Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Đẩy mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

 


Thực tiễn nền chính trị thế giới cho thấy, những người dân túy thưòng dùng chiêu bài đả kích chính sách của chính đảng cầm quyền do chính phủ đương nhiệm thực hiện; đồng thời đưa ra những chương trình cải cách mang tính mị dân để thu hút sự chú ý và giành phiếu ủng hộ của dân chúng. Các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam cũng sẽ dùng những chiêu trò như vậy để bôi nhọ, đả kích sự lãnh đạo của Đảng. Bỏi vậy, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, tổ chức và đạo đức là vấn đề then chốt, quyết định nhất trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ nước ta hiện nay.

Toàn Đảng, mỗi chi bộ, mỗi cán bộ, đảng viên cần kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định mục tiêu đổi mới; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đây là chỗ dựa lý luận, là nền tảng tư tưỏng để đấu tranh phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, không có khoa học nào vô tư đứng trên giai cấp, đứng ngoài chính trị mà đều phục vụ mục đích chính trị của giai cấp nhất định, giai cấp thống trị xã hội. Do đó, thiếu một lập trường kiên định, vững vàng thì sớm muộn sẽ rơi vào những quan điểm sai lầm, chệch hướng.

Chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới có thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng để xem xét, nhận định, phân tích một cách khách quan, toàn diện các hiện tượng chính trị, xã hội đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên thế giới, khu vực và trong nước để có thái độ, trách nhiệm và đề ra quyết sách đúng đắn, giải quyết hợp lý, hợp tình mọi vấn đề chính trị, xã hội.

Vì vậy, hơn lúc nào hết, để đấu tranh với chủ nghĩa dân túy, chống lại những tác hại của chủ nghĩa dân túy đối với nền chính trị của đất nước, Đảng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, đồng thời kiên trì lập trưòng của giai cấp công nhân, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí chậm bị đẩy lùi đã và đang là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong các biểu hiện ấy, có biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy, có biểu hiện là “cơ hội” cho dân túy bộc phát, lên ngôi. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sỗng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiên đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta, cũng như tương lai phát triển của dân tộc.

Các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Khóa XIII và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưỏng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Thấm nhuần và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi mình, tự sửa đổi lốỉ làm việc, tuân thủ kỷ luật của Đảng, nói và làm theo cương lĩnh, điều lệ. nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần bồi đắp niềm tin của Nhân dân về một Đảng cách mạng chân chính, ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân và của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác.

Những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế - dân tộc, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

 


Những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế - dân tộc hiện đang tác động mạnh mẽ, làm ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Những biểu hiện của chù nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt đang là xu thế nổi lên trong quan hệ quốc tế hiện nay[1]; những diễn biến phức tạp tại Biển Đông đang làm ảnh hưởng đến lợi ích dân tộc và trực tiếp đe dọa an ninh và chủ quyền quốc gia - dân tộc... Một khi lợi ích quốc gia - dân tộc không được đảm bảo, bảo vệ thì lợi ích giai cấp và mục tiêu chủ nghĩa xã hội cũng không thể thực hiện được.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự canh tranh trên trường quốc tế cả về kinh tế và chính trị đang là một thách thức lớn, bởi vì trong không ít trường hợp, các nước lớn lợi dụng vấn đề kinh tế để tạo sức ép về kinh tế và cả chính trị, hoặc phân biệt đối xử, từ đó gây khó khăn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nếu không vượt qua được những thách thức từ bên ngoài thì tụt hậu xa hơn về kinh tế là nguy cơ hiện hữu.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr71.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận diện và hiểu rõ nguy cơ, tác hại của chủ nghĩa dân túy

 


Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy trong đời sống chính trị thế giới đương đại và những biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam đang tác động, ảnh hưởng nhất định đến nhận thức tư tưỏng, hành vi chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay, trước tiên, cần làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí thống trị trong đời sống tinh thẩn của xã hội, tạo ra chất “miễn dịch” tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với những biểu hiện dân túy.

Cần tăng cường tuyên truyền cho Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ nhận rõ những biểu hiện mang tính dân túy trong đời sống chính trị, bởi không phải khi nào người dân cũng có thể phân biệt được đâu là ngưòi theo hay không theo chủ nghĩa dân túy, thậm chí dễ nhầm lẫn giữa những người vô nguyên tắc, vô chính phủ với những người mạnh mẽ, dám đưa ra tư tưởng đổi mới. Trong khi đó, sự cổ súy từ một vài ngưòi viết có chủ ý, hoặc do sự non nớt về chính trị của một số tờ báo và một số trang mạng xã hội sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn trong đánh giá tư tưỏng của công chúng. Vì thế, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần được cung cấp những kiến thức để nhận diện các biểu hiện dân túy, giúp mọi ngưòi cảnh giác, tham gia đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy dưởi mọi màu sắc.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưỏng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Đồng thời, chúng câu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn hoạt động ráo riết chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Bởi vậy, phải chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưỏng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.


Xu thế tăng cường hội nhập quốc tế là xu thế chung, đang lôi cuốn hầu hết quốc gia trên thế giới tham gia. Song, quá trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho Việt Nam. Vì vậy để đảm bảo vững chắc cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam phải thường xuyên giải quyết quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế gắn vi độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Công cuộc đổi mới đã cho Đảng Cộng sản Việt Nam những nhận thức mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để mở rộng dân chủ, thực thi các quyền dân chủ của công dân thì phải giải quyết tốt các quan hệ Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ. Trong đó, Đảng lãnh đạo là để Nhà nước phát huy vai trò quản lý và để nhân dân tham gia tích cực vào quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mối quan hệ này phải được thể chế thành pháp luật để cụ thể hóa các chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống chính trị - xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Lấy danh nghĩa bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc để tuyên truyền, kích động tư tưởng bài Trung, thân Mỹ

 


Đây cũng là một biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay. Để lôi kéo ngưòi dân, chúngtung hô ngọn cờ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, biên giới quốc gia, chống ngoại xâm... nhưng thực chất là xúi giục, kích động ngưòi dân chống Đảng, chính quyền Nhà nước, hạ thấp uy tín lực lượng vũ trang...

Ở một số địa phương đã xuất hiện những người lấy danh nghĩa đại diện cho lợi ích của Nhân dân để tổ chức tụ họp đông ngưòi, khiếu kiện, gây ra những hành động quá khích, vu khống chính quyền, kích động các hành động vi phạm pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại chính sách phát triển kinh tế và môi trường đầu tư. Núp dưới danh nghĩa tổ chức xã hội dân chủ, nhưng họ lại hành động chống lại nền dân chủ của Nhân dân, lộ rõ chân tướng là những kẻ cơ hội chính trị, bất mãn với chính quyền, phá hoại cuộc sống lao động trong hòa bình của Nhân dân Việt Nam.

Tác hại, ảnh hưỏng của chủ nghĩa dân túy đối với nền chính trị Việt Nam cũng rất nguy hiểm, khó lường nếu không sớm nhận diện và có biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn. Sinh thời,V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: Ngay từ khi chủ nghĩa dân túy ra đời, nó đã bộc lộ bản chất phản động. Ông gọi phái “dân túy” là kẻ thù công khai của phong trào cách mạng Nga và đã đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân túy để bảo vệ sự trong sáng, cách mạng của chủ nghĩa Mác bởi vì chủ nghĩa dân túy đã cản trỏ, gây trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân Nga.

Các biểu hiện dân túy ở Việt Nam hiện nay, tuy mới chỉ thể hiện dưới dạng phát ngôn, hành động mang tính mị dân của một số cá nhân, chưa phát triển thành một hệ thống lý luận, nhưng nó cũng chứa đựng tính đối kháng tư tưởng như V.I. Lênin đã từng cảnh báo.

Sự nguy hại của các biểu hiện dân túy ở Việt Nam càng hiện hữu hơn khi các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị lợi dụng để cổ súy, câu kết thành lực lượng đối lập. Các biểu hiện dân túy nếu không sớm có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, thì sẽ giống như vi rút độc hại, gây ô nhiễm đòi sống chính trị đất nước, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đốì vối sự lãnh đạocủa Đảng, Nhà nước, vào chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Nhận thức tốt về quan hệ giữa nhà nước và thị trường.

 


Đây là mối quan hệ mới so với Đại hội XI. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế...; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triên, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chể thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường.

 Di sản Lênin trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta

V.I.Lênin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Mátxcơva trước các đơn vị tham gia khóa huấn luyện quân sự toàn dân, ngày 25/5/1919. Ảnh: TƯ LIỆU

Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

Kỷ niệm 148 năm ngày sinh của Lênin vĩ đại (22/4/1870 - 22/4/2018), chúng ta nghĩ tới di sản mà ông để lại cho hậu thế. Đó là di sản của bậc vĩ nhân thiên tài, người đã truyền bá, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác vào nước Nga, từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX.

Công lao vô giá của Lênin đối với lịch sử thế giới hiện đại nổi bật trên những phương diện chủ yếu:

- Sáng lập học thuyết Đảng kiểu mới, Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, đội tiên phong chiến đấu được vũ trang bởi lý luận tiên phong, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội loài người, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, xây dựng xã hội tương lai xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà Mác - Ăngghen đã đặt nền móng về tư tưởng lý luận.

- Lãnh đạo thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực với nước Nga Xô Viết, làm cho Đảng Cộng sản lần đầu tiên trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội mà ông gọi là Đảng chấp chính. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở ra con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

- Một trong những cống hiến đặc sắc của Lênin còn là ở chỗ, ông là người đề xướng cải cách chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), đem chính sách kinh tế mới thay thế “chính sách cộng sản thời chiến” vào đúng lúc cần thiết, nhờ đó đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau Cách mạng Tháng Mười, trong tình cảnh nước Nga Xô Viết non trẻ vừa mới ra đời đã bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây hòng bóp chết chủ nghĩa xã hội mới chỉ như một mầm non mới nhú, đã làm cho chính quyền Xô Viết đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh. Với “Chính sách kinh tế mới” Lênin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực làm nảy sinh tính tích cực lao động của công nhân, nông dân và mọi người lao động nói chung trong buổi đầu xây dựng, kiến thiết chế độ mới mà sâu xa hơn, đó còn là khởi đầu kiến tạo mô hình phát triển mới của chủ nghĩa xã hội, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xã hội để thúc đẩy phát triển.

Chính sách kinh tế mới gợi mở một trong những điều sâu xa về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó là một phức hợp kinh tế - chính trị và văn hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở khoa học, tuân thủ quy luật khách quan và đáp ứng nhu cầu lợi ích của người lao động. Đó thực sự là những bảo đảm cho sức sống và triển vọng của chủ nghĩa xã hội mà sau này, Hồ Chí Minh đã từ thực tiễn khái quát thành lý luận. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải “làm đúng quy luật”, phải “thuận lòng dân” và phải “hợp với thời đại”, tận dụng mọi thành tựu kinh tế - kỹ thuật và quản lý của chủ nghĩa tư bản, sử dụng cả chuyên gia tư sản có tài vào mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích lâu dài của chủ nghĩa xã hội.

Dù chỉ trong một thời gian ngắn, Lênin chỉ có thực tiễn bảy năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1917 - 1924), ông mất vào năm 1924 khi mới 54 tuổi, nhưng những gì ông để lại cho hậu thế là vô cùng quan trọng, quý giá. Ông xứng đáng được thừa nhận là “nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta. Lênin đã từng nhạy cảm nhận ra vai trò của lợi ích, của dân chủ và sâu xa hơn, của văn hóa ngay trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đổi mới, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đó của Lênin, của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm cho đổi mới thực sự có sinh khí, có động lực từ lòng dân, từ sức sáng tạo của nhân dân. Ý Đảng gắn với lòng dân trở thành phép nước - Đó là sức mạnh vô tận của đổi mới hơn 30 năm qua ở nước ta do Đảng lãnh đạo.

Lênin đã từng nêu rõ yêu cầu quan trọng của đổi mới kinh tế phải gắn liền và đồng bộ với đổi mới chính trị, phải nêu cao trách nhiệm “thảo luận thì chung, trách nhiệm thì riêng, riêng tới từng người một”. Lênin cũng từng xác định: mấu chốt của công việc là tổ chức bộ máy và con người, cho nên phải “chọn đúng người, giao đúng việc và kiểm tra thường xuyên”, phải nhổ sạch đám cỏ dại quan liêu trên mảnh đất của chủ nghĩa xã hội, phải đẩy lùi những kẻ thù nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội: bệnh kiêu ngạo cộng sản, tệ quan liêu và nạn hối lộ. Trong cải cách thể chế, bộ máy, theo Lênin, phải quán triệt tinh thần “thà ít mà tốt”, “chính trị cần đến bộ máy”, nhưng “bộ máy phải phục vụ chính trị” chứ “chính trị không chạy theo bộ máy, không phục vụ bộ máy”…

Những chỉ dẫn đó vào lúc này là vô cùng cần thiết đối với chúng ta, có ý nghĩa sâu xa trong đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ở nước ta.

Nhớ lại, cách đây hơn 90 năm, khi viết Đường cách mệnh (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất, triệt để mau mắn thắng lợi nhất” là chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin). Từ đó Người tin theo Lênin, suốt đời phấn đấu hy sinh theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về quyền tự quyết của các dân tộc của Lênin là một cống hiến vô giá đã dẫn đến bước ngoặt trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc và phát triển dân tộc ta tới chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (12-1986) đến nay đã luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng nước ta… Ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân…

Từ những định hướng chiến lược đó, ta càng cảm nhận sâu xa giá trị, ý nghĩa và sức sống của di sản Lênin trong sự nghiệp của chúng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với di huấn của Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, nhất định sự nghiệp đổi mới của chúng ta sẽ đi tới thắng lợi, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhận thức tốt về quan hệ giữa đổi mới kinh tể và đổi mới chính trị

 


Đây là mối quan hệ giữa hai lĩnh vực then chốt nhất của sự phát triển đất nước. Đổi mới kinh tế luôn được coi trọng nhưng không thể không đổi mới chính trị. Mặt khác, lại phải giải quyết mi quan hệ này trên cơ sở khoa học, thực tiễn, Tránh những quan điểm tả khuynh hoặc cực đoan trong đổi mới kinh tế lẫn chính trị. Đổi mi kinh tế và đối mới chính trị phải được nhận thức, cụ thể hóa một cách phù hợp, thường xuyên và lâu dài. Thực tế, chúng ta đã từng bước đổi mới chính trị, mà trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị chưa thật rõ. Trong thực tế, đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế. Đã đến lúc đòi hỏi Đảng cần xác định rõ mối quan hệ giữa kinh tế và đổi mới chính trị phù hợp với giai đoạn hiện nay, khắc phục một số biểu hiện lo mất ổn định, không dám mạnh dạn đổi mới chính trị cho đồng bộ với đổi mới kinh tế.

Nhận thức tốt về quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển

 


Từ Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, đổi mới là tất yếu, để ra khỏi khủng hoảng, xác lập ổn định và hướng tới phát triển. Như vậy, đổi mới, ổn định và phát triển có quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình phát triển của đất nước. Từ lý luận và thực tiễn công cuộc đổi mới đang đặt ra việc giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển. Đổi mới là tất yếu song không để xảy ra mất ổn định; đổi mới trong sự ổn định để phát triển đất nước. Ba phạm trù này luôn tác động qua lại lẫn nhau cần phải quán triệt đầy đủ sâu sắc và giải quyết trên tất cả các lĩnh vực, trong hệ thống chính trị các cấp, từ Trung ương đến cơ sở. Vừa qua, việc giải quyết mối quan hệ này chưa tốt: đổi mới được tiến hành liên tục, nhưng chưa đồng bộ, chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước; yếu tố ổn định cần được bảo đảm ngay cả trong những lúc khó khăn, tuy nhiên, ở một số nơi quá "coi trọng" ổn định nên không dám đổi mới mạnh mẽ; yếu tố phát triển chưa đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề lý luận về phát triển chưa được làm sáng tỏ. Vì thế, cần phải xử lý tốt hơn mối quan hệ này.

Xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng của Nhân dân ta, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, đòi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

 


Biểu hiện kiểu này xuất hiện ở những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị hoặc những cán bộ, đảng viên đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thiếu tin tưỏng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ có thái độ phủ nhận lịch sử, cho rằng những năm tháng hào hùng đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là “thời kỳ đen tối”, “sai lầm” không thể chấp nhận. Những cá nhân này cũng hay lấy thực tế nước Đức thống nhất, lấy đòi sống ngưòi dân Hàn Quốc và Triều Tiên để minh chứng cho luận điệu về sự sai lầm của lịch sử khi Việt Nam chọn con đưòng cách mạng vô sản, từ đó ra sức xuyên tạc lịch sử, hạ bệ lãnh tụ Hồ Chí Minh, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa chân chính để chấp nhận “chủ nghĩa xã hội nhân đạo, dân chủ”…

Mượn danh vì dân chủ, đòi thực hỉện thể chế chính trị “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập”


Biểu hiện này thường gặp ở những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị. Họ mượn danh nghĩa là đấu tranh vì dân chủ nhưng lại có những lời nói, hành động chống lại nền dân chủ của nhân dân, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thậm chí cá biệt có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưỏng chính trị,đạo đức, lối sống, phụ họa theo các thế lực thù địch đòi tự do dân chủ vô nguyên tắc, coi  thường tổ chức. Hội nghị Trung ương 4, khóa XII, khi nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã chỉ rõ đó là biểu hiện: “Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”1.

Những người dân túy thể hiện thái độ không tôn trọng nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Họ dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, mượn danh để đòi đổi mới chính trị vô nguyên tắc, tuyên truyền đòi đa nguyên chính trị, tam quyền phân lập, dựng chuyện trong Đảng có phe này, phái kia, đổỉ lập Đảng với Quốc hội; đòi để Nhân dân tự chọn món ăn tinh thần,không cần định hướng, quản lý trong lĩnh vực văn hóa, tư tưỏng; đòi dân chủ một cách tự do, vô tổ chức, vô hạn độ, dân chủ không gắn với kỷ luật, kỷ cương. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ biếu hiện đó là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn; một số rất ít cán bộ, đảng viên bị phần tử xấu lôi kéo, kích động, xúi giục, mua chuộc đã có tư tưởng, việc làm chống đối Đảng, Nhà nước”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.185. 

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


Yếu tố quyết định nhất của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tồ quốc xã hội chù nghĩa là phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và lãnh đạo toàn xã hội. Để phát huy vai trò, chức năng của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam phải thường xuyên được xây dựng thành một tổ chức trong sạch, vng mạnh trên các phương diện: chính trị, tư tưng, tổ chức và trong lối sống, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên.

Nhà nước Pháp quyền là sự tiến bộ của nhân loại, trong đó có đặc điểm nổi bật là bảo đảm quyền tối cao của Pháp luật. Nhà nước Pháp quyền của nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Nhà nước Pháp quyền hiện nay là xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền, đổi mới lập pháp, hành pháp và tư pháp; kiên quyết phòng ngừa, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Những người có quan đỉểm dân túy hay đưa ra những phát ngôn gây sốc, cùng với những hành vi và hình ảnh “mị dân” để lấy lòng dân chúng

 


Trong đi sống chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam, đã và đang xuất hiện những biểu hiện của sự phát ngôn, hành vi, hình ảnh của một s ít ngưòi mang tính dân túy. Tại một số diễn đàn, hội nghị, hi thảo, hay trong các sự kiện có đông dân chúng, có thể nhận thấy những biểu hiện dân túy thông qua các phát ngôn gây sốc của một s người có vị trí không đúng với đường li, chủ trương của Đảng, bỏ qua những quy định pháp lý, thiếu tính khả thi, vượt quá hoặc không đúng thẩm quyền của cá nhân. Ngay sau đó, những phát ngôn này được đăng tải trên một vài t báo, hoặc lan truyền trên mạng xã hội, thu hút sự quan tâm của công chúng.

Biểu hiện này đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đã xuất hiện những việc làm và phát ngôn vô nguyên tắc, trái với Cương lĩnh, đường li, Điều lệ Đảng một s cán bộ, đảng viên”[1]. Những biểuhiện đó tuy chỉ xuất hiện ỏ một số ít người nhưng cũng rất gần với những gì đã và đang xảy ra trên thế giới chỗ: những phát ngôn, hành vi, hình ảnh mang tính dân túy đã nhất thời lấy được lòng dân chúng vì những cá nhân này biết cách khai thác tâm lý chán ngán của người dân về hình ảnh mô phạm, cứng nhắc và nguyên tắc của các chính trị gia chính thống. Những cá nhân này thường sử dụng ngôn ngữ mạnh mẽ, cực đoan nhưng dễ hiểu với đa số mọi người, hứa hẹn về quyền lợi cho số đông, thổi bùng ý niệm về sự xung đột lợi ích giữa các nhóm đa số và thiểu số.

Ở một khía cạnh khác, những cá nhân, những con người hành xử mang tính dân túy như vậy cũng đã thu được những kết quả, trở thành “nhân vật của truyền thông”, thậm chí đã từng đạt đến vị trí cao trong nấc thang quyền lực. Trong đòi sống chính trị hay đòi thường, những người đó cũng có những tố chất tạo nên sức thu hút cá nhân, “hoạt ngôn”, tranh thủ được sự ủng hộ của không ít người bằng kiểu hành xử “của người phúc ta” và biết cách “đầu tư” xây dựng các tờ báo, phóng viên “thân hữu”, các cây bút mạng có ảnh hưởng. Họ cũng biết chọn thòi điểm để phát ngôn, thường là lúc người dân gặp khó khăn do suy thoái kinh tế hay xuất hiện sự bất ổn về an ninh. Trong giải quyết những vấn đề nóng, dễ gây bức xúc trong hội, họ cũng có hành vi xử lý nhanh nhạy sự việc, đưa lại những lợi ích cục bộ, trước mắt cho một bộ phận nhân dân, lại được một số phương tiện truyền thông tung hô nên dễ được xem như một thần tượng, một ngôi sao đang lên. Những phát ngôn, hành vi, hình ảnh kiểu đó là sự biểu hiện của sắc thái dân túy mới.



 

Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất


            Dân chủ hóa đời sống xã hội đang là xu thế chung của phát triển loài người, là một trong các trụ cột của phát triển. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa của nước ta. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Để thể hiện bản chất ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam phải xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ, mở rộng quyền dân chủ của công dân. Mặt khác, phải thường xuyên củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó thực hiện tốt vai trò, chc năng của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong việc phát huy các quyền công dân để phát triển đất nước. Thực hiện có hiệu quả các hình thức thực hành dân chủ: Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp ở cơ sở và tự quản trong các cộng đồng dân cư. Đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là nguồn lực chủ yếu, vừa là nhân tố quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta hiện nay. 

Xây dựng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

 


Đây là phương hướng phát triển văn hóa Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người, nâng cao mọi mặt đi sống của nhân dân. Văn hóa được phát triển cùng với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển.

Dựng nước gắn liền với giữ nước là quy luật lịch sử của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Trong thời kỳ phát triển mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Bảo đảm an ninh quốc gia ngày nay bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá, an ninh xã hội. Bảo vệ Tổ quốc ngày nay không phải chỉ bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn phải bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, nhân dân, bảo vệ kinh tế, văn hoá, sự nghiệp đổi mới… Thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nội dung mới của phương hướng này là bên cạnh quan điểm về chính sách đối ngoại phải tuân thủ các nguyên tắc độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Việt Nam luôn chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước. Bởi lẽ, Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu khách quan đang lôi cuốn nhiều nước tham gia. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại là phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động về đường lối chính sách và bước đi trong hội nhập, tham gia mạnh mẽ hơn, đầy đủ hơn vào quá trình toàn cầu hoá vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

NHẬN DIỆN CÁC BIỂU HIỆN DÂN TÚY Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Hiện nay, Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nưóc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, chủ nghĩa dân túy không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng một “chủ nghĩa” ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời đại bùng nổ thông tin, mở cửa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sng xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa; khi mà dân chủ được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trong khi nhận thức về dân chủ của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân còn hạn chế, thực hiện dân chủ hình thức hoặc lợi dụng dân chủ để chia rẽ nội bộ; việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả, giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu, nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng thì những biểu hiện dân túy vẫn có cơ sở để xuất hiện.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa


Đây là bước phát triển mới về lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình đổi mới. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng kinh tế thị trường được thể hiện qua 4 đặc trưng cơ bản sau:

Mục tiêu phát triển kinh tế là “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng…

 Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.

 Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục, y tế… giải quyết tốt các vấn đề xã hội, vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn, cùng các nguồn lực khác, thông qua phúc lợi xã hội.

             Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

VÌ SAO CHỦ NGHĨA DÂN TÚYCÓ XU HƯỚNG PHỤC HỔI VÀ PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN QUA

 


 Sự bất ổn của nền kinh tế thế giới, “siêu toàn cầu hóa” từ thập niên 90 của thế kỷ XX đã đưa đến nghịch lý: Công nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quổc gia phát triển sang các quốc gia chậm phát triển hay đang phát triển và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó, lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc công ty đa quốc gia, trong khi những người lao động tay nghề thấp ở các nước phương Tây mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên nhưng không có khả năng để tìm việc mới, gây tâm trạng bất bình, hệ quả sự suy thoái của tầng lớp lao động thấp ở các nước phương Tây khiến cho tệ nạn và mâu thuẫn xã hội nảy sinh. Họ có xu hướng đổ lỗi cho tầng lớp giàu có, cho giới tinh hoa chính trị, đặc biệt là cho toàn cầu hóa.

 Sự già hóa dân số, sự xung đột về văn hóa, đời sống bấp bênh của người lao động, nhất là của nhóm người yếu thế làm gia tăng sự bất mãn của người dân. Tình trạng già hóa dân số, thay đổi về lực lượng lao động ở các quốc gia phát triển dẫn đến phản ứng văn hóa cũng là nguyên nhân lý giải cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy. Việc ủng hộ chủ nghĩa dân túy là phản ứng của một bộ phận người dân đang cảm thấy vị thế của họ bị đe dọa; sự chia rẽ theo bản sắc, xoay quanh vấn đề nguồn gốc quốc gia, dân tộc hoặc tôn giáo... (nhóm văn hóa); và sự chia rẽ theo kinh tế, giai cấp xã hội (nhóm kinh tế). Sự phản đối giới tinh hoa có thể được tạo nên bởi cả nguyên nhân về kinh tế, văn hóa hoặc kết hợp cả hai nguyên nhân này. Điều hấp dẫn, lôi cuốn của các nhà dân túy là họ giúp những người bị gạt ra bên lề xã hội, những nhóm yếu thế được nói lên tiếng nói của mình.

Cách mạng khoa học công nghệ, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tự động hóa đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến quan hệ giữa con người với nhau; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả, tin sai lệch tràn lan, làm cho ngưòi dân hiểu không rõ vấn đề, hoang mang và dễ bị các luồng thông tin chi phối, dẫn dắt.

Chính sách xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho an sinh xã hội đối với người già, tàn tật, thất nghiệp, hưu trí tăng lên làm gia tăng đáng kể số nợ của chính phủ, những khoản nợ này lại đè nặng lên đời sống vốn đã khó khăn của không ít người dân và của xã hội, gây ra tâm lý bất mãn với hệ thống chính trị hiện thới.

Sự quan liêu, xa rời nhân dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã hội.

Toàn cầu hóa đã tạo ra các dòng di cư vào các nước phát triển, trở thành thách thức đốỉ với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm lý giữa người di cư với người bản địa, gây ra những khó khăn trong giải quyết việc làm, giữ gìn văn hóa truyền thống bản địa, gây sức ép với hệ thống an sinh xã hội, thậm chí còn là vấn đề mất an ninh, trật tự xã hội.

Như vậy, tình hình chính trị biến đổi sâu sắc, tình trạng bất bình đẳng gia tăng, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội chưa được giải quyết tốt, lợi ích chính đáng, hợp pháp của số đông người lao động chưa được quan tâm giải quyết hiệu quả... là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy ỏ các nước Âu, Mỹ hiện nay. Khi một bộ phận người dân bất mãn trong một thời gian dài, vượt quá giới hạn chịu đựng của họ mà không có những giải pháp chính trị, kinh tế, xã hội thích hợp, thì đó chính là mảnh đất màu mõ cho xu hướng dân túy bùng lên, đe dọa chủ nghĩa tự do, dân chủ truyền thông ỏ các nước phương Tây.

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường

 


Từ một nền sản xuất nhỏ nông nghiệp lạc hậu, tất yếu phải tiến hành công nghiệp hoá. Trong thời đại bùng nổ cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hoá phải kết hợp ngay từ đầu với hiện đại hoá, đồng thời phải bảo vệ tài nguyên, môi trường. Như vậy mới đảm bảo cho việc phát triển nhanh, bền vững, môi trường sống tốt hơn. Trong giai đoạn 2016 đến 2020 Đảng ta còn nhấn mạnh thêm vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng. Kết hợp phát triển giữa chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu. Giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài, giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, v.v.. Chuyển nhanh mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, thúc đẩy nghiên cứu và phát triển; thực hiện phương thức quản trị mới, phát huy tiềm năng con người, để nâng cao giá trị gia tăng, tăng nhanh giá trị quốc gia. Cơ cấu lại nền kinh tế như cơ cấu lại đầu tư công, cơ cấu lại thị trường tài chính, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại kinh tế nông nghiệp..Đại hội XIII, xác định: Phấn đấu đến năm 1945- nước phát triển, thu nhập cao.

Việt Nam quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.


        Với tinh thần tăng cường hội nhập quốc tế cả chiều rộng và chiều sâu, đặc trưng này thể hiện quan điểm về chính sách đối ngoại của Việt Nam trong điều kiện mới. Trong thế giới hiện đại, mỗi quốc gia là một bộ phận hợp thành cộng đồng quốc tế. Sự phát triển của Việt Nam được đẩy mạnh khi có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Quan hệ hữu nghị và hợp tác và phát triển tạo điều kiện cho các quốc gia hội nhập, tiếp thu những thành quả phát triển của mỗi bên, tích lũy kinh nghiệm và rút ngắn quá trình phát triển của mỗi nước. Đây chính là bản chất, là khát vọng thể hiện tính nhân văn cao cả có tính nhân loại của con người và bản chất cao đẹp nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, là một đặc trưng nổi bật của nội dung và mục tiêu xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là yếu tố, điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dần, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo


Đây là đặc trưng hoàn toàn mới được bổ sung so với các đặc trưng trong Cương lĩnh 1991. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước quản lý và điều hành đất nước và xã hội bằng pháp luật thể hiện quyền lợi và ý chí của nhân dân. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân với nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức và quản lý xã hội bằng hệ thống pháp luật đó và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản - đảng mang bản chất, lý tưởng, nội dung xã hội chủ nghĩa, là đảng thực hiện mục tiêu và lý tưởng xã hội chủ nghĩa. 

Một số đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa dân túy

 


Có thể nhận diện chủ nghĩa dân túy dựa vào ba đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, đây một trào lưu tư tưởng theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong ngắn hạn nhưng không bền vững về lâu dài; đó thường là những chính sách xã hội như trợ giá hàng hóa, trả tiền lương hưu hậu hĩnh hoặc miễn phí chăm sóc y tế…

Thứ hai, đây là một xu hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính chính danh của chế độ, tuy nhiên nhiều quan điểm của chủ nghĩa dân túy không coi “nhân dân” là toàn bộ dân số mà chỉ đứng trên quyền lợi và thể hiện tiếng nói của một bộ phận dân chúng.

Thứ ba, đây là một xu hướng chính trị sùng bái quyền lực cá nhân của nhà lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy có khuynh hướng phát triển chung quanh họ những biểu hiện tôn vinh, sùng bái cá nhân; tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế chính trị truyền thống như đảng phái, Quốc hội, Tòa án, báo chí. Họ cố gắng phát triển các mối quan hệ trực tiếp, không qua trung gian với “nhân dân” mà họ tự xưng là ngưòi đại diện, hướng những niềm hy vọng và nỗi sợ hãi của người dân vào một hành động tức thời. Chủ nghĩa dân túy kiểu này thường đi đôi với việc lên án toàn bộ giới lãnh đạo đang tồn tại - những người đại diện cho thiết chế chính trị truyền thống.

Ba đặc điểm nêu trên là cơ sở để phân biệt các phong trào khác nhau được dán nhãn “chủ nghĩa dân túy” trước đây và đang nổi lên hiện nay. Trước đây, các lãnh đạo theo chủ nghĩa dân túy ở Mỹ Latinh như Nestor và Cristina Kirchner (Áchentina)... cố gắng xây dựng sự sùng bái cá nhân chung quanh họ và nhấn mạnh vào các chương trình phúc lợi xã hội, được dân chúng ủng hộ, tuy nhiên những chính sách này không bền vững. Tương tự, cựu Thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra và em gái Yingluck đưa ra hàng loạt các chính sách hỗ trợ người dân nghèo nên đã nhận được sự ủng hộ của cử tri ở tỉnh lẻ và nông thôn. Tuy nhiên, những chính sách “dân túy” này đã làm cho mâu thuẫn giữa ngưòi nghèo và giới tinh hoa giàu có của hệ thống chính trị bảo thủ trở nên sâu sắc, quyết liệt, kéo dài.

Ở nước Anh, những người lãnh đạo phong trào Brexit (ủng hộ nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu) hoàn toàn không nhấn mạnh vào một chương trình kinh tế mở rộng nào, cũng không có một nhà lãnh đạo hiển nhiên nào nhưng họ kêu gọi hướng tới bản sắc dân tộc Anh truyền thống, khơi dậy nỗi lo sợ văn hóa và bản sắc dân tộc sẽ bị ảnh hưởng, tác động bỏi những người nhập cư, cũng như sự bất bình của người dân Anh về sự phân bổ các lợi ích kinh tế. Cuộc trưng cầu dân ý tháng 6-2016 đã gây sốc cho toàn thế giới khi người Anh chọn rời EU thay vì ở lại. Làn sóng này còn lan sang hàng loạt nước châu Âu như Italia, Đức, Pháp, Hà Lan,...

Ở nước Mỹ, Tổng thống Donald Trump trong thời kỳ tranh cử đã vận dụng cả ba đặc điểm nêu trên của chủ nghĩa dân túy. Ông Trump đưa ra hàng loạt chính sách phù hợp với đông đảo quần chúng như ngăn chặn ngưòi nhập cư; rút khỏi các hiệp định thương mại tự do để bảo vệ nền sản xuất trong nước; khuyến khích người da trắng; đề cao vai trò của cá nhân... Tóm lại, cử tri Mỹ lo sợ điều gì, ông Trump trấn an họ đúng điều đó, dù có thể chính ông cũng chưa biết thực hiện những điều đã hứa như thế nào.

Như vậy, trong hàng loạt các phong trào được coi là chủ nghĩa dân túy, chúng ta có thể khu biệt được ít nhất là hai tập hợp rộng, ở Mỹ Latinh và Nam Âu, các nhà dân túy có xu hướng đứng về cánh tả, được sự ủng hộ của ngưòi nghèo và theo đuổi các chương trình xã hội có mục tiêu phân phối lại lợi ích nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳngvề kinh tế. Tuy vậy, họ không nhấn mạnh vào vấn đề sắc tộc hoặc không chống nhập cư một cách quyết liệt. Nhóm này bao gồm phong trào Kircherismo ở Áchentina... cũng như các đảng chính trị Podemos của Tây Ban Nha và Syriza của Hy Lạp.

Ở Bắc Âu, các nhà dân túy theo lập trường thiên về cánh hữu, nhấn mạnh yếu tô sắc tộc và phản đốỉ người nhập cư. Họ muốn bảo vệ các nhà nước phúc lợi truyền thống nhưng không coi trọng việc mở rộng nhanh chóng các dịch vụ hoặc trợ cấp xã hội. Các nhóm trong tập hợp này bao gồm phong trào ủng hộ Brexit, Mặt trận Quốc gia ỏ Pháp, Đảng Tự do ở Hà Lan, Đảng Nhân dân của Đan Mạch.