Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

 


Đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ở mọi thời kỳ, trước bất cứ nhiệm vụ gì, đều phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”.

Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy; là thứ vi trùng độc hại sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó

Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. ...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót, song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt.

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới, nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; để Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát tài, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi.

Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực.

Phê phán các quan điểm sai trái về bầu cử

Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Cũng như các kỳ Đại hội và bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm chống phá, như: “Đảng lãnh đạo bầu cử là không dân chủ”, “Bầu cử Quốc hội ở Việt Nam là hình thức”; “Đảng cử - dân bầu”; “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”; “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”; “Cuộc bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe cánh” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”, v.v... 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Để cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Hiện nay, các nước dù theo thể chế chính trị nào đều có đảng chính trị. Các nước theo chế độ đa đảng, các đảng chính trị đều lãnh đạo các cuộc bầu cử.

Cớ gì lại phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bầu cử?

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Các nước tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v...

Tại sao lại cho rằng ở Việt Nam lại “Đảng cử - dân bầu”? Trên thế giới đều “đảng cử - dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai. Những người có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền  bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”.

Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Họ cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng. Thậm chí, có đối tượng còn đói xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản chủ nghĩa. Bản chất Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta khác với các nước tư bản chủ nghĩa. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chính vì thế trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có cơ cấu hợp lý, đại diện cho các giai tầng trong xã hội, có ­người ngoài Đảng, nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được đặt ra từ các cuộc bầu cử trước đây và cố gắng phấn đấu đạt tỷ lệ ấy. Kết quả ngày Hội toàn dân 23/05/2021 vửa rồi là minh chúng hùng hồn, đúng đắn nhất, không thể thay đổi.

Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

 


Đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ở mọi thời kỳ, trước bất cứ nhiệm vụ gì, đều phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”.

Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy; là thứ vi trùng độc hại sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó

Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. ...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót, song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt.

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới, nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; để Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát tài, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi.

Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực.

Những điểm mới về công tác tư tưởng trong Văn kiện Đại hội XIII

Nội dung của công tác tư tưởng được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh đến xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã nhiều lần đề cập đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện khẳng định đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, Văn kiện đã coi niềm tin của nhân dân là một thành tố trong những thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Trong 5 bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới, Văn kiện lần này bổ sung một nội dung mới vào bài học thứ hai là: Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, sức mạnh niềm tin của nhân dân. Mặc dù, vai trò của nhân dân đã được đề cập xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, nhưng lần này, vai trò đó đã được cụ thể hóa thành niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Vấn đề này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XII,  “hợp lòng dân, thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

Niềm tin là sợi dây liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; không có niềm tin của nhân dân, Đảng không có cơ sở để tồn tại. Niềm tin vào Đảng đã giúp nhân dân vượt qua mọi hy sinh, gian khổ để một lòng theo Đảng làm cách mạng, lập nên những chiến công trong chiến tranh giải phóng dân tộc; vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX và sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, cũng như những khó khăn, thách thức mà đại dịch COVID-19 đặt ra mới đây. Niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố, từ những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, uy tín của cán bộ, đảng viên, kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Niềm tin đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Để thực hiện được những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII, cấp ủy các cấp cần nhận thức sâu sắc mục đích của công tác tư tưởng là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là mục tiêu rất cụ thể, rõ ràng nhưng hết sức nặng nề, phức tạp. Trong bối cảnh các thế lực thù địch chống phá quyết liệt; sự nghiệp đổi mới còn những yếu kém, bất cập; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường; tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất vẫn chưa được ngăn chặn triệt để... thì nhiệm vụ xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ càng khó khăn hơn.


Vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam


Ngày 16/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đây là một bài viết rất quan trọng, không chỉ trực tiếp phản bác những quan điểm sai lầm, phiến diện, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn khẳng định sự lựa chọn của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với quy luật khách quan.

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong Thông điệp Liên bang năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác.

Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Đúng như bài viết của đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:

Những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người. Thực tiễn cho thấy xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin; và bởi, chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được. Họ cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa; rằng, con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên; hay đó chính là một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản. Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chính những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế. Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30 năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác nói riêng.

Ở Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”, không tuân theo quy luật mà C.Mác đã từng khẳng định: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.

Như vậy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để các học giả phương Tây nắm lấy để công kích, xuyên tạc, lý luận của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa xã hội. Điều này gây ra sự dao động, hoài nghi của không ít người Việt Nam, trong đó có cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa Mác, ủng hộ, thậm chí tôn thờ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đó là biểu hiện của xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta luôn nhắc đến trong những năm gần đây.

Chúng ta không thể phủ nhận một hiện thực là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử; Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Tổng Bí thư đã khẳng định: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”. Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hành trình trong cả nhận thức và bước đi, trong cả tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển. Bài viết đã cô đọng, khái quát lại những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Những vấn đề cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở Đại hội IX, Đảng ta đã đưa ra nội hàm rất cụ thể, rõ ràng về việc “bỏ qua” : Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo sự biến đổi về chất của xã hội trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. 

Tuy nhiên, phần là do mơ hồ về nhận thức, song cũng phần lớn do có tư tưởng chống phá, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo, xuyên tạc về việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là chủ quan, duy ý chí, trái với quy luật khách quan. Vì vậy khẳng định thêm: Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. Luận điểm này không chỉ tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quan điểm của Đảng ở Đại hội IX mà đề ra nguyên tắc quan trọng trong việc kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong xây dựng ở Việt Nam. Đó là phải dựa trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết cũng đã chỉ ra những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả những phương diện mà nước ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành đổi mới, đặc biệt là những kết quả, thành tích đặc biệt mà Việt Nam đã đạt được trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2020. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định lại nhận định của Đại hội XIII khi đánh giá những kết quả mà đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được qua 35 năm đổi mới và 3o năm thực hiện Cương lĩnh 1991: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.

Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới phải đối mặt trong quá trình phát triển đất nước. Bài viết khẳng định những hạn chế, khuyết điểm đó là không thể tránh khỏi nên cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Qua bài viết, đồng chí Tổng Bí thư vẫn tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, thành công hay thất bại phụ thuộc phần lớn vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây là một luận điểm quan trọng đã chỉ ra cách thức, nguyên tắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để cho những nhân tố đó ngày càng chiếm ưu thế và đi đến chiến thắng trong các mặt của đời sống xã hội. Để làm được điểu đó cần phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra trong bài viết. Đó không chỉ là kết quả của quá trình phát triển lý luận mà còn cả tổng kết thực tiễn từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội, bài viết đã chỉ ra những cách thức, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo đồng chí Tổng Bí thư, điều quan trọng nhất là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Ngoài ra, cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Luận điểm này của đồng chí Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm, làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đại hội XIII về việc kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn mới: Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Có thể khẳng định, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, tư tưởng về những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII, vừa trực diện đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh, tỏa sáng những giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đúng như bài viết khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tuy còn rất lâu dài với nhiều khó khăn, thử thách; các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Mặt khác, các thế lực thù địch lại thường xuyên phủ nhận, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. Chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn luôn là tương lai của lịch sử loài người.


Mô hình kinh tế thị trường thể hiện rõ sự kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam


Nội hàm, bản chất nền kinh tế thị trường của nước ta đã được làm sáng tỏ, có điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu chung - cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân. Mục tiêu này là phản ánh nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại.

Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII diễn ra vào thời điểm toàn Đảng và toàn dân ta thực hiện thắng lợi nhiều chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đạt được nhiều thành quả rất quan trọng và tạo nhiều dấu ấn nổi bật, tô đậm thêm những thành tựu sau 35 đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, quán triệt quan điểm chỉ đạo xuyên suốt: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội… Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sẽ đưa nước ta trở thành nước phát triển với thu nhập cao. Nhằm hiện thực hóa mục tiêu đó, Báo cáo chính trị và báo cáo chuyên đề đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021 - 2030. Trong đó, một trong những định hướng nổi bật hàng đầu là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước; hoàn thiện toàn diện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa….

Trải qua nhiều nhiệm kỳ Đại hội, nội dung, mô hình "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Đảng ngày càng được định hình rõ nét. Tại Đại hội IX, Đảng ta lần đầu tiên nêu khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". Đến Đại hội X và XI, tiếp tục được điều chỉnh, làm rõ hơn nội hàm "được sự dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội". Đại hội XII bổ sung, điều chỉnh thêm cho phù hợp yêu cầu của thực tiễn: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh". Sự thay đổi ở đây là nhấn mạnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải được "vận hành đầy đủ, đồng bộ" theo các quy luật của kinh tế thị trường, hạn chế, đi đến xóa bỏ sự can thiệp hành chính, mang tính chất chủ quan của các cơ quan quản lý nhà nước, tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy luật kinh tế; coi kinh tế thị trường là cơ chế vận hành của toàn bộ nền kinh tế, quyết định việc phân bổ mọi nguồn lực đầu vào, đầu ra của quá trình sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, để đáp ứng và phù hợp với thực tiễn, Đại hội xác định "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" nhưng phải "đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước".

 

Đến Đại hội XIII, mô hình kinh tế thị trường thể hiện rõ sự kế thừa, bổ sung, phát triển của Đảng. Lần này, mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước". Đảng ta bổ sung đặc điểm "nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế" là phù hợp với thực tiễn quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và yêu cầu hiện đại hóa nền kinh tế hiện nay.

Như vậy, nội hàm, bản chất nền kinh tế thị trường của nước ta đã được làm sáng tỏ, có điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm hướng tới mục tiêu chung - cao nhất là xây dựng nước Việt Nam: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", mang lại hạnh phúc, ấm no cho toàn thể nhân dân. Mục tiêu này là phản ánh nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại.

Với mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta, các thế lực thù địch đã và đang tiếp tục xuyên tạc, hướng đến bác bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Họ cho rằng: kinh tế thị trường mang tính tự phát do đó sẽ phát triển không ổn định. Tính chất tư nhân của sản xuất do các chủ thể hoạt động cạnh tranh quyết liệt, không lành mạnh, nên thường xuyên tạo ra sự mất cân đối, bất hợp lý ở tầm vĩ mô, làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Họ cho rằng, phát triển kinh tế thị trường thì không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cụ thể là ở Việt Nam, chủ trương gắn kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa là không có cơ sở khoa học, bởi chúng đối lập nhau như nước với lửa, không thể dung hòa, không thể "ghép đôi". Thậm chí, theo họ, sự kết hợp một cách "khiên cưỡng" đó đã dẫn đến tình trạng tụt hậu xa về kinh tế và càng làm càng thất bại. Cùng với đường lối sai lầm đó, họ thổi phồng rằng, những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực, thất thoát tài sản, kiểu làm ăn kém hiệu quả sẽ đưa nước ta tới tình trạng "khủng hoảng toàn diện".

Gần đây, trước và sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, trên một số diễn đàn, tiếp tục xuất hiện những luận điệu phủ nhận sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoặc cho rằng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một "khái niệm mơ hồ", thực hiện nó thì nền kinh tế không phát triển… và "kiến nghị không nên để cụm từ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội XIII". Sự thật là, họ đã cố tình xuyên tạc, làm ngơ với những nỗ lực, những kết quả mà nền kinh tế thị trường dưới sự định hướng, can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã mang lại. Chúng ta hoàn toàn có thể bác bỏ những luận điệu sai trái này bằng những luận cứ khoa học.
Trước hết, cần khẳng định rằng, kinh tế thị trường là sản phẩm của nhân loại, được hình thành, phát triển gắn liền với quá trình xã hội hóa sản xuất. Với những đặc trưng riêng, kinh tế thị trường có những ưu thế hơn hẳn so với kinh tế tự nhiên và cơ chế quản lí hành chính, bao cấp. Cơ chế thị trường rất năng động, đáp ứng nhanh nhất, tốt nhất các nhu cầu của sản xuất và đời sống, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao chất lượng sống của con người. Kinh tế thị trường sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả; duy trì động lực mạnh mẽ cải tiến kĩ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm. Đây là ưu điểm nổi bật của kinh tế thị trường. Mặt khác, do tính cạnh tranh cao nên kinh tế thị trường đã loại bỏ được nhanh chóng những nhân tố lạc hậu, không hiệu quả, khuyến khích các nhân tố tích cực, mở rộng quy mô hoạt động, sản xuất kinh doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển. 

Như vậy, kinh tế thị trường là một thành quả - sản phẩm của nhân loại góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại. Bởi vậy, bất kỳ nước nào, nhất là một nước đi sau, đang trong quá trình phát triển như Việt Nam, thì việc tận dụng những thành tựu của nhân loại để đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước là một tất yếu. Tuy nhiên, là một thực thể, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật, mặt trái, có tính tiêu cực.. , làm nảy sinh các vấn đề xã hội như: phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, tình trạng cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường; nảy sinh những vấn đề mang tính toàn cầu: khủng hoảng tài chính, tiền tệ, khủng hoảng lương thực, khủng bố quốc tế,… gây ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam.

Những khuyết tật này là điều không mong muốn trong quá trình phát triển của các quốc gia; đặc biệt với Việt Nam, nó đối lập hoàn toàn với mục tiêu cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, sự can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước vào nền kinh tế nhằm khắc phục những tác động tiêu cực, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu mà Đảng ta đã đề ra là điều không cần bàn cãi. Những năm gần đây, căn cứ vào những nét tương đồng và khác biệt, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử và đặc điểm của mỗi nước, sự vận hành kinh tế thị trường trên thế giới cũng được chia làm nhiều loại: mô hình kinh tế thị trường tự do (điển hình là Anh, Mỹ), mô hình kinh tế thị trường xã hội (Đức, Pháp, Thụy Điển), mô hình kinh tế thị trường nhà nước phát triển ở châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc…). Vận dụng phù hợp với định hướng chính trị của mình, Việt Nam lựa chọn "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhằm phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  bằng, văn minh. Thực tế đã chứng minh, quá trình phát triển của kinh tế thị trường tự do đã làm cho những khuyết tật của nó ngày càng phức tạp, trầm trọng, trở thành nhân tố cản trở sự phát triển của nền sản xuất, cản trở việc thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì thế, việc "can thiệp" của nhà nước đối với nền kinh tế là cần thiết, tất yếu nhằm khắc phục các khuyết tật vốn có của cơ chế thị trường, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, định hướng nền kinh tế. Mặt khác, xu hướng toàn cầu hóa, phát triển dựa vào tri thức, sự xuất hiện của doanh nghiệp qui mô lớn, sự hình thành khu vực kinh tế nhà nước và sự "can thiệp" của nhà nước vào nền kinh tế với vai trò điều tiết, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển đồng bộ, ổn định, các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh, phát triển trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trở thành đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường hiện đại. Như vậy, việc "can thiệp" của nhà nước nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế thị trường là một tất yếu.

Từ năm 1986, đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Sau 35 năm thực hiện cơ chế kinh tế mới, nền kinh tế - xã hội nước ta đã phát triển năng động, năng suất lao động tăng trưởng nhanh hơn, lợi ích của các chủ thể được đáp ứng, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Cụ thể là, Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Giai đoạn 2002-2019, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6%. Số hộ nghèo hiện nay chủ yếu tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Một bằng chứng sinh động và thuyết phục là, năm 2020 là năm "bóng tối" bao phủ nền kinh tế thế giới, kể cả những nền kinh tế lớn, song nền kinh tế Việt Nam vẫn nổi lên như một điểm sáng đáng tự hào. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và thiên tai gây hậu quả nặng nề, nền kinh tế nước ta không những không bị suy thoái, mà tổng sản phẩm (GDP) trong nước vẫn tăng 2,91%, đưa Việt Nam vào nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới. Sự thành công đáng ghi nhận này, theo nhiều chuyên gia kinh tế là nhờ vào mô hình thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mô hình này thể hiện rõ tính chủ động, khả năng tự chủ, phản ứng chính sách và phản ứng thị trường có hiệu quả. Cùng với sự điều chỉnh chính sách kinh tế, sự thích ứng kịp thời, chúng ta đã rất thành công trong việc kiểm soát sự lây lan của dịch Covid-19. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyền lực Nhà nước tập trung, thống nhất đã giúp cho chính quyền Trung ương có đủ sức mạnh và thẩm quyền để ban hành các quyết định quan trọng, vừa đảm bảo phòng chống dịch, vừa phát triển kinh tế trong điều kiện cho phép. Mặt khác, với mục tiêu hết sức nhân văn, đặt sức khỏe và tính mạng của người dân lên trên lợi ích kinh tế, sẵn sàng chấp nhận hy sinh một số lợi ích kinh tế là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Chính phủ Việt Nam. Nguyên tắc này phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của đông đảo nhân dân, từ đó tạo được sự tin tưởng, đồng hành, ủng hộ tối đa của các tầng lớp nhân dân đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. 

Như vậy, việc can thiệp, định hướng xã hội chủ nghĩa đối với nền kinh tế thị trường những năm qua đã mang lại những lợi ích rất thiết thực, cụ thể, hiệu quả, giúp cho nền kinh tế tránh được những rủi ro và tăng trưởng trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Những con số biết nói, sự tiến bộ trên mọi mặt: kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục, y tế… chính là những minh chứng bác bỏ một cách thuyết phục sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất đã thể hiện rõ tính ưu việt, tạo môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế. Đó là một hiện thực không thể phủ nhận.

Ghi nhận thành công của Việt Nam trong công cuộc phát triển kinh tế và phòng chống đại dịch covid, hãng thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (BBC) đã khẳng định: Việt Nam đã xử lý kiên quyết, chặt chẽ và ngay từ đầu với đại dịch Covid-19, nhờ đó hạn chế thiệt hại ở mức thấp nhất. Như là một thắng lợi kép, Việt Nam đã phát triển kinh tế trở lại trong khi thế giới còn đầy rẫy khó khăn. Kết quả là, Việt Nam vượt qua Singapore và Malaysia để vào tốp 4 nền kinh tế hàng đầu Đông Nam Á, thậm chí Quỹ Tiền tệ quốc tế còn cho rằng Việt Nam đã ở trong tốp 3, vượt qua Philippines về mức độ thịnh vượng, và cả về tổng sản phẩm quốc nội thu nhập tính theo đầu người... Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản (JCER) còn dự báo với khả năng hồi phục và bật dậy nhanh chóng sau dịch Covid-19, Việt Nam sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2023 và là nền kinh tế lớn thứ hai Đông Nam Á sau Indonesia vào năm 2035. Cũng là thời điểm Việt Nam sẽ vượt qua Đài Loan, theo JCER. Đấy không phải là sự so sánh quá lạc quan. Điều mà chúng tôi thấy được là Việt Nam đã không bị hụt hơi do hoàn cảnh và đó là tin tốt đối với một nền kinh tế vốn và vẫn còn đang ở trình độ thấp.

Ngoài ra, vấn đề tạo việc làm cho người lao động, không phân biệt tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn, giới tính…; xóa đói giảm nghèo; phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục, thể thao đã được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm phát triển toàn diện con người, tạo động lực cho sự phát triển; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường, tạo tiền đề để tăng trưởng bền vững. Tất cả những mục tiêu trên thể hiện bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa, không đối đầu với kinh tế thị trường mà trái lại, tạo động lực vì sự phát triển bền vững, phát triển vì con người.

Có thể nói, những thành quả sau 35 năm đổi mới, thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã khẳng định đó là một quá trình tất yếu kinh tế, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Thành quả đó đã được thế giới ghi nhận.

Những kết quả đạt được thông qua các con số thống kê nói trên, cùng với những nhận định đánh giá khách quan của các tổ chức quốc tế, cơ quan thông tấn quốc tế đã minh chứng cho hiệu quả của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và khẳng định "lời khuyên", những luận điệu muốn Việt Nam từ bỏ bản chất định hướng xã hội chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường là hoàn toàn không có cơ sở, cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Để nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục thành công, hiện nay, Đảng ta vẫn tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo với những định hướng, nhiệm vụ cụ thể như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, điều chỉnh, bổ sung hệ thống hành lang pháp lý…; đặc biệt luôn bám sát thực tiễn để đổi mới, sáng tạo. Kiên trì theo đuổi mục tiêu, đặt lợi ích của nhân dân là tối thượng, với mục tiêu xuyên suốt mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ ra: Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế và Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển sẽ là những nguyên tắc bất di bất dịch đảm bảo thực hiện thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước phát triển, "sánh vai với các cường quốc năm châu" như Bác Hồ hằng mong ước. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa và khát vọng vì một Việt Nam hùng cường của dân tộc Việt Nam, chúng ta tin tưởng rằng Việt Nam sẽ thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển thu nhập cao vào năm 2045.

 


Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo

 


Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

Bóp méo, xuyên tạc lịch sử là có tội với dân tộc


Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vừa kỷ niệm 46 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2021). Trong dịp này, trên BBC tiếng Việt và một vài mạng xã hội xuất hiện luận điệu trắng trợn bóp méo, xuyên tạc vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng.

Chúng ta chẳng lạ gì chiêu trò ấy, bởi đổi trắng thay đen, bóp méo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội và các bậc tiền bối đã thành bản chất của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Nhưng dù giở chiêu trò gì đi chăng nữa thì những kẻ mang tâm địa xấu xa, dã tâm đen tối cũng không bao giờ phủ nhận được tài thao lược, cùng với bản lĩnh cầm quân kiệt xuất của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ngược dòng lịch sử trở lại ngày 7-5-1954 quân và dân ta kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Nhắc đến cuộc kháng chiến chống Pháp nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, không chỉ Việt Nam mà cả thế giới phải ngưỡng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Lợi dụng thất bại của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược miền Nam Việt Nam. Đất nước ta sau ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (4-1954) tạm bị chia thành hai miền Nam - Bắc. Cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược đó là cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Một lần nữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng cả dân tộc bước vào cuộc chiến đấu mới chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.

Năm 1959, cách mạng miền Nam có những diễn biến mới, đặc biệt là phong trào đồng khởi phát triển mạnh, lan rộng khắc các tỉnh, thành phố. Để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện Nghị quyết của Trung ương và Tổng Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định thành lập Đoàn 559 mở “đường Hồ Chí Minh” trên bộ chạy dọc dãy Trường Sơn, rồi sau đó là “đường Hồ Chí Minh” trên biển với sự ra đời của Đoàn 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125). Tuyến đường mòn chiến lược Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển đã trở thành “huyết mạch” cực kỳ quan trọng cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tư lệnh đã lãnh đạo, chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công vang dội trên khắp hai miền Nam – Bắc, đánh bại các cuộc leo thang đánh phá miền Bắc bằng hải quân và không quân của đế quốc Mỹ; đập tan các kiểu chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam... Những kết quả của cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước, đã tạo ra bước ngoặt mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari (ngày 27-1-1973) về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Sau Hiệp định Paris, đế quốc Mỹ rút quân về nước, tình hình chiến trường miền Nam đã có những diễn biến thuận lợi cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nhận thấy thời cơ đến, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề xuất với Bộ Chính trị và ra quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị giải phóng miền Nam, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 – Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh đã xây dựng nên một thế trận giải phóng miền Nam với mưu kế kỳ diệu: Căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến, kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn... khiến cho chúng bộc lộ sơ hở ở Tây Nguyên và rơi vào thế trận đã sắp đặt của ta. Để phá vỡ phòng thủ của địch ở Tây Nguyên nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực cho toàn chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã sáng suốt quyết định điều thêm 2 sư đoàn cho mặt trận Tây Nguyên. Từ chỗ chỉ có 2 sư đoàn, đến mùa Xuân 1975, mặt trận Tây Nguyên đã có tới 4 sư đoàn và thực sự trở thành quả đấm chủ lực đánh mạnh vào đối phương. Đúng như dự kiến, các sư đoàn đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin tưởng giao cho. 

Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ Tổng tư lệnh, quân ta thừa thắng xông lên đánh bại sự phản kích của địch, tiêu diệt Sư đoàn 23 dẫn đến sự bùng nổ về chiến thuật và tạo ra phản ứng dây chuyền, làm cho địch ở Pleiku và Kon Tum chưa bị đánh đã tháo chạy. Sự đột biến về chiến dịch cũng được tạo ra sau phản ứng dây chuyền này. Một cục diện chiến tranh mới mở ra, đẩy quân địch ở Tây Nguyên vào thế hỗn loạn về chiến lược và suy sụp nhanh chóng về tinh thần.

Ngay từ khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tính toán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Thực tế chiến trường đã diễn ra đúng như vậy. Nắm bắt thời cơ đó, chúng ta đã chủ động mở tiếp Chiến dịch Huế, Chiến dịch Đà Nẵng và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; thống nhất đất nước!” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là mệnh lệnh chỉ huy các cánh quân mà đó còn là tiếng kèn xung trận, sự kết tinh của một tư duy quân sự thiên tài, qua đó góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Công lao và đóng góp của thiên tài quân sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975 nói riêng là không thể phủ nhận. Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân ta không bao giờ lãng quên công lao to lớn của các bậc tiền bối và những người có công với cách mạng, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong thời kỳ hội nhập, những thành quả mà ông cha ta đã lập nên, đã đúc kết, truyền dạy và mong muốn lớp cháu con giữ gìn, phát huy càng được khẳng định và không gì có thể thay thế được. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không muốn nhắc nhiều về những đau thương, hy sinh, mất mát trong thời kỳ kháng chiến giải phóng dân tộc. Quan điểm nhất quá của chúng ta là "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai". Nhưng "khép lại quá khứ" không có nghĩa là "quên quá khứ" và càng không phải là bóp méo, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của lớp người đi trước. Quên công lao của tổ tiên, của các bập tiền nhân, của thế hệ đi trước, không biết đến những năm tháng bi tráng, hào hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, điều đó là vô cùng nguy hại. 

Trong phạm vi hẹp với mỗi gia đình, nếu lớp cháu con không biết kính trọng tổ tiên, ông bà, cha mẹ; không biết giữ gìn, phát huy những gì mà những người đi trước đã đổ mồ hôi, công sức và cả xương máu để xây dựng, vun đắp thì nền móng đạo lý của gia đình ấy sớm muộn cũng lung lay và đổ vỡ... Suy rộng đối với mỗi quốc gia cũng vậy. Sẽ là thảm họa, bi kịch đối với tiền đồ, tương lai đất nước nếu thế hệ đi sau thờ ơ, thậm chí bóp méo, xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận công lao của thế hệ trước, đi quay lưng với lịch sử dân tộc. Trong thâm tâm mỗi chúng ta không ai mong đất nước xảy ra chiến tranh, nhưng giặc xâm lăng đã buộc chúng ta phải đứng lên cầm súng chiến đấu để giải phóng dân tộc, bảo vệ giang sơn, bờ cõi...Và lịch sử dân tộc ta thời nào cũng vậy đều xuất hiện những anh hùng hào kiệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những con người như vậy. Thử hỏi nếu thế hệ ông cha, lớp người đi trước không đổ máu hy sinh, đóng góp công sức giữ gìn và dựng xây đất nước thì làm sao chúng ta có được cuộc sống hòa bình, ấm nó, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay? 

“Ôn cố tri tân” vừa là nét đẹp văn hóa, vừa là giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta. Tương lai của đất nước chỉ có thể tươi sáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do và hạnh phúc của nhân dân chỉ vững bền và phát triển nếu chúng ta biết trân trọng công lao của những anh hùng hào kiệt như Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngôi nhà lớn Việt Nam không có chỗ cho những giọng điệu lạc lõng của những kẻ lạc loài như những con rắn độc đang cố tình len lỏi với những âm mưu thủ đoạn chống phá, nhằm phủ nhận thành quả cách mạng, phủ nhận công lao của ông cha và thế hệ đi trước.