Thứ Sáu, 29 tháng 10, 2021

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

 

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

Tôn giáo là một trong những vấn đề nhạy cảm, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã. Tôn giáo đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ ngĩa xã hội. Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng, giải quyết vấn đề tôn giáo nhằm tăng cường và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng nước ta.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Các quyền này đã được nêu rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước Việt Nam, trong đó có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam. Một số nước vẫn còn có các nhóm người công khai, lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo đến công việc nội bộ của Việt Nam. Lợi dụng chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước Việt Nam, hàng năm có hàng chục phái đoàn vào “tìm hiểu tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam”, trong đó vẫn có những nhân vật lợi dụng hoạt động này để nắm bắt tình hình, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá Việt Nam. Trong cái gọi là “Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế” hằng năm, họ thường xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, trong đó có những thông tin cố tình làm sai lệch và phản ánh không đúng tình hình như ở Tây Nguyên mấy năm trước và một số địa phương trong những tháng đầu năm nay. Những phương thức chủ yếu của bọn đế quốc trong việc lợi dụng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng.

Thứ nhất, chúng tìm mọi cách để đưa giáo hội vào các cuộc chiến chính trị. Một mặt chúng thúc giục các giáo hội ủng hộ các đảng phái đồi lập hoạt động chống Ðảng Cộng Sản. Mặt khác thông qua hoạt động của các đảng phái đối lập để lôi kéo, tập hợp, kích động các chức sắc, giáo sĩ, tín đồ chống lại nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, xúi giục các giáo hội đòi lập khu tôn giáo tự trị. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn đế quốc chú trọng đến việc xây dựng các khu tôn giáo tự trị ngay trên lãnh thổ các nước xã hội chủ nghĩa. Chẳng hạn ở Trung quốc, đã một thời xuất hiện khu tự trị Phật Giáo Tây Tạng. Mục đích của việc hình thành các khu tự trị tôn giáo này là: Tăng thêm tính độc lập của giáo hội đối với nhà nước. Tạo thế và lực cho giáo hội hoạt động chống nhà nước. Tạo cơ sở pháp lý để tiến hành các hoạt động can thiệp trực tiếp khi giáo hội yêu cầu.

Thứ ba, khơi dậy, khoét sâu những mâu thuẫn, những vấn đề tôn giáo và dân tộc; kích động các cuộc chiến tranh mang màu sắc tôn giáo, sắc tộc, làm suy yếu tiến tới làm sụp đổ Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Hiện nay và trong thời gian tới, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã, đang và sẽ tăng cường chỉ đạo, giúp đỡ mọi mặt để phát triển đạo trong các vùng dân tộc ít người, bao gồm cả phát triển các đạo giáo mới và cả số người theo đạo, biến các tổ chức và hoạt động tôn giáo thành các tổ chức và hoạt động chính trị chống lại cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền để nhân dân thấy rõ âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch Trên cơ sở đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về công tác tôn giáo, từ thực trạng vấn đề tôn giáo trong lịch sử thế giới và ở nước ta, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam như sau:

Một là, ra sức tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đồng thời tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức khoa học, kỹ thuật, hình thành chủ nghĩa vô thần cho toàn dân mà trực tiếp là đồng bào các dân tộc theo đạo.
Nội dung tuyên truyền phải toàn diện, tổng hợp. Trước hết, cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng thừa nhận rằng: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; tôn giáo có những giá trị văn hóa đạo đức phù hợp với chế độ mới; Đảng và Nhà nước tôn trọng và bảo đảm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng; tuyên truyền cho đồng bào hiểu rõ: chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề tôn giáo không có mục đích nào khác là nhằm thúc đẩy quá trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng (trong giai đoạn hiện nay là thúc đẩy toàn diện quá trình đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh) được củng cố và tăng cường.

Hai là, triển khai thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào. Đồng thời hết sức quan tâm giải quyết một số vấn đề bức xúc về kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào theo đạo. Hiện nay, nhiệm vụ chính trị trọng đại của cả dân tộc ta lúc này là đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Trên tiền đề có đường lối đúng, việc phát huy cho được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có gần một phần tư dân số theo 6 tôn giáo lớn là một động lực mạnh nhất của quá trình phát triển để đạt mục tiêu vừa nêu. Việc giải quyết vấn đề tôn giáo phải góp phần phục vụ cho nhiệm vụ chính trị căn bản đó. Trong những năm trước mắt, liên quan tới vấn đề vừa nêu, cần đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh đô thị hoá. Bởi lẽ, một khi đời sống mọi mặt đồng bào được bảo đảm, thì dù thế lực thù địch bên trong và bên ngoài có muốn gây rối bằng việc lợi dụng vấn đề tôn giáo của đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo cũng không thể thực hiện được.

Ba là, củng cố và từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, dân tộc, cán bộ an ninh, cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ. Đây là điều kiện bảo đảm nắm được quần chúng đồng thời làm nòng cốt cho công tác phòng ngừa, đấu tranh, giáo dục cảm hoá, cải tạo những phần tử xấu, trừng trị những kẻ lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để hoạt động trái pháp luật, làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở còn phải chú trọng chất lượng cán bộ làm công tác an ninh, công tác tôn giáo, dân tộc, hướng vào đối tượng người dân tộc thiểu số tại chỗ. Ở cấp cơ sở cơ bản không có cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo, cán bộ kiêm nhiệm không ổn định; họ thiếu thông tin, nhiều người chưa nắm vững nội dung các văn bản của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo. Sự yếu kém, hẫng hụt từ đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay có thể nó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém của công tác này. Vì thế, bên cạnh việc tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, trước hết cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ đang làm công tác này. Mấy năm nay, trong sự phối hợp của các đơn vị làm công tác tôn giáo, nhiều loại lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về tôn giáo và công tác tôn giáo được mở cho hàng ngàn cán bộ ở các cấp, ngành, các đoàn thể. Đây là một chuyển biến lớn, góp phần nâng cao nhận thức về tôn giáo và công tác tôn giáo cho toàn hệ thống chính trị.
Bốn là, triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt công tác phòng, chống và giải quyết “điểm nóng”, biểu tình, bạo loạn.

Phải tôn trọng các tôn giáo có tư cách pháp nhân, tranh thủ giáo sĩ, thực lòng quan tâm đến đồng bào các tôn giáo, dân tộc để vận động đồng bào tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đối với đồng bào không theo tôn giáo thì giáo dục để giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, thực hiện các hình thức tín ngưỡng truyền thống, làm vô hiệu hoá hoạt động truyền đạo trái pháp luật. Đối với những người thực sự có nhu cầu theo tôn giáo, cần giáo dục để đồng bào hiểu rõ và thực hiện đúng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”.
 Đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay. Vì vậy, hơn bao giờ hết, Đảng, Nhà nước, quân dân cả nước tiếp tục luôn nêu cao cảnh giác, tuyền truyền, tích cực đấu tranh chống các thế thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống phá cách mạng nước ta.

 

Cựu nhân viên ngân hàng bị truy tố do lừa đổi tiền mới mừng tuổi

HÀ NỘI Nguyễn Ngọc Kiên, cựu nhân viên ngân hàng, bị cáo buộc lừa đổi hàng tỷ đồng tiền mới mệnh giá 10.000-100.000 đồng, tổng cộng 4,3 tỷ đồng. VKSND Hà Nội vừa ra cáo trạng truy tố Kiên, 36 tuổi, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, theo điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo cáo trạng, Kiên thua lỗ khi chơi tiền ảo nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của đồng nghiệp bằng việc nói dối có thể đổi được tiền mới mệnh giá 10.000 đồng, 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng vào dịp Tết Nguyên đán 2021. Ai có nhu cầu cần chuyển khoản trước cho Kiên, được cam kết sau 2-7 ngày sẽ nhận tiền mới. Đến ngày hẹn, nếu đồng nghiệp nào hỏi, giục nhiều lần, Kiên đi đổi ở bên ngoài để trả nhằm tạo lòng tin. Nhiều người tưởng Kiên có khả năng lại tiếp tục đưa tiền. Từ tháng 12/2020 đến cuối tháng 1/2021, Kiên bị cáo buộc chiếm đoạt của 17 đồng nghiệp cùng cơ quan, tổng cộng hơn 4,3 tỷ đồng. Trong số này một người bị đưa một tỷ, một người 1,5 tỷ đồng.

Philippines và Nhật Bản thảo luận về Biển Đông, nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế

 

Philippines và Nhật Bản thảo luận về Biển Đông, nhấn mạnh việc tuân thủ luật pháp quốc tế

Philippines và Nhật Bản vừa tổ chức cuộc Đối thoại hàng hải lần thứ 4 theo hình thức trực tuyến, trong đó có thảo luận về vấn đề Biển Đông.

Thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Philippines ngày 25/10 cho biết, tại cuộc đối thoại diễn ra cuối tuần qua, Philippines và Nhật Bản đã thảo luận về tình hình an ninh khu vực, trong đó có những diễn biến mới nhất trên Biển Đông, biển Hoa Đông và biển Sulu-Celebes.

Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiến hành các hoạt động trên biển phù hợp với luật pháp quốc tế, gồm Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Philippines và Nhật Bản tái khẳng định Phán quyết năm 2016 về Biển Đông của Tòa Trọng tài thường trực (PCA) là cuối cùng và mang tính ràng buộc pháp lý, nhằm tăng cường trật tự pháp lý trên các vùng biển.

Tại đối thoại, hai bên cũng cập nhật nhận thức về các vấn đề lãnh hải, việc thực thi luật hàng hải, hợp tác quốc phòng và bảo vệ bờ biển, hợp tác nghề cá và nỗ lực bảo vệ môi trường biển. Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Nhật Bản cho biết Nhật Bản và Philippines cam kết tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong các lĩnh vực liên quan hàng hải, vì lợi ích chung và hướng tới thúc đẩy sáng kiến “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở” (FOIP) cũng như “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” (AIOP).

Đối thoại hàng hải lần thứ 4 giữa Philippines và Nhật Bản được tổ chức để kỷ niệm 10 năm quan hệ Đối tác Chiến lược Philippines – Nhật Bản và 65 năm ngày bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Trước đó, hai nước đã lần lượt tổ chức Đối thoại hàng hải vào các năm 2011, 2013 và 2019/.

 

Cùng bị Trung Quốc “quấy rối” ở Biển Đông, vì sao Indonesia và Malaysia hành xử khác biệt?

 

Cùng bị Trung Quốc “quấy rối” ở Biển Đông, vì sao Indonesia và Malaysia hành xử khác biệt?

Trong khi Malaysia thể hiện lập trường ngày càng cứng rắn hơn với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, thì Indonesia lại đưa ra phản ứng một cách thận trọng.

Phản ứng khác nhau trước hành vi gây hấn của Trung Quốc

Trong 2 năm qua, công ty dầu khí Petronas thuộc sở hữu của chính phủ Malaysia vẫn tiếp tục khai thác mỏ khí đốt ở Bãi cạn Luconia nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này, bất chấp điều mà một tổ chức tư vấn có trụ sở tại Mỹ cho là “hành vi quấy rối thường nhật” của tàu Trung Quốc.

Malaysia không muốn từ bỏ lợi ích của mình tại Bãi cạn Luconia - nơi có mỏ khí đốt Kasawari với trữ lượng ước tính lên tới  85 tỷ m3 khí đốt, đồng thời bày tỏ lập trường cứng rắn với các yêu sách chủ quyền phi pháp của Trung Quốc tại các vùng biển tranh chấp. Hồi tháng 6 vừa qua, Malaysia đã điều các máy bay chiến đấu chặn 16 máy bay vận tải quân sự của Trung Quốc tiến gần không phận nước này mà không thông báo trước và triệu Đại sứ Trung Quốc yêu cầu giải thích về vụ việc.

Không chỉ riêng Malaysia, quốc gia láng giềng Indonesia cũng cáo buộc Trung Quốc xâm phạm vùng biển của nước này và lên tiếng phản đối hành vi gây hấn của Bắc Kinh. Indonesia không coi mình là một bên trong tranh chấp Biển Đông, nhưng "yêu sách đường 9 đoạn" phi pháp do Trung Quốc đơn phương vẽ ra trên Biển Đông chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna. Trong năm 2019 và 2020, Indonesia đã nhiều lần đệ trình công hàm phản đối tàu cá Trung Quốc Trung Quốc đi vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Tuy vậy, một số nhà quan sát cho rằng, phản ứng của Jakarta được đưa ra một cách dè dặt, đặc biệt là đối với vụ việc ngày 31/8, khi tàu khảo sát Tàu khảo sát Hải Dương Địa Chất 10 (Haiyang Dizhi 10) của Trung Quốc tiến gần một mỏ dầu khí quan trọng có tên gọi Tuna Block ở biển Natuna.  

Trong bài phát biểu tại Washington ngày 18/10, Bộ trưởng Điều phối Các vấn đề Hàng hải và Đầu tư Indonesia Luhut Binsar Pandjaitan dường như đã đánh giá thấp sự hiện diện của tàu Trung Quốc tại vùng biển mà Indonesia tuyên bố chủ quyền, nói rằng: “Chúng tôi tôn trọng quyền tự do hàng hải ở Biển Natuna”. Điều đó khiến một số nhà phân tích tự hỏi liệu giọng điệu thận trọng và dè dặt của Indonesia có bị chi phối bởi các khoản đầu tư và vaccine ngừa Covid-19 của Trung Quốc hay không?

Theo Ủy ban điều phối đầu tư Indonesia (BKPM), Trung Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 2 của Indonesia trong năm 2020 với số tiền đầu tư 4,8 tỷ USD. Bên cạnh đó, các công ty dược phẩm của Trung Quốc như Sinovac và Sinopharm, đã cung cấp 215 triệu liều vaccine ngừa Covid-19 cho Indonesia.

Xem xét ở một khía cạnh khác, nhà nghiên cứu Gilang Kembara tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế có trụ sở tại Jakarta cho rằng, sở dĩ Indonesia tỏ ra thận trọng là bởi nước này lo ngại vấn đề có khả năng biến thành một “cuộc tranh cãi chính trị, từ đó làm gia tăng tâm lý bài Trung Quốc tại Indonesia”.

Ông Iman Prakoso, nhà nghiên cứu thuộc Tổ chức Sáng kiến Công lý Đại dương Indonesia, nhận xét rằng, phản ứng của nước này đối với hoạt động của tàu Hải Dương Địa Chất 10 khác biệt đáng kể so với cách tiếp cận của họ vào năm 2019.

“Mặc dù Indonesia tăng cường tuần tra xung quanh Biển Natuna nhưng không đưa ra bất cứ công hàm phản đối nào để đáp trả hành vi xâm phạm của tàu Trung Quốc. Điều đó không có nghĩa là chính phủ Indonesia xem nhẹ sự hiện diện của tàu Hải Dương Địa Chất 10. Có lẽ Jakarta muốn tránh gia tăng căng thẳng và ưu tiên cho việc duy trì ổn định trong khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh đại dịch Covid-19”.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 38-39 và các hội nghị cấp cao liên quan diễn ra theo hình thức trực tuyến, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte kêu gọi đoàn kết, giữ gìn hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Toan tính khác nhau

Ông Bill Hayton, chuyên gia cấp cao thuộc Chương trình châu Á - Thái Bình Dương tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) nhận định, cả Indonesia và Malaysia đều cho rằng quan hệ của họ với Trung Quốc bao trùm trên nhiều lĩnh vực và không muốn vấn đề Biển Đông chi phối, tuy nhiên, mỗi nước có những tính toán khác nhau.  

Trong bài viết có tiêu đề “Biển Đông: Cuộc tranh giành quyền lực tại châu Á”, ông Bill Hayton cho rằng: “Malaysia đang thực hiện các hoạt động khai thác dầu mỏ, khí đốt ở Biển Đông và có thể tiếp tục làm điều này bất chấp sự quấy rối của Trung Quốc. Malaysia đã triển khai các tàu hải quân để bảo vệ hoạt động khai thác của nước này đồng thời được sự hỗ trợ từ các lực lượng hải quân của nước khác. Indonesia không tiến hành hoạt động khai thác ở bất cứ khu vực “nhạy cảm nào” ở thời điểm hiện tại và nước này chỉ đơn giản muốn theo dõi Trung Quốc đang làm gì bên trong vùng đặc quyền kinh tế của mình”.

Theo chuyên gia này, Indonesia cũng có thể triển khai tàu hải quân để xua đuổi tàu Trung Quốc nhưng họ đã lựa chọn tránh đối đầu. “Indonesia không chịu thiệt hại về tài sản do các hành động của Trung Quốc nhưng nước này cần chú ý đến hậu quả pháp lý”, chuyên gia Bill Hayton nhận xét.

Trong khi đó, chuyên gia Zachary Abuza  tại Trường Đại học Chiến tranh Quốc gia (Mỹ) cho rằng, dù Malaysia cố gắng để “không bị bắt nạt” nhưng không chắc nước này theo đuổi lập trường “cứng rắn hơn” Indonesia. Điển hình là việc Kuala Lumpur đã “mua tàu Trung Quốc để tự vệ trước hành vi gây hấn của Trung Quốc”. Tháng 9 vừa qua, Malaysia đã tiếp nhận tàu tuần tra ven bờ (LMS ) thứ 3 từ Trung Quốc và chiếc thứ 4 dự kiến được bàn giao vào tháng 12/2021.

Trung Quốc là nhà đầu tư hàng đầu của Malaysia kể từ năm 2016 và là đối tác thương mại lớn nhất kể từ năm 2009. Riêng trong năm 2020, nước này đã đầu tư 4,41 tỷ USD vào Malaysia.

Về phần mình, Indonesia tuyên bố thực hiện các biện pháp ngoại giao để đảm bảo quyền lợi của nước này không bị vi phạm. Một quan chức của Indonesia khẳng định, Jakarta tin tưởng vào việc thực thi UNCLOS 1982, vì vậy bất cứ hành động nào mà nước này thực thi sẽ dựa trên UNCLOS.

Theo nhà nghiên cứu Collin Koh tại Trường nghiên cứu quốc tế S Rajaratnam của Singapore, vai trò của dư luận cũng là một trong những yếu tố khác dẫn đến phản ứng khác biệt giữa hai nước.

“Các cuộc tranh luận công khai tại Indonesia về vấn đề Biển Đông có nhiều bên tham gia hơn và quy tụ nhiều ý kiến trái chiều hơn, có thể tạo ra thách thức tiềm tàng đối với chính phủ. Trong khi ở Malaysia, mức độ tranh luận công khai không gay gắt như vậy mặc dù phe đối lập đôi khi vẫn nêu vấn đề Trung Quốc và Biển Đông trong các phiên họp Quốc hội”.

Các nhà phân tích khác thì cho rằng, khác biệt thực sự có thể nằm ở việc Indonesia vẫn chưa thể đưa ra một chính sách nhất quán đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Chuyên gia Zachary Abuza  lưu ý, Tổng thống Indonesia Joko Widodo có một chính sách riêng khác với chính sách của Bộ trưởng điều phối các vấn đề hàng hải. Lực lượng vũ trang cũng theo đuổi chính sách khác với chính sách của Hải quân Indonesia.

Tuy vậy, ông Zachary Abuza cho rằng, cả Indonesia và Malaysia đều có điểm chung là các lực lượng quân sự của hai nước chủ yếu hoạt động mạnh mẽ trên đất liền, dù các mối đe dọa trên biển ngày càng gia tăng. “Các bên vẫn hạn chế về nguồn lực dành cho hải quân hoặc lực lượng tuần duyên và Trung Quốc đã lợi dụng điểm yếu này”./.

 

30 NĂM LIÊN XÔ SỤP ĐỔ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM: KHI "THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT" BỊ... GÀI CHỐT!

7 năm sau ngày Liên Xô sụp đổ, tại Moscow đã diễn ra hội thảo khoa học “Học thuyết Mác – Lê nin về đảng và thời đại ngày nay”. Đến dự hội thảo, Giáo sư, tiến sỹ khoa học lịch sử Ivan Oxadchi dường như vẫn chưa hết thảng thốt về những gì đã diễn ra. Ông đặt câu hỏi: “Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô là một thiên sử thi bi hùng. Diện mạo và hoạt động vĩ đại của nó nhằm cải biến cách mạng thế giới trong suốt nhiều thập kỷ đã là trung tâm chú ý của toàn thế giới, được bạn bè kính trọng và ca ngợi…”.

Một đảng chính trị hùng mạnh trong lịch sử chính trị thế giới như Đảng Cộng sản Liên Xô đã đột ngột - không ngờ và trong một thời gian ngắn khó tin đã tan vỡ và thất bại nặng nề, nhục nhã. - Tại sao xảy ra như vậy? Những nguyên nhân của tấn bi kịch ấy là gì?

Tại sao 20 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô lại trở thành một khối bàng quan, thờ ơ trước số phận của đảng mình, trước số phận của đất nước và nhân dân mình?

Hỏi và cũng tự trả lời, ông tìm thấy đáp số từ công tác cán bộ của Đảng, là do “những người lãnh đạo của Đảng, những kẻ phản bội mà lịch sử loài người chưa từng biết đã phản bội Đảng Cộng sản Liên Xô. Chất độc gây viêm não của Gorbachev và những kẻ đê tiện khác đã vắt kiệt sức Đảng Cộng sản Liên Xô, làm tê liệt ý chí của đảng, đã trở thành thứ bả chết người mà đảng đã không tìm ra được chất giải độc”.

Cảnh báo của Lênin về công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đã có từ rất sớm trong bài báo “Khủng hoảng của đảng” viết tháng Giêng năm 1921: “Cần phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật đau đớn. Đảng đang đau ốm. Đảng đang lên cơn sốt...” (V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến Bộ, M.,1977, t.42, tr.289).

Rất nhiều lần V.I.Lênin đã nghiêm khắc cảnh cáo, yêu cầu kiên quyết bảo vệ và làm trong sạch đội ngũ đảng khỏi những phần tử hám danh, hám lợi, những cặn bã của chủ nghĩa tư bản cũ”. Người yêu cầu phải có điều khoản về đảng viên dự bị để những người vào đảng có thời hạn thử thách trước, đó là thời kỳ dự bị.

V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên chứ không phải là quan tâm làm tăng thêm số lượng đảng viên, phải xây dựng một rào chắn ngăn chặn sự xâm nhập vào đảng của mọi loại gian hùng”. Theo Người, khi phình ra tới mức quá đáng “đảng sẽ hoà tan trong quần chúng... đảng không còn là đội tiên phong giác ngộ của giai cấp nữa, đảng sẽ và hạ mình xuống giữ vai trò một cái đuôi”.

V.I.Lênin cho rằng chỉ 200 nghìn đến 300 nghìn đảng viên cộng sản là đủ để lãnh đạo nước Nga (bọn địa chủ đã lãnh đạo nước Nga cũng chỉ 130 nghìn). Sức mạnh của đảng với tư cách là đội tiên phong, Lênin nhấn mạnh, gấp 10, 100 lần số lượng của nó. Tuy nhiên những quan điểm đó của Lênin đã bị lãng quên.

Trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, Liên Xô có gần 5 triệu đảng viên thì qua 4 thập kỷ đã tăng lên đến hơn 20 triệu. Các ban tổ chức đảng có toàn quyền trong các bộ máy của đảng. Trưởng ban tổ chức của các cơ quan đảng, nói một cách hình tượng cha đỡ đầu của vua và người hướng dẫn các bộ trưởng”- Giáo sư, tiến sỹ khoa học lịch sử Ivan Oxadchi phân tích.

 Theo ông, đó là sự vi phạm hết sức thô bạo những nguyên tắc Lênin về công tác cán bộ. Với nhiều người, việc gia nhập Đảng Cộng sản Liên Xô trở thành mục đích tự thân. Kết quả là đảng đã bị vấy bẩn bởi các phần tử xấu xa đê tiện, hám danh lợi, những kẻ luồn cúi bợ đỡ. Đối với họ, tấm thẻ đảng trở thành giấy vào cửa chiếm lĩnh chức vụ, để tiến thân trên bậc thang danh vọng. Không phải ngẫu nhiên khi có những lời mỉa mai ác độc: “Đảng viên của đảng có hàng triệu, nhưng người cộng sản thì đếm trên đầu ngón tay”. Như vậy, vi phạm hết sức thô bạo các nguyên tắc của Lênin về công tác cán bộ - là nguyên nhân thứ hai của cuộc khủng hoảng đã bao trùm Đảng Cộng sản Liên Xô. Sai lầm này dẫn đến sự tự tha hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Dưới thời Gorbachev làm Tổng bí thư, ông ta đã phá bỏ nguyên tắc, thẳng tay loại bỏ những cán bộ phản đối cái gọi là “cải tổ”, phản đối dân chủ trá hình. Chỉ trong hơn 6 tháng, Gorbachev đã cải tổ Bộ Chính trị và Ban Bí thư, bổ sung 8 người vào các vị trí; cách chức 2 người, cách chức, thay thế hơn 20 bộ trưởng và hàng chục lãnh đạo cấp bộ. Mấy năm đầu nhiệm kỳ, có tới 92,5% trong 150 bí thư khu ủy, thành ủy, tỉnh ủy bị thay đổi.

Sự tùy tiện dùng cánh hẩu khiến công tác cán bộ bị hỗn loạn, suy giảm niềm tin trong đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, quân đội Liên Xô… Tại Đại hội 23 của Đảng Cộng sản Liên Xô, số ủy viên tái đắc cử và liên nhiệm đạt tỷ lệ 79,4%. Tại Đại hội 25, không tính số ủy viên T.Ư đã qua đời thì tỷ lệ ủy viên trung ương liên nhiệm cao tới 90%”.

Trong cuốn sách “Hồ sơ cá nhân – Thế kỷ XX trước con mắt của những nhân chứng KGB Liên Xô”, tác giả V.A.Criuchơcốp nêu thực tế chua chát: “Có thời kỳ trong cơ quan đảng và Nhà nước Liên Xô, đã hình thành đội ngũ quan chức, công chức lớn nhất thế giới, nhưng vấn đề là ở chỗ đội ngũ này không quan tâm đến nguyện vọng chính đáng của nhân dân, thờ ơ, vô cảm trước nhân dân”.

Trong hồi ký “Bên trong điện Cremli của Gorbachev”, tác giả I.Ligachốp cũng nhận xét tương tự: “Những người lãnh đạo Đảng qua các thời kỳ (Tổng Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương) ngày càng quan liêu, lời nói không đi đôi với việc làm, xa rời lý tưởng cộng sản, làm cho các tầng lớp nhân dân ngày càng mất lòng tin đối với Đảng; trong xã hội tích dồn âm ỉ, tâm trạng bất bình và mong có sự thay đổi về chính trị”.

Có một thực tế chung là trong hồi ký của nhiều cựu cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước Liên Xô sau này đều nhận xét: Đảng Cộng sản Liên Xô đã không xây dựng được cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ có đức, có tài, cũng như không sàng lọc, loại bỏ những kẻ cơ hội chính trị ra khỏi bộ máy. Có thể nói, việc đánh mất niềm tin đồng nghĩa với Đảng đánh mất vai trò lãnh đạo của mình, dẫn đến hậu quả dù có hơn 20 triệu đảng viên và quần chúng đông đảo nhưng khi có “biến”, mọi người đã thờ ơ hoặc quay lưng với Đảng.

Môi Trường ST.

Thứ Năm, 28 tháng 10, 2021

Quá trình già hóa và thách thức với hệ thống an sinh xã hội

 


Tỷ trọng người già đang trong xu hướng tăng nhanh trong khi tỷ trọng số người ở độ tuổi lao động giảm dần, đã làm cho tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm xuống tương đối nhanh trong giai đoạn từ nay đến năm 2050. Tỷ số hỗ trợ tiềm năng ở Việt Nam sẽ giảm từ 8,8 năm 2019 xuống còn khoảng 3,8 vào năm 2049 và ước tính mức giảm gần 60%

Tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm do các yếu tố

>Xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân

Kết quả điều tra năm 2019, số người bình quân một hộ có xyu hướng giảm từ mức 4,6 người/hộ năm 1999 xuống còn 3,6 người/hộ năm 2019. Trung bình 10 hộ dân thì có một hộ độc thân. Những số liệu này phản ánh xu hướng giảm tỷ trọng số hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ, tăng tỷ trọng số hộ gia đình hạt nhân (chỉ gồm cha mẹ và con cái). Từ góc độ cấu trúc hộ gia đình, có thể thấy rõ một bức tranh xã hội là ngày càng có nhiều hộ gia đình chỉ có ông bà già sống chung với nhau hay ông bà già sống một mình. Trong số 10% số hộ gia đình sống độc thân không khó suy đoán rằng phần lớn các hộ gia đình này là người già, đặc biệt là phụ nữ. Từ bức tranh xã hội về quy mô và cơ cấu hộ gia đình như vậy, có thể thấy số người tiềm năng cxó thể trực tiếp chăm sóc người già sẽ thấp hơn nhiều so với người hỗ trợ tiềm năng như nêu trên

>Yếu tố di cư

Quy mô số người di cư lao động tới các đô thị ngày càng tăng lên tới các. Qua kết quả điều tra, phần lớn di cư là nhóm tuổi trẻ. Ở độ tuổi càng trẻ người di cư càng có xu hướng đi xa để thay đổi môi trường sống cũng như tìm kiếm cơ hội học tập và làm việc (2019 , trong số 88,4 triệu dân từ 5 tuổi trở lên, số người di cư trong 5 năm trở lại đây là 6,4 triệu người, chiếm 7,3%. Trong số này ước tính số người di cư tới các đô thị là hơn 4 triệu người) (Trong giai đoạn 1989-2019, tỷ trọng dân số đô thị ở nước ta đã tăng từ 20,1 lên 34,4%. Mức tăng 14,3% này tương đương với con số khoảng 13 triệu người dân đô thị và họ chủ yếu là những người di cư trẻ tuổi tới đô thị lập nghiệp)

Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với CNĐQ

 


Vào thập niên 50, 60 của thế kỷ trước, hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc giành được độc lập dân tộc, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ. Tuy nhiên nhiều nước độc lập chỉ trên danh nghĩa, còn thực chất vẫn bị lệ thuộc, bị chủ nghĩa đế quốc chi phối cả về kinh tế và chính trị.

Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc hiện nay có những biểu hiện mới. Đó là:

+ Sự cách biệt ngày càng lớn giữa các nước tư bản giầu có với các nước nước nghèo. Chủ nghĩa tư bản còn ra sức bòn rút chất xám ở các nước lạc hậu, đẩy các nước đó tới chỗ kiệt quệ, biến các nước đang phát triển thành bãi thải không chỉ công nghệ lạc hậu mà còn cả các đồ phế thải công nghiệp làm ô nhiễm môi sinh, cả những rác rưởi, cặn bã suy đồi về tinh thần, đạo đức để phá hủy tận gốc đời sống và con người ở các nước kém phát triển.

+ Chủ nghĩa đế quốc ra sức áp đặt về kinh tế, chính trị, giá trị tư sản như đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền, đạo đức, lối sống... theo quan điểm tư sản lên các nước đang phát triển và kém phát triển. Trong khi đó, các quốc gia độc lập có chủ quyền hoặc chưa  hoàn toàn độc lập phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại sự can thiệp, áp đặt của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc để bảo vệ độc lập chủ quyền và con đường phát triển của mình. Tình hình đang diễn ra ở Trung Đông, Bắc Phi và nhiều nơi khác trên thế giới đã nói lên tính phức tạp trong cuộc đấu tranh chống sự can thiệp và xâm lược, đồng thời ở khu vực này còn phải chống lại cả sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khắc phục những xung đột dân tộc và sắc tộc đẫm máu.

Như vậy, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc trong giai đoạn hiện nay đã chuyển thành mâu thuẫn giữa các nước chậm phát triển với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao.

NHẬN DIỆN TÀ ĐẠO PHÁP MÔN DIỆU ÂM

 


Pháp môn diệu âm là môn pháp tu do đối tượng Trần Tâm (Việt kiều Mỹ), sinh năm 1972, lập ra từ năm 2004. Đây là một loại tà đạo dựa trên giáo lý hỗn tạp, phi đạo đức, bịp bợm, xuất hiện ở nước ngoài, sau đó lén lút tuyên truyền về Việt Nam.

Phương thức hoạt động của tà đạo này là: Tụng kinh “Diệu âm” của đạo Phật, ngồi thiền, ăn chay trường và cầu nguyện, suy ngẫm theo Lời mạc khải trong kinh Cựu ước và Tân ước của Công giáo, cho rằng đó là con đường âm thanh và ánh sáng, dẫn dắt linh hồn con người hòa nhập với Thượng đế và vĩnh viễn thoát khỏi thuyết luân hồi sinh tử... với luận điệu tuyên truyền “Việt Nam đã và đang được Thượng Thiên phù hộ đi tiên phong bước vào nền văn minh mới từ sau năm 2000 và làm Trung tâm tâm linh thế giới trong thế kỷ 21”.

Những năm qua, Pháp môn diệu âm đã xuất hiện tại một số tỉnh của Việt Nam. Đa số các đối tượng đi theo tà đạo này đều hoạt động lén lút và sử dụng nhiều chiêu trò, luận điệu để lôi kéo người dân tham gia. Cơ quan chức năng cũng đã phát hiện một số đối tượng và thu giữ nhiều tài liệu có nội dung tuyên truyền tà đạo trái phép không được phép lưu hành tại Việt Nam và xử lý theo quy định của pháp luật.

Mặc dù các lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đã gặp gỡ, nắm tình hình, đồng thời, tuyên truyền, vận động người dân không tin theo những tà đạo không được pháp luật Việt Nam công nhận đang hoạt động trái phép để người dân cảnh giác. Tuy nhiên, thời gian qua, một số người dân vẫn bị các đối tượng dụ dỗ, lôi kéo tham gia, gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của gia đình, người thân và chính bản thân họ, cũng như gây ra những hệ lụy xấu cho xã hội.



Quá trình già hóa dân số và suy giảm nguồn cung lao động ở Việt Nam

 


Tiềm năng tăng trưởng của một nền kinh tế phụ thuộc vào mức tăng năng xuất lao động và tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực ở đây có thể hiểu là quy mô nhóm dân số trong độ tuổi lao động. Khi một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ, số người bước vào độ tuổi lao động thường lớn hơn nhiều so với số người bước ra khỏi độ tuổi lao động. Mức chênh lệch giữa 2 nhóm này sẽ giảm dần khi các quốc gia bước vào thời kỳ già hóa dân số. Tỷ lệ giữa số lao động tăng thêm hàng năm so với quy mô dân số trong độ tuổi lao động là tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực. Ở các quốc gia đang có cấu trúc dân số già hoặc đang trong quá trình già hóa dân số, tỷ lệ tăng trưởng này có xu hướng giảm dần. Khi tỷ lệ này xuống quá thấp hay giao động ở mức trên dưới 0,5% thì nó sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Sau khi phân tích có hệ thống các số liệu thống kê về tương quan giữa tăng trưởng nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế ở các nền kinh tế phát triển, các nhà nghiên cứu đều thấy một trong những điều kiện tốt nhất cho tăng trưởng của một nền kinh tế là khi tăng trưởng nguồn nhân lực hằng năm ở mức 2%. Con số này cũng có ý nghĩa là những quốc gia đang ở thời kỳ có tỷ lệ này ở mức 2% là các quốc gia ở thời điểm tốt nhất của thời kỳ có cơ cấu dân số “vàng”. Tại thời điểm này, tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi lao động (15-64) đạt tới 67-70%, và tỷ trọng nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc chỉ khoảng 30-33%.

Kết quả phân tích các số liệu thống kê về biến đổi cấu trúc tuổi của dân số Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009- 2039 cho thấy, với phương án tuổi lao động từ 15-64, tỷ lệ tăng trưởng nguồn nhân lực ở nước ta có xu hướng giảm nhanh. Tỷ lệ này sẽ giảm xuống ở mức khoảng 0,5% trong giai đoạn 2034-2039. Nếu như lấy mốc tuổi nghỉ hưu là 60 thì ngay từ năm 2029, tỷ lệ này có thể bắt đầu xuống dưới mức 0,5%. Từ năm 2040, khi nước ta sẽ có cấu trúc dân số già, yếu tố tăng trưởng nguồn nhân lực sẽ tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế. Thời kỳ từ sau năm 2040 cũng là thời kỳ mag Việt Nam không còn cơ hội dân số “vàng”

Mâu thuẫn giữa tư bản và lao động là mâu thuẫn giai cấp cơ bản trong thời đại ngày nay

 


+ Đây là mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội tư bản chủ nghĩa, phản ánh bản chất bóc lột lao động làm thuê của giai cấp tư sản.

+ Do sự điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản, nhất là sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất: công nhân có cổ phần, được chia lợi nhuận trong các công ty, đời sống người lao động có phần được cải thiện...,  mâu thuẫn này hiện nay, về mặt hình thức biểu hiện (bề ngoài) có vẻ lắng dịu, nhưng thực chất, ở các nước tư bản, sự thống trị bóc lột của tư bản đối với lao động đang diễn ra tinh vi hơn, quy mô ngày càng lớn hơn. Sự bóc lột của tư bản đối với lao động đã dẫn tới sự phân cực xã hội giữa giai cấp tư sản ngày càng giầu có hơn và các tầng lớp lao động ngày càng nghèo khổ, bần cùng hơn trong xã hội tư bản.

Thí dụ ở Mỹ, hiện 1% số người giầu nhất đã nắm giữ 53% tổng lượng cổ phiếu, 64% chứng khoán, tài sản của số người này chiếm hơn 1/3 tài sản quốc gia của Mĩ; trong khi đó số người nghèo đói năm 2003 ở Mĩ là 35,9 triệu người, trung bình cứ 8 người thì có 1 người sống dưới mức nghèo khổ, 3,5 triệu người không có nhà cửa[1].

+ Trên quy mô toàn cầu thì sự thống trị, bóc lột của tư bản thông qua các công ty xuyên quốc gia đối với lao động, đặc biệt là đối với lao động ở các nước đang phát triển và kém phát triển có mặt còn nặng nề hơn.

=> Theo báo cáo của Liên hợp quốc về phát triển con người, chỉ trong vòng 5 năm (1995 - 2000): 200 người giầu nhất thế giới đã tăng gấp đôi số tài sản của họ lên hơn 1000 tỉ USD; trong khi đó 1,3 tỉ người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân 1USD/1 người/1 ngày vẫn không thay đổi. Tỉ lệ khoảng cách GDP theo đầu người giữa các nước giầu nhất và nghèo nhất cũng gia tăng nhanh chóng: năm 1820 là 3/1, năm 1913: 11/1, thập niên 1960: 31/1, thập niên 1980: 61/1, thập niên 1990: 72/1, đến năm 2000 là 86/1[2].

+ Sự phân cực giầu - nghèo ngày càng lớn - biểu hiện quy mô bóc lột của tư bản đối với lao động ngày càng tăng, sẽ đẩy nhanh sự chín muồi của mâu thuẫn giữa tư bản và lao động. Hệ quả tất yếu của nó là sự bùng nổ xã hội. Các cuộc đấu tranh của công nhân và các tầng lớp lao động khác chống sự thống trị, bóc lột của chủ nghĩa tư bản sẽ diễn ra ngày càng mạnh mẽ hơn. Chính cuộc đấu tranh đó sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.



[1] Theo Nhât. báo phố Wall ngày 15 tháng 6 năm 2004.

[2] Những vấn đề lý luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay, Nxb CTQG, H. 2008, tr.15.

Già hóa dân số ở Việt Nam hiện nay

 


Già hóa dân số: là thời kỳ quá độ chuyển từ cơ cấu dân số trẻ sang cơ cấu dân số già. Trong quá trình này tỷ trọng trẻ em trong dân số sẽ giảm dần và xuống thấp hơn so với tỷ trọng người già

Trong cơ cấu dân số trẻ: tỷ trọng người già 65+ thấp hơn 7,0%

Trong cơ cấu dân số già: Tỷ trọng người già chiếm từ 14% trở lên

Quá trình già hóa dân số: bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ chạm ngưỡng 10% hoặc khi tỷ trọng dân số 65+ chạm ngưỡng 7%

Thời kỳ dân số già:  bắt đầu khi tỷ trọng dân số 60+ đạt ngưỡng 20% trở lên đến dưới 30%  (65+ đạt ngưỡng 14% trở lên đến dưới 21%)

Thời kỳ dân số rất già: bắt đầu khi tỷ trọng người 60+ đạt từ 30% trở lên (65+ đạt từ 21% trở lên)

Dân số Việt nam đang tăng chậm, nhưng sẽ đạt 100 triệu dân vào năm 2025. Từ năm 2011 tỷ lệ người 60 tuổi trở lên đạt tỷ lệ trên 10% tổng dân số và sẽ chạm ngưỡng 20% vào năm 2032. Quá trình già hóa dân số sẽ diễn ra trong khoảng 20 năm (từ 2012- 2032) là đạt ngưỡng dân số già, đến năm 2050 dân số Việt nam sẽ trở thành “siêu già”. Việt Nam có tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh, thời gian để chuyeẻn từ “già hóa dân số” sang “siêu già” mất khoảng 15-18 năm, ngắn hơn nhiều so với nhieèu nước, kể cả các quốc gia có trình độ phát trieẻn hơn. Pháp: 115 năm, Thủt Điển Mất 85 năm, Úc: 73 năm, Trung Quốc 26 năm (Trung quốc đến năm 2030 cứ 100 người có 25 người 65 tuổi trở lên), Nhật Bản: 26 năm. Việt Nam đang trong thời gian ngắn ngủi còn lại của cơ cấu dân số vàng

Tỷ trọng người già 65+  là 7,7% năm 2019 (có 7,4 triệu người già, đứng thứ 18 trong các nước có dân số già trên thế giới (khoảng từ năm 2012, tỷ trọng người gia 65+ bắt đầu vượt ngưỡng 7% dân số; ước tính đến năm 2035, có hơn 13 triệu người già; năm 2050 sẽ có hơn 21 triệu người già (từ 65+). Chỉ số già hóa cho thấy quá trình già hóa đang diễn ra với nhịp độ ngày càng nhanh)