Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2021

Lại tung hỏa mù sau phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang

 Ngày 14/12, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa hình sự xét xử sơ thẩm bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Trước, trong và sau thời điểm diễn ra phiên tòa, một số cá nhân, tổ chức chống phá ngoài nước kêu gọi Nhà nước Việt Nam phải trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang, đồng thời vu cáo Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, nhà “đấu tranh dân chủ”, “hoạt động nhân quyền”. Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang và các đối tượng chống đối khác.

Karin Deutsch Karlekar, Giám đốc Chương trình Tự do bày tỏ trước rủi ro tại “Tổ chức Văn bút Mỹ” (PEN) đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: "Cộng đồng quốc tế đã nói rõ rằng việc giam giữ Phạm Thị Đoan Trang đang diễn ra là không thể chấp nhận được". Không những vậy, người này còn đưa ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình Việt Nam: "Với sự coi thường luật pháp quốc tế một cách trắng trợn, chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục cố gắng trừng trị bà vì tội viết lách ôn hòa và vận động cho nhân quyền. Thật không may, việc giam giữ Trang chỉ là một trong nhiều vụ án hình sự có động cơ chính trị chống lại các nhà báo và những người bảo vệ nhân quyền, cho thấy sự thất bại có tính hệ thống của chính phủ Việt Nam trong việc duy trì quyền tự do ngôn luận và các quyền cơ bản khác".

Cổ súy cho những luận điệu trên, Tổ chức Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW) cố tình xuyên tạc “chính quyền Việt Nam cần gỡ bỏ mọi cáo buộc mang tính chất chính trị và trả tự do ngay lập tức cho Phạm Thị Đoan Trang”. Trong khi đó, một nhóm có tên là “Nhóm công tác của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về giam giữ tùy tiện” công bố bản “thông cáo kết luận việc chính quyền bắt giam Phạm Thị Đoan Trang” với những lập luận suy diễn, vô căn cứ. Bản “thông cáo” của nhóm này viết: “Suốt từ khi bị bắt, bà Trang không được gặp người thân và việc bà gặp luật sư bị đình trệ rất lâu. Do đó, các quyền của bà Trang theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đã bị vi phạm”. Đồng thời, nhóm này cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam “trả tự do ngay lập tức cho Phạm Thị Đoan Trang”.

Trước đó, từ tháng 11/2021, “Luật Khoa tạp chí” cùng “The Vietnamese Magazine” và “The 88 Project” đã phát động một chiến dịch viết thư gửi cho Phạm Thị Đoan Trang, với những nội dung đại ý rằng, Phạm Thị Đoan Trang là một nhà báo chân chính, dám đi ngược với số đông để nói lên sự thật và “ánh sáng của tự do từ những quan điểm của Phạm Thị Đoan Trang sẽ luôn soi rọi đến bất cứ nơi nào có tăm tối, bất công”.

Phạm Thị Đoan Trang không còn là cái tên xa lạ với nhiều người. Được biết đến là một người có tư tưởng, hành vi chống đối quyết liệt, Phạm Thị Đoan Trang là tác giả của nhiều cuốn sách có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang từng tốt nghiệp trường Hà Nội - Amsterdam và Khoa Kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội. Sau khi ra trường, Trang làm phóng viên cho báo điện tử Vnexpress trong 2 năm, sau đó làm nhân viên Công ty quảng cáo HAKI, nhân viên Công ty Truyền hình kỹ thuật số VTC, cộng tác viên báo Vietnamnet và có gần 3 năm làm phóng viên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh. Năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc.

Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo. Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời, đứng sau lôi kéo lập nhóm “Du ca Sài Gòn”, “Tuổi trẻ làm đẹp quê hương”, tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang cũng lập và điều hành các trang mạng “Luật khoa tạp chí”, “Phamdoantrang.com”, “The Vietnamese”, viết, tán phát nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.

Cũng theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang là thành viên cốt cán của Tổ chức VOICE và được số đối tượng cầm đầu tổ chức này giao phụ trách nhân sự, trực tiếp tuyển lựa, duyệt người trước khi đưa ra nước ngoài để huấn luyện, đào tạo cách thức hoạt động chống phá chính quyền. Trang cũng là một trong những người sáng lập và duy trì hoạt động của Nhà xuất bản Tự do - một tổ chức dân sự trá hình, hoạt động “chui”, chuyên xuất bản, in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung tiêu cực, xuyên tạc, kích động bạo lực, chống phá Đảng, Nhà nước.

Theo cáo trạng, từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Cụ thể, Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu như: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam"... Đây là những tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Trang xác nhận mình là tác giả của báo cáo nghiên cứu về luật tín ngưỡng, tôn giáo. Trang cùng nhóm tác giả viết báo cáo này bằng tiếng Anh, sau đó dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang điện tử do mình lập ra. Nhiều lần trả lời phỏng vấn đài nước ngoài như BBC News tiếng Việt và Đài Á Châu tự do (RFA), Trang đã có phát ngôn tuyên truyền các nội dung thông tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Cáo trạng khẳng định, Phạm Thị Đoan Trang phải chịu trách nhiệm hình sự vì nhiều lần thực hiện hành vi làm ra, tàng trữ và lưu hành các tài liệu có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ, HĐXX nhận định, hành vi tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, hiểu và biết rõ hậu quả hành vi, tuy nhiên vẫn tích cực thực hiện trong thời gian dài.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khai báo thành khẩn, phạm tội nhiều lần, cần thiết xử phạt nghiêm minh. HĐXX đã tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Điều 88, BLHS năm 1999.

Bản thân Phạm Thị Đoan Trang là người có nhận thức, hiểu biết, từng công tác tại một số cơ quan báo chí nhưng lại vi phạm pháp luật thời gian dài, có tư tưởng chống đối sâu sắc, hoạt động chống phá chính quyền nhân dân quyết liệt. Việc Phạm Thị Đoan Trang chịu án phạt tù là lẽ hiển nhiên. Ấy thế nhưng, một số cá nhân, tổ chức lại đăng tải những thông tin, luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo Việt Nam.

Đưa những luận điệu sai trái trên, các cá nhân, tổ chức chống phá trước hết nhằm xuyên tạc bản chất của vụ án, xuyên tạc quá trình điều tra, truy tố, xét xử Phạm Thị Đoan Trang. Đồng thời, lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, những người “hoạt động nhân quyền”. Cũng như những đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, các cá nhân, tổ chức thù địch mượn cớ vụ án nhằm gây sức ép, bôi nhọ, làm mất uy tín, hình ảnh của Việt Nam với quốc tế, từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Mặt khác, thông qua những luận điệu này, các cá nhân, tổ chức trên còn muốn đánh bóng tên tuổi Phạm Thị Đoan Trang cũng như các cá nhân hoạt động chống Đảng, Nhà nước dưới danh nghĩa “nhà dân chủ”, nhà “hoạt động nhân quyền”, từ đó cổ súy cho hành vi phạm pháp của các nhân tố chống đối trong nước, tập hợp lực lượng, gây bất ổn từ bên trong.  Thủ đoạn trên tuy không mới nhưng lại hết sức nguy hiểm bởi nó có thể hướng lái sự chú ý của dư luận quốc tế và làm cho một số người hiểu sai sự thật, thậm chí một số cá nhân vì thiếu hiểu biết mà tin theo, bị dẫn dắt hoặc vì động cơ khác mà dẫn đến hành vi sai trái, chống phá đất nước, đi ngược lại với lợi ích quốc gia.

BẢN CHẤT CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Ở Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và lãnh đạo, mang bản chất giai cấp của Đảng - bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp của quân đội ta được xác lập ngay từ khi Đảng tổ chức ra quân đội và định hình, phát triển, phát huy trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo quân đội, thể hiện ở việc xác lập hệ tư tưởng, mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội. Hệ tư tưởng của quân đội ta là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt quá trình lãnh đạo quân đội, Đảng ra sức truyền bá hệ tư tưởng, xây dựng mục tiêu lý tưởng chiến đấu cho quân đội, nhờ đó mà quân đội ta trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; luôn luôn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc. Bản chất giai cấp công nhân quy định tính tiên tiến, cách mạng của quân đội, xác lập mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội và là cội nguồn để quân đội ta tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Nhờ mang bản chất giai cấp công nhân mà tính nhân dân và tính dân tộc, Quân đội ta được xây dựng, phát triển đúng hướng, được phát huy trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành và là một nguồn lực tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta trong chiến tranh giải phóng cũng như trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 

ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, XUYÊN TẠC VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

          Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xuyên tạc những thông tin sai lệch, phiến diện, bóp méo sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam; chúng lu loa rằng Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, vi phạm nhân quyền, ngăn cản hoạt động tôn giáo...; tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam đạt được trong 35 năm đổi mới đất nước… Thực chất đây là một trong những chiêu bài của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Trên thực tế, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có những thành tựu về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Việt Nam chủ động, tích cực tham gia đầy đủ các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người, như: như: “Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ”; “Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị”; “Công ước về quyền trẻ em”… Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn chỉnh, việc tổ chức thực thi pháp luật bảo đảm quyền con người đạt được kết quả to lớn. Đồng thời, Đảng, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội hướng tới người nghèo, người yếu thế, tạo điều kiện cho họ dễ dàng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là tại các địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo. Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19 nhằm bảo đảm ổn định cuộc sống tối thiểu cho người dân trong, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt gói hỗ trợ. Đây là minh chứng rõ nét nhất bác bỏ lại mọi luận điệu xuyên tạc tình hình nhân quyền tại Việt Nam, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền” của các thế lực, đối tượng thù địch, phản động. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

          Nhân quyền là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp và thường xuyên bị các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, nhận diện đúng đắn các luận điệu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống Việt Nam.

 

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ VAI TRÒ VĂN HÓA TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 

Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm qua của dân tộc Việt Nam, với tinh thần cố kết cộng đồng chặt chẽ trong lao động sản xuất và chống giặc ngoại xâm đã hun đúc nên một nền văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng, là nguồn sức mạnh chống lại những âm mưu đồng hóa, hành động hủy diệt văn  hóa Việt Nam của các thế lực ngoại bang trong nhiều thế kỷ. Vượt lên tất cả, nhân dân ta đã bảo vệ được nền độc lập dân tộc, giữ được nền văn hóa đặc sắc của riêng mình.

Từ khi Đảng ta ra đời (2/1930), văn hóa đã có sức sống mới hướng tới phục vụ đặc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng ta đã chỉ rõ: Văn hóa là một mặt trận, xây dựng văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra khẩu hiệu “Kháng chiến hóa văn hóa và văn hóa hóa kháng chiến”. Văn hóa được coi như một mặt trận, một động lực và mục tiêu của cuộc kháng chiến. Văn hóa trở thành nội dung đồng hành của sự nghiệp kháng chiến. Sự nghiệp xây dựng văn hóa mới theo phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng đã tạo tiềm lực cho sự nghiệp kháng chiến - kiến quốc và mỗi bước thắng lợi của kháng chiến lại tạo tiền đề cho sự phát triển văn hóa.

Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng ta nhận thấy vai trò to lớn của mặt trận văn hóa. Theo đó, phải có các tổ chức và đội ngũ cán bộ hoạt động về văn hóa, văn nghệ để gây dựng và thúc đẩy phong trào văn hóa tiến bộ, văn hóa cứu quốc nhằm chống lại văn hóa phát xít thụt lùi, văn hóa phong kiến bảo thủ, lạc hậu. Do vậy, tại Hội nghị Thường vụ Trung ương từ ngày 25 đến 28/2/1943, Đảng ta xác định phải có đường lối lãnh đạo xây dựng nền tảng văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng. Vì thế, “Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943” đã ra đời.

Hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, văn hóa ngày càng giữ vị trí, vai trò trọng yếu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội; kích thích sự sáng tạo và đánh thức những năng lực tiềm ẩn của con người. Những tư tưởng trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943” vẫn còn nguyên giá trị, định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Tuy nhiên, trước sự phát triển của đất nước trong bối cảnh mới, với sự tác động mạnh mẽ của mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch đòi hỏi phải có những định hướng mới cho sự phát triển văn hóa. Xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tổ chức Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai nhằm đánh giá việc triển khai đường lối, chủ trương, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác văn hóa, văn nghệ thời gian qua; kết quả xây dựng văn hóa, con người Việt Nam sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác văn hóa, văn nghệ trong giai đoạn 2021 - 2026, tầm nhìn đến năm 2045.

Với mục đích, ý nghĩa tốt đẹp là thế, những các đối tượng cơ hội, phản động với cái nhìn thiển cận, đã có tình ngụy biện đưa ra nhiều luận điệu chống phá, như cho rằng tổ chức hội nghị là việc làm sáo rỗng, vu cáo nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, kích động thế hệ trẻ thờ ơ về mục tiêu lý tưởng, tuyên truyền văn hóa phương Tây…nhằm cản trở sự phát triển của đất nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng – văn hóa, phê phán, vạch trần, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái là một nhiệm vụ hàng đầu trong tình hình mới./.

 

GIỮ VỮNG PHẤM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” TRONG THỜI ĐẠI MỚI

 

          Thời gian qua, lợi dụng một số vụ việc có liên quan đến cán bộ, chiến sĩ trong quân đội, các thế lực thù địch đã thổi phồng khuyết điểm của các lực lượng có liên quan. Với thủ đoạn đan xen thông tin thật – giả, giả - thật, hòng gây ra tâm lý bất bình trong xã hội, làm giảm uy tín, danh dự người quân nhân cách mạng, bôi nhọ truyền thống vẻ vang của Quân đội. Đối với vấn đề này, cần nhận thức rõ như sau:      

          Một là, một số vụ việc có liên quan đến cán bộ, chiến sĩ, hoặc giả danh cán bộ, chiến sĩ quân đội để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật, vụ lợi cá nhân… đây chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Không thể lấy số ít này mà vu khống, bôi nhọ cả lực lượng quân đội, với 77 năm truyền thống vẻ vang, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Với sự nghiêm minh của kỷ luật quân đội, tất cả những ai vi phạm dù ở cương vị nào, dù giữ quân hàm binh nhì hay đại tướng thì đều phải chấp hành kỷ luật quân đội và pháp luật của Nhà nước.

          Hai là, để góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, cấp ủy, chỉ  huy các cấp cần tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng. Tập trung giáo dục nhiệm vụ, giáo dục truyền thống dân tộc, lịch sử, truyền thống quân đội, thông qua nhiều hình thức phong phú, đa dạng, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần tư tưởng cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tích cực, chủ động khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

          Ba là,  mỗi cán bộ, chiến sĩ luôn ý thức sâu sắc niềm vinh dự, tự hào của người quân nhân cách mạng. Dù trong bất cứ tình huống nào, hoàn cảnh nào, nhiệm vụ nào đều phải tận tâm, tận lực, thi hành nhanh chóng và chính xác; giữ vững lập trường tư tưởng. Không hoang mang, dao động; không làm bất cứ điều gì hại tới danh dự của quân đội.

          Bốn là, tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng trong và ngoài quân đội làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời cung cấp thông tin chính thống về các vụ việc có liên quan đến cán bộ, chiến sĩ trong quân đội; không để dư luận hoang mang, nghi ngờ; không để kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ.

          Bằng những lời nói, việc làm cụ thể hàng ngày trên mỗi cương vị công tác, ở mỗi lĩnh vực và đơn vị khác nhau, tin tưởng rằng, mỗi cán bộ, chiến sĩ sẽ tiếp tục giữ gìn và phát huy truyền thống của cơ quan, đơn vị mình, góp phần tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của Quân đội trong thời đại mới.

 

PHÒNG NGỪA NGUY CƠ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRẺ

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã và đang là một trong những nguy cơ hiện hữu, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ, đến sức mạnh chiến đấu và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên. Vì vậy, phòng ngừa nguy cơ “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ, đảng viên trẻ trong lực lượng vũ trang nói riêng là vấn đề cần được coi trọng hiện nay.

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên là nguy cơ đã được Đảng ta nhận thức từ lâu và đến nay vẫn còn diễn biến khá phức tạp. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lợi dụng lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước. Điều này cho thấy, việc đấu tranh phòng, chống nguy cơ này trong giai đoạn hiện nay trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

 Xét về bản chất, “tự diễn biến” là quá trình chuyển biến những yếu tố từ bên trong mỗi con người, mỗi tổ chức theo chiều hướng suy giảm, suy thoái, tiêu cực. Đến một mức độ nào đó sẽ “tự chuyển hóa” về bản chất, quan điểm, lập trường, nguyên tắc… trong cán bộ, đảng viên; từ “chuyển hóa” từng cá nhân đến “chuyển hóa” của cả một tổ chức, nhất là tổ chức đảng và nhà nước. Đó là sự suy giảm về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự suy giảm niềm tin vào thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, vào công cuộc đổi mới đất nước vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt. Đó còn là sự sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống, đề cao chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, tiêu cực.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên trẻ, song tựu trung lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vừa là “kết quả lôgích” từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, vừa là hệ quả trực tiếp bởi sự “thúc đẩy” chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, tình trạng mất đoàn kết nội bộ, trình độ nhận thức hạn chế, kinh nghiệm và nhãn quan chính trị thiếu sắc sảo của đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ cũng là tác nhân quan trọng dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mỗi tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên. Để phòng ngừa hiệu quả nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên trẻ hiện nay, cần làm tốt những nội dung, giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ. Đây là giải pháp quan trọng nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, đảng viên trẻ, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên trẻ có thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; trung thành với với Tổ quốc, với nhân dân, có niềm tin khoa học và mục tiêu, lý tưởng đúng đắn, động cơ phấn đấu trong sáng, rõ ràng, tạo nền tảng phòng ngừa hiệu quả với nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà các thế lực thù địch thúc đẩy trong giai đoạn hiện nay.

Hai là, thực hiện tốt việc tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định tự phê bình và phê bình là nguyên tắc sinh hoạt đảng và quy luật tồn tại, phát triển của Đảng. Tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để mỗi cán bộ, đảng viên tự "gột rửa" những tư tưởng, nhận thức và hành vi chưa đúng đắn của mình trong công tác, sinh hoạt cũng như cuộc sống hàng ngày, qua đó không ngừng hoàn thiện nhân cách người cán bộ quân đội.

Ba là, thực hiện có hiệu quả việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh ở Nhà trường. Đây là giải pháp quan trọng, trực tiếp ngăn chặn những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" về tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống mẫu mực, thực sự là tấm gương sáng trong đơn vị.

Bốn là, phát huy vai trò tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên trẻ. Phòng ngừa nguy cơ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trẻ cần phải đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của chính họ. Bởi lẽ, quá trình tự giáo dục là quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn, mỗi người luôn phải tự đấu tranh với bản thân, chống lại những cám dỗ, những tiêu cực, tạo dựng ý chí quyết tâm vươn tới những giá trị cao đẹp. Đó cũng chính là con đường tốt nhất để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục của mỗi người. Mặt khác, trong cuộc sống thường ngày, mỗi cán bộ, đảng viên phải giải quyết nhiều mối quan hệ xã hội, nhu cầu lợi ích của tập thể, cá nhân đan xen lẫn nhau, sự chi phối tác động của những tiêu cực và tệ nạn xã hội là rất lớn, nếu không có ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện sẽ tạo tiền đề nảy sinh nguy cơ “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong chính bản thân mỗi cán bộ, đảng viên trẻ.

 

Ý nghĩa tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử


1. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tên của đội quân chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12-1944 đến tháng 5-1945. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 22-12-1944, sau này đã được chọn làm ngày thành lập của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bối cảnh ra đời: Trước đòi hỏi của tình hình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đến lúc phải thành lập một lực lượng vũ trang chủ lực, nòng cốt lấy từ các cán bộ, đội viên du kích năng nổ. Bác và Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công việc thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” của Bác Hồ, đã nói rõ ý nghĩa lịch sử, nhiệm vụ của đội quân chủ lực đầu tiên:

- Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân,cho nên trong khi tập trung lực lượng để lập một đội quân đầu tiên, cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương cùng phối hợp hành động và giúp đỡ về mọi phương diện. Đội quân chủ lực trái lại có nhiệm vụ dìu dắt các đội vũ trang của địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên.

- Đối với các đội vũ trang địa phương: Đưa cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các các bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến.

- Về chiến thuật: Vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông, mai tây, lai vô ảnh, khứ vô tung.

Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.

Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc chí Nam, khắp đất nước Việt Nam”.

2. Việt Nam Giải phóng quân là tên gọi của QĐND Việt Nam từ tháng 5 đến tháng 11-1945. Việt Nam Giải phóng quân thành lập ngày 15-5-1945, tại Định Biên Thượng (Chợ Chu, Thái Nguyên) trên cơ sở thống nhất từ các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (tháng 4-1945) họp tại Hiệp Hòa (Bắc Giang).

Bối cảnh lịch sử: Trong lúc cả nước ta sục sôi không khí cách mạng thì Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bước vào những ngày kết thúc.

Ngày 7-5-1945, phát xít Đức - Ý đầu hàng Đồng minh. Ngày 8-8-1945, Hồng quân Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông, chủ lực của phát xít Nhật; sự sụp đổ hoàn toàn của phát xít Nhật chỉ còn tính từng giờ.

Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam được họp ở Tân Trào từ ngày 13 đến 15-8-1945 trong không khí hết sức khẩn trương. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Theo lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, của Tổng bộ Việt Minh và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đứng dậy. 14 giờ ngày 16-8-1945, đơn vị chủ lực của Việt Nam giải phóng quân xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên. Mục tiêu tiến công của Giải phóng quân lúc này không còn là những đồn bốt, châu lỵ mà là những căn cứ chính của địch, các thị trấn, thị xã. Lời căn dặn của Bác Hồ: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đôt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Ngày 21-8-1945, quân Nhật đầu hàng. Tuyên Quang được giải phóng. Thắng lợi của cuộc đánh chiếm các tỉnh lỵ Thái Nguyên, Tuyên Quang là thắng lợi của Quân giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng chính trị, dùng cả quân sự, chính trị và binh vận để tiến công địch.

Chỉ trong vòng 12 ngày (từ 14 đến 25-8-1945), Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã thắng lợi trong cả nước. Chính quyền cách mạng của nhân dân được thành lập từ Trung ương đến khắp các thôn xã. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời.

3. Vệ quốc đoàn: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời đã lâm vào tình thế hiểm nghèo, thù trong, giặc ngoài. Ở phía Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch tiến vào giải giáp quân Nhật. Ở phía Nam, thực dân Anh mở đường cho thực dân Pháp tiến vào với âm mưu biến Việt Nam trở về thời kỳ thuộc địa. Lúc này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiến hành sách lược mềm dẻo “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, để giữ vững nền độc lập non trẻ. Trước sức ép của quân Tưởng Giới Thạch, ta linh động đưa Đảng ta vào hoạt động bí mật, Đảng tuyên bố “tự giải tán”. Để đáp ứng yêu sách của quân Tưởng đòi giải tán quân đội chính quy, tháng 11-1945, Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn (còn gọi là Vệ quốc quân). Lúc này quân số quân đội ta khoảng 50.000 người, tổ chức thành khoảng 40 chi đội ở hầu hết các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ. Một số chi đội đã “Nam tiến” để giúp quân dân miền Nam chống lại thực dân Pháp đang tấn công xâm lược trở lại ở Nam Bộ.

4. Quân đội Quốc gia Việt Nam: Ngày 22-5-1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Quân đội ta lúc này tổ chức biên chế thống nhất theo trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội… Cùng với việc xây dựng quân đội quốc gia, Chính phủ ta đặc biệt coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, lực lượng bán vũ trang, bao gồm: dân quân ở nông thôn và tự vệ ở đô thị. Trong thời kỳ 1945-1950, có những người lính trong quân đội thực dân, đế quốc sang xâm lược Việt Nam, bị cảm hóa bởi cuộc kháng chiến vệ quốc chính nghĩa của quân dân ta đã tình nguyện gia nhập Quân đội ta, tham gia chiến đấu và công tác ở nhiều lĩnh vực như chỉ huy, tham mưu, kỹ thuật, huấn luyện, quân y, quân giới, tuyên truyền... Nhiều người được giao trọng trách và phong quân hàm sĩ quan. Họ đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng Quân đội Quốc gia Việt Nam trong buổi ban đầu xây dựng lực lượng.

5. Quân đội nhân dân Việt Nam: Từ năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Tên gọi "Quân đội nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ".

Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 7-5-1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Tên gọi Quân đội nhân dân Việt Nam trở nên quen thuộc với nhân dân từ đó đến nay. Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15-2-1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30-4-1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.

Như vậy, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là một cái tên mới xuất hiện, nhưng là một bộ phận không tách rời của Quân đội nhân dân Việt Nam. Thực tế lịch sử cho thấy, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh, vai trò lịch sử vẻ vang của mình. Sau năm 1975, đất nước thống nhất, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Từ 34 cán bộ, chiến sĩ ngày đầu thành lập, đến nay, QĐND Việt Nam đã phát triển lớn mạnh với đầy đủ các quân chủng, binh chủng với vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại. QĐND Việt Nam “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” đã lập nên nhiều chiến công trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Nhằm phát huy truyền thống yêu nước, biểu dương sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ngày 17-1-1989, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã ban hành Chỉ thị lấy ngày 22-12, Ngày thành lập QĐND Việt Nam là Ngày hội quốc phòng toàn dân.

Ngày 9-12-2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định công nhận Khu rừng Trần Hưng Đạo là di tích quốc gia đặc biệt. Những năm qua, Khu di tích được quan tâm đầu tư, tôn tạo, là địa chỉ “đỏ” về nguồn của các thế hệ cựu chiến binh, cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam, đảng viên, nhân dân, là địa chỉ giáo dục truyền thống sinh động cho thế hệ trẻ.

 

Ý nghĩa lịch sử của Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Ngày hội Quốc phòng toàn dân 22/12


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập. Từ đó, ngày 22/12 hàng năm trở thành ngày có ý nghĩa lịch sử trọng đại, ngày truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đặc biệt, từ ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Ðảng (Khóa VI) đã ra Chỉ thị số 381/CT-TW lấy ngày 22/12, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Tháng 12/1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chỉ thị nhấn mạnh “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền... đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...”. Chính vì vậy, vào ngày 22/12/1944, tại khu rừng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức thành lập với 3 tiểu đội gồm 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao - Bắc - Lạng. Đây là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, tinh thần kiên quyết, dũng cảm, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc.

Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân của lãnh tụ Hồ Chí Minh tuy ngắn gọn nhưng rất súc tích, bao gồm các vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự của Đảng ta như: Vấn đề kháng chiến toàn dân, động viên và vũ trang toàn dân, nguyên tắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, phương châm xây dựng 3 thứ quân, phương thức hoạt động kết hợp quân sự với chính trị của lực lượng vũ trang, nguyên tắc tác chiến và chiến thuật du kích của lực lượng vũ trang. Hồ Chủ tịch nói: “...Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là đội đàn anh mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”. Chính vì ý nghĩa đó, ngày 22/12/1944 được chọn làm ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng và đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã long trọng đọc 10 lời tuyên thệ. Việc thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chấp hành Chỉ thị của Hồ Chủ tịch là “phải đánh thắng trận đầu”. Vì vậy, ngay sau khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo hạ đồn Phay Khắt (24/12/1944) và Nà Ngần (25/12/1944) trong hoàn cảnh “ăn mỗi ngày một bữa, đánh mỗi ngày hai trận”. Và chỉ sau một tuần lễ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã phát triển thành 3 trung đội làm nòng cốt cho công tác tuyên truyền, diệt địch, biến Cao - Bắc - Lạng thành vùng căn cứ vững chắc. Vào tháng 4/1945, theo quyết định của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, ngày 15/5/1945 tại Chợ Chu (tỉnh Thái Nguyên), đã diễn ra lễ hợp nhất 2 đội: Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và Cứu quốc Quân với tên gọi mới là: Việt Nam Giải phóng quân, quân số ban đầu là 13 đại đội.

Trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Việt Nam Giải phóng quân có vai trò rất quan trọng, là đơn vị chủ lực - Việt Nam Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy tiến đánh thị xã Thái Nguyên, mở đầu cho Tổng khởi nghĩa toàn quốc. Lực lượng vũ trang đã hỗ trợ đắc lực cho lực lượng chính trị, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, chỉ sau 15 ngày đã đập tan ách đế quốc thực dân và chế độ phong kiến hàng ngàn năm.

Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quân đội ta mang tên Vệ quốc đoàn, đánh dấu thời kỳ hình thành của Quân đội Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, Quân đội ta mang tên quen thuộc nhất cho đến ngày nay là Quân đội nhân dân. Tên gọi “Quân đội nhân dân” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho với hàm ý “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Với chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, Quân đội ta đã từng bước có sự  trưởng thành về mọi mặt. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quân đội nhân dân Việt Nam và “Giải phóng quân” - một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở chiến trường miền Nam Việt Nam, nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ; đã góp phần thành công trong công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam và Quân giải phóng được hợp nhất với Quân đội nhân dân Việt Nam sau ngày 30/4/1975.

Trên cơ sở cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, Quân đội ta từ một lực lượng nhỏ bé, vũ khí trang bị thô sơ đã vươn lên thành một đội quân hùng mạnh, từng bước tiến lên chính quy hiện đại, gắn bó mật thiết với nhân dân, tô đậm truyền thống vẻ vang mà Bác Hồ, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang Việt Nam, đã dạy: “…Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng...”.

Lần đầu tiên, trong lịch sử nước ta có một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Từ đó đến nay, ngày 22/12 đã thật sự trở thành Ngày hội lớn của toàn dân tộc với các hoạt động hướng vào chủ đề: Quốc phòng và Quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, giáo dục lòng yêu nước, cổ vũ, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh trên từng địa phương, tiếp tục xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam hùng mạnh trong tình hình mới. Ðó thật sự là Ngày hội của truyền thống dựng nước và giữ nước, ngày hội tôn vinh và nhân lên hình ảnh phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, một nét độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.

Nhân kỷ niệm truyền thống 77 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 32 năm Ngày hội QPTD; toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân ta đang có rất nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo để kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam - Ngày hội Quốc phòng toàn dân bằng các hoạt động thiết thực như: Tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác quốc phòng toàn dân; kế hoạch tổ chức lễ kỷ niệm; kế hoạch tổ chức gặp mặt, giao lưu điển hình tiên tiến; kế hoạch hành quân về nguồn; vinh danh lực lượng quân đội tham gia phòng, chống dịch Covid-19…

Hiện nay, tình hình thế giới, trong nước luôn biến đổi với những diễn biến phức tạp, khó lường và không loại trừ sẽ còn có những biến động mới, đe dọa trực tiếp đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Song thực tế cho thấy, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, vẫn có những tác động lớn và đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta phải thường xuyên nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động nguy hiểm đó. Và cũng chính điều đó càng làm cho Ngày hội Quốc phòng toàn dân trở nên ý nghĩa và có tầm quan trọng đối với mỗi người dân. Đó là ngày nhắc nhở trách nhiệm mỗi chúng ta ngày nay và các thế hệ mai sau là phải tiếp tục bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, theo lời căn dặn của Bác Hồ: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Dân tộc ta chưa và sẽ không bao giờ xâm phạm độc lập, chủ quyền, lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào và cũng không cho phép bất cứ quốc gia nào, dù mạnh đến đâu, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta.

 

Phản bác xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng

 Khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)…

Những luận điệu xuyên tạc

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức.

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ.

Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”…

Những kết quả không thể phủ nhận

Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an…

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.

Xây dựng quân đội nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh


Kể từ ngày thành lập đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang nhiều tên gọi khác nhau, như: Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tháng 12/1944); Việt Nam giải phóng quân (tháng 4/1945); Vệ quốc Đoàn (tháng 9/1945); Quân đội Quốc gia Việt Nam (tháng 5/1946); Quân đội nhân dân Việt Nam (tháng 2/1951). Mỗi tên gọi thể hiện nhiệm vụ chính trị của một giai đoạn lịch sử mà quân đội ta đã phấn đấu để thực hiện. Là quân đội chủ lực, trưởng thành từ đội du kích các địa phương lớn mạnh trở thành giải phóng quân; do Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy thống nhất; là quân đội chính quy của một nhà nước, của một quốc gia độc lập có chủ quyền, bảo vệ vững chắc chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ nền độc lập thống nhất và bản sắc văn hoá dân tộc. Đó là quân đội của nhân dân, vì nhân dân mà chiến đấu. Mặc dù mang những tên gọi khác nhau do tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ phát triển lịch sử, quân đội ta vẫn là quân đội nhân dân, thực hiện chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân sản xuất. Nguyên tắc xây dựng quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh luôn được giữ vững, bởi vì:

- Một là, “Quân sự phục tùng chính trị”, “quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng, lại có hại”. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội nhân dân. Có sự lãnh đạo của Đảng, quân đội ta luôn luôn lấy việc xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao sức mạnh chiến đấu tổng hợp, thường xuyên tăng cường hiệu lực công tác Đảng - công tác chính trị. Khi có chính quyền nhà nước, trở thành một bộ phận của Nhà nước, quân đội ta tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Thực tiễn lịch sử cho thấy, cơ chế quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng không làm suy yếu sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với quân đội; vì quân đội là một tổ chức quân sự, khác với các tổ chức khác trong bộ máy nhà nước… Đảng trực tiếp lãnh đạo nhà nước đồng thời trực tiếp lãnh đạo quân đội.

- Hai là, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, về nguyên tắc tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam: “Phải có tổ chức vững chắc và nghiêm mật”, “nếu không có tổ chức thì không phải là một đội quân cách mạng, không thể đánh thắng được kẻ thù, kết cục sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và tan rã”. Người chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, xác định đúng đắn mối quan hệ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Vận dụng sáng tạo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng vào xây dựng quân đội cách mạng, Người nêu rõ có tổ chức mạnh mới có con người mạnh. Con người mạnh làm cho tổ chức mạnh, Đảng bộ trong quân đội làm nòng cốt và hạt nhân lãnh đạo, vừa có hệ thống lãnh đạo, vừa có hệ thống chỉ huy, xác định rõ lãnh đạo là tập thể, chỉ huy là trách nhiệm cá nhân. Quân đội phải có kỷ luật sắt “quân lệnh như sơn”, xây dựng quân đội phải đi đôi với thực hiện dân chủ, phê bình, tự phê bình từ dưới lên, chống quan liêu, quân phiệt, độc đoán, chống tự do vô kỷ luật.

- Ba là, quân đội ta là quân đội của dân, do dân và vì dân. Vì vậy, phải luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, có thái độ chính trị đúng đắn trước những mối quan hệ chính trị cơ bản: với nhân dân, quân đội ta là người phục vụ trung thành, cùng nhân dân bảo vệ độc lập chủ quyền, chế độ xã hội, bảo vệ nhà nước, bảo vệ Đảng, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, tài sản và quyền làm chủ của nhân dân; với đất nước, quân đội ta là công cụ để bảo vệ độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc…; với bầu bạn, quân đội ta thấm nhuần tinh thần quốc tế vô sản, ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội và hoà bình thế giới; với nội bộ, thực hiện toàn quân một ý chí, kỷ luật nghiêm minh, dân chủ, bình đẳng về chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một Quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”.

- Bốn là, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong xây dựng quân đội phải lấy việc bồi dưỡng xây dựng con người là chính. Bác Hồ nói: “Người trước súng sau”. Chiến lược “trồng người” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên một đội ngũ cán bộ quân đội trung thành, có trí tuệ đáp ứng yêu cầu khắc nghiệt của đấu tranh và mọi thử thách của cách mạng. Người nói: “Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”, “… cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Đối với cán bộ trong quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung”. Người đặt “Trí” lên hàng đầu. Theo đó, cán bộ quân sự trước hết phải là người có trí tuệ, không ngừng trau dồi trí thức, nâng cao trí tuệ mới hoàn thành nhiệm vụ. Người cán bộ phải có giác ngộ chính trị hơn quần chúng, vì vậy phải có trình độ hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học kỹ thuật quân sự; nắm vững đường lối chính sách của Đảng mới tự giác phấn đấu theo đường lối cách mạng mà Đảng đã vạch ra, có niềm tin thắng lợi, dựa vào căn cứ khoa học, có lý luận để thuyết phục quần chúng, có khả năng tổng kết thực tiễn, phát huy sức sáng tạo của quần chúng để góp phần cụ thể hoá, bổ sung đường lối, chủ trương của Đảng.

Quân đội nhân dân Việt Nam đã đánh thắng quân đội nhà nghề hai đế quốc to, trước hết là thắng bằng trí tuệ, bằng tài thao lược, kế thừa truyền thống đánh giặc của tổ tiên, tiếp thu có chọn lọc nghệ thuật quân sự của nhân loại, có phương pháp xem xét đúng, hiểu rõ sức mạnh quân đội của các nước đế quốc, sáng tạo cách đánh tài giỏi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, quân đội cách mạng phải: “nghiên cứu cách đánh giặc” để “có một lối đánh tài giỏi thì trăm trận trăm thắng”. Nếu “thiếu nghiên cứu tìm hiểu tình hình khả năng ta và địch một cách tỉ mỉ để định ra mục đích và cách đánh hợp lý thì sẽ “mắc nhiều khuyết điểm”. Người căn dặn cán bộ phải chịu khó học tập, không ngừng nâng cao trí tuệ, văn hoá để có phương hướng đúng cho việc trau dồi đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc cán bộ học ở trường, ở sách vở và trong thực tiễn đấu tranh cách mạng đều rất quan trọng. Theo Người, học phải đi đôi với hành, lời nói phải đi đôi với việc làm. Người coi trọng quá trình xây dựng quân đội nhân dân phải là quá trình rèn luyện lâu dài chiến đấu với kẻ thù, trong đấu tranh chính trị, trong vận động quần chúng, trong xây dựng nâng cao sức mạnh chiến đấu. Bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu của mỗi quân nhân trong quân đội chẳng những là sự tích luỹ một hàm lượng trí tuệ mà còn là kết quả của sự đấu trí giữa ta và địch. Hơn nửa thế kỷ xây dựng và chiến đấu, quân đội ta đã bồi dưỡng được một đội ngũ cán bộ quân sự tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, giỏi thao lược, đánh thắng mọi kẻ thù. Trong Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiều cán bộ cao cấp trưởng thành từ giai cấp công nhân, nông dân, trí thức cách mạng đi lên. Đó là một thành công lớn lao của Đảng và Bác Hồ.

Trải qua 77 năm, quân đội ta xây dựng và chiến đấu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đã hoàn thành nhiệm vụ trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những năm hoà bình, quân đội ta là một lực lượng rất quan trọng bảo đảm sự ổn định chính trị và an toàn xã hội của nước nhà. Ngày nay, trong bối cảnh mới, đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chúng ta đang đứng trước vận hội mới và những thách thức mới. Đảng ta xác định xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược. Nhiệm vụ của quân đội ta rất nặng nề, phải bảo vệ được hoà bình, góp phần tạo môi trường ổn định để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới hải đảo của Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng và Nhà nước, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc, lợi ích quốc gia, chống lại các thế lực thù địch với các thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ và sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của địch. Chức năng cơ bản của quân đội là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng tài sản, quyền làm chủ của nhân dân và chức năng đội quân công tác, đội quân sản xuất có những nội dung và yêu cầu mới.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi quân đội phải được xây dựng với chất lượng cao, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nhiệm vụ đó đặt ra yêu cầu đầu tư hơn nữa vào công tác huấn luyện bộ đội, đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chỉ huy giỏi, sáng tạo cách đánh và tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học quân sự, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, góp phần vào việc đổi mới phong cách lãnh đạo chỉ huy Quân đội nhân dân. Cần thiết phải bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc; tiếp tục thể chế hoá đường lối, quan điểm, Nghị quyết của Đảng về xây dựng quân đội; ban hành hệ thống điều lệnh, điều lệ về các hoạt động của Quân đội nhân dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quân đội, giải quyết tốt nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân trong nhà nước pháp quyền do Đảng lãnh đạo.

Những vấn đề trên đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục học tập, tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân, góp phần tăng cường nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, làm cho quân đội ta mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý: “Bộ đội Cụ Hồ”.

 

Xây dựng phong cách diễn đạt trong nói và viết của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh


Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói và viết không đơn thuần là một hành động thông tin mà còn là quá trình tác động lên người nghe, người đọc, nhằm thuyết phục, cảm hóa, nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm và hành vi, hướng mọi người vào các hoạt động thực tiễn cách mạng phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội, của thời đại. Trong tính đa dạng và phong phú của những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, có thể thấy những nét chung, cơ bản nhất, đó là:

Thứ nhất, cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực. Cách diễn đạt trong các bài nói, bài viết của Người rất mộc mạc, ngắn gọn trong sáng, giản dị, khúc triết và dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức, sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc, người nghe. Người luôn căn dặn chúng ta, bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói/viết để làm gì? và “Nói/viết cái gì?”. Hồ Chí Minh dạy rằng: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng, phải học cách nói của quần chúng. Vì cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rất hoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn. Anh em đi tuyên truyền chưa học cách nói đó, cho nên khi viết, khi nói khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, không thiết thực”.

Thứ hai, trong phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang đậm tính chân thực, cô đọng, hàm súc, trong sáng và sinh động, có lượng thông tin cao. Hồ Chí Minh luôn chú trọng tính chân thực trong mỗi bài nói, bài viết của mình đối với từng đối tượng. Khi nói, viết về một vấn đề gì cho một đối tượng cụ thể, Hồ Chí Minh luôn phản ảnh đúng sự thật, bảo đảm tính chính xác, tính chân thực của các sự kiện, vấn đề mà Người nêu ra. Người phê phán tính thiếu chính xác, thiếu chân thực, thói giả dối khi viết, khi nói với quần chúng nhân dân của một số cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng và nhà nước lúc bấy giờ. Người yêu cầu: “Báo cáo phải thật thà, gọn gàng, rõ ràng, thiết thực. Điều gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Không nên nói ẩu”,  “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết”. 

Thứ ba, cách nói, cách viết sinh động, độc đáo, đa dạng về bút pháp, giàu hình ảnh, đa giọng điệu, ngôn từ ngắn gọn, súc tích, gắn với những hình ảnh, sự ví von, so sánh cụ thể. Khi nói, khi viết, Bác Hồ thường kết hợp với kể chuyện, đan xen những câu thơ, câu ca dao có vần điệu, làm cho bài nói hay bài viết trở nên sinh động, gần gũi với lối cảm, lốì nghĩ của quần chúng. Người dùng hình ảnh “con đỉa hai vòi” để nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc; ví “Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn”; “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”; người đọc nhiều lý luận mà không biết đem thực hành, vận dụng chỉ là “cái hòm đựng sách”...

Thứ tư, Phong cách diễn đạt luôn biến hóa, nhất quán mà đa dạng, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, luận điểm, luận cứ thuyết phục, giàu tính luận chiến dù đó là các bức thư, lời kêu gọi hay bài báo… Trong cách nói và viết, Người kết hợp hài hòa cái dân gian và cái bác học, cái cổ điển và cái hiện đại, giữa phong cách phương Đông và phong cách phương Tây.

Sự thuyết phục từ những trang viết, câu nói của Người thể hiện ở chiều sâu bình luận, phân tích, tập trung vào từng sự việc, hiện tượng với chứng cứ, luận cứ sắc sảo trên lập trường, quan điểm nhân đạo chủ nghĩa cao cả. Những lời khuyên và chỉ bảo của Bác cũng như phong cách nói và viết đã vượt qua giới hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe.

Đây chính là những bài học quý báu mà Người đã để lại cho các thế hệ cán bộ, đảng viên chúng ta, nhất là những người làm công tác tư tưởng, công tác tuyên giáo của Đảng. Bởi lẽ, phong cách diễn đạt nói và viết là vấn đề thường xuyên gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người chúng ta, là hai kỹ năng quan trọng của con người. Muốn làm chủ quá trình tư duy và nâng cao hiệu quả giao tiếp, mỗi người chúng ta đều phải trau dồi khả năng nói và viết. Hơn nữa, đối với cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, kỹ năng nói và viết càng cần thiết hơn. Người lãnh đạo có ý tưởng tốt mà không làm cho quần chúng nhân dân hiểu được thì sẽ gặp khó khăn trong điều hành, quản lý, không triển khai được kế hoạch và không tạo được sức mạnh tập thể thực hiện kế hoạch trong thực tiễn. Mặt khác, mỗi cán bộ, đảng viên đều có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, nếu không có kỹ năng diễn đạt thì công tác vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách đó sẽ rất hạn chế.

Vì vậy, việc nghiên cứu học tập phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng phong cách diễn diễn đạt, hoàn thiện kỹ năng giao tiếp đối với cán bộ, đảng viên là biện pháp thiết thực để vận dụng vào thực tiễn công tác và cuộc sống, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao trong giai đoạn hiện nay

 

Nhận diện rõ những âm mưu, thủ đoạn, các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động tấn công vào nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

 Có thể nói, nắm bắt những âm mưu, thủ đoạn, phương thức, hình thức chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị là nhiệm vụ đầu tiên để nhận diện rõ các đối tượng này, nhất là khi chúng là những kẻ thù giấu mặt, cơ hội chính trị, lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí, để từ đó, chúng ta có đối sách, phương pháp đấu tranh phù hợp, đạt hiệu quả cao.

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm bác bỏ, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng. Thủ đoạn mới của chúng là chuyển từ bôi nhọ bằng luận điệu “du nhập ngoại lai”, “nhập khẩu lý luận” sang đánh tráo, thay thế các khái niệm, thổi phồng cái gọi là “chủ thuyết phát triển mới”, đối lập chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa Lênin, kêu gọi dùng “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin mà cố tình lờ đi một sự thật hiển nhiên, rõ ràng rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa bằng các luận điệu xuyên tạc như: Đảng tự cho mình đứng trên tất cả; Đảng cầm quyền phi chính danh, không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc tình hình đất nước, rêu rao cái gọi là “khủng hoảng toàn diện”, “tình thế hiểm nghèo”, khoét sâu các vấn đề xã hội, tôn giáo, dân tộc, nhân quyền, đất đai,... nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ tư, lợi dụng thông tin về những mặt hạn chế, bất cập của đất nước, các thế lực thù địch, phản động khoét sâu vào những điểm yếu kém trong thực thi công vụ của một số cơ quan, cán bộ lãnh đạo, quản lý, hòng chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân, âm mưu cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, hướng lái tạo ra những tư tưởng, tâm lý nghi kỵ, hẹp hòi, hành động sai trái, chống đối, bạo lực và bạo động trong cộng đồng và xã hội.

Thứ năm, các thế lực thù địch, phản động tiến hành móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, hòng dựng lên “ngọn cờ” tập hợp lực lượng. Chúng không ngừng tìm kiếm những phần tử thoái hóa, biến chất trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tán phát tư tưởng phản động, chống phá Đảng, Nhà nước.

Thứ sáu, các thế lực thù địch, phản động phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta với các chiêu bài, như “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước kia, cổ xúy chủ nghĩa ly khai.

Mỗi cán bộ đảng viên cần nhận rõ âm mưu, thủ đoạn, của các thế lực thù địch để xây dựng bản lĩnh cách mạng không mắc mưu trước những thủ đoạn mới.

Tư tưởng “Người trước, súng sau” của Hồ Chí Minh trong xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân


Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị cha già của lực lượng vũ trang nhân dân luôn chăm lo đến sự trưởng thành, vững mạnh của Quân đội nhân dân. Với đường lối chính trị đúng đắn, sự mềm dẻo, linh hoạt trong chỉ đạo, Người đã thực hiện thành công việc tập hợp toàn dân vào các hình thức Mặt trận, phát huy cao độ khả năng, sức mạnh của nhân dân trong cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, giành được những thắng lợi vĩ đại. Nổi bật trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là tư tưởng “Người trước, súng sau”. Tinh thần của con người phải được truyền qua súng, người và vũ khí là những yếu tố rất cần thiết không thể thiếu trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; nhưng điều quan trọng là con người sử dụng vũ khí ấy.

Với niềm tin vững chắc “sự đồng tâm của đồng bào đúc thành bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”, Người thường khẳng định, Đảng phải lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt lực lượng vũ trang nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ; ba lực lượng này phải gắn bó chặt chẽ với nhân dân như cá với nước, nếu xa rời dân là thất bại. Kết hợp giữa yếu tố con người, vũ khí, trang bị về các yếu tố khác để xây dựng sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang nhân dân; trong đó, yếu tố con người là quyết định, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị, thường xuyên tăng cường nâng cao sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang nhân dân.

Tháng 9/1940, khi Bác đang ở Diên An, Trung Quốc, có một số đồng chí đã hỏi Bác về vấn đề vũ khí cho khởi nghĩa, Bác nói: khởi nghĩa thì phải có vũ khí, đây là một công việc rất quan trọng của cách mạng. Nhưng nếu bây giờ mà có vũ khí thì lấy ai để vác vũ khí? Cho nên, phải tìm cách về nước để giác ngộ quần chúng, khi quần chúng giác ngộ cao thì sẽ có vũ khí. Quan điểm "người trước, súng sau" chính là sự vận dụng và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tố con người trong chiến tranh. Theo Lênin, xét đến cùng, quyết định thành bại của một cuộc chiến tranh phụ thuộc vào nhân tố chính trị, tinh thần của người trực tiếp cầm súng trên chiến trường. Về mặt bản chất, quan điểm "người trước, súng sau" là nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với vũ khí, trang bị trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trong khi luôn coi trọng yếu tố trang bị của vũ khí, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh đồng thời nhấn mạnh yếu tố con người, phải xem đấy là yếu tố có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân. Theo Người, lực lượng vũ trang phải là tập thể những con người có đạo đức, có tinh thần cách mạng triệt để, phải được phát triển toàn diện về trình độ, giác ngộ chính trị, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh, sử dụng mọi thứ vũ khí có trong tay để đánh thắng quân thù. Con người trong lực lượng vũ trang phải là những con người thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, trung kiên, dũng cảm và luôn trung thành với lợi ích của nhân dân. Người thường dạy: nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị. Quân sự mà không có chính trị, như cây không có gốc, đã vô dụng lại có hại. Chính trị phải thể hiện ra trong lúc đánh giặc, chính là tinh thần của con người và tinh thần của con người phải được chuyển qua súng đạn.

Như vậy, với quan điểm "người trước, súng sau", Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: chính yếu tố con người là yếu tố trung tâm, yếu tố quyết định tạo nên sức mạnh của lực lượng vũ trang nhân dân. Xuất phát từ quan điểm này, Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội cách mạng, bởi theo Người: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, do đó huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng. Tướng là kẻ giúp nước, tướng giỏi thì nước mạnh, tướng xoàng thì nước hèn.

Ngay từ tháng 6/1925, tại Quảng Đông, Trung Quốc, Bác đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, mở nhiều lớp bồi dưỡng chính trị cũng như huấn luyện cho các thanh niên Việt Nam yêu nước. Sau đó, Người đã cử nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước và những cán bộ ưu tú của Đảng đi đào tạo, học tập quân sự tại các trường quân sự, học viện quân sự ở nước ngoài như Liên Xô, Trung Quốc, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ tài trí, trung thành, là nòng cốt để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân ngày càng vững mạnh, trưởng thành. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã nêu ra sáu yêu cầu đối với đạo làm tướng, đó là “trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung”. Theo Người, đây là những yêu cầu cơ bản đối với một cán bộ quân đội cách mạng, cán bộ chức vụ càng cao thì trách nhiệm càng nặng, thiếu một trong những yếu tố đó là có khuyết điểm, ảnh hưởng đến công tác.

Có nhiều đáp án lí giải cho câu hỏi tại sao Bác lại đặt “trí” lên hàng đầu đối với người làm tướng, nhưng chúng ta có thể học được nhiều điều qua câu chuyện Bác tiếp đoàn chuyên gia quân sự của Liên Xô sang thăm nước ta sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Khi tiếp Đoàn, Bác nói “chú Giáp đánh thắng giặc Pháp ở Điện Biện Phủ mà không tốn một chiếc xe tăng, một chiếc máy bay nào”. Cả đoàn chuyên gia ngỡ ngàng chưa hiểu. Bác cười và nói: “chú Giáp làm gì có xe tăng, làm gì có máy bay để mà mất”. Qua câu chuyện đó, để nói lên một điều, trong lịch sử, dân tộc ta phải đấu tranh chống lại những kẻ thù hung bạo, nhưng chúng có những vũ khí trang bị khác biệt với ta là không đáng kể do cùng phương thức sản xuất. Ngày nay, kẻ địch không những đông hơn ta, mạnh hơn ta, lại còn có vũ khí trang bị hiện đại hơn ta gấp nhiều lần, những vũ khí mà trước đây chúng ta không có như xe tăng, máy bay. Vậy, nếu để thắng địch, chúng ta phải có trí tuệ, chứ không chỉ có tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Do đó, Bác đã đặt trí lên đầu và nhờ đó mà ta càng đánh càng mạnh, lấy ít thắng nhiều, chuyển yếu thành mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn dạy: cán bộ quân sự phải thường xuyên học tư tưởng chiến lược, chiến thuật, học cách dạy bộ đội đánh giặc, học phương pháp chỉ huy chiến đấu. Làm cán bộ, bộ đội chưa có nước, cán bộ không được kêu khát; bộ đội chưa có cơm, cán bộ không được kêu đói; bộ đội chưa có lửa, cán bộ không được kêu rét, phải biết chia sẻ gian khổ với bộ đội; cán bộ phải thân với đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Đối với chính trị viên, Bác dạy: đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn và do đó khi cán bộ dẫn hội viên đi đâu thì dù hiểm nguy đến mấy họ cũng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh.

Bản thân Hồ Chí Minh, thiên tài quân sự, tổng tư lệnh tối cao của cách mạng Việt Nam, chính là một tấm gương sáng mẫu mực về đạo làm tướng. Bác lo từ tiêu chuẩn chiến sỹ để đủ sức đánh giặc ngoài mặt trận, đến ủng hộ cả số tiền tiết kiệm của một vị Chủ tịch nước để mua nước cho bộ đội trong những ngày trực chiến phòng không mùa nắng gắt. Bác vén chăn, vén màn cho mỗi đội viên được yên giấc ngủ trên chặng đường hành quân ra mặt trận. Có chiến sĩ cảnh vệ đã ôm chặt khẩu súng vào lòng mà không ngăn được nước mắt rơi vì ăn chiếc bánh Bác cho, vì mặc chiếc áo Bác khoác cho giữa trời đêm giá lạnh… Hành động của Bác lay động mọi con tim, khối óc, khiến ai ai cũng sẵn sàng, tự nguyện, tự giác tập hợp vào khối đoàn kết toàn dân tộc, đứng lên đi theo Đảng và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng do Đảng đề ra.

Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát huy yếu tố con người trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xây dựng một đội ngũ cán bộ, chiến sĩ tài trí, trung thành với sự nghiệp vinh quang của Đảng. Thực tiễn đã chứng minh, mặc dù chỉ có vũ khí trang bị ít ỏi, thô sơ hơn nhiều so với kẻ thù, nhưng những chiến sĩ cách mạng của chúng ta với lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, bằng tinh thần chiến đấu quả cảm đã tạo nên sức mạnh xung thiên đánh tan mọi kẻ thù. Đó là hình ảnh chiến sĩ cảm tử: như trung đội trưởng Trần Thành ở chợ Hôm, ôm bom ba càng lao thẳng vào xe tăng địch, với tinh thần cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh; là Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Cù Chính Lan, Nguyễn Viết Xuân và biết bao anh hùng khác, những con người mà lý tưởng cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù; là những tướng lĩnh tài ba lỗi lạc, những con người tiêu biểu cho phẩm chất: trí, dũng, nhân, tín, liêm, trung, mà đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã được Bác trao nhiệm vụ là "tướng quân tại ngoại", toàn quyền quyết định trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ; là sức mạnh, ý chí của toàn dân tộc Việt Nam thể hiện trong tinh thần của những chiến sĩ Điện Biên Phủ năm xưa.

Tinh thần chiến đấu ấy, hôm nay đang được toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta biến thành hành động cách mạng cụ thể, đẩy nhanh, đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, lập nên những chiến công mới vinh quang hơn, tự hào hơn.