Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

 

Mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

 Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cung cấp phương pháp luận, những luận chứng, luận cứ, lý luận và thực tiễn, những cấu trúc chính của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Bài viết phân tích làm rõ cấu trúc mô hình chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách, từ chế độ chính trị, mô hình kinh tế tổng quát, nền văn hóa, đến cơ chế vận hành của xã hội... Đồng thời khẳng định đó là những đóng góp của Đảng và nhân dân ta trong việc tìm tòi mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa của nhân loại. 

Chủ nghĩa xã hội luôn là một sự tìm kiếm trong lịch sử nhân loại. CNXH từ không tưởng đến khoa học đều là khát vọng và tìm tòi của nhiều nhà tư tưởng, nhà cách mạng, nhằm giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái, hòa mục...

Nhân loại đã từng thử nghiệm, xây dựng nhiều mô hình CNXH và đã trải nghiệm cả thành công lẫn thất bại. Sau sự sụp đổ của mô hình CNXH Xô viết, tuy phong trào XHCN lâm vào thoái trào, nhưng những tìm tòi về lý luận và thực tiễn của CNXH vẫn tiếp tục. 

Mô hình chủ nghĩa xã hội là tổng thể những thành tố, cấu trúc và những mối quan hệ cơ bản, đặc trưng, có tính ổn định, thể hiện bản chất của CNXH, cho phép chúng ta nhận diện được những đặc tính khác biệt về nội dung và hình thức và phương thức tồn tại, phát triển của chế độ xã hội XHCN của một quốc gia, một giai đoạn, một thời đại.

Để có thể xác định được mô hình CNXH Việt Nam, chúng ta cần làm rõ những cấu trúc chính sau đây:

1. Chế độ chính trị trong mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam 

Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trình bày về “chế độ chính trị”, “mô hình chính trị”, “hệ thống chính trị” và “cơ chế vận hành hệ thống chính trị” Việt Nam với tư cách là một vấn đề cơ bản của mô hình CNXH Việt Nam hiện nay (thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội).

Khi bàn về mô hình chính trị Việt Nam, Tổng Bí thư khẳng định “Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam”(1). Trong nền dân chủ XHCN, để nhân dân thực sự làm chủ, để phát huy dân chủ, Tổng Bí thư khẳng định quan điểm của Đảng ta là “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(2). Sự khác biệt giữa nền dân chủ XHCN nói chung và Nhà nước pháp quyền XHCN nói riêng, là ở chỗ “Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng”(3). Trong nền dân chủ XHCN ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đóng vai trò hạt nhân của nền dân chủ và hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền là trung tâm của hệ thống chính trị. Từ lôgíc đó, Tổng Bí thư đã chỉ ra vai trò của Đảng và “Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”(4)

Nội dung của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam về cơ bản đã được chế định trong Hiến pháp, được nêu khái quát trong Cương lĩnh của Đảng và trong nghị quyết của Đảng, được Tổng Bí thư nhiều lần nhắc lại trong cuốn sách, có thể tóm tắt như sau:

- Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH.

- Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng; là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

- Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc pháp quyền.

- Mọi cơ quan quyền lực nhà nước từ Trung ương đến cơ sở do nhân dân bầu ra bằng các cuộc bầu cử dân chủ, đại điện cho quyền lực của nhân dân, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương thông qua chức năng lập hiến, lập pháp, ra quyết định; thực hiện giám sát đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Để làm rõ bản chất của nền dân chủ XHCN, Tổng Bí thư nhấn mạnh: 

- Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(5)

- “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có vai trò (...) củng cố, mở rộng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; động viên nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, mở rộng quan hệ hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới”(6)

- “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ”(7)

Đặc trưng của nền dân chủ XHCN Việt Nam là chế độ Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. 

2. Cơ sở kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam 

Cơ sở kinh tế của CNXH là một trong những vấn đề tranh luận gay gắt giữa các quan điểm về CNXH và cũng đã trải qua nhiều thử nghiệm ở các mô hình khác nhau. Trong phong trào cộng sản và công nhân từ thế kỷ XIX đến nay đã có những quan điểm và mô hình thực tiễn khác nhau, như của Prudon, Causky, V.I.Lênin (chính sách cộng sản thời chiến và NEP), mô hình Liên Xô (kế hoạch hóa tập trung), mô hình tự quản Nam Tư, mô hình nền kinh tế thị trường xã hội của các đảng xã hội dân chủ (Tây Âu, Bắc Âu), mô hình kinh tế thị trường XHCN của Trung Quốc. 

Trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam, Đảng ta cũng đã trải qua quá trình thử nghiệm, tìm tòi, tổng kết từ thực tiễn; có cả những thành công và thất bại. Trong quá trình đổi mới, mô hình kinh tế của CNXH ở Việt Nam được khái quát tại Đại hội IX (năm 2001): “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. 

Những ai đã từng nghiên cứu về kinh tế XHCN, mới thấy sự khó khăn như thế nào, khi gắn khái niệm “kinh tế hàng hóa”, “kinh tế thị trường” với CNXH. Tổng Bí thư viết: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(8)

Tổng Bí thư đã cụ thể hóa nhận thức của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: Đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối”(9)

“Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội”(10)

Điều băn khoăn đối với nhiều người và cũng là khó khăn trong thống nhất nhận thức về tính định hướng XHCN và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây trong mô hình CNXH Xôviết, mà chúng ta từng áp dụng, ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước không “chỉ huy” nền kinh tế bằng một “kế hoạch pháp lệnh”, không can thiệp sâu, trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mà “Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”(11)

Về định hướng XHCN, Tổng Bí thư chỉ ra rằng: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công”(12)

Ngày nay, mọi quốc gia đều quan tâm giải quyết vấn đề xã hội, cho dù quốc gia đó có mô hình kinh tế như thế nào. Trên thế giới, hiện có ba cách giải quyết vấn đề xã hội cơ bản: (i) Dựa vào thị trường, nhà nước chỉ can dự tối thiểu; (ii) Nhà nước thu thuế của doanh nghiệp rất cao, dùng khoản tiền thuế đó để phân phối lại, giải quyết vấn đề xã hội; (iii) Mô hình Xô viết, lấy ngân sách (chủ yếu là nguồn thu từ các cơ sở sản xuất thuộc nhà nước), để chi phí cho các vấn đề xã hội. Mỗi mô hình như vậy có những thành công và hạn chế khác nhau. Vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, chúng ta sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?

Nét độc đáo của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là, việc bắt đầu xây dựng một nền kinh tế thị trường không phải lặp lại lịch sử tự phát ban đầu của nó, cũng không dễ dàng như ở các nước đã ở giai đoạn phát triển thuần thục của nền kinh tế thị trường. 

Đối với một nước có trình độ phát triển kinh tế thấp như Việt Nam, với hơn 93% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ tăng 62,8%(13), chắc chắn chúng ta không có nguồn lực đủ lớn, tích lũy từ tiền thuế của doanh nghiệp để chi trả cho bảo đảm xã hội. 

Vì vậy, thực hiện công bằng, tiến bộ trong từng chính sách, trong từng bước phát triển của kinh tế thị trường là cách thức tối ưu để vừa phát triển kinh tế, vừa bảo đảm xã hội. Nền kinh tế thị trường cung cấp việc làm, hàng hóa dịch vụ, nâng mức sống, mức tiêu dùng ngày càng cao cho xã hội. Song song với đó, việc bảo đảm xã hội lại tạo ra nguồn lực, nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cho thị trường, nuôi dưỡng thị trường. Trong nền kinh tế đó, các doanh nghiệp phải đề cao trách nhiệm xã hội, chia sẻ với người dân trong từng bước phát triển, trong giải quyết lao động, việc làm, mà không phải chờ đến lúc thật giàu, hoặc đóng thuế thật cao, rồi mặc cho sự điều tiết, phân bổ lại của Nhà nước. Một nền kinh tế như vậy phù hợp với văn hóa Việt Nam. Như vậy, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN sẽ khắc phục được những hạn chế, khiếm, mà thấm đẫm tình tương thân, tương ái, nghĩa đồng bào và trách nhiệm xã hội.

Sự khác nhau giữa chế độ tư bản chủ nghĩa và XHCN, mà cụ thể ở mô hình CNXH Việt Nam là gì? Tổng Bí thư chỉ ra “đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa” là “một quá trình phát triển kinh tế - xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”(14). Như vậy, “Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át”(15)

Tổng Bí thư khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(16). Tổng Bí thư cho rằng “đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội”(17). Đó là một mô hình CNXH mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

3. Nền tảng tinh thần của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam 

Khẳng định quan điểm của Đảng trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư một lần nữa nhấn mạnh, “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng”(18)

Đó là một nền văn hóa “phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”(19). Như vậy, nền văn hóa đó có nội dung là bản sắc dân tộc, tâm hồn dân tộc, lối sống, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc được kết nối với những giá trị, những xu hướng tiến bộ chung của nhân loại. Nền văn hóa của mô hình CNXH Việt Nam cắm rễ trên mảnh đất hiện thực, đã khắc phục và vượt qua những quy tắc giáo điều mang tính trừu tượng, hình thức, thiếu sức sống, thiếu động lực nội sinh thực tế, từng được coi là nguyên tắc chung cho tất cả những người XHCN. 

Mục tiêu chung của nền văn hóa đó, như Đảng ta chỉ rõ: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, tính nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội(20)

Tổng Bí thư quán triệt quan điểm của Đảng về trọng tâm của việc xây dựng văn hóa “là xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp”(21). Như Đảng ta đã khẳng định: “Con người là chủ thể, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển; phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp đổi mới”(22). Coi “phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(23)

Theo Tổng Bí thư, nội dung cốt lõi của nền văn hóa Việt Nam “là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; kế thừa những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hóa của thế giới, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mĩ ngày càng cao”(24)

Để tiếp tục xây dựng, giữ gìn, chấn hưng và phát triển nền văn hóa của dân tộc, Tổng Bí thư chỉ ra một số nhiệm vụ trọng tâm, với những nội dung quan trọng: khơi dậy mạnh mẽ hơn nữa tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc; chú trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị về văn hóa, về đạo đức; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, để Đảng ta và hệ thống chính trị của nước ta thật sự là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho lương tri và phẩm giá con người Việt Nam; học tập theo tư tưởng, đạo đức, phong cách văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh(25);  “xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(26)

4. Chủ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chủ thể của mô hình CNXH Việt Nam là nhân dân Việt Nam, với phạm trù nhân dân theo nghĩa rộng nhất, đầy đủ và toàn diện nhất. Tổng Bí thư chỉ rõ: “Chúng ta cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “Nước lấy dân làm gốc”... cần chăm lo đầy đủ và sâu sắc đến đời sống, lợi ích thiết thực của nhân dân; thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”(27)

Tổng Bí thư khẳng định, đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước”(28). Trong tất cả các nguồn lực để xây dựng CNXH, Tổng Bí thư cho rằng: “nguồn lực con người là quan trọng nhất”(29). Trong đó, “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển... Chống tư tưởng kỳ thị dân tộc, dân tộc cực đoan, dân tộc hẹp hòi; nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiếp tục vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”(30).

Qua hơn 35 năm đổi mới, cơ cấu xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, các giai cấp, tầng lớp đều có vị trí, vai trò nhất định trong mô hình CNXH Việt Nam và cần phải được định vị, nhận thức rõ cho phù hợp với điều kiện mới. 

Trong bối cảnh đó, Tổng Bí thư yêu cầu: “Chú trọng phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(31). “Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, chúng ta tiếp tục kiên định quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam... Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(32)

Đối với giai cấp nông dân, Tổng Bí thư yêu cầu cần phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới; người nông dân cần có những thay đổi trong tư duy và hành động để có thể làm chủ được công nghệ, làm chủ được nền nông nghiệp hiện đại... để có thể đủ sức cạnh tranh toàn cầu và phát triển bền vững(33)

Ngoài giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, cuốn sách của Tổng Bí thư cũng làm rõ vai trò của của đội ngũ trí thức, đội ngũ doanh nhân và thế hệ trẻ Việt Nam trong xây dựng CNXH. Điểm mới trong mô hình CNXH Việt Nam là khẳng định rõ vai trò của đội ngũ doanh nhân. Tổng Bí thư cũng đặt ra yêu cầu “phát triển đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc, có chuẩn mực văn hóa, đạo đức tiến bộ và trình độ quản trị, kinh doanh giỏi”(34)

5. Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa và thế giới

Đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện cách nhìn nhận của chúng ta về thế giới và định vị một nước Việt Nam XHCN trong cộng đồng quốc tế. Trong cuốn sách, Tổng Bí thư một lần nữa nhấn mạnh đường lối đối ngoại được Đại hội XIII của Đảng thông qua: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(35)

Theo Tổng Bí thư, đường lối đối ngoại của Đảng lấy nguyên tắc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, ngoan cường bảo vệ giang sơn, độc lập, chủ quyền của đất nước, nhưng giàu tính nhân văn, trọng lẽ phải, công lý, chính nghĩa, hòa hiếu, hòa bình, hữu nghị; “dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột; gắn với thực tiễn của thế giới, để đưa Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy của thời đại”(36)

Tổng Bí thư khẳng định, đường lối đối ngoại đó là sự kế thừa “những tư tưởng, triết lý vượt thời đại của cha ông ta”, tinh hoa văn hóa và kinh nghiệm ngoại giao thế giới làm nên bản sắc riêng, rất độc đáo của nền ngoại giao và hoạt động đối ngoại Việt Nam(37). Một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam!”(38)

Nhờ đường lối đối ngoại đúng đắn, chúng ta đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống. “Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO, v.v.. Đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và đối ngoại của các ngành, lĩnh vực, địa phương, doanh nghiệp ngày càng mở rộng, chủ động, tích cực và đi vào chiều sâu. Trong đó, Đảng ta đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức hữu nghị của nhân dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị với nhân dân các nước, quảng bá sâu rộng công cuộc đổi mới, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới”(39)

6. Về con đường (phương thức) đi lên chủ nghĩa xã hội

Tổng Bí thư đã trình bày cách tiếp cận mới của Đảng ta, với cách nhìn biện chứng hơn, thực tiễn hơn, ngày càng đúng đắn hơn, trên cơ sở tổng kết thành tựu hơn 35 đổi mới đất nước. Cách tiếp cận mới đã khắc phục được cách tiếp cận đơn giản, như: coi những nhiệm vụ mà chúng ta thực hiện hằng ngày để xây dựng CNXH ở một nước kém phát triển với mục tiêu cuối cùng của CNXH, làm cho không ít quần chúng lầm tưởng rằng, CNXH chỉ có vậy, kém xa các nước tư bản chủ nghĩa. Tổng Bí thư cũng nhắc lại những nhận thức sai lầm trong thiết kế và xây dựng mô hình CNXH thời kỳ quá độ ở nước ta như: nhấn mạnh một chiều tính ưu việt của quan hệ sản xuất dựa trên chế độ công hữu, mà không thấy được vai trò quyết định của sự phát triển lực lượng sản xuất, kèm theo đó sự công bằng, bình đẳng xã hội được hiểu là sự bình quân, cào bằng; không thừa nhận trong thời kỳ quá độ lâu dài, còn sự tồn tại của các thành phần kinh tế; định kiến và đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Từ những bài học mà Đại hội VI đã chỉ ra, trên cơ sở thực tiễn công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Tổng Bí thư khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa”(40). Theo Tổng Bí thư, cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát về CNXH và thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam:

“Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(41).

Khi bàn về thời kỳ quá độ, Tổng Bí thư viết: “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội”(42) và “nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới”(43)

Với vai trò là một đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền, Đảng ta phải giải quyết nhiều vấn đề lớn và mới không chỉ mang tầm quốc gia - dân tộc, mà còn mang tầm thời đại. Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tác phẩm lý luận của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng đã từng kinh qua nhiều cương vị lãnh đạo khác nhau, trăn trở và trải nghiệm với thực tiễn của thời kỳ đổi mới, đã cung cấp cái nhìn có tính tổng kết về lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, cung cấp những giá trị phương pháp luận quan trọng, cho phép chúng ta tự hào, tự tin, khẳng định những nội dung cơ bản về mô hình CNXH Việt Nam, như là thành quả sáng tạo của Đảng và nhân dân ta trên con đường phát triển.

_Nguồn: LLCT__

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (14), (15), (16), (17), (18), (21), (22), (23), (24), (26), (27), (28), (29), (30), (31), (32), (34), (36), (38), (39), (40), (41), (42), (43) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.28, 28, 29, 29,  48, 104, 93, 25, 26, 25-26, 26, 26-27, 20, 21, 21-22, 22, 163, 164, 165, 164, 164-165,172, 239-240, 111, 52, 111, 110, 288, 110, 181-182, 201, 184-185, 46, 24, 25, 25.

(13) Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2021, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.37.

(19) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.75-76.

(20), (25), (33), (37) Xem Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Sđd, tr.163, 170-171, 300, 181.

(35) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.161-162.

 

NHẬN DIỆN NHÀ BÁO BẨN, NHÀ BÁO HAI MẶT

 

Thời gian qua, dư luận nói nhiều về nhà báo hai mặt, nhà báo bẩn. Đây không phải là chuyện bây giờ mới có, nhưng nghiêm trọng nhất là những năm gần đây. Vấn đề là làm thế nào để nhận diện? 

Nhà báo hai mặt

Nhận thức của loại nhà báo này không bình thường, cái gì cũng bị méo mó, lệch lạc. Tròn thì nói méo; đúng thì lại nói sai; dài thì nói ngắn; xấu thì cho là tốt, tốt thì cho là xấu, hay chọc khoáy chính trị. Điều dị dạng nhất là loại nhà báo này có tới hai bộ mặt, lúc thì đỏ, lúc thì đen; lúc thì chính, lúc thì tà, rất khó nhận diện, rất nguy hiểm. Khi viết đăng báo chính thống thì viết như thế này, nhưng khi nhảy múa trên mạng thì lại viết thế kia; thích bóp méo, xuyên tạc sự thật; doanh nghiệp nào mà không kiếm ăn được thì chống phá; chống cả Đảng và Nhà nước.

Hiện đã có không ít nhà báo hai mặt bị xử tù. Cụ thể là Phạm Thị Đoan Trang đã bị xử về tội tuyên truyền chống Nhà nước; gần đây nhất có nhóm “báo sạch” nhưng chẳng sạch chút nào. Theo kết luận giám định của cơ quan chức năng TP Cần Thơ, nhóm báo này có các bài viết và clip mang tính phản động, đi sâu khai thác những thông tin có nội dung không phù hợp với lợi ích đất nước; xuyên tạc, phỉ báng chính quyền… Đối với các doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, thì loại nhà báo này nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong; trước mặt thì khen nhưng sau lưng thì dìm, đè; kiếm ăn được thì tâng bốc ca ngợi; không kiếm ăn được thì rình mò, xoi mói, xuyên tạc, hãm hại bằng cách khai thác mặt xấu mà không bao giờ nhìn thấy cái tốt cả… Vì thế, những nhà báo hai mặt này là hết sức nguy hại, tác động tiêu cực, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với báo chí.

Hoạt động của các nhà báo này là họ thường đến doanh nghiệp và các địa phương đặt vấn đề viết bài, kèm theo đó là lời yêu cầu về giá cả. Địa phương hay doanh nghiệp nào từ chối thì các nhà báo này hù dọa. Địa phương, doanh nghiệp nào yếu bóng vía thì phải bôi trơn để tránh phiền hà. Địa phương, doanh nghiệp nào từ chối, thì đám báo bẩn này coi họ như là cái gai, rồi chọc phá, xuyên tạc, vu khống…

Cách đây khoảng 25 năm, cố nhà báo lão thành Hữu Thọ nói rằng: Trong làng báo dường như đang hình thành quyền lực đen. Họ có một ekip “đâm thuê chém mướn” hùn hạp vào với nhau, khen cùng khen, chê cùng chê; khen tập thể và đánh hội đồng. Một báo đánh đã muốn tiêu rồi, nhiều báo mà hùa nhau đánh cùng lúc, đánh dai dẳng thì sống sao nổi. Dù sau này có minh oan đi chăng nữa thì “được vạ má đã sưng”…

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin đã làm cho quyền lực đen này mặc sức tung hoành và biến tướng theo kiểu: Sáng đăng bài, trưa gặp đối tượng, chiều gỡ bài…

Cụ thể như vụ một số phóng viên, cộng tác viên hùa nhau tống tiền hiệu trưởng một trường ở quận Tây Hồ (Hà Nội) 2 lần, lần đầu là 100 triệu đồng, lần 2 là 80 triệu đồng. Vì chịu không nổi, nên người này phải báo cho công an. Nếu người này mà không báo công an, thì xin thưa rằng còn phải cống nạp dài dài.

Hay là vụ Nguyễn Ngọc Diệp và Đinh Thị Vân viết bài tống tiền doanh nghiệp với chiêu thức ký hợp đồng hợp tác truyền thông, rồi thỏa thuận gỡ xuống 2 bài báo có nội dung ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp này…

Mới đây có vụ ở huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai), hai nhà báo dọa tung thông tin về hành vi gây ô nhiễm môi trường, xây dựng không đúng quy trình kỹ thuật của một chủ lò than để cưỡng đoạt 5 triệu đồng…

Đó là chân dung của những nhà báo bẩn. Tuy mức độ, hành vi cưỡng đoạt có khác nhau, nhưng tất cả đều là nhà báo bẩn.

Hiện nay có nhiều phóng viên, nhà báo tham gia mạng xã hội, điều này cần trân trọng và khuyến khích. Nhưng điều đáng nói là không ít nhà báo quên rằng, khi tham gia mạng xã hội, nhà báo vừa phải tuân thủ pháp luật, vừa phải tuân thủ 10 điều quy định đạo đức người làm báo; tuân thủ quy định sử dụng mạng xã hội do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành.

Nhà báo có quyền điều tra, xác minh, có quyền đặt nghi vấn, có quyền bày tỏ chính kiến, có quyền đề nghị nhưng không có quyền luận tội, quy kết tội danh. Nhà báo chứ có phải viện kiểm sát đâu mà luận tội; nhà báo chứ có phải là tòa án đâu mà quy kết tội danh… Quyền của nhà báo đâu phải là tổng hợp các quyền, đâu phải là quyền vô hạn định.

Khác với những người bình thường khác, nhà báo khi lên mạng xã hội phải lịch sự, đàng hoàng, trung thực và nhân văn; không được hướng dẫn dư luận những điều trái với lợi ích đất nước, trái với lợi ích Nhân dân. Ứng xử của nhà báo trên mạng xã hội được coi như ứng xử nơi công sở; phải chuẩn mực về văn hóa, không phát ngôn bừa bãi; không mỉa mai, hãm hại, xúc phạm người khác.

Như vậy, một nhà báo chân chính thì trước hết phải là người tử tế; tử tế trong suy nghĩ, tử tế trong lời ăn tiếng nói, tử tế trong hành động; phải nghiêm túc, trung thực và hướng thiện. Đó mới là yếu tố làm nên giá trị chân chính của nhà báo.

Nước ta hiện có 816 cơ quan báo chí, tạp chí và các ấn phẩm điện tử; 72 đài phát thanh, truyền hình; 17.200 nhà báo và 27.000 hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Đa số đều tốt, vì vậy, họ không bao giờ chấp nhận để những con sâu vấy bẩn nghề báo, một nghề rất vinh quang trong đời sống xã hội.

Về vấn đề nhà báo bẩn, nhà báo hai mặt, Ban Tuyên giáo Trung ương đã lên tiếng rất mạnh mẽ. Bộ TT-TT, sở TT-TT các tỉnh cũng đã xử lý nhiều trường hợp; Hội Nhà báo Việt Nam cũng đã thu hồi thẻ hội viên của nhiều hội viên. Nhưng thực tế vẫn chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, tin rằng sắp tới đây, Chính phủ sẽ mạnh tay hơn nữa, quyết liệt hơn nữa trong quy hoạch lại báo chí; tiếp tục sàng lọc, loại bỏ những nhà báo bẩn, những nhà báo hai mặt, những tờ báo hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích, làm trong lành môi trường báo chí, để báo chí phát triển chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.PYO

Nguyễn Hoa

QUYỀN LỰC NÀO….???

 

Có người nói với tôi, báo chí là quyền lực thứ tư đấy. Tôi lắc đầu quầy quậy phủ nhận: cậu nhầm rồi, chả có quyền lực thứ mấy nào ở đây cả, quan niệm thế vừa ko chuẩn, vừa dễ làm cho những anh cầm bút viết báo sinh ra ảo tưởng, mà một khi đã sinh ra ảo tưởng sẽ dễ làm cho con người ta cuốn theo cái thứ hão huyền ấy.

Thực tế báo chí ko thể ra lệnh cho ai được mà nó chỉ có thể là 1 kênh, 1 kênh thôi... tạo nên dư luận xã hội, truyền tin đến đám đông và qua đó xuất hiện những tác động không nhỏ trong cộng đồng.

Vậy nên, nhất thiết đã chọn nghề nhà báo thì cũng có nghĩa rằng đời ta là 1 hành trình của đọc, đi và viết. Đọc để có ngôn ngữ phong phú, đi để thêm tư liệu thực tiễn, tìm hơi thở của thực tiễn để làm cho những gì ta viết có tính thuyết phục chứ ko phải 1 thứ trên trời rơi xuống, 1 thứ vô vị ko giúp ích gì hay cũng có thể là 1 thứ ko có thật. Vậy nên để trong lòng bạn đọc có niềm tin thì nhà báo nhất thiết phải đi chứ đừng làm báo sau laptop. Hãy xách balo lên và đi nếu như bạn thấy mình có đủ đam mê để theo nghề đó…! Một thế giới thực tiễn phong phú, ngút ngàn đến bất tận đang chờ bạn khám phá, nó sinh động, mới mẻ, hấp dẫn, và cuốn hút lắm….!

Nói như thế, chứ thực sự để trở thành 1 nhà báo “lòng trong, bút sắc” như cố nhà báo Hữu Thọ từng quan niệm, ko phải là điều dễ dàng nhất là khi trong xã hội hiện nay quá nhiều tác động đa chiều. 

Chả thế thời gian trước mới xuất hiện từ “báo sạch”. Tưởng gì ....đã là báo thì nó là báo chứ sao lại phải xưng hẳn cái tên báo sạch…lạ thật….! Cho nên một thời gian sau té ra cái thứ báo sach đó khi hai lăm đã rõ mười lại thành "báo bẩn" đúng nghĩa…!

Nhà báo phải chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình, bởi đó là đưa con tinh thần do mình thai nghén và sinh nó ra…! Và chính nó sẽ cho thấy  ấy là cây bút già dặn hay mới chập chững bước vào nghề. Nhưng dù mới hãy đã có thâm niên thì bất cứ anh báo nào cũng đều phải có bản lĩnh khi đã đứng trong hàng ngũ báo chí cách mạng….! Viết gì..? Viết điều ấy sẽ hướng đến ai..? Lấy chất liệu thực tế ở đâu..? Khi nào..? Rất nhiều câu hỏi mà nhà báo phải trả lời đc khi chuẩn bị thai nghén sản phẩm…

Cũng thấy mừng vì bao năm qua báo chí nước nhà đã có rất nhiều cống hiến vì sự nghiệp chung, nhưng cũng thấy đôi chút ngậm ngùi lắm vì đây đó vẫn còn ko ít “sạn”. “Sạn” chủ quan, “sạn” khách quan đều có cả…! "Sạn" đó sẽ chỉ mất đi khi những người cầm bút thực sự ko để sự ảo tưởng choán ngợp tâm hồn mình. Thay vào đó nhất thiết phải là thứ “bản lĩnh nghề “đc rèn rũa, đc thử lửa và đc “vạ đập” trong trường thực tiễn./.

Phan xi păng

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI

Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.

Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.

Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.

Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những  “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.

Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.

Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.

Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.

Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.  

Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.

Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

(BÚT CHIẾN).

"LỜI TUYÊN THỆ TRUNG THÀNH" CỦA BORIS ELTSIN

  

Nhiều trang mạng Nga mấy ngày nay có nhắc lại sự kiện diễn ra đúng 30 năm trước, coi đó là một trong những trang đáng xấu hổ nhất trong lịch sử nước Nga.

Ngày 17/6/1992, tổng thống Nga Boris Eltsin phát biểu trước lưỡng viện Mỹ với câu nói "Chúa phù hộ cho nước Mỹ". Có nhiều ý kiến cho rằng bài phát biểu dài 30 phút này  là "biểu tượng cho sự sỉ nhục tột độ của tổng thống Nga trước "nước Mỹ tự do và vĩ đại"(lời của chính Eltsin). Bài phát biểu này đã trở thành một "hình mẫu" về sự phản bội hoàn toàn đối với nước Nga, lợi ích quốc gia, lịch sử và tất cả người dân của nước này".

Trong bài phát biểu, Eltsin đã lớn tiếng khoe khoang đã có công đập tan chế độ Cộng sản, và coi chế độ đó đã "gieo rắc mối bất hòa xã hội, thù hằn và sự tàn ác vô song ở khắp mọi nơi trên trái đất, gieo rắc nỗi sợ hãi trong cộng đồng nhân loại" và kêu gọi nước Mỹ hãy ủng hộ những cải cách của ông ta (kết quả ra sao thì chúng ta đã thấy). Cư dân mạng gọi những lời này là một sự xuyên tạc trơ trẽn, bởi chính chế độ "tàn ác vô song" này đã cứu thế giới khỏi chủ nghĩa phát xít và tạo ra các lợi ích xã hội cho người dân bình thường (8 giờ làm việc mỗi ngày, nhà ở, y tế, giáo dục phổ thông miễn phí, đảm bảo lương hưu...). Cũng chính chế độ "gieo rắc sự sợ hãi" này đã nuôi dưỡng trong con người lý tưởng cao đẹp về sự tôn trọng lẫn nhau, tình hữu nghị của các dân tộc và sự đoàn kết của nhân dân lao động. Và, hiện nay, sau mấy chục năm kể từ khi Liên Xô tan rã, phong trào cánh tả ( mà người ta còn gọi là "thủy triều đỏ:) đã bắt đầu dâng lên ở châu Mỹ La tinh, với sự cầm quyền của các đảng cánh tả ở Argentina, Bolivia, Chile, Honduras, Mexico, Nicaragua, Peru, Venezuela, và mới nhất là ở Colombia, nơi Gustavo Petro, người lãnh đạo liên minh các đảng và phong trào cánh tả Colombia, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Nhân 30 năm sự kiện "đáng xấu hổ" này, cựu Phó tổng thống Nga Aleksandr Rutskoy (thời Eltsin) đã coi bài phát biểu của Eltsin là lời thề trung thành của ông ta với nước Mỹ.

Trả lời phỏng vấn của báo Lenta.ru, Aleksandr Rutskoy nói: “Về bản chất, nó là lời tuyên thệ trước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Khi đó, tôi, Phó Tổng thống nghe [bài phát biểu này] và tận mắt chứng kiến, cuối cùng thì tôi đã cắt đứt quan hệ với ông ta Tôi không chấp nhận được một hành vi như vậy,  tôi đã tuyên thệ trung thành phục vụ Tổ quốc, và tôi chưa bao giờ thay đổi lời thề này cho đến ngày hôm nay".

Ông Rutskoy cũng nhấn mạnh, chính Boris Eltsin phải chịu trách nhiệm về sự phá hủy Liên Xô. Ông nói:"Ông ấy (Eltsin) đã tuyên thệ trung thành phục vụ Hoa Kỳ, và sau đó thông qua Chubais, ông ta đã phá hủy tiềm năng công nghiệp của đất nước, và thông qua Grachev, ông ấy đã tiêu diệt các lực lượng vũ trang, tổ hợp quân sự-công nghiệp (...) Như Chubais đã nói , điều chính đối với họ không phải là kiếm tiền nhờ tư nhân hóa, mà là đóng đinh vào quan tài của chủ nghĩa cộng sản".

Ngày 8 tháng 1 năm nay, khi trả lời trang Ukraina.ru, cũng chính cựu Phó tổng thống Nga Aleksandr Rutskoy đã vạch rõ hành vi phản bội của Eltsin và Leonid Kravchuk, Stanislav Shushkevich khi ký Hiệp ước Belovezh giải thể Liên Xô 30 năm về trước. Ông cho biết chính ông đã tiễn Boris Yeltsin ra phi trường để bay đến Minsk.  Eltsin nói với Rutskoy là ông ta đi ký một hiệp định về hợp tác kinh tế. 

“Đó là một sự lừa dối trơ trẽn và xảo quyệt. Họ bay (đến đó) để phá hủy đất nước, nhưng họ nói với tôi, Phó tổng thống Nga, rằng họ sẽ ký một thỏa thuận về hợp tác kinh tế. Không ai ủy quyền cho Eltsin,  Leonid Kravchuk  và  Stanislav Shushkevich . Những hành động này và Hiệp ước đã ký đã phạm vào điều khoản của Bộ luật Hình sự Liên Xô “phản bội Tổ quốc”.


Đã hơn 30 năm Liên Xô tan rã, nhưng người dân Nga vẫn luyến tiếc về đất nước vĩ đại đã từng tồn tại. Hãng Interfax ngày 22/12/2021 đưa tin một cuộc thăm dò dư luận xã hội do Qũy Dư luận xã hội FOM cho biết gần 2/3 số người Nga (62%) cảm thấy tiếc nuối khi Liên Xô không còn tồn tại.

TÌNH THẾ NGUY HIỂM

 

Rất nhiều người tự đặt mình vào tình huống nguy hiểm trong cuộc đời. Hậu quả sau đó thật là lâu dài khó chịu cho chính mình, và cũng ảnh hưởng vào cuộc sống bình yên của cộng đồng. Cô gái đồng ý cho người lạ chở đi. Bà cụ tin lời "nhân viên điện lực" nên mở cửa cho vào. Khách du lịch đồng ý trải nghiệm trò vượt thác dù dốc trơn trượt té một cái là trôi tuột xuống thung lũng khó tìm thấy xác.


Lái xe vượt lên rồi chui vào khoảng giữa hai xe đầu kéo, có thể bị hai xe kẹp lại nát bươm. Trời mưa lại leo lên nốc nhà sửa sợi dây điện bị mắc, nếu sét không đánh chết thì cũng chết vì điện rò. Đốt lửa cháy phừng phừng mà quên không thấy vải dễ bắt lửa ở ngay phí trên cao...


Sự an toàn của mình cũng là niềm hạnh phúc của những người thân yêu, thế nên, dù không ích kỷ lo cho mình, ta cũng phải vì người thân yêu mà giữ an toàn cho bản thân mình. Suy nghĩ như vậy là đạo đức vị tha. Đừng liều lĩnh bất chấp đưa mình vào tình thế nguy hiểm mà có lỗi với gia đình và cộng đồng của mình. Còn thế nào là tình thế nguy hiểm phải tránh thì mỗi người tự có kinh nghiệm (đôi khi có kinh nghiệm xong thì cũng qua đời), hoặc do sự thông minh của riêng mình, chứ chưa có giáo trình chuyên biệt để dạy.


Khi ta đã đủ cẩn thận để không đưa mình vào tình thế nguy hiểm, lâu ngày ta sẽ "đắc đạo" cẩn thận này, có thể nhìn thấy tình huống nguy hiểm của người khác mà tránh cho họ. Ví dụ ta lái xe rất cẩn thận, không bao giờ phạm luật, không bao giờ đưa mình vào tình thế nguy hiểm, nhưng cũng đoán được sẽ có những người khác lái ẩu, và ta sẽ cẩn thận gấp đôi.


Nhìn thấy có một nhánh đường, ta sẽ đề phòng có kẻ chạy bạt mạng vì ma đuổi hay chó cắn mà phóng từ trong hẻm phóng vù ra. Ta sẽ đề phòng tình huống đó mà giữ tốc độ hay khoảng cách thích hợp.


Hoặc trong thấy em bé buông tay mẹ giữa siêu thị đông người, ta phải nghĩ ngay trường hợp người mẹ sẽ lo mua sắm mà quên con, đứa con thì đi xa chút lạc mẹ, rồi có ai đó bắt mất đi. Lo lắng hơi xa như vậy, ta đành phải dừng việc của mình mà dõi mắt trong chừng cho bé một chút.


Hoặc trông thấy người mù ngồi hát trên đường để xin ăn, ta lo lắng kẻo có xe nào lạc tay lái chồm lên đường tông phải người mù này chăng, nên ta tìm cái gì để làm dấu hiệu cho các xe chú ý từ xa.


Đạo đức ở đây là ta cẩn thận giùm cho người khác nữa. Cẩn thận giùm cho người khác, tránh tai họa giùm cho mọi người, ta sẽ được tâm hồn thanh thản an vui, không ân hận. Và dĩ nhiên luật nhân quả còn đem đến nhiều điều tốt đẹp khác nữa.


(Trích trong sách NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC cuốn 4 bài TÌNH THẾ NGUY HIỂM trang 97-99 do Tiến sĩ Luật học VƯƠNG TẤN VIỆT biên soạn)

NGUYỄN LÂN THẮNG VÀ CÂU CHUYỆN “GIAN GIAN DÍU DÍU MẬP MỜ”!

        Cái dở của mấy anh dân chủ là luôn vỗ ngực cho rằng mình là “nhà hoạt động xã hội”, “người phản biện chính sách”,… nhưng chưa thấy anh em góp được ý kiến nào hữu ích cho xã hội, mà ngược lại, chỉ truyền nhau các bí kíp “chọc gậy bánh xe”, đâm bị thóc chọc bị gạo. 

Nguy hiểm hơn, với danh nghĩa phản biện xã hội đó, anh em lại dần quay sang bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, đăng tải thông tin không đúng sự thật. Và khi ngày càng lấn sâu vào vết xe đổ này, cánh cửa của gia đình ngày càng khép lại, và một cách cửa khác ngày càng mở rộng đón chào anh em, đó là cánh cửa… nhà tù mà thôi.

Như trường hợp của anh Nguyễn Lân Thắng mà tôi nói dưới đây. Việc anh bỉ bôi, chê bai hai cán bộ xã “gian gian díu díu mập mờ” tại Hội trường của xã là có thể chấp nhận được. Vì cơ bản là 2 anh chị đó quá sai, bị dân chửi bới là không sai. Nhưng mà anh lại lái câu chuyện sang hướng bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạ uy tín của Đảng lại là một chuyện hoàn toàn sai trái. Lúc này, pháp luật sẽ vào cuộc và anh bị tóm về phường sẽ là chuyện một sớm một chiều.

Mà nhân tiện anh bỉ bôi chuyện người khác “gian gian díu díu”, tôi cũng mạn phép lôi lại ảnh anh bị người ta tóm sống ở khách sạn khi đang “tu luyện” với một nữ thí chủ khác, tất nhiên không phải vợ của anh. 5 năm trôi qua, mà anh nhanh quên quá, bản thân mình đạo đức chẳng ra gì lại cứ mở miệng chê bai người khác được. 
Mặt anh cũng không phải là mỏng đâu./.

Yêu nước ST.

TRÒ CŨ

Gần đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C01) liên tiếp bắt tạm giam để điều tra, xác minh nhiều đối tượng có liên quan đến hành vi “Thao túng thị trường chứng khoán” theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá lại “bệnh cũ tái phát”, đó là đưa ra nhiều bài viết nhằm cố tình đánh tráo bản chất các vụ án, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực, sang vấn đề chính trị, từ đó thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước và cuối cùng là kích động chống phá đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NHỮNG KẺ LƯƠN LẸO

Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ra từ ngày 4 đến 10-5-2022 đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng. Một trong những nội dung trọng tâm là tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới chính sách pháp luật liên quan đến vấn đề đất đai. Lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống phá lại giở giọng xuyên tạc, kích động hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các quy định của Luật Đất đai.

LÀM SÂU SẮC QUAN HỆ HỮU NGHỊ TRUYỀN THỐNG VÀ HỢP TÁC NHIỀU MẶT VIỆT NAM - MOZAMBIQUE

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Mozambique Esperanca Laurinda Francisco Nhiuane Bias dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Mozambique thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18 đến 23/6.

KỶ NIỆM 45 NĂM HÀNH TRÌNH HƯỚNG TỚI LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG POL POT

Sáng 20/6, tại khu vực biên giới giữa huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đã diễn ra các hoạt động trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 45 năm “Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977-20/6/2022).

CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG GẮN BÓ VIỆT NAM - CAMPUCHIA

Sáng 20/6, ngay sau Lễ kỷ niệm lần thứ 45 “Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Hun Sen, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có cuộc gặp và trao đổi với Thủ tướng Hun Sen tại Nhà Hữu nghị Campuchia-Việt Nam thuộc huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum của Campuchia. Cùng dự có các quan chức cao cấp của Chính phủ và lãnh đạo một số cơ quan, địa phương của hai nước.

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI TA GIỮ VỮNG LỜI THỀ KIÊN TRUNG!

         Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, chiến đấu và trưởng thành trong lòng dân tộc. Lịch sử trưởng thành của Quân đội là lịch sử viết bằng xương máu của thế hệ đi trước, là quyết tâm vững bước theo sau của lớp đàn em. Lịch sử ấy không chỉ làm nổi bật lên những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” mà còn tô thắm thêm những trang vàng lịch sử của dân tộc. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đều nhận thức sâu sắc rằng nhờ có Đảng lãnh đạo, nhờ nhân dân đùm bọc, nhờ có mục tiêu lý tưởng chiến đấu rõ ràng, chính xác mà Quân đội ta nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt. Từ đội quân ban đầu chỉ có 34 chiến sĩ, với phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, với tinh thần “đi suốt từ nam chí bắc, khắp đất nước Việt Nam”, những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” đã nêu cao tinh thần anh hùng cách mạng, vượt mọi khó khăn, thử thách, từng bước trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng những kẻ địch hùng mạnh, làm nên truyền thống vô cùng quý báu và vẻ vang. Truyền thống ấy là mạch sống, là linh hồn của Quân đội trong bất kỳ tình huống nào. Truyền thống ấy phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, ghi dấu những chiến công anh dũng, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, giành lấy hạnh phúc cho nhân dân. Trong thời bình, máu của những người lính vẫn chảy, họ chiến đấu với hiểm nguy, với gian khó, họ xông pha trong mưa giông bão táp, họ dầm mình nơi biên giới mù sương, họ hiên ngang nơi địa đầu hải đảo của Tổ quốc, họ sông pha vào nơi có chất độc, nơi ô nhiễm nguy hiểm, tất cả chỉ có một mục đích: Vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Truyền thống ấy của Quân đội được khái quát thành lời thề thiêng liêng mà bất kỳ cán bộ, chiến sĩ nào đều khắc ghi trong tâm khảm: Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam; dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đó là lương tâm, trách nhiệm, là tình cảm, nghĩa vụ của người “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là truyền thống, là niềm tin, là quyết tâm của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội chúng ta./.




Yêu nước ST.

152 NĂM THÀNH VĨNH LONG THẤT THỦ VÀ SỰ THẬT VỀ PHAN THANH GIẢN!

     Dù đã qua hơn thế kỷ, nước mất thì dân ta đã giành lại được. Chủ quyền về tay dân ta rồi. Tội ác ngoại bang dù chồng chất cũng xếp sang một bên, lấy hiếu hòa làm trọng. Con dân một nước dần quên đi mọi bất đồng, hợp quần cùng nhau xây dựng cơ đồ. Tổ quốc như mẹ hiền rộng lòng tha thứ bao dung. Đào xới quá khứ để ân oán hơn thua chỉ làm người sống bất yên, người nằm xuống không sao nhắm mắt. Nhưng khi đã đặt ra phải bàn cho rành rẽ, nếu không sẽ biến sai thành đúng, biến tội thành công, dẫn người đọc đi đến chỗ lẫn lộn phải trái, trắng đen, không nhận rõ chính tà. Trong lúc giới thanh niên đang dấy lên phong trào “Cùng thắp lên ngọn lửa yêu sử”, nhắc lại lời dặn của Bác Hồ: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Thế nhưng có một thế lực từ sau khi nước nhà được thống nhất và hoàn toàn độc lập, dưới chiêu bài “đổi mới” để xuyên tạc lịch sử, cứ âm mưu tái dựng những nhân vật từng hợp tác đắc lực với ngoại bang làm hại giống nòi như những tấm gương lớn một lòng vì nước vì dân!

Về Phan Thanh Giản, tác hại của việc ông làm, những tư liệu lịch sử rất phong phú còn rành rành ra đó, đặc biệt thư tịch nằm trong các kho lưu trữ ở "mẫu quốc" Pháp còn phong phú hơn trong các thư khố nước bản xứ một thời vong quốc.

Có thể lược sử con người này như sau: Ông là người Lục tỉnh Nam kỳ đầu tiên đỗ Tiến sỹ năm Bính Tuất (1826), được các vua tiền triều nhà Nguyễn quan tâm ưu ái ngay từ lúc mới nhập triều. Làm đại quan hơn 40 năm (1826-1867) qua ba đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Ngược tới vua Gia Long có thể coi là thời kỳ hưng vượng nhất của vương triều Nguyễn – một nhà nước phong kiến tập quyền độc lập, cai quản một quốc gia thống nhất từ Bắc vào Nam trong điều kiện tương đối yên ổn không có họa ngoại xâm. Thế nhưng Phan Thanh Giản lại là người có công đầu với nước Pháp trong việc dối vua lừa dân, tích cực triệt tiêu lực lượng kháng chiến và tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Ngay từ buổi đầu đã đứng về phái chủ hòa dẫn tới chủ hàng. Từ việc lược quyền vua ký hàng ước nhục nhã 1862 để mất ba tỉnh miền Đông đến việc thông đồng với giặc, năm 1867 mở rộng cửa thành Vĩnh Long dâng nốt ba tỉnh miền Tây cho giặc, coi như xóa sạch công lao 300 năm các triều vua chúa Nguyễn mở mang bờ cõi ở phía Nam, đẩy nhanh quá trình xóa quốc danh Việt Nam trên bản đồ thế giới. Cái tội “mại quốc” cả trong sử sách và bia miệng lưu truyền không là quá đáng và không sao xóa được.

Tháng 8 năm 1963 đã có một hội nghị chuyên đề lớn với sự đồng thuận cao của những nhà cách mạng và văn hóa, học giả lớn như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đào Duy Anh, Ca Văn Thỉnh… đánh giá tổng quát: “Để mất nước, các vua nhà Nguyễn là chính phạm, các triều thần trong đó có Phan là đồng phạm. Riêng trong sự kiện hai lần dâng thành giao đất cho giặc để mất cả Nam kỳ thì Phan là chính phạm bởi tính bạc nhược, hèn nhát, thỏa hiệp với giặc. Chủ hòa thực chất là chủ nghĩa đầu hàng – Đó là bản chất của giai cấp phong kiến cầm quyền lúc suy vi”. Thiết nghĩ đó là sự đánh giá rất độ lượng, có thể tình đúng mức do yêu cầu lịch sử lúc đó.

Bản chất của con người Phan Thanh Giản đã bị nhà đại ái quốc Phan Bội Châu phanh phui: “Gan dê lợn mà mưu chuột cáo”! Thật vậy, chỉ sau bốn năm quân Pháp với lực lượng ít ỏi đánh chiếm Trung kỳ không được đành quay vào đánh chiếm mấy thành lũy phía Nam. Giữa lúc bị mắc kẹt ở mặt trận nam Trung Hoa, tư lệnh quân viễn chinh Pháp Bonard dùng kế hoãn binh, cho người ra Huế yêu cầu cử phái đoàn vào Nam hội nghị với yêu cầu bàn chuyện giảng hòa và Nam triều bồi thường chiến phí!

Tự Đức là ông vua nhu nhược chỉ quẩn quanh với mấy vần thơ phú và chăm lo việc xây lăng tẩm cho mình, ngay từ đầu đã chao đảo nghiêng về phái chủ hòa nên khi quân Pháp yêu cầu nghị hòa thì vua sung cho Phan chức “Nghị hòa chánh sứ” cùng Binh bộ thượng thư Lâm Duy Hiệp làm phó sứ.

Trước khi đi thương nghị, Phan-Lâm được vua Tự Đức ban ngự tửu và tuyên chỉ: “Phàm mọi chi tiết như thù đáp giao ước về việc nghị hòa cần phải cẩn thận. Thêm nữa nên cố gắng đạt đến việc đình chiến, ngõ hầu xứng đáng với nhiệm vụ khanh được giao phó”. Nhà vua gửi gắm cả vận mệnh quốc gia với mệnh đế vương của mình vào tay viên cận thần già tin cẩn: “Đất nước hôm nay đang bị dồn vào ngõ cụt khó khăn. Muốn đưa nó thoát ra, chỉ có bàn tay của những người tôi trung tài năng tận tụy. Đừng vì một sự yếu đuối hay vội vàng nào đó mà làm thiệt hại đến vận mệnh và danh dự của cả giang san đang được giao phó vào tay các khanh. Cầu mong cho các khanh được sớm trở về đầy vinh quang vì đã bảo vệ danh dự của non sông và giữ gìn được sự vẹn tròn lãnh thổ!”

Một tháng sau, bầy tôi trở về với bản hòa ước trong tay gồm 12 điều khoản, trong đó khoản 3 ghi rõ ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn được nhượng đứt cho nước Pháp cùng những điều khoản bồi thường bất công rất chi là nhục nhã! Ngay lập tức nhân dân cả nước phẫn nộ kết tội “Phan-Lâm mại quốc” và các phong trào yêu nước tiếp nhau nổi lên chống Pháp đều coi việc làm của Phan như một vết nhơ lịch sử! Người phương Nam đương thời để lại câu ca dao lưu truyền trong dân chúng: “Thà thua xuống láng xuống bưng / Kẻo ra đầu giặc lỗi chung quần thần”. Vua Tự Đức than trời: “Ôi! Con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”!

Vậy là chính những người đương thời từ triều đình tới thần dân đều đã công khai kết tội Phan-Lâm bán nước! Chẳng thể gọi là bị ép oan để bày chuyện chiêu tuyết cho con người ấy.

Trước sự đã rồi, vua và triều thần đành vớt vát bằng việc giao cho Phan cai quản Vĩnh Long và Lâm cai quản Khánh Thuận ở hai đầu giáp ranh ba tỉnh miền Đông để có điều kiện giao tiếp với người Pháp ở Gia Định, ngõ hầu bắc mối giao lưu thân thiện Đông-Tây, tiến tới có thể chuộc được lỗi lầm. Phan lại được vua giao làm Chánh sứ qua Y-pha-nho và Pháp xin chuộc lại những gì đã mất với lời ủy thác: “Đất ba tỉnh này là xương máu của dân, chuộc lại là chuộc tội cho ta để cho dân thỏa lòng nguyện vọng”. Phan hứa mập mờ: “Nếu có thể đem đổi ngói lấy vàng thì lúc nào thần cũng sẵn sàng”! Sau nửa năm chầu chực Pháp hoàng Napoléon III, dâng nhiều cống vật mà vẫn trở về trắng tay và bộc lộ ra tâm địa của viên quan bạc nhược trước sức mạnh của quân cướp nước: “Sự giàu có, mạnh mẽ và các việc khôn khéo của nước Pháp nói ra không hết”! Thì ra với Phan Thanh Giản “ngói” đây là mảnh đất ba trăm năm nhân dân ta cùng tiền triều nhà Nguyễn đổ bao mồ hôi xương máu dày công khai phá và “vàng” đây là sự yên ổn để vua tôi ngồi yên ghế vị mặc cho dân chúng lâm vào cảnh nô lệ điêu linh! Vì việc thương lượng với Pháp xin hồi lại đất không thành Phan Thanh Giản mới bị vua Tự Đức phạt tội “cách lưu”!

Năm 1865, trước tình hình nguy ngập, vua Tự Đức phục chức cho Phan Thanh Giản và sung Kinh lược sứ trấn ba tỉnh miền Tây với lời căn dặn: “Không khuất phục tình hình một cách thụ động!”. Suốt mấy năm được giao trấn thủ tiền phòng trong tình thế thịt treo trước miệng hổ vuốt mèo mà Phan không tỏ ra ăn năn chuộc lỗi tìm cách gỡ ra thế bí, trái lại tích cực hỗ trợ cho quân chiếm đóng mau chóng bình định mảnh đất phương Nam bằng những việc làm mà anh linh tiên tổ không thể dung tha như thẳng tay đàn áp và khống chế những thủ lĩnh nghĩa quân bất phục tùng thi hành hiệp ước! Một mặt chỉ điểm cho giặc về những người yêu nước, một mặt dâng sớ về triều xin trị tội, thuyên chuyển khỏi nơi cứ địa hoặc cách chức những chủ soái nghĩa quân như Trương Định, Trần Văn Thành, Trịnh Quang Nghị, Võ Duy Dương… đồng thời bắn tin cho giặc: “Bản chức sẽ không ngăn cản sự xâm lược bằng một sự kháng cự mà chúng tôi hiểu là vô ích” và nói hoạch toẹt ra: “Nếu quý quốc lấn tới, quả nhân không chống cự”! Đến khi thấy đoàn tầu thuyền nhà binh Pháp đậu kín trước thành Vĩnh Long “là một thành khá kiên cố, địa thế rất dễ phòng thủ” và tướng giặc cho người mang thơ nói toạc ra ý họ “quyết định chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kỳ vì lý do các quan quân triều đình ở đây ủng hộ phong trào chống Pháp”. Phan ra lệnh không kháng cự và dẫn đám thuộc hạ xuống tầu trách yêu giặc “vin cớ nhỏ mọn mà làm tổn thương đại nghĩa” (!) và ngọt nhạt đẩy đưa: “Tôi có quyền giữ đất chớ không có quyền giao đất. Xin cho tôi hỏi lại ý kiến triều đình”! Lũ sài lang thừa dịp kéo vào chiếm thành mà không tốn một viên đạn! Sau đó quan Khâm sai viết công thư – thực chất là thư dụ hàng như ông đã từng làm mấy lần bất thành với Trương Định, gửi các quan tướng giữ thành An Giang và Hà Tiên với lời lẽ không tìm thấy ở đâu trong lịch sử: “… Người nào thuận theo lòng trời thì còn, người nào nghịch theo lòng trời thì chết mất. Chúng ta yếu ớt không thể chống nổi người Phú-lang-sa. Các quan văn cũng như các tướng võ hãy bẻ gãy giáo gươm và giao thành trì khỏi chống lại”! Ông ta biện lẽ: “Bản chức tùy theo thiên ý mà tránh đỡ giùm dân đen tai họa rớt trên đầu họ” và khuyên dụ dân hãy tin vào giặc vì “những người này chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi”! Đó là sự dối trời lừa dân có một không hai. Thế là chỉ trong năm ngày cả ba tỉnh thành hừng hực khí thế chống ngoại xâm bỗng lọt vào tay giặc! Chẳng những Phan đã ngoan ngoãn giao thành, lại còn lệnh cho thuộc hạ mở rộng cửa kho và ngân khố lấy lúa gạo và tiền nộp thêm cho quân phản phúc gọi là thanh toán bồi thường năm năm chiến phí theo cái gọi là hòa ước 1862!

Bốn tháng sau, vua Tự Đức ra chỉ dụ giao cả cho Tôn nhân Phủ và đình thần xem xét công tội để bàn định việc xử trí. Bản án ngày 17/4/1868 triều thần nghị xử rằng: “Viên Khâm lược sứ với trách nhiệm giữ gìn đất đai mà lại ươn hèn đến thế, sẽ phải phân biệt xử trị để răn khí tiết bề tôi và để nhân tâm có bề phấn chấn mới phải. Trước hết cách chức và truy thâu lại phẩm hàm và ghép vào tội xử trảm giam hậu”. Cùng năm đó vua Tự Đức bút phê “truy đoạt chức tước, phẩm hàm và đục bia Tiến sỹ, để lại muôn đời cái án trảm hậu” với Phan Thanh Giản!

Tuy nhiên bên sự đánh giá chính thống như thế vẫn có những thế lực bênh vực thậm chí còn bốc thơm đơm đặt đủ điều cho nên con người ông, việc làm của ông, cái chết của ông vẫn là đề tài cho hậu thế tranh cãi dài dài. Vậy những ý kiến trái chiều kia có tự bao giờ và xuất phát từ đâu?

Thật ra khi người Pháp đem quân xâm chiếm Việt Nam thì lực lượng họ không phải là quá mạnh, nội tình vương triều Paris cũng lắm chuyện rối ren. Thế nhưng bối cảnh xã hội Việt Nam lúc đó cực kỳ bê bối. Triều đình thì hủ bại. Dù khí thế yêu nước của dân chúng rất cao nhưng không có chỗ dựa và không hợp thành một liên minh chặt chẽ. Trong khi bộ máy chiến tranh của Pháp dày dặn kinh nghiệm đối phó, dưới bóng cây Thánh giá càng dễ lợi dụng những yếu tố xã hội và con người ở các quốc gia xa xôi lạc hậu thì những người như Phan Thanh Giản là tác nhân thúc đẩy mau chóng quá trình mất nước, tất nhiên lọt vào tầm ngắm để đội quân viễn chinh ấy khai thác và điều khiển bằng đủ những mưu mô thâm trầm xảo quyệt. Cuộc chiến xâm lược xứ An Nam xa xôi không được triều đình Paris tập trung ủng hộ nhưng lại sớm thu được thắng lợi trọn vẹn mà ít hao người tốn của. Đương nhiên những người như Phan được coi như có công đầu với đội quân viễn chinh xâm lược Pháp. Khi Phan còn sống cũng như khi chết đều được Bộ chỉ huy quân viễn chinh chăm sóc chu đáo tận tình, kèm thư gửi tới gia đình với những lời chia buồn thống thiết: “Nơi triều đình trừ một mình ngài thấy rõ đâu là ích nước lợi dân… Người Pháp quốc hằng bền một lòng tôn trọng quan lớn Phan Thanh Giản và gia đình của ngài. Bổn trấn hứa sẽ hết lòng bảo bọc cho con cháu ngài hoặc muốn ra mà giúp việc nhà nước hay là muốn tước lộc chi thì bổn trấn cũng vui lòng ban ơn theo như ý”. Và người Pháp đã làm đúng như lời hứa. Ngay cả khi hai con ông là Phan Liêm và Phan Tôn có cầm súng chống Pháp một thời gian nhưng thua trận và bị bắt, người Pháp cũng rộng lòng tha và giao cho triều đình An Nam trọng dụng. Tất nhiên lại cầm binh đi đánh những người Việt Nam “nổi loạn”! Tên tuổi ba cha con họ Phan đều được nhà nước thực dân – tất nhiên là cả chính quyền bản xứ lệ thuộc “bảo tiết tôn vinh” như những tấm gương về lòng yêu nước thương nòi! Dù cho dân chúng bất bình nhưng chính sử triều Nguyễn bù nhìn chẳng dám nói đó là sự sỉ nhục đối với lịch sử nước nhà! Trải hàng trăm năm thân phận “thuộc quốc phiên bang” mấy ai được săm soi góc cạnh ngọn ngành? Sự ngộ nhận đã thành nếp nghĩ, chỉnh sửa lại không là điều dễ! Phải chăng đó là tàn dư của văn hóa thực dân?

Vậy thì ai đã phục chức cho Phan? Tự Đức chết năm 1883, sau thời kỳ u ám “tứ nguyệt tam ngôi”, rồi xảy ra sự kiện Hàm Nghi. Dưới sự bảo trợ của người Pháp, hoàng tử Chánh Mông lên ngôi với đế hiệu Đồng Khánh. Tân vương vốn sính Tây được coi như một “sản phẩm Pháp tại Việt Nam”. Quả nhiên Đồng Khánh là ông vua đầu tiên công nhận nền bảo hộ của nhà nước Đại Pháp. Để được lòng “nước mẹ”, tân vương ra sắc chỉ khôi phục hàm cũ là Hiệp tá Đại học sỹ cho Phan Thanh Giản sau những lời khen: “Phẩm vọng ngươi cao như núi Thái Sơn, văn chương ngươi như mây bay nước chảy, được xưng tụng cao nhất một đời”. Tất nhiên bia được dựng lại sau hai thập niên bị đạp đổ! Đồng Khánh làm vua được ba năm thì chết. Qua hai triều vua Thành Thái và Duy Tân, người Pháp không “dụ” được. Năm 1916, sau cuộc nổi dậy do Hội “Việt Nam Quang Phục” phát động ở năm tỉnh Trung kỳ (Nam, Ngãi, Huế, Trị, Bình) thất bại, bốn nhà chí sỹ là Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu bị xử chém, vua Duy Tân, Thành Thái cùng số phận với vua Hàm Nghi, bị đi đày biệt xứ. Chính quyền bảo hộ đưa Khải Định là con vua Đồng Khánh lên ngôi. Năm 1924, vua Khải Định sắc cho quan dân tỉnh Thủ Dầu Một thờ phụng Phan công như “thần hộ quốc an dân”, ý để thưởng công đã giao ba tỉnh miền Đông cho Pháp! Kế đến năm 1933, con Khải Định là vua Bảo Đại cũng sắc cho quan dân tỉnh Vĩnh Long thờ phụng Phan công nội dung như thế, ý để thưởng công đã giao nốt ba tỉnh miền Tây cho Pháp! Việc làm ấy có nghĩa là triều Nguyễn hài lòng đã hoàn tất sứ mạng lịch sử chí ít cũng là giao toàn bộ xứ Nam kỳ vào tay người Pháp! Vậy thì thực chất việc phục chức và tôn vinh Phan Thanh Giản chính là ý đồ của chủ nghĩa thực dân. Việc chiêu tuyết và khôi phục chức sắc cho Phan được ba triều vua tồi tệ nhất trong lịch sử 13 đời vua triều Nguyễn đã bị chính Hội nghị sử học năm 2008 loại ra ngoài vòng lịch sử thì mọi việc chiêu tuyết cho Phan Thanh Giản vào mọi thời điểm đương nhiên nào có giá trị gì.

Thực ra càng xem xét kỹ tư liệu lịch sử càng nhận ra con người này rất phức tạp và có nhiều khuất tất.

Phan là người không có bản lĩnh cầm quân: Triều thần đã tổng luận: Về tài thì hơi kém! Lúc đi đánh giặc thường bỏ chạy. Từng năm lần bị giáng cấp, hai lần bị cách lưu. Vậy khi gặp giặc mạnh chưa đánh đã chủ hòa là điều không lạ.

Nếu bạn đọc tiếp cận tư liệu lưu trong thư khố Pháp, xem thư Phan gửi các quan tướng quân đội viễn chinh như Hải quân Trung tướng Bonard, Đề đốc Rigault De Genouilly, Đề đốc Lagrandière… thấy rõ đó là con người phản phúc, không khác chi là “tay trong” của giặc! Hẳn không còn ai bốc thơm Phan về lòng trung quân ái quốc!

Phan có là người liêm chính thật không? Ông Tiến sỹ Phan Hiển Đạo làm Đốc học tỉnh Định Tường có ra hợp tác với giặc vì mơ hồ tin vào “tình thân ái giữa các dân tộc bên hai bờ đại dương” của quan trên. Nhưng sau nhận ra mình lầm lỡ nên lánh qua tỉnh Vĩnh Long (vì Định Tường không còn thuộc Nam triều nữa). Ông đưa thơ xin diện kiến trình rõ sự tình, bị Phan sổ toẹt với lời phê độc: “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh” (Con gái đã bị thất thân, sao cho là trinh được). Ông Tiến sỹ Đạo hổ ngươi trở về quê Mỹ Tho, viết cáo trạng tạ lỗi với dân chúng rồi uống thuốc độc mà chết! Trong khi quan Khâm lược giấu kín nỗi lòng tới lúc lâm chung mới tỏ chân tình với viên quan giặc Ansart rằng ông dành dụm được mấy ngàn quan (1.000 quan lúc bấy giờ tương đương với 700 lạng bạc) và mong muốn ký thác cho các quan Tây đưa mấy đứa cháu lên Sài Gòn học thành tài! Vậy Phan có thanh bần như đời ca tụng?

Cho đến cái chết của quan Khâm sai đại thần thật ra cũng không bi tráng như nhiều người lầm tưởng. Ông ta biết khi đặt bút ký chấp nhận yêu sách của giặc là xóa sạch đi công lao 300 năm khai phá của các bậc tiên vương tiên chúa thật “đáng tội chết” rồi. Dù nói rằng “lá cờ ba sắc không thể phất phới bay trên một thành lũy mà nơi ấy Phan Thanh Giản còn sống” (!) nhưng không như Hoàng Diệu treo cổ chết ngay trong thành Hà Nội, Võ Duy Ninh tự thương chết ngay trước thành Gia Định, Nguyễn Tri Phương quyết chết theo Hà thành thất thủ. Trái lại, Phan thủng thẳng ra sống tại một ngôi nhà tranh ở ngoại thành Vĩnh Long, tỉnh táo sắp xếp mọi việc chu đáo. Ông gởi một lá sớ lên vua Tự Đức: “Việc cõi Nam kỳ một chốc đến thế này, không thể ngăn cản nổi. Nghĩ tội đáng chết, không dám sống cẩu thả để cái nhục lại cho Quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn…” và gởi thư cho các tướng giặc để trần tình với lời lẽ rất chi là hoan hỷ. Ông cũng ngỏ lòng với cha Marc là muốn theo đạo Thiên Chúa! Ông căn dặn các con hãy qui phục nước Pháp, sống hòa bình với họ và chăm chỉ cần lao, ráng học hỏi cho bằng người Tây Âu để phò vua giúp nước may ra sau này làm vẻ vang cho Tổ quốc! Nghe ngóng động tĩnh từ triều đình vẫn bặt tin. Biết rằng tội kia không thoát chết! Gần một tháng sau thì ông “tuyệt cốc” (nhịn ăn). Nửa tháng không chết, ông uống á phiện pha với dấm thanh. Trong thời gian ấy nhiều quan lại cả tây và ta đến thăm, cho thuốc ông một mực từ chối. Theo thơ tường trình của Thiếu tá Ansart gởi lên Tổng tham mưu trưởng kể về những giờ cuối đời của ông quan này: “Lúc các ông quan (Nam triều) còn lại ở Vĩnh Long, ông đã khăng khăng từ chối mọi thứ thuốc men, chúng tôi đã phải gần như ép ông và lợi dụng một trong những lúc ông ngất đi mới khiến ông nuốt được một chút giải độc. Nhưng ngay khi ông được biết là các quan đã bỏ đi và chỉ còn có mình ông với chúng tôi (ba sỹ quan Pháp) thì ông đã thuận mọi điều. Hai lần ông hỏi cha Marc: Tôi có thoát được chăng? Than ôi, khi đó đã quá muộn”! Cái chết nào cũng bi. Chết bình thường thì thương. Chết vì nghĩa thì tráng. Chết có toan tính thì hài!

Có người bày đặt chuyện cụ Đồ Chiểu đã làm thơ khóc thương ông quan già họ Phan này rất chi là thống thiết. Tuần báo Văn nghệ TP.HCM số 55, Thứ Năm ngày 26/3/2009, nhà giáo Phạm Thị Hảo, giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại Đại học Sư phạm TP.HCM đã có bài: “Viết về Phan Thanh Giản, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu”, giảng giải rành mạch ý tứ thâm sâu của cách “đối” thơ Hán-Nôm là như thế nào. Những câu thơ ý tại ngôn ngoại, tưởng khen mà chê, tưởng thương mà giận, tưởng bi mà hài. Tấm liễn Phan nhân để lại có 11 chữ nhưng cụ Đồ cố ý ghi “Minh tinh chín chữ lòng son tạc” đã như lời mắng nhiếc nặng nề: Phan chết đi chỉ thành quỷ chứ không thể thành thần được!

Tự Đức đã giãi lòng trong thơ: “Khí dân triều trữ cữu – Mại quốc thế gian bình – Sử ngã chung thân điếm – Hà nhan nhập miếu đình” (Bỏ dân ta nhận lỗi – Bán nước thế gian bình – Mai này ta nằm xuống – Mặt nào nhìn tổ tông)! Bởi nhà vua gửi vàng không chọn mặt! Sao đại sự cứ dựa vào kẻ “mại quốc cầu vinh”?! Đấy là mối oan nghiệt của người cầm quyền quốc gia tối thượng khi đã đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc dưới cái bệ ngọc ngai vàng thì không thể nhận ra kẻ ngay gian, chính tà, sẽ là rước họa cho mình, cho nước!

Trong bài viết của mình, tác giả Đinh Hữu Quang trích dẫn lời danh nhân Hoàng Bình Trọng: “Dùng Chí luyện Thơ, dùng Thơ luyện Chí/ Chí truyền Thơ lay động đất trời”, khác nào sự mai mỉa với Phan đại nhân thi sỹ?!

Đừng để bị lôi kéo vào ý đồ thâm hiểm của một thế lực bất minh. Họ không từ thủ đoạn nào tô son trát phấn bốc thơm con người ấy, kể cả dưới hình thức văn học – nghệ thuật để đánh lạc hướng dư luận, tạo ra những cái gọi là “góc khuất đáng thương” làm cho công chúng từ cảm thương đến có cảm tình mà dễ dãi quên đi những tỳ vết đã hằn sâu trong lịch sử.

Vào giữa thế kỷ XIX, lũ giặc mắt xanh mũi lõ vượt trùng dương nửa vòng trái đất trên chục chiếc tàu đồng với mấy ngàn quân qua cái xứ sở nhiệt đới khắc nghiệt này, vũ khí là mấy khẩu đại bác cổ lỗ, vài ngàn tay súng kíp chọi với đội quân nón mê chân đất, gươm giáo dao gậy cầm tay mà có cả rừng người sẵn sàng chết không để nước mất vào tay giặc. Vậy mà có những ông vua, ông quan run rẩy không dám cầm gươm, chỉ biết nhìn trước ngó sau mà đái trong quần thì làm sao không mất nước! Hãy nhìn sức giặc hiện nay: Chỉ một bước chân đã vào tận ngõ. Sân trước vườn sau, trên rừng dưới biển, ba bề bốn bên đâu đâu cũng thấy lũ đầu trâu mặt ngựa. Toàn bộ đất đai, núi rừng, biển đảo của ta đều nằm trong tầm phủ gần xa của đủ các loại vũ khí tối tân. Tàu thuyền đặc biển. Máy bay đầy trời. Điều này hiển nhiên ai cũng biết. Thế mà không ít người nhân danh cái gọi là “đổi mới” thi nhau trổ tài điêu toa quay quắt cố dựng dậy một lũ vua quan hèn nhát, bạc nhược, phản phúc, dối trời lừa dân như Phan Thanh Giản nhằm dạy lớp trẻ điều gì? Trong khi nước non đang cần những con người trung dũng!
Ảnh: Phan Thanh Giản chụp tại Paris năm 1863.
Yêu nước ST.

ĐẢNG VIÊN, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG... VI PHẠM NỒNG ĐỘ CỒN SẼ BỊ GỬI THÔNG BÁO VỀ CƠ QUAN!

         Từ ngày 20/6, lực lượng CSGT toàn quốc sẽ đồng loạt ra quân kiểm tra, xử lý vi phạm trên các tuyến giao thông để kịp thời ngăn chặn các hành vi là nguyên nhân chính dẫn tới tai nạn giao thông. Đợt cao điểm này diễn ra trong 3 tháng, từ 20/6 đến 20/9.
Trong đợt cao điểm này, Bộ Công an chỉ đạo tập trung xử lý từ gốc các hành vi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông; vi phạm tốc độ; vi phạm về cơi nới thùng xe và chở hàng quá tải trọng, quá khổ; phương tiện thủy chở quá vạch dấu mớn nước an toàn.
Để xử lý tận gốc vi phạm về nồng độ cồn, Bộ Công an đề nghị lực lượng chức năng toàn quốc tuyên truyền, vận động các chủ nhà hàng, quán bar, vũ trường... nhắc nhở khách hàng đến ăn uống chấp hành luật Phòng chống tác hại của rượu, bia; không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia.
Các trường hợp là Đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang… vi phạm, lực lượng làm nhiệm vụ phải gửi thông báo về cơ quan quản lý để có biện pháp xử lý theo quy định./.
Môi trường ST.