động "diễn biến hòa bình" và "chuyển hóa nội bộ". Giai đoạn cao nhất của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa” là đối tượng hoàn toàn bộc lộ tư tưởng phản động, chống đối, thể hiện rõ tư tưởng chính trị phản động, sẵn sàng đối đầu với pháp luật và hệ thống chính trị. Chúng chủ động tìm đến những phần tử đang "tự diễn biến" để tập hợp lực lượng, hình thành nhân lõi tổ chức ban đầu. Một số kẻ tự tìm đến các cơ quan đặc biệt nước ngoài để câu kết (có quốc gia xem đó là những "gián điệp tự nguyện"). Một ví dụ cụ thể: Cách đây chưa lâu, tại Cát Bà, Hải Phòng, Nguyễn Văn Đài và Tôn Phi (những chuyên gia về internet) đã tổ chức “Khóa huấn luyện an toàn kỹ thuật số” cho đại diện của các nhóm “XHDS” trong nước. Khóa huấn luyện này còn lồng ghép các nội dung: Về cách thức củng cố lực lượng, tạo sự gắn kết giữa các “nhóm dân chủ” trong cả nước; xúc tiến thành lập tổ chức “Công đoàn độc lập” và “Nhóm làng nghề độc lập”, làm đối trọng với tổ chức công đoàn Nhà nước và Hội Nông dân Việt Nam. Đối với các đối tượng đã chuyển hóa đến mức độ chống đối rõ ràng, thậm chí công khai, công tác đấu tranh cần phải có các biện pháp phù hợp tương ứng, trong đó, đấu tranh làm tan rã tổ chức, chuyển hóa tư tưởng phản động là nhiệm vụ rất quan trọng. Một số trường hợp phải kiên quyết xử lý bằng pháp luật để thể hiện tính nghiêm minh, đồng thời cảnh báo ngăn chặn, cảnh tỉnh những trường hợp tương tự. Căn nguyên sâu xa của hành vi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính là tư duy sai lầm, ngộ nhận trái thành phải, sai thành đúng, ác thành thiện, hại dân, hại nước thành “ích nước, lợi dân”. Các hành vi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thể hiện sự tự suy thoái, tự tan rã, sự chuyển biến từ tốt thành xấu, từ yêu nước thành phản động…Tuy nhiên, “những người trong cuộc”, có hành vi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì lại nghĩ khác, thậm chí ngộ nhận chân lý, lẽ phải thuộc về họ, “chính họ mới là những người yêu nước chân chính, yêu nước thực sự”. Họ thường đặt các giá trị tinh thần, các lý tưởng (sai lầm, cuồng tín, nhưng họ ngộ nhận là chân lý, là lẽ phải, là đang chiến đấu bảo về lợi ích quốc gia, dân tộc) lên trên lợi ích cá nhân, cục bộ. Họ thường tự cho mình là người có đạo đức và luôn hăng hái bảo vệ sự cuồng tín đó. Họ chỉ “đầu hàng” khi chúng ta thuyết phục được họ rằng, tư duy của họ là sai lầm, lòng yêu nước của họ là ngộ nhận. Qua đó cho thấy rõ hơn tính chất cam go của cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Làm thế nào để sớm phát hiện và ngăn chặn mầm mống của “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”? Đây là việc không hề đơn giản, là quá trình đấu tranh lâu dài, kiên trì, bền bỉ, đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, sau khi Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng thành công tốt đẹp và chuẩn bị bầu cử hội đồng nhân dân các cấp khóa 2016-2021, bầu cử Quốc hội khóa XIV, các đối tượng thù địch, phản động đang tìm mọi cách chống phá, làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng, gây hoài nghi trong dân chúng… Cán bộ, chiến sĩ quân đội là một trong các lực lượng đi tiên phong trong đấu tranh ngăn chặn mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do vậy, việc đầu tiên là phải ngăn chặn kịp thời mọi biểu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong các cơ quan, đơn vị. Cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tập trung bồi dưỡng mục tiêu lý tưởng chiến đấu, xây dựng niềm tin và bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; phát huy vai trò của tổ chức đảng và mọi cán bộ đảng viên; phối hợp chặt chẽ các tổ chức, các lực lượng trong phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường công tác quản lý chính trị nội bộ; chủ động phòng ngừa, khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội, đồng thời tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa ở đơn vị cơ sở; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”…

Thực trạng dân chủ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Đất nước đang trong thời kỳ phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa nên dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng đang từng bước được hình thành, đang được xây dựng, nó chưa đạt tới độ chín muồi. Song sau 30 năm đổi mới, dân chủ trong xã hội đã có những bước tiến căn bản. Về thành tựu 1- Dân chủ trong kinh tế Dân chủ trong kinh tế là cơ sở cho dân chủ trong các lĩnh vực khác. Trong những năm đổi mới, với đường lối xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã mở ra những dư địa cho việc thực hành và phát huy dân chủ. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Thể chế hóa chủ trương đó, Nhà nước đã ban hành Hiến pháp và nhiều đạo luật về kinh tế để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế và cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Phá sản... Nhờ đó người dân đã có quyền được tự do kinh doanh, quyền làm chủ trong lao động sản xuất, quyền sở hữu tài sản, quyền được làm những gì mà pháp luật không cấm. Người dân cũng có quyền tham gia các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước; tham gia quản lý và giám sát các hoạt động kinh tế của bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã. Người lao động có quyền được hưởng thụ một cách bình đẳng những thành quả kinh tế của đất nước. Tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động kinh tế ngày càng thể hiện rõ. Tính chủ động, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của người dân ngày càng được phát huy. Nhà nước chăm lo cho người dân có công ăn việc làm, quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo. 2- Dân chủ trong chính trị Trong những năm đổi mới, dân chủ trong chính trị có bước tiến nổi bật. Chúng ta đã tiến hành đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, qua đó dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy. Đã và đang tiến hành đổi mới, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhờ đó dân chủ trong Đảng ngày một nâng cao. Thực hiện bầu cử có số dư, ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng. Việc quy chế hóa hoạt động của cơ quan lãnh đạo các cấp đã đưa sự lãnh đạo của Đảng ngày càng vào nền nếp, dân chủ tốt hơn. Sự tham gia của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định, triển khai đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ngày càng rộng rãi và có hiệu quả. Sinh hoạt dân chủ trong nội bộ Đảng có bước tiến rõ rệt. Những bước tiến đó đã có tác động mạnh mẽ đến việc phát huy dân chủ trong xã hội. Chúng ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đã ban hành Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 với nhiều sửa đổi, bổ sung rất mới liên quan đến quyền con người, quyền công dân, quyền làm chủ của nhân dân. Đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng liên quan tới tổ chức và hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các thành phần kinh tế; nhiều quyền công dân và quyền con người đã được cụ thể hóa và thể chế hóa. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; toàn dân góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992; cải tiến việc bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân, bầu cử có số dư; tăng cường đóng góp ý kiến của nhân dân vào các dự án luật, các chính sách của Đảng và Nhà nước. Hoạt động của ngành tòa án và Viện kiểm sát cũng có nhiều đổi mới theo hướng phát huy dân chủ của công dân, tăng cường vai trò của luật sư và tranh tụng tại tòa án để hạn chế bớt các án oan, sai. Đã cải cách một bước nền hành chính quốc gia trên cả bốn phương diện: thể chế hành chính, tổ chức bộ máy, cán bộ công chức và tài chính công để giảm bớt phiền hà cho người dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh. Cùng với việc đa dạng hóa hình thức tập hợp quần chúng, chúng ta cũng đã đa dạng hóa chức năng các tổ chức này. Hàng loạt các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ra đời đã đáp ứng nhu cầu đa dạng, nhiều chiều của nhân dân về tập hợp quần chúng theo giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn, quê hương, tâm linh... Vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội” và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”. Các hình thức thực hiện dân chủ (dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện) từng bước được hoàn thiện. Quy chế dân chủ cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã thâm nhập sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân, làm cho bầu không khí dân chủ ở cơ sở ngày càng khởi sắc, có sinh khí. 3- Dân chủ trong văn hóa - xã hội Nhà nước bảo đảm cho nhân dân các quyền cơ bản, như quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do sáng tạo, quyền đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, quyền thảo luận và biểu quyết những vấn đề quan trọng trong xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư. Nhân dân có quyền thảo luận và giám sát các dự án về an sinh xã hội, về xóa đói, giảm nghèo, về hỗ trợ do thiên tai... Để tạo hành lang pháp lý cho phát huy dân chủ trong lĩnh vực văn hóa - xã hội, Nhà nước đã ban hành các đạo luật, như Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế, Pháp lệnh Ưu đãi người có công... Nhờ đó đã phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong sinh hoạt văn hóa tinh thần, trong hoạt động xã hội, tạo điều kiện cho nhân dân được hưởng thụ những thành quả của văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Ngoài ra trong hoạt động lý luận khoa học môi trường dân chủ có bước tiến, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tự do tư tưởng, tranh luận, thảo luận, phát huy tính sáng tạo của mình, phản biện, đóng góp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vào các chương trình, dự án kinh tế - xã hội của Trung ương và địa phương. Tóm lại, qua 30 năm đổi mới, những thành tựu về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta rất quan trọng, góp phần tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, thúc đẩy công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như Văn kiện Đại hội XI đã nhận định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa có tiến bộ”; “Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi trọng”(4). Về hạn chế, yếu kém - Nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn nhiều hạn chế. Một số người đồng nhất hoàn toàn dân chủ hiện nay với dân chủ xã hội chủ nghĩa theo nghĩa đầy đủ của nó. Một số lại có ảo tưởng muốn đạt ngay một trình độ phát triển cao của dân chủ trong khi nhiều tiền đề khách quan và chủ quan chưa chín muồi. Do không hiểu thực chất dân chủ trong chủ nghĩa tư bản nên một bộ phận nhân dân ngộ nhận dân chủ đó như là giá trị tuyệt đỉnh mà chủ nghĩa xã hội cũng phải khuôn theo. Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, dân chủ và pháp luật còn tồn tại ở không ít người. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Nhà nước vẫn còn bị hiểu sai lệch, biến thành tập trung quan liêu hoặc dân chủ vô tổ chức. - Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Tình trạng quan liêu của bộ máy hành chính làm cho yêu cầu quản lý các quá trình kinh tế - xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân chưa nhanh nhạy và có hiệu quả cao. - Phương thức tổ chức, phong cách hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng quan liêu, chưa sâu sát các tầng lớp nhân dân và cơ sở; cán bộ của nhiều đoàn thể chính trị - xã hội vẫn trong tình trạng “hành chính hóa”, “viên chức hóa”. - Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một số lĩnh vực còn bị vi phạm. Việc thực hành dân chủ còn mang tính hình thức. Dân chủ quá trớn, dân chủ cực đoan cùng sự độc đoán chuyên quyền vẫn diễn ra ở một số nơi, một số lĩnh vực. Dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp còn nhiều biểu hiện thiếu thực chất, chưa phát huy tốt vai trò của mình. - Dân chủ trong Đảng chưa được thực hiện đầy đủ, vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức. Tình trạng thiếu dân chủ trong Đảng thường đi đôi với việc lãnh đạo, quản lý độc đoán, chuyên quyền, thậm chí gia trưởng. Ngược lại, có tình trạng dân chủ không đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít; chấp hành nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước không nghiêm. Còn nhiều vi phạm trong việc thực hiện chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu và tổ chức đảng, chính quyền quy định chưa rõ ràng, thực hiện chưa nghiêm dẫn đến tình trạng “tranh công đổ lỗi” - thành tích thì cá nhân nhận về mình, khuyết điểm thì đổ cho tập thể. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém: có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan. - Dân chủ với tư cách là một vấn đề chính trị do trình độ phát triển kinh tế quy định. Trình độ thấp kém của kinh tế hiện nay ở nước ta với thể chế kinh tế thị trường còn sơ khai, chưa hoàn thiện sẽ hạn chế rất nhiều sự phát triển của dân chủ trong xã hội. - Nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã hội cũng có nghĩa là bỏ qua dân chủ tư sản, nhân dân chưa có ý thức và năng lực thực hành dân chủ, chưa qua trường học của dân chủ tư sản, chưa có một nền văn hóa dân chủ ở mức cần thiết, chưa có thói quen tuân thủ pháp luật trong một nhà nước pháp quyền nên dễ rơi vào cực đoan. - Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mới đang từng bước được xây dựng; hệ thống pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ, thiếu nhất quán. Nước ta còn thiếu nhiều cơ chế, quy chế, thiết chế để thực thi dân chủ, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. - Dân chủ gắn liền với dân trí, nhưng mặt bằng dân trí, trình độ dân trí chung của nhân dân còn thấp. - Tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của chúng ta để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. - Nhiều cấp bộ đảng, tổ chức nhà nước, cán bộ, đảng viên chưa thực sự là tấm gương về dân chủ trong xã hội. Những vấn đề đặt ra và giải pháp Những vấn đề đặt ra - Tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, cơ chế thực hiện dân chủ trong mô hình đó. - Tiếp tục nghiên cứu về lý luận và thực tiễn để làm rõ trong điều kiện một đảng cộng sản duy nhất cầm quyền, không đa nguyên chính trị đa đảng đối lập mà vẫn phát huy được dân chủ thực sự đối với nhân dân, vẫn giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng, Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên không rơi vào tình trạng suy thoái, biến chất, xa rời quần chúng. Mặt trái của tình trạng một đảng độc quyền lãnh đạo là dễ chủ quan, tự mãn, kiêu ngạo, đặc quyền đặc lợi, quan liêu, xa rời nhân dân. Muốn phòng ngừa và khắc phục, phải dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, “dựa vào dân để sửa chính sách”, “sửa cán bộ” (Hồ Chí Minh); có cơ chế để nhân dân giám sát Đảng, giám sát cán bộ, đảng viên. Mọi vấn đề về chủ trương, chính sách của Đảng cần được thảo luận trong Đảng và đưa ra toàn dân thảo luận rộng rãi trước khi Đảng quyết định. Đảng là quang minh chính đại, là đạo đức, là văn minh, lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của nhân dân, dân tộc nên làm như vậy chỉ có tốt cho Đảng. - Nghiên cứu để tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng. Để phát huy dân chủ đòi hỏi Đảng phải lãnh đạo bằng phương pháp dân chủ và trên cơ sở dân chủ. Để có dân chủ rộng rãi trong Đảng, điều cốt yếu là nhận thức đúng đắn và thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ. Mọi đảng viên được quyền bàn bạc, thảo luận và quyết định mọi công việc của Đảng - từ những công việc cụ thể của tổ chức đảng cơ sở đến những vấn đề lớn như xây dựng Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đảng viên có quyền tranh luận, nêu ý kiến riêng của mình và có quyền bảo lưu ý kiến lên cấp lãnh đạo cao nhất; Đảng phải khuyến khích thảo luận, tranh luận với những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau để đi đến thống nhất về quan điểm, nhưng khi đã thành nghị quyết của tập thể thì phải tôn trọng, mọi đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết: Mọi cấp ủy đảng phải thật sự lắng nghe ý kiến của cấp dưới và đảng viên, biết tổng hợp trí tuệ và sáng kiến của đảng viên, kinh nghiệm công tác phong phú của đảng viên. Thực hành tự phê bình và phê bình thường xuyên, nghiêm túc là nội dung quan trọng không thể thiếu của vấn đề dân chủ trong Đảng. Trên tinh thần dân chủ trong Đảng mà tự phê bình và phê bình có lý có tình, đảng viên hiểu nhau, thông cảm nhau, giúp đỡ nhau trên tinh thần đồng chí, cởi mở. - Nghiên cứu để xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các mô hình tự quản trong các cộng đồng dân cư ở cơ sở (thôn, làng, bản, ấp, tổ dân phố), hoạt động trên cơ sở hương ước, quy ước, không trái pháp luật; coi trọng vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng. - Nghiên cứu để phát huy vai trò của thiết chế xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc xây dựng xã hội thực sự dân chủ, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường và bổ khuyết những giới hạn của nhà nước trong quản lý xã hội. Ở nước ta hiện nay nhận thức về vấn đề “xã hội dân sự” còn rất khác nhau, có cả những nhận thức sai lệch, thậm chí có cả mưu đồ lợi dụng vấn đề xã hội dân sự để chống phá chế độ ta của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước. Cần đi sâu nghiên cứu vấn đề xã hội dân sự để, một mặt, vừa tạo sự thống nhất về nhận thức trong nội bộ, vừa để phản bác lại quan điểm sai trái, thù địch; mặt khác, có thể vận dụng những yếu tố hợp lý để phát huy dân chủ, phát triển đất nước.

Nói với những người "giả điếc" .

Mọi hành vi xuyên tạc, mọi kẻ cơ hội, lợi dụng bầu cử để mưu đồ lợi ích cá nhân đều không thể lọt qua con mắt tinh tường của nhân dân, chắc chắn họ sẽ bị nhân dân vạch mặt, chỉ tên... . Trên trang mạng của BBC gần đây có đăng tải một số bài viết nêu ý kiến của một số người về vấn đề bầu cử ở Việt Nam. Sở dĩ thời điểm này lại rộ lên những bài viết liên quan đến vấn đề bầu cử, ứng cử với những ý kiến trái chiều, có tính chất kích động dư luận là bởi hiện nay chúng ta đang chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Đây là cái cách mà một số kẻ thiếu thiện chí đã làm, đang làm mỗi khi đất nước có những sự kiện mang tính trọng đại. Ngược dòng lịch sử, năm 1946 là năm đầu tiên người dân nước ta được tự do thực hiện quyền công dân của mình, đó là đi bỏ phiếu bầu ra Quốc hội-cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. Ngay tại thời điểm đó, tính dân chủ trong bầu cử đã được thực hiện. Người dân được tự do đề cử, ứng cử, tự do bỏ phiếu bầu cho những người mà mình tin tưởng. Cũng từ ngày đó cho đến nay, mọi ứng cử viên được nhân dân tín nhiệm đưa vào dự bầu (sau hiệp thương) đều phải công khai lý lịch, trích ngang, quá trình công tác, những đóng góp cho dân, cho nước v.v.. trước nhân dân. Bản lý lịch, trích ngang đó ngoài việc công khai trên hệ thống thông tin đại chúng còn được niêm yết ngay tại địa điểm bỏ phiếu để các cử tri tiện theo dõi, lựa chọn. Tóm lại mọi khâu, mọi bước trong tiến trình bầu cử, mọi vấn đề của ứng cử viên đều được công khai trước nhân dân, trước thời điểm các cử tri quyết định bỏ lá phiếu của mình để chọn người đại diện cho chính mình vào cơ quan lập pháp của Nhà nước. Ấy thế nhưng vẫn có những người “giả điếc” cho rằng, các cuộc bầu cử của Việt Nam là thiếu dân chủ, là “Đảng cử, dân bầu” nên làm giảm quyền lựa chọn của nhân dân. Cũng có những người vờ vĩnh cho rằng “hiện nay ở Việt Nam còn tồn tại một số đảng chính trị và các đảng đó cũng có quyền cử người của mình ra ứng cử”. Thật là lố bịch và thiếu hiểu biết, bởi từ lâu, người dân Việt Nam đã tự lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa đất nước và nhân dân Việt Nam đến hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Còn lại những cái mà một số người tự tụ tập, rồi tự xưng là “tổ chức đảng” này, “tổ chức chính trị” kia, đều là sự tồn tại trái pháp luật và đều không được nhân dân Việt Nam chấp thuận. Lại có người cũng đã từng làm thơ, viết văn, sống đã quá nửa đời người, trải qua ngót chục lần bầu cử, lại giả vờ ngây ngô cho rằng, “tôi đi bỏ phiếu nhưng tôi có biết ai vào ai đâu”. Người nói như thế chứng tỏ một điều là anh ta đã thiếu trách nhiệm với chính cái quyền của mình và coi thường quyền lợi của nhân dân mình. Những đối tượng như vậy mà lại nhăm nhe ra tự ứng cử để hòng “làm đại diện cho nhân dân” trong cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước thì thử hỏi ai tin là họ có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân và của quốc gia, dân tộc? Bầu cử, ứng cử là quyền tự do của người dân Việt Nam và đã được quy định rõ ràng trong Điều 27, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Mọi hành vi xuyên tạc, mọi kẻ cơ hội, lợi dụng bầu cử để mưu đồ lợi ích cá nhân đều không thể lọt qua con mắt tinh tường của nhân dân, chắc chắn họ sẽ bị nhân dân vạch mặt, chỉ tên./.

Củng cố niềm tin của nhân dân từ hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng .

Những năm qua, trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch, phản động thường khai thác, lợi dụng một số vụ án tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) ở Việt Nam để xuyên tạc, chống phá công cuộc Đổi mới và sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cùng với đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả PCTN, chúng ta cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm đó... Thủ đoạn phổ biến của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là tuyệt đối hóa phần đánh giá hạn chế trong các báo cáo, kết luận của Đảng và Nhà nước ta về tham nhũng và PCTN; hoặc lấy vi phạm của một số cán bộ, đảng viên, một số vụ việc, vụ án trọng điểm đang được chỉ đạo, xử lý để “phóng đại” thành tình hình chung. Họ tách rời tham nhũng với công tác PCTN để “khoét sâu nội bộ”, đổ lỗi do năng lực lãnh đạo của người đứng đầu, viện cớ “vì duy nhất Đảng Cộng sản cầm quyền”, nên sai lầm về đường lối và tất yếu để xảy ra tham nhũng, hòng hạ thấp uy tín của Đảng ta, chia rẽ, gây mất đoàn kết trong hàng ngũ cán bộ lãnh đạo cao cấp; làm giảm sút lòng tin của xã hội vào sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và bộ máy chính quyền các cấp; chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân. Cùng với đó, họ còn tuyên truyền, tung hô: “Phải thực hiện đa nguyên, đa đảng” và “chỉ có từ bỏ chủ nghĩa xã hội thì Việt Nam mới hết tham nhũng…”. Các thế lực thù địch, phản động cũng triệt để tận dụng internet để đăng tải các bài viết kèm thông tin, số liệu đã được “xào xáo”, một số hình ảnh cắt ghép lộ liễu, trắng trợn; đưa các phim phóng sự, phỏng vấn, bình luận với sự suy diễn, áp đặt chủ quan, xuyên tạc… hòng tác động đa chiều vào dư luận xã hội, làm dấy lên những băn khoăn, lo lắng, nghi hoặc của nhân dân. Họ kết hợp lợi dụng một số bức xúc ở một vài nhóm dân cư để âm mưu kích động, tạo thành các “điểm nóng”, nhằm gây rối về an ninh chính trị từ cơ sở… Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, kể cả ở nước nghèo và nước giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển, hoặc kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng đối lập lãnh đạo. Trên thế giới, tham nhũng đã có từ xa xưa và hiện vẫn đang là vấn nạn nghiêm trọng tại nhiều quốc gia. Năm 2015, trong bảng xếp hạng tham nhũng toàn cầu do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố cho thấy, có khoảng 2/3 các nước trên thế giới có số điểm dưới 50 về PCTN. Thông điệp của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-mun (Ban Ki Moon) nhân Ngày quốc tế PCTN (9-12-2015) có nêu: Quan điểm toàn cầu về tham nhũng đã thay đổi đáng kể. Trước đây tham nhũng, hối lộ và các dòng tài chính bất hợp pháp thường được coi là một phần của chi phí kinh doanh, nhưng nay tham nhũng được hiểu một cách rộng rãi, đúng là một loại tội phạm và có tính chất phá hoại… Tham nhũng tác động tiêu cực đến sự phát triển, làm trầm trọng thêm vấn đề bạo lực và sự bất ổn, lo lắng của người dân... Ở Việt Nam, các hiện tượng tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm dụng chức vụ, quyền hạn… đã được Đảng ta nhận diện, nghiêm túc tự phê bình và thẳng thắn chỉ ra ngay từ thời kỳ xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ sau năm 1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng coi tham nhũng, quan liêu, lãng phí là giặc nội xâm, kẻ thù của nhân dân. Trong các văn kiện của Đảng đều nói đến tệ nạn này, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Tháng 1-1994, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã cảnh báo: “Nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội là một trong bốn nguy cơ trước mắt của đất nước”. Theo đánh giá tại Hội nghị Trung ương 5, khóa XI của Đảng: “Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước…”. Không dừng lại ở nhận diện, Đảng và Nhà nước ta luôn coi đấu tranh chống tham nhũng là một bộ phận cấu thành quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, đồng thời xác định PCTN là một trong những đối sách phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Nhiều văn bản như: Chỉ thị số 64-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI và Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VII “Về lãnh đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng”…; Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí”; Chỉ thị số 50-CT/TWcủa Bộ Chính trị khóa XI “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”…; cùng với đó Luật PCTN (bổ sung, sửa đổi năm 2007 và năm 2012) có hiệu lực từ ngày 1-6-2006, đồng bộ với nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành, hoặc có liên quan nhằm cụ thể hóa việc triển khai Chiến lược quốc gia về PCTN đến năm 2020… Qua đó, cho thấy PCTN ở nước ta được triển khai một cách quyết liệt, toàn diện. Việc chỉ đạo công tác phát hiện và xử lý tham nhũng đã có chất lượng, hiệu quả hơn; hợp tác quốc tế trong PCTN tích cực, chủ động hơn… Đặc biệt, Quy định tổ chức bộ máy và mô hình Ban Chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về PCTN (gọi tắt là BCĐ) trực thuộc Bộ Chính trị đã thể hiện rõ quan điểm Đảng trực tiếp lãnh đạo để tăng cường khả năng phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác PCTN. Trong 3 năm (2013 - 2015), BCĐ đã tổ chức 9 phiên giao ban tình hình, thành lập 25 đoàn kiểm tra, giám sát, đôn đốc công tác PCTN tại 15 đảng ủy, ban cán sự đảng bộ, ngành Trung ương và 29 ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy. Qua kiểm tra, giám sát, nhiều khó khăn, vướng mắc đã được tháo gỡ; đề xuất, kiến nghị đưa 126 vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo; đến nay nhiều vụ án, vụ việc được chỉ đạo, xử lý dứt điểm. Trong đó, riêng các vụ án thuộc diện BCĐ Trung ương theo dõi, chỉ đạo, trong 2 năm 2014 và 2015 đã xét xử sơ thẩm 14 vụ với 149 bị cáo; toàn bộ 8 vụ án trọng điểm, BCĐ yêu cầu xét xử trước Đại hội XII của Đảng đã hoàn thành đúng tiến độ… Năm 2016, BCĐ đã và đang triển khai 6 nhóm nhiệm vụ công tác trọng tâm; trong đó, đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, công khai kết quả về PCTN; chỉ đạo cấp ủy, tổ chức đảng tập trung cụ thể hóa các chủ trương, định hướng của Đảng về PCTN được nêu trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng; chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 7-12-2015 của Bộ Chính trị; tăng cường kiểm tra chuyên đề công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng… Thực tế trên cho thấy, Đảng ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh mạnh mẽ PCTN, xử lý nghiêm minh hành vi và tội phạm tham nhũng, không có “vùng cấm” trong PCTN. Đảng ta và tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng luôn thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Nếu để tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng, kéo dài, Đảng sẽ tự suy yếu, “thế trận lòng dân” sẽ suy giảm, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ và chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục xác định: “Đẩy mạnh đấu tranh PCTN, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng, đồng thời là nhiệm vụ khó khăn phức tạp, lâu dài. Các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và toàn bộ hệ thống chính trị phải kiên quyết PCTN, lãng phí; chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời các hành vi tham nhũng, lãng phí, bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí”. Chủ trương đó thêm một lần nữa khẳng định, Đảng ta và Nhà nước ta đã và đang ngày càng đề cao quyết tâm chính trị, không ngừng đổi mới, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao hiệu quả PCTN. Tuy nhiên, tham nhũng vẫn đang là vấn nạn phức tạp; bên cạnh đó, do tác động mặt trái của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế lên những giá trị đạo đức, quan niệm sống, nhân cách con người… làm cho tham nhũng vẫn còn “đất” để bám rễ, tồn tại. Đây tiếp tục là nguy cơ, thách thức, đòi hỏi cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải quyết liệt, nỗ lực và hiệu quả hơn nữa trong PCTN. Bên cạnh đó, chúng ta cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tình hình tham nhũng và công tác PCTN ở nước ta để thực hiện âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng và công cuộc Đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta./.