Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

KHOAN THƯ SỨC DÂN – QUỐC SÁCH DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT

    Muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.
    Theo sử cũ và truyền thuyết, vua Tổ Hùng Vương thứ nhất dựng nước và các vua Hùng nối đời kế nghiệp đã sớm biết chăm dân, dưỡng dân, dạy dân, kéo dài sự hưng thịnh của triều đại mình. Ngay khi lập Quốc đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ), các vua Hùng đã biết chia nước ra làm các bộ để chăm lo đời sống của dân. Chính vì biết lưu tâm dưỡng sức dân, Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương là một Nhà nước sớm có các thiết chế, tổ chức xã hội hoàn thiện, đất nước có quy củ, người dân yên hưởng thái bình. Vì thế mà kẻ thù ngoại bang không thể làm gì được trong suốt một thời gian dài. Về thời đại Hùng Vương, thiết nghĩ, trong thời gian tới, những người làm sử Việt Nam nhất định phải lưu tâm và làm rõ một cách khoa học những thành tựu đạt được của thời đại này. Việc chăm dân, giữ dân để dân hết lòng tín phục là một trong những thành công đặc biệt của thời đại Hùng Vương. Chính vì điều này, nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn đời đời nhớ về công đức của tổ tiên. Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, toàn dân hướng về ngày Quốc lễ – Giỗ Tổ – cúng tế hết sức trọng thể. Từ già đến trẻ luôn thuộc lòng và nhắc nhủ nhau:
                                    Dù ai đi ngược về xuôi
                        Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba
    Không phải ngẫu nhiên mà 18 đời vua Hùng được truyền nối. Trong nhiều lý do, chắc chắn có một lý do là lòng dân đã tạo ra thế vững chắc cho thời đại các vua Hùng.
Tiếp đến thời Thục An Dương Vương mà tiêu biểu là Thục Phán lập nước Âu Lạc đã mạnh dạn dời kinh đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ thuộc bộ Vũ Ninh để định đô (nay thuộc Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) đây cũng là kinh đô đầu tiên của người Việt tại đồng bằng, kề sát trung tâm Hà Nội ngày nay. Chúng tôi cho rằng, việc định đô ở Cổ Loa cũng là dựa vào tâm nguyện và ý chí của nhân dân. Chính vì biết dưỡng sức dân, mở đất, chăm dân nên việc định đô ở địa hình bằng phẳng rộng lớn, dựa vào các địa thế sông hồ cũng là biểu hiện trí tuệ của nhân dân là vô hạn mà những người đứng đầu Nhà nước Âu Lạc đã biết cách sử dụng. Thành Cổ Loa trải hơn hai nghìn năm lịch sử hiện vẫn đang là một di chỉ văn hóa lịch sử quan trọng, chứng minh bàn tay lao động tài tình của nhân dân Nhà nước Âu Lạc.
    Thời Trưng Nữ Vương kéo không dài đã được các nhà nghiên cứu lịch sử phân tích khá thấu đáo nhưng theo chúng tôi, sở dĩ việc lập nước và giữ nước không được lâu bền phần lớn do kẻ thù quá tàn bạo đã gần như giết sạch người dân mà chúng bắt được hoặc những người đứng đầu các bộ lạc bấy giờ chưa cố kết được các tầng lớn nhân dân để giành lại nước.
    Trong suốt chiều dài của lịch sử của dân tộc, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn bội phần, tồ tiên ta không chỉ dựa vào sức mạnh của Nhà nước, của quân đội mà còn phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Để động viên được đông đảo nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện “toàn dân vi binh”, “cử quốc nghênh địch”, bí quyết thành công trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua nhiều triều đại là “dựa vào dân” và chính sách “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.
    Trong lịch sử dân tộc, rất nhiều triều đại nhờ khoan thư sức dân, chăm lo cho dân mà hưng thịnh và phát triển rực rỡ. Sử sách còn chép lại:
Năm 1010, khánh thành cung Thúy Hoa, vua Lý Thái Tổ đại xá cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều miễn cả.
Năm 1070, đời Lý Thánh Tông, đại hạn, phát thóc và tiền, lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1103, thời Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan phát tiền ở kho nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán mình đi ở đợ, đem gả cho người góa vợ.
Năm 1200, đời Lý Cao Tông, gặp đói to, phát thóc chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1242, Trần Thái Tông miễn thuế thân đánh cho người không có ruộng đất, hạn hán, miễn một nửa tô ruộng.
Năm 1288, Trần Nhân Tông, sau thắng Nguyên lần thứ ba, đại xá thiên hạ, những nơi bị binh hỏa cướp phá nhiều, thì miễn toàn phần tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau.
Năm 1290, đời Trần Anh Tông, gặp đói to, nhiều người bán ruộng, đất, con trai, con gái làm nô tỳ, xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo, miễn thuế nhân đinh.
Năm 1303, Thượng hoàng Nhân Tông mở hội Vô lượng phép (một hình thức sinh hoạt của Phật giáo) bố thí vàng bạc tiền, lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước.
Năm 1343 đời Trần Dụ Tông, hạn hán, xuống chiếu giảm một nửa thuế nhân đinh.
Năm 1354 đời Trần Dụ Tông, sâu cắn lúa, giảm một nửa tô ruộng.
Năm 1358, đời Trần Dụ Tông, hạn hán, sâu cắn lúa, xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các bộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo.
Năm 1362, đời Trần Dụ Tông, đói to, xuống chiếu cho nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, bàn tính theo thứ bậc khác nhau.
Năm 1375, đời Trần Duệ Tông, xuống chiếu cho những người giàu ở các lộ đem dâng thóc, được ban tước theo thứ bậc khác nhau…
    Trong triều đại phong kiến, đối với nhà vua “ý trời lòng dân” trở thành lý do định vị. Tuy nhiên một khi đã lên ngôi thì quyền lực của nhà vua là toàn năng và tối thượng, vua lại được coi là “Thiên tử” (con trời) “thế thiên hành đạo” (thay trời cai trị) và là cha mẹ của muôn dân. Vua Lý Thái Tông thì yêu dân như con còn vua Lý Thánh Tông đã từng nói: “Ta yêu con ta như lòng ta làm cha mẹ dân”. Vua Trần Anh Tông có lần khẳng định: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu thấy dân lầm than thì phải cứu giúp ngay, há nên so đo khó dễ lợi hại”. Trong “Lộ bố văn”, Lý Thường Kiệt khẳng định: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Như vậy, với quan niệm lúc đó, vua tuy là tối thượng nhưng lại có quan hệ và trách nhiệm của mình đối với dân chúng. Có khi nhà vua coi đó là một tiêu chuẩn chính trị để tự răn mình.
    Thời Lý có thể được coi là một thời đại cực thịnh của Đại Việt, thời kỳ Nho, Phật, Lão đồng nguyên, trong đó đạo Phật là Quốc giáo. Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã hạ chiếu miễn giảm sưu thuế trong nhiều năm. Trong gần 18 năm ông cầm quyền đã 3 lần miễn, giảm sưu thuế cho nhân dân. Đây có lẽ là một trong những vị vua hiền sáng nhất dân tộc Việt. Ông cũng là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Chiếu dời đô có đoạn viết: “…Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.”… đủ thấy tấm lòng của những ông vua hiền sáng bao giờ cũng hướng đến nhân dân vậy.
    Chính vì luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân nên Quốc gia Đại Việt thời Lý luôn có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, có võ công, có văn hiến, kinh tế, đặc biệt là các nghề nông ta phát triển rực rỡ. Lý Công Uẩn vừa khai sinh triều Lý, vừa đưa thế nước vươn cao khiến các nước lân bang phải nể trọng.
Bước sang vương triều Trần, một vương triều có võ công hiển hách của dân tộc Việt: Đến nay nước sông tuy chảy hoài/ Mà nhục quân thù khôn rửa nổi (Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu), mà để có được những võ công ấy thì việc dưỡng sức dân, đồng cam cộng khổ với nhân dân luôn là kế sách hàng đầu. Người đứng đầu cho tư tưởng này chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Chính ông có câu nói nổi tiếng cũng là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời ông, triều đại nhà Trần mà các triều đại ở những giai đoạn tiến bộ sau đó đều tiếp thu trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
Đến nay, sau hơn 700 năm đại thắng Nguyên – Mông, các nhà nghiên cứu quân sự, sử gia, chính trị gia, các danh tướng mọi thời đại trong và ngoài nước vẫn không ngừng tìm hiểu và tôn vinh thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn. Cách dùng binh độc đáo, nghệ thuật quân sự kỳ tài, tấm gương đạo đức của ông mãi mãi là tài sản vô giá không riêng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu diễn biến và cục diện chiến tranh trong toàn bộ cuộc đời Hưng Đạo Vương thấy rõ một điều ông không chỉ chủ động trên chiến trường đang diễn ra mà luôn dành toàn bộ tài năng, tâm huyết, chuẩn bị mọi mặt từ trước đó và cả sau khi chiến tranh đã kết thúc.
Tài năng kiệt xuất của Hưng Đạo vương chính là việc nhận thức rõ nhân dân mới là nguồn sức mạnh giữ nước, nguồn sức mạnh vô địch, nguồn sức mạnh mà không một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục. Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng như trong thời chiến. Chủ trương sâu sắc của ông mà đỉnh cao là tư tưởng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”.
Cũng chính Hưng Đạo Vương, sau các chiến thắng lừng lẫy đã xác định, đại ý: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục nên quân địch đã phải bị bắt”. Yếu tố đoàn kết từ thượng tầng triều đình đến hạ tầng dân chúng, đoàn kết quân dân, đoàn kết toàn quân, xây dựng đội quân “phụ tử chi binh” chính là khơi dậy mạch nguồn sức mạnh từng bước tiến tới toàn thắng. Đó là nguồn sức mạnh vô địch mà nhân dân Đại Việt không những đứng vững mà còn chiến thắng đế quốc Nguyên – Mông.
    Hưng Đạo Vương không những là vị thống soái quân sự cao nhất mà còn là một nhà lý luận, nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Điển hình của lý luận quân sự của ông thể hiện cao nhất ở Hịch tướng sĩ và sau này là bản Di chúc lịch sử thể hiện tinh hoa khí phách dân tộc Đại Việt trong việc đánh giặc giữ nước. Tư tưởng khoan thư sức dân, dựa vào dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, toàn quân và triều đình để làm kế sách giữ nước của ông là tư tưởng vượt qua mọi thời gian, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đầy sức sống, luôn có mặt trong mọi thời đại mà hậu thế đã tôn vinh.
    Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.
   ST




Truyền thông chính sách cần được giám sát

 

Do sự cạnh tranh giữa các cơ quan truyền thông nhằm thu hút lượng người xem, nên truyền thông chính sách có xu hướng vượt qua giới hạn của nó. Một số chương trình, bài viết thảo luận chính sách...được phát sóng vội vàng, thiếu sự kiểm soát dẫn đến phản ánh sai lệch chính sách, gây bức xúc dư luận. Do đó, cần xây dựng quy tắc ứng xử, các quy định chặt chẽ để chính phủ, doanh nghiệp và người dân giám sát hoạt động của truyền thông tốt hơn, công bằng hơn.

Chính sách luôn luôn thay đổi để phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội thực tiễn. Mỗi lần thay đổi chính sách luôn là điều khó khăn vì liên quan đến các bên. Để làm chính sách, chính phủ thường đưa các bên liên quan trở thành chủ đạo trong quy trình chính sách và ra quyết định chính sách. Do đó, trong xã hội dân chủ, quy trình chính sách là một mô hình quản trị “toàn diện” thay vì “độc quyền”. Trong khi đó, truyền thông chính sách không chính thống có thể định hướng dư luận theo hướng có lợi cho họ, gây ra sự hiểu lầm đối với công chúng, dẫn đến việc họ không thể hiểu được các vấn đề phức tạp của quản trị chính sách.

Trong bài nghiên cứu của mình, Meyer chỉ rõ truyền thông quá đà, làm sai lệch bản chất của chính sách sẽ làm cho chính phủ và các bên liên quan phải đối mặt với những lo ngại về các chính sách sẽ có trong tương lai. Vì vậy, giám sát truyền thông không chỉ là công việc của chính phủ mà còn là trách nhiệm của các công dân nhằm hạn chế đến mức thấp nhất sự sai lệch của truyền thông.

 


 

Truyền thông chính sách góp phần nâng cao tính dân chủ trong hoạt động của chính phủ

 

Truyền thông chính sách nâng cao tính dân chủ trong hoạt động của chính phủ bởi nó do chính phủ khởi xướng. Điều này làm cho các cử tri liên tục được thông báo về các thông tin liên quan đến chủ đề họ đang quan tâm, làm cơ sở để tham vấn và đánh giá chính sách. Chính phủ cũng sẽ dễ dàng có được sự hiểu biết thực tế về các phản ứng có thể có của người dân thông qua các ý định chính sách truyền đạt công khai qua truyền thông chính sách. Có thể nói, truyền thông chính sách giúp rút ngắn khoảng cách giữa chính phủ với người dân. Nhà nghiên cứu Meyer cho rằng, truyền thông chính sách có vai trò vượt ra khỏi phạm vi chính sách, là cơ quan trung gian của nền dân chủ có chủ ý, tức là các nhóm xã hội và các tổ chức chính trị qua truyền thông để bày tỏ thái độ dân chủ. Truyền thông chính sách góp phần làm cho công chúng trở nên quan tâm hơn đến chính trị và chính sách; làm cho quá trình chính sách rõ ràng, kích thích sự tham gia của người dân vào các quá trình hoạch định chính sách. Một trong những vai trò cơ bản của truyền thông chính sách là xem xét kỹ lưỡng các vấn đề chính phủ đang, sẽ và đã từng làm để bảo đảm rằng chính phủ có thể chịu trách nhiệm trước công chúng. Thực tế cho thấy ở nơi nào loại bỏ quy định về chức năng cơ bản của truyền thông chính sách sẽ làm giảm khả năng của công dân tham gia một cách có ý nghĩa vào quá trình hoạch định chính sách của chính phủ, giảm các sáng kiến của công chúng qua các phương tiện truyền thông.

Truyền thông chính sách góp phần quảng bá hình ảnh của chính phủ

 


Người dân thường nghĩ rằng các tổ chức khu vực công quan liêu, chậm chạp, kém hiệu quả và tham nhũng. Truyền thông chính sách đã cải thiện hình ảnh khu vực công bằng cách giúp người dân hiểu biết hơn về chính sách của chính phủ, đồng thời giúp chính phủ hiểu được những kỳ vọng thay đổi của người dân.

Quan điểm truyền thống xem truyền thông chính sách là công cụ được chính phủ sử dụng để truyền thông tin một chiều, trong một số tình huống cụ thể cho phép quá trình ra quyết định nhanh hơn. Horsley cho rằng, truyền thông chính sách chỉ ra một loạt các tình huống mà chính phủ đang đối mặt và cách thức giải quyết của chính phủ. Truyền thông chính sách góp phần làm cho hoạt động của chính phủ ngày càng minh bạch bởi qua truyền thông người dân sẽ gây áp lực buộc chính phủ phải có những cải cách làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong khu vực công, “phá tan” vị trí độc quyền của khu vực công trong nền kinh tế của đất nước, tạo ra nhu cầu tiếp cận chiến lược đối với các hoạt động công cộng.

Truyền thông chính sách đã trở nên ngày càng quan trọng nhưng tinh tế hơn trong những thập kỷ qua. Giải thích cho những thay đổi này có thể thấy ở sự phát triển trong chính trị, hành chính công, xã hội và phương tiện truyền thông. Truyền thông chính sách đang buộc các trung tâm quyền lực truyền thống phải thay đổi trong bối cảnh có nhiều tác nhân và cấp độ tương tác khác nhau. Các nghiên cứu cho rằng, truyền thông chính sách có thể làm giảm hoặc tránh những hậu quả không lường trước, chẳng hạn như bất ngờ, hiểu lầm, kháng cự, thất vọng hoặc đầu cơ giữa người dân và tổ chức. Mức độ ủng hộ và phản kháng của công chúng cũng như tầm quan trọng của các phản biện của người dân trở nên rõ ràng, từ đó tạo ra cơ hội để điều chỉnh hay củng cố lập luận cho quá trình hoạch định chính sách.

 

Truyền thông chính sách với việc đánh giá và giám sát thực hiện chính sách

 


Truyền thông chính sách thực hiện các đánh giá quan trọng của chính sách theo cách phân luồng như vai trò của một cơ quan giám sát quốc gia theo nhiều chiều khác nhau. Nếu chính phủ áp dụng chính sách không mang lại lợi ích chung đối với người dân, truyền thông có thể chỉ trích chính sách này nghiêm trọng đến mức khơi dậy sự phản đối của người dân đối với chính phủ để thay thế chính sách. Vai trò của truyền thông như một cơ quan giám sát mà chính phủ đôi khi phải tự rút lui khỏi các vấn đề mà truyền thông đã phản ánh. Nhà nghiên cứu Grunig cho rằng, truyền thông chính sách làm cơ sở trung gian đối thoại giữa chính phủ và các bên liên quan dựa trên sự đồng thuận. Thông qua các hình thức như mở chuyên mục, phỏng vấn, hội thảo và diễn đàn công cộng... truyền thông truyền đạt nguyện vọng của người dân cho các nhà hoạch định chính sách hàng đầu.

ĐẢNG, MÙA XUÂN VÀ VẬN NƯỚC

     Với người dân Việt Nam, mùa xuân luôn thiêng liêng và ấm áp. Mùa xuân gắn với Tết Nguyên đán - Tết cổ truyền của dân tộc, mở đầu năm mới âm lịch. Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi, nảy lộc, nở hoa và là mùa của niềm tin, hy vọng.
    Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có rất nhiều sự kiện trọng đại xảy ra vào mùa xuân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào mùa xuân (ngày 3-2-1930) đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường xây dựng và phát triển của dân tộc ta. Từ mùa xuân năm ấy, vận nước đã thay đổi. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, dân tộc Việt Nam tiếp tục tạo lập thêm nhiều mùa xuân huy hoàng, khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.
    Có lẽ hiếm có dân tộc nào trên thế giới khi nói đến Đảng cầm quyền, người dân lại dùng hai chữ “Đảng ta”. Hai chữ đó thật thiêng liêng, tự hào, gắn sâu trong tâm thức của các thế hệ người Việt 93 năm qua. 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phấn đấu không ngừng, luôn xứng đáng là “người đày tớ, người lãnh đạo thật trung thành của nhân dân”, “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã từng ghi nhận.
    Sau mùa xuân thành lập Đảng, đến mùa xuân năm 1931 là sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương vào ngày 26-3-1931, tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay. Đây là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
    Mùa xuân năm 1941, Bác Hồ kính yêu trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước. Giữa một vùng núi non trùng điệp với muôn hoa đua sắc và lòng người rưng rưng, lắng đọng trong giờ phút Bác Hồ đặt bước chân đầu tiên lên đất mẹ tại cột mốc 108 (Pác Bó - Cao Bằng) trong sắc hoa Xuân rực rỡ sau bao năm xa Tổ quốc đã trở thành cảm hứng vô tận cho sự ra đời bài thơ “Mùa Xuân năm 1941” của nhà thơ Tố Hữu: Ôi sáng Xuân nay, Xuân bốn mốt/Trắng rừng biên giới nở hoa mơ/Bác về... im lặng. Con chim hót/Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ...”.
    Điện Biên Phủ - chiến dịch quyết chiến chiến lược của quân đội nhân dân Việt Nam, là đòn tiến công tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp được tổ chức vào mùa xuân năm 1954 (chiến dịch kéo dài từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954).
Trận Ấp Bắc là trận chống càn điển hình của quân và dân miền Nam Việt Nam đánh bại lực lượng càn quét của ngụy quân Sài Gòn được cố vấn Mỹ chỉ huy, báo hiệu sự phá sản của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ diễn ra vào mùa xuân năm 1963 (2-1-1963). 5 năm sau, vào dịp Tết Mậu Thân (năm 1968), quân dân miền Nam nhất tề tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã và nhiều vùng nông thôn rộng lớn, tiến công hàng loạt căn cứ quân sự, đánh trúng các sào huyệt, cơ quan đầu não quan trọng của quân Mỹ và quân Ngụy, là đòn quyết định giáng vào chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ.
    Mùa xuân năm 1973, sau nhiều thất bại thảm hại, Chính phủ Mỹ buộc phải tuyên bố chấm dứt mọi hành động ném bom, bắn phá miền Bắc Việt Nam. Ngày 27-1-1973, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pari lập lại hòa bình tại Việt Nam.
    Mùa xuân năm 1975, cả dân tộc Việt Nam bừng bừng khí thế cho cuộc tổng tiến công chiến lược. Mở đầu là chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24-3-1975). Kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (26-4 đến 30-4-1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
    Có một sự trùng hợp khá lý thú của lịch sử, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng ta thường được tổ chức vào mùa xuân. Sau mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta lại đem đến cho đất nước những mùa xuân ấm áp, sinh chồi nảy lộc. Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 1935 tại Ma Cao, Trung Quốc. Gần đây nhất là Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng diễn ra vào mùa xuân năm 2021.
    Trong các sự kiện về Đảng ta, mùa xuân và vận nước của Việt Nam không thể không nhắc đến các sự kiện diễn ra trên mảnh đất cách mạng Tuyên Quang. Từ khi có Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang một lòng một dạ sắt son theo Đảng, xây dựng phong trào, phát triển, củng cố cơ sở cách mạng vững chắc; tiến hành thắng lợi cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, cấp châu đầu tiên trong cả nước. Khi tình hình thế giới biến động mau lẹ, có lợi cho cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã chỉ thị phải chọn ngay một địa bàn để làm căn cứ lãnh đạo cách mạng cả nước. Tân Trào, Tuyên Quang, mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, có dân tốt, cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và nước ngoài, đã được chọn làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước.
    Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng được tổ chức tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang vào mùa xuân năm 1951 (từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951). Đây là một trong những sự kiện lịch sử trọng đại, đánh dấu bước trưởng thành mới về tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng. Đảng từ bí mật trở lại hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển cách mạng.
    Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, vào mùa xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở lại Tuyên Quang để lãnh đạo toàn dân kháng chiến kiến quốc. Ngày 2-4-1947, Người về đến làng Sảo, xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang. Một lần nữa, Thủ đô Khu Giải phóng năm xưa đã trở thành Thủ đô Kháng chiến, là nơi ở, làm việc của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương.
    Sau 7 năm Bác Hồ rời Tuyên Quang về Hà Nội, vào mùa xuân năm 1961 (trong 2 ngày 19 và 20-3-1961), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang vô cùng xúc động được đón Người về thăm. Bác đã đến thăm xóm Hợp Hòa 2, xã Lưỡng Vượng (thị xã Tuyên Quang), Trung đoàn 246, Nông trường Sông Lô, Trường Thiếu nhi vùng cao, Trường Sư phạm cấp I Bình Thuận, Trường Bổ túc văn hóa tỉnh, Trường Đảng tỉnh Tuyên Quang. Người đến dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ III; nói chuyện với nhân dân Tuyên Quang tại sân vận động thị xã; thăm và nói chuyện với nhân dân Tân Trào (Sơn Dương)…
Thực hiện lời căn dặn của Bác khi Người về thăm Tuyên Quang, Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết thống nhất, phấn đấu không ngừng và đạt nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt trong năm 2022 vừa qua với sự tăng trưởng kinh tế cao, diện mạo từ đô thị tới nông thôn được đổi thay khởi sắc, đời sống nhân dân được cải thiện.
Mùa xuân năm 2023 này là mùa xuân thứ 93 kể từ ngày Đảng ta ra đời và là mùa xuân thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
    Năm 2022 vừa khép lại với những thành tựu toàn diện của Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng, đặc biệt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, kinh tế đạt tăng trưởng ở mức cao nhất trong nhiều năm qua, vượt qua mọi dự báo lạc quan nhất, tạo đà cho hầu hết các lĩnh vực khác bứt phá… Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những thành công lớn, tạo bước chuyển mạnh mẽ. Không còn vùng cấm, không có ngoại lệ. Liên tục các cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ cấp cao bị “đưa ra ánh sáng”, bị xử lý đúng người, đúng tội thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước, được nhân dân đồng tình, ủng hộ cao. Qua đó, thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm” trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.
    Dẫu vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, song kết quả của những nỗ lực trong năm vừa qua là tiền đề rất quan trọng cho vận nước vào năm 2023 này.
   ST


Truyền thông chính sách giúp cho chính sách ngày càng được hoàn thiện hơn

 


Theo các nhà nghiên cứu, truyền thông có chức năng tạo dư luận xã hội để gây sức ép đối với chính quyền trong hoạch định chính sách, cho phép các nhà hoạch định chính sách khai thác sự chú ý của truyền thông như là cơ hội chính sách. Nếu như trước đây, chính phủ có thể che giấu thông tin đối với người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội thì ngày nay, sự phát triển của công nghệ thông tin, truyền thông đã làm cho các quy trình xây dựng chính sách được minh bạch nhờ tính chất theo dõi, giám sát và phản ứng của truyền thông. Sự phát triển của các loại hình báo chí cùng với các nghiệp vụ phản ánh tinh vi đã làm cho sức mạnh của hệ thống truyền thông chính sách như là một trụ cột thứ tư của nhà nước.

Vai trò của truyền thông chính sách không chỉ giới hạn để cung cấp thông tin mà còn có chức năng giáo dục mọi người về các vấn đề chính sách quan trọng, liên quan đến cuộc sống của người dân. Truyền thông tiến hành các phê bình, phân tích và đánh giá chuyên sâu bằng cách thảo luận về ưu và nhược điểm một chính sách nào đó của chính phủ hoặc bất kỳ vấn đề nào một cách vô tư và công bằng. Trong quá trình phục vụ công chúng, truyền thông chính sách có thể thông báo những gì tốt hay có hại cho nhà nước, người dân, doanh nghiệp để có những phản đối hoặc hỗ trợ. Đó là cách truyền thông chính sách thực hiện vai trò của một người đưa ra ý kiến. Kết quả của cách tiếp cận như vậy là làm cho chính phủ có cơ sở thận trọng, tỉ mỉ trong việc xây dựng chính sách.

Truyền thông chính sách đối với hoạt động của chính phủ

 


Truyền thông chính sách là một phần trong hoạt động của chính phủ nhằm đưa thông tin về chính sách đến người dân, thuyết phục họ thay đổi nhận thức và hành vi đúng pháp luật, là kênh để chính phủ lấy ý kiến nhân dân khi xây dựng chính sách mới, điều chỉnh chính sách hiện tại, tạo ra sự đồng thuận xã hội. Nhận thức rõ vai trò của truyền thông chính sách sẽ giúp chính phủ và các nhà truyền thông có chiến lược phù hợp, xây dựng sự đồng thuận xã hội.

Truyền thông chính sách được hiểu là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin bằng một hệ thống ký hiệu, quy ước nhằm tạo sự liên kết để thay đổi nhận thức và hành vi về chính sách. Mục tiêu cốt lõi của truyền thông chính sách là thu hút người dân và những bên liên quan tham gia vào các chu trình chính sách. Truyền thông chính sách là kênh bày tỏ sáng kiến chính sách cũng như chính nó cũng áp dụng cho các công cụ quản lý truyền thông. Trong lịch sử, truyền thông chính sách chủ yếu được sử dụng để đạt được các mục tiêu chính trị. Trước khi nền dân chủ xuất hiện, truyền thông chính sách chỉ có ý nghĩa tuyên truyền các vấn đề quân sự, đối ngoại và chỉ có chức năng thúc đẩy các công dân ngoan ngoãn. Với sự ra đời của nền dân chủ, truyền thông chính sách thực hiện chức năng thông báo và gây ảnh hưởng nhằm bảo đảm công dân biết quyền, trách nhiệm của mình đối với nhà nước, xã hội. Nhiệm vụ chính của truyền thông chính sách lúc này là định hướng và nâng cao nhận thức của công chúng và thông tin tuyên truyền về mọi hoạt động điều hành xã hội của nhà nước phù hợp với lợi ích người dân. Truyền thông chính sách là một phần hành động của chính phủ để thực hiện một chính sách cụ thể; giúp các cơ quan nhà nước đưa thông tin đến người dân để thuyết phục họ thay đổi nhận thức và hành động đúng pháp luật, cùng tham gia đóng góp ý kiến để xây dựng chính sách.

Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới, vai trò của truyền thông chính sách đối với chính phủ cũng như hạn chế mà nó có thể mang lại được nhìn nhận trên một số khía cạnh: Truyền thông chính sách hỗ trợ chính phủ xây dựng thành công chính sách và giúp cho chính sách ngày càng được hoàn thiện hơn; truyền thông chính sách làm trung gian thực hiện các đánh giá chính sách và giám sát thực hiện chính sách theo nhiều chiều cạnh khác nhau; truyền thông chính sách góp phần quảng bá hình ảnh của chính phủ; truyền thông chính sách góp phần nâng cao tính dân chủ trong hoạt động của chính phủ… Thực tế cho thấy ở nơi nào loại bỏ quy định về chức năng cơ bản của truyền thông chính sách sẽ làm giảm khả năng của công dân tham gia một cách có ý nghĩa vào quá trình hoạch định chính sách của chính phủ, giảm các sáng kiến của công chúng qua các phương tiện truyền thông. Bên cạnh những mặt tích cực, truyền thông chính sách cũng có một số hạn chế như, truyền thông chính sách có xu hướng vượt qua giới hạn của nó; truyền thông chính sách dễ bị thao túng bởi các thế lực chính trị đối lập; truyền thông chính sách dễ trở thành công cụ thúc đẩy sự hợp pháp hóa các hoạt động phi pháp…

Theo đó, để phát huy vai trò tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, truyền thông chính sách phải lấy công chúng làm trung tâm trong thúc đẩy sự hiểu biết của công chúng về các vấn đề chính sách, nâng cao năng lực tiếp nhận chính sách của công chúng cũng như thúc đẩy các sáng kiến và giải pháp./.

TẾT TRỒNG CÂY CHẲNG NHỮNG CÓ Ý NGHĨA KINH TẾ MÀ CÒN CÓ Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ TO LỚN

    Đó là lời trong Bài "Tết trồng cây" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Nhân dân, số 3228, ngày 27-1-1963; vào thời điểm đó, các địa phương trên cả nước đang sôi nổi chuẩn bị Tết trồng cây, với khí thế tinh thần và trách nhiệm rất cao, quyết tâm nhận trách nhiệm, đi đầu trong phong trào Tết trồng cây.

    Hồ Chủ tịch đã nêu rõ tác dụng của việc trồng cây "tốn kém ít mà ích lợi nhiều"; ghi nhận, biểu dương công tác chuẩn bị Tết trồng cây của các địa phương trong ngày đầu năm mới đã có nhiều tiến bộ so với những năm trước; đồng thời nhắc nhở, chỉ rõ cho cấp ủy, chính quyền, các cấp, các ngành: Phải có kế hoạch thật chu đáo; cần động viên lực lượng quần chúng rộng rãi tham gia trồng cây ở tất cả các nông trường, xí nghiệp, cơ quan, bộ đội, trường học...; cần làm cho mọi người, nhất là làm cho các em nhi đồng biết bảo vệ tốt cây xanh; quan tâm chăm sóc, sửa sang làm cho cây ngày càng tươi đẹp hơn; tăng cường kiểm tra đánh giá cụ thể; thường xuyên phát huy tốt vai trò của các chi bộ và chi đoàn thanh niên trong lãnh đạo, chỉ đạo, để Tết trồng cây chẳng những có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn đối với nước nhà.
    Thực hiện lời dạy của Người, để Tết trồng cây đi vào chiều sâu và có ý nghĩa thiết thực, các địa phương, các cấp, các ngành đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân hiểu sâu sắc mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây, vận động cán bộ, nhân dân, bộ đội, thanh niên, học sinh hăng hái tham gia trồng cây, gây rừng, nhất là ở những nơi đất trống, nơi công sở, trường học, doanh trại đơn vị quân đội, tạo thành phong trào tự giác, sôi nổi, rộng khắp trong cả nước; trở thành truyền thống, nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ tài nguyên rừng.
    Trong giai đoạn hiện nay, lời căn dặn về "Tết trồng cây" của Bác Hồ càng trở nên có ý nghĩa sâu sắc trong bối cảnh đất nước ta đang là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhất của biến đổi khí hậu; hơn nữa hiện nay vẫn còn một số nơi chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, hiệu quả của "Tết trồng cây", đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức tốt hơn nữa "Tết trồng cây", theo đúng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để càng làm sáng ngời nét đẹp văn hóa truyền thống Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
    Thấm nhuần tinh thần "Tết trồng cây" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị quân đội luôn là lực lượng xung kích, đi đầu thực hiện có hiệu quả "Tết trồng cây", tham gia quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ; thực hiện trồng cây phủ xanh đồi trọc; đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa tốt, lành mạnh, phong phú, gắn với Phong trào xây dựng doanh trại quân đội xanh - sạch - đẹp và các phong trào, cuộc vận động khác, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, phấn đấu xứng danh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.
ST




XÂY DỰNG PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác cán bộ, coi đó là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng. Người thường xuyên căn dặn cán bộ phải rèn luyện phương pháp, tác phong công tác, trong đó phong cách làm việc dân chủ được Người đặc biệt coi trọng. Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp tục vận dụng sáng tạo, hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ rất cần thiết, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.
    Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng dân chủ, coi thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Người khẳng định, bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Trong Đảng, Người căn dặn: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ”; “Để lãnh đạo tốt, các cấp ủy phải thật đoàn kết, thật dân chủ, phải thực hành chế độ “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” và phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ”(2). Đối với Nhà nước, Người cho rằng: “Nhà nước ta phát huy dân chủ đến cao độ, đó là do tính chất Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân. Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên”.
Người luôn coi trọng cán bộ, khẳng định “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”. Phong cách, tác phong công tác của cán bộ rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả công việc. Bởi vậy Người luôn căn dặn cán bộ “Tác phong phải dân chủ, dựa vào lực lượng quần chúng, học hỏi sáng kiến của quần chúng để lãnh đạo quần chúng”(6). Muốn có tác phong dân chủ, “cán bộ phải đi sát sản xuất, đi sát quần chúng và phải dân chủ với dân”(7). Như vậy, vừa là phát huy dân chủ nhân dân, vừa rèn luyện tác phong dân chủ của người cán bộ.
Trong cách thức, phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện phong cách làm việc giản dị, gần gũi nhưng sâu sắc, quyết đoán, hòa mình vào quần chúng nhân dân, coi nhân dân là cội nguồn của mọi thắng lợi. Người coi dân chủ là “chìa khóa vạn năng” để khơi dậy tính sáng tạo của nhân dân, huy động và sử dụng nguồn lực nhân dân vào các lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động khác nhau, bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng ở mọi lúc, mọi nơi. Người đã nhấn mạnh: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều”.
    Bởi vậy, Người nhắc nhở cán bộ, trong phong cách làm việc, phong cách công tác, phong cách lãnh đạo của cán bộ phải chống bệnh hẹp hòi, nghĩa là phải tuyệt đối vì lợi ích của Đảng, của Nhân dân. Người chỉ rõ: nguyên nhân của bệnh có nhiều, nhưng chủ yếu là do ham danh vọng và địa vị, nên khi ở cương vị phụ trách thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì đẩy ra. Hậu quả của bệnh hẹp hòi là gây chia rẽ, mất đoàn kết giữa cán bộ cấp trên phái đến và cán bộ địa phương, cán bộ cũ và cán bộ mới, giữa bộ phận và toàn cục, cán bộ cơ quan này và cán bộ cơ quan khác, địa phương này và địa phương khác…
    Phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là phải “nói đi đôi với làm”. Người yêu cầu cán bộ phải thống nhất giữa nói và làm, tư tưởng phải chuyển hóa thành hành động cụ thể, hoàn thành nhiệm vụ, thực hiện lý tưởng cao cả của Đảng và dân tộc. Người từng căn dặn “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Tức là để dân tin, dân quý, dân ủng hộ, người đảng viên phải làm trước, đi trước, dù có gian khổ, hy sinh cũng không kêu ca, phàn nàn. Nói đi đôi với làm còn là cách để cấp trên gương mẫu với cấp dưới, là để cầm tay, chỉ việc giữa người có kinh nghiệm với người mới, người chưa có kinh nghiệm. Ở bất kỳ đâu, làm bất cứ việc gì, ở cương vị nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều tôn trọng, lắng nghe ý kiến của mọi người, phát huy trí tuệ của tập thể, đề cao những kinh nghiệm, sáng kiến, cách làm hay, sáng tạo đem lại hiệu quả cao trong công việc. Người chỉ rõ: “Gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống… Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”.
    Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ phải có ý thức tập thể cao, tạo được bầu không khí dân chủ, cởi mở trong làm việc, cũng như trong cuộc sống; từ đó, tạo động lực, niềm tin cho mỗi người có thể tham mưu, hiến kế, đề xuất những cách thức, biện pháp nâng cao năng suất lao động, xây dựng đơn vị, địa phương vững mạnh về mọi mặt. Đồng thời, đề cao phong cách làm việc dân chủ nhưng không đồng nghĩa với dân chủ quá trớn, mạnh ai người nấy làm, mà phải tuân theo nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”; làm bất kỳ việc gì phải đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên…
    Bồi dưỡng phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ hiện nay
    Trong những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó có phong cách làm việc dân chủ đã đạt nhiều kết quả, góp phần chuyển biến mạnh mẽ, tích cực trong nhận thức, hành động của đội ngũ cán bộ. Song, trước yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược nâng cao hơn nữa về chất lượng, vững kiến thức chuyên môn, có năng lực quản lý, điều hành, phong cách làm việc dân chủ, khoa học... Có như vậy mới phát huy được trí tuệ của tập thể, đưa ra được những quyết định sáng suốt, hiệu quả, phù hợp, vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị.
    Tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), triển khai kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ngày 12-6-2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Phong cách Hồ Chí Minh là lối sống, tác phong khiêm tốn, giản dị, cầu thị, gần dân, trọng dân, tin dân, học dân, làm việc gì cũng phải vì lợi ích của nhân dân; là đầy tớ của dân chứ không phải “làm quan nhân dân”, không được lên mặt “làm quan cách mạng”. Có thể thấy, yêu cầu xây dựng, bồi dưỡng phong cách làm việc cho cán bộ, trong đó có phong cách dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc làm hết sức cần thiết.
Để công tác này thực hiện có hiệu quả, trước hết, cần thực hiện nghiêm các quy chế, quy định của Đảng, Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 4-8-2017 của Bộ Chính trị khóa XII về “Khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”; Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4-8-2017 về “Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý”; Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19-12-2017 về “Phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021 về công tác quy hoạch cán bộ; Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022 về luân chuyển cán bộ; Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ… Việc thực hiện nghiêm các quy định trong công tác cán bộ là cách thức để thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mỗi tổ chức đảng. Đồng thời để cán bộ phải tự ý thức rèn luyện phong cách làm việc dân chủ.
    Bên cạnh đó, cần phát huy dân chủ, bảo đảm tính chặt chẽ, công khai, minh bạch trong công tác cán bộ. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch sẽ tạo điều kiện cho cán bộ có môi trường rèn luyện, phấn đấu, phát triển toàn diện. Tiếp tục đổi mới công tác tác đánh giá cán bộ, bởi đây là khâu mở đầu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng liên quan đến các khâu khác của công tác cán bộ. Đánh giá không đúng về cán bộ dẫn tới bố trí, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ không đúng,  có thể gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng; triệt tiêu nhân tố tích cực, thúc đẩy chủ nghĩa cơ hội, tiêu cực, suy thoái đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cán bộ được đánh giá khách quan, công tâm, được lựa chọn và bố trí đúng sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, tiêu cực… Để đánh giá đúng cán bộ, cần đánh giá đa chiều, thông qua năng lực, phẩm chất và uy tín; dựa vào kết quả, hiệu quả thực hiện từng công việc cụ thể. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, cần phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đồng thời, phải căn cứ vào kết quả đổi mới, sáng tạo; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nói đi đôi với làm; khả năng thích ứng nhanh với tình hình thực tiễn, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành. Đánh giá để bổ nhiệm và bầu cử phải trực tiếp khảo sát, gặp gỡ trao đổi với các tổ chức, cá nhân có liên quan và tham khảo ý kiến phản ánh, đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bản thân cán bộ tự đánh giá, tập thể đánh giá, cấp trên đánh giá, cấp dưới đánh giá, huy động các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia đánh giá cán bộ.
    Cần có cơ chế, chính sách thu hút, lựa chọn, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương gắn với các chế độ, chính sách như tiền lương, thu nhập, cải thiện cuộc sống, môi trường, điều kiện làm việc… cho cán bộ. Việc đổi mới, thực hiện tốt cơ chế, chính sách trên cơ sở kiểm soát tốt quyền lực, vừa đảm bảo chất lượng cán bộ, vừa phát huy dân chủ, phòng, chống được tiêu cực…
    Thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, trong đó có trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp cũng là cách để rèn luyện tác phong dân chủ. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng đều nêu rõ vấn đề về vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên”; Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” cũng đã khẳng định quan điểm đó. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ, trong nhiệm kỳ qua, “việc đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo Đảng từ Trung ương tới cơ sở có bước tiến bộ. Coi trọng việc phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội”.
    Cán bộ phải sâu sát cơ sở, nắm vững thực tiễn, kịp thời giúp cơ sở giải quyết các khó khăn và vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đây vừa là trách nhiệm, vừa là tác phong công tác cần phải có của mỗi cán bộ. Đặc biệt với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu, để có phong cách lãnh đạo sâu sát, cần phải dành thời gian đi cơ sở, trực tiếp trao đổi, đối thoại với người dân, doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…, từ đó tránh được bệnh quan liêu, hạn chế tình trạng ra các quyết định, chủ trương thiếu tính thực tiễn, duy ý chí. Mặt khác, cần xem phong cách sâu sát cơ sở, thực tiễn là một tiêu chí, một yêu cầu cần thiết trong quy hoạch, đề bạt cán bộ giữ vị trí người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.
Cùng với làm tốt các khâu trong công tác cán bộ, cần “có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”. Như vậy đội ngũ cán bộ sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao về chất lượng, góp phần thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đảng.

ST





Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.


Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa

CHUYỆN CON CÁI NHÀ AI HỌC Ở ĐÂU SAO CỨ PHẢI XỈA XÓI?

         Việc con cái một số lãnh đạo cấp cao, từng là lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước du học ở nước ngoài luôn là chủ đề mà phái Việt T.ân soi mói. Mới đây, hay tin em gái Tô Hà Linh - con gái của bác Tô Lâm (Bộ trưởng Bộ Công an) hoàn thành chương trình học của mình tại SOAS University, London, UK; cùng với đó là con các bác Vương Đình Huệ, Nguyễn Xuân Phúc du học ở Mỹ... mà anh em Việt T.ân đã giãy nảy cả lên và đòi làm rõ. Chả nhẽ cứ để con cái các bác ấy học "trường làng" thì các ông mới vừa lòng?
     Được biết, hàng năm, SOAS University và một số trường nổi tiếng khác trên thế giới có nhiều suất học bổng lý tưởng để thu hút các nhân tài theo học. Cho nên, việc đi học nước ngoài thời nay với một gia đình bình thường cũng chẳng có gì là quá to tát. Đứa cháu tôi ấy, gia đình nhà nó thuộc loại tầm trung nhưng tiếng Anh của cháu rất giỏi, được hẳn 8.0 IELS lận, thế là một trường ở Mỹ tuyển thẳng và tài trợ toàn bộ học bổng, chỉ mất tiền ăn uống, sinh hoạt. 
     Vì thế cho nên, việc con của các quan chức học tập ở nước ngoài cũng là điều hết sức bình thường. Học nước ngoài để có kiến thức sau này về giúp ích cho đất nước là điều nên khuyến khích chứ sao phải châm chọc? Với lại, như anh em cũng đã biết, tiếng Anh là ngôn ngữ phổ biến nhất trên thế giới, các em nó chọn học tiếng Anh là để hội nhập, sao các ông cứ bắt học tiếng Trung vậy? Tôi đố các ông Vịt Tân ngồi học tiếng Tung Của đấy. Khó phết chứ đùa đâu./.

Yêu nước ST.

Tích cực đấu tranh phê phán luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Luận điệu đòi tách rời chủ nghĩa Mác – Lê-nin với tư tưởng Hồ Chí Minh chính là một thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, phủ nhận nền

NHỮNG TIẾNG GÀO THÉT LẠC LÕNG

 


Những ngày gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện cái gọi là phim tài liệu mang tên “Việt Nam: Tiếng gào thét từ bên trong”. Với cách dàn dựng ngụy tạo, xảo trá, phim có cái nhìn hết sức sai trái, lệch lạc về tình hình thực tế ở Việt Nam. Đó quả là những tiếng gào thét lạc lõng.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG HIỆN TƯỢNG TIÊU CỰC, THAM NHŨNG, MÂU THUẪN XÃ HỘI ĐỂ KÍCH ĐỘNG NHÂN DÂN


Đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, mâu thuẫn xã hội để kích động nhân dân khiếu kiện, gây rối làm mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá vỡ nền tảng chính trị - xã hội để tạo cớ can thiệp là một hoạt động thường

Những kẻ tự xưng là người yêu nước


Lâu nay, khi nhắc đến cái tên gọi “Hội anh em dân chủ” thoạt đầu người ta cứ nghĩ đó là những người dân chủ một cách tiến bộ và thực sự phấn đấu vì xã hội thật sự dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ dân chủ, bảo vệ con người. Nhưng sự thật đâu phải như

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 30/01


“Mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”.
Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bài Nói chuyện tại hội nghị phổ biến nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ ba về kế hoạch nhà nước năm 1961, đăng trên Báo Nhân dân, số 2509, ngày 31-1-1961; trong bối cảnh đế quốc Mỹ đang tăng cường cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam thành hai miền Nam, Bắc.
Trong bài nói chuyện, Hồ Chí Minh khẳng định mục đích cao nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là: Nâng cao không ngừng đời sống nhân dân, đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà. Người yêu cầu mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương thành kế hoạch hoạt động cụ thể, làm cho Nghị quyết của Đảng, kế hoạch của Nhà nước thấm sâu vào thực tiễn, tạo ra nhiều thắng lợi. Lời bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh được đại biểu dự Hội nghị quán triệt, tiếp thu nghiêm túc và nhanh chóng tuyên truyền, triển khai, cụ thể hóa thành kế hoạch hoạt động thiết thực, tạo khí thế thi đua sôi nổi trong các cấp, các ngành và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch, thúc đẩy công cuộc xây dựng miền Bắc phát triển lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Lời nói chuyện của Bác tại buổi phổ biến Nghị quyết Trung ương ba khóa III, được các cấp ủy đảng trong Quân đội lĩnh hội, tổ chức học tập, quán triệt và triển khai chặt chẽ. Quân đội ta đã khẩn trương xây dựng kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961-1965); tập trung xây dựng Quân đội tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chính quy, hiện đại; chủ động xây dựng các binh đoàn chủ lực có khả năng cơ động nhanh, sức chiến đấu mạnh và các binh chủng kỹ thuật... Với phương hướng xây dựng đúng đắn, quyết tâm cao, tổ chức thực hiện tốt, Quân đội ta đã nâng cao một bước sức mạnh chiến đấu; đồng thời, đã tạo ra những cơ sở thuận lợi cho việc mở rộng lực lượng, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Thấm nhuần sâu sắc lời của Người năm xưa, Đảng, Nhà nước, quân đội ta vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới; toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tập trung thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; toàn quân đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, được nhân dân tin yêu, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'TƯ TƯỞNG Há CHÍ MINH MÃI MÃI SOI SÁNG CÁCH MẠNG VIỆT NAM'

KỶ LUẬT CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VI PHẠM ĐỂ ĐẢNG MẠNH HƠN

 


Thời gian qua, nhân việc Đảng và Nhà nước ta phát hiện và xử lý kỷ luật những cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ cao cấp, cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý vi

Chiêu trò chống phá, đả kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch


Lợi dụng việc một số cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ diện do Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, pháp luật; trên internet xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang mâu thuẫn gay gắt, thậm chí chúng còn bịa đặt trắng trợn rằng, những cán bộ bị xử lý chẳng qua là do có tư tưởng tiến bộ mà bị thanh trừng...

Ukraine tuyên bố phá hủy 8 xe tăng, hạ 650 lính Nga trên các mặt trận



Theo thông báo của Bộ Tổng tham mưu các Lực lượng Vũ trang Ukraine, trong ngày 28/1, lực lượng Ukraine đã loại 650 binh sĩ Nga khỏi vòng chiến đấu. Cùng ngày, quân đội Ukraine cũng tuyên bố phá hủy 8 xe tăng và 22 xe bọc thép của Nga trong các cuộc giao tranh trên các mặt trận.

Nga có thể kết thúc xung đột trước khi Ukraine nhận xe tăng phương Tây


Giới chức Ukraine cho biết, chỉ trong vòng một tuần qua, các nước phương Tây đã cam kết viện trợ 321 xe tăng chiến đấu cho nước này. Những cam kết này đánh dấu bước

NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ÁC Ý, THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Dù thời cuộc có nhiều biến động và thế giới có nhiều đổi thay, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh

PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG ĐỔI MỚI XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC PHÁT TRIỂN PHỒN VINH, HẠNH PHÚC


Đoàn kết thống nhất, bài học mang giá trị lịch sử, xuyên suốt quá trình dựng nước, giữ nước; quá trình cách mạng và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước của Đảng và dân tộc.

NHỮNG “CON SÂU” CỦA MÙA XUÂN

 


Hiếm có năm nào mà đất nước ta đón xuân mới mang đầy đủ các yếu tố “thiên thời địa lợi, nhân hòa” như năm nay. Thời tiết của cả ba miền đều khá thuận lợi cho việc du xuân, đón Tết. Nguồn cung hàng hóa Tết dồi dào, phong phú, đa dạng, giá cả thị trường tương đối ổn định so với ngày thường, không xảy ra tình

 CÁC ANH LINH THIÊNG LẮM.

Từ năm 1970, sinh viên các trường đại học bắt đầu nhập ngũ, vào Nam đánh giặc, gọi là đi B. Đến năm 1971 thì rầm rộ. Năm 1972, khi sự khốc liệt của cuộc chiến tại Thành cổ Quảng Trị lên đến đỉnh điểm thì số lượng sinh viên các trường đại học đi bộ đội lên đến hàng vạn người. Sinh viên Hà Nội nhập ngũ mang đến cho quân đội một màu sắc khác hẳn, vui nhộn, nghịch ngợm, thậm chí phá phách theo nghĩa vui!.

Quân phục được phát, các chàng thường đem chữa đi để mặc cho đẹp, mũ ít khi đội thẳng mà cứ phải hơi lệch một chút... Và lính Hà Nội rất hay đàn hát, ba lô nhiều người luôn giắt cây sáo trúc hoặc chiếc kèn harmonica. Họ rất thích tấu hài và giỏi “tự biên tự diễn” các bài hát Tôi là Lê Anh Nuôi, Đưa anh đi hái măng rừng... Hồi đó hầu như ai cũng có cuốn sổ nhật ký riêng, ai cũng linh cảm đó là bút tích cuối cùng của mình vậy.

Những người lính sinh viên xếp bút nghiên lên đường chiến đấu, bước vào cõi chết nhẹ tựa lông hồng... Khi nghe lệnh vượt sông, dưới ánh sáng hỏa châu của địch, tiếng gầm rú của đại bác bắn từ Hạm đội 7 ngoài biển vào, trong làn mưa đạn, những người lính - sinh viên Hà Nội chỉ với chiếc mũ tai bèo, quần cộc, áo cộc, băng đạn đeo trước ngực, thủ pháo giắt lưng, khẩu AK cầm tay... lao mình xuống dòng sông Thạch Hãn lạnh buốt bơi sang bờ Nam để vào trận đánh... Đặc biệt, trong ba lô lính sinh viên người nào cũng có cuốn nhật ký kèm theo chiếc khăn tay của một thiếu nữ... Và trong cuốn nhật ký nào hầu như cũng có những bài thơ về tình yêu quê hương, tình đồng đội, nỗi thương mẹ nhớ cha và lời hẹn ngày chiến thắng trở về.

Ngày nay, mỗi khi mùa mưa lũ đến, nước sông Thạch Hãn lên cao rồi rút hay những lần bờ sông Thạch Hãn bị sạt lở, người dân ở đây lại tìm thấy những ngòi bút, mũ tai bèo, những khẩu súng AK đã hoen gỉ hay đôi dép cao su, những bức thư được giữ kín trong lọ thủy tinh... lộ ra bên ngoài. "Của các anh bộ đội năm xưa đấy, các anh linh thiêng lắm".


 ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG QUAN TÂM BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC

Dù thời cuộc có nhiều biến động và thế giới có nhiều đổi thay, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Những luận điệu xuyên tạc ác ý, thâm độc

Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân. Trong các cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc xâm lược, Đảng ta xác định mục tiêu cao nhất là đấu tranh giành độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, thống nhất đất nước là lợi ích tối cao của toàn dân tộc. Trong thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc được thể hiện bao trùm ở phương hướng-mục tiêu “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” gắn liền với thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tuy vậy, thời gian qua, trên một số diễn đàn, trên mạng xã hội, trên trang điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí, truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam đã xuất hiện những luận điệu sai trái, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân và dân tộc Việt Nam. Họ cho rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ đại diện cho lợi ích của một nhóm thiểu số tinh hoa, chứ không đại diện cho lợi ích của quốc gia, lợi ích dân tộc”; “việc Đảng thừa nhận sự tha hóa, biến chất, tham nhũng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chứng tỏ Đảng không đủ tư cách để đại diện cho toàn dân để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc”. Có ý kiến còn bình luận “việc Đảng kết hợp mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là siêu hình, trái quy luật và xu thế phát triển của thế giới”. Lại có ý kiến đưa ra lý lẽ lập lờ rằng, “nội hàm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định là mông lung, khó khả thi, vì bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền quốc gia, chứ không phải là bảo vệ một đảng phái, một chế độ chính trị nào”. Ác ý và thâm độc hơn, có ý kiến đổ tội cho “chế độ độc đảng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khiến Việt Nam hiện vẫn là một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu” (?!).

Những ý kiến nêu trên, nếu không cố tình ngụy tạo thông tin, đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất; thì cũng là cái nhìn thiếu khách quan, toàn diện theo kiểu “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn cây mà không thấy rừng, thậm chí lồng ghép những lời đơm đặt, xuyên tạc nhằm chống phá, hạ bệ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. 

Lợi ích của Đảng luôn thống nhất với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”, với tư cách là “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”, trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành và làm hết sức mình để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời không ngừng củng cố và nâng cao sức mạnh, vị thế, uy tín của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc Đảng ta luôn trung thành và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc bởi trước hết, Đảng ta là con nòi của dân tộc Việt Nam. Lịch sử hơn 90 năm qua đã khẳng định, ở Việt Nam, không lực lượng chính trị nào có đủ uy tín, bản lĩnh, trí tuệ, năng lực lãnh đạo như Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi ở nước ta từng xuất hiện một số tổ chức đảng khác nhưng vì không đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, thậm chí có tổ chức đảng còn phản bội, đi ngược lại lợi ích của dân tộc nên tự đào thải và bị lịch sử loại bỏ.

Nhờ lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau hơn 3 thập niên đổi mới mà Đảng ta đã chứng minh được vị thế, năng lực cầm quyền của mình, từ đó thuyết phục được nhân dân, lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích của toàn dân tộc, của nhân dân, của quốc gia-đó là bằng chứng sinh động thể hiện “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện, gắn bó chặt chẽ với nhau. Đó cũng là lý do căn cốt, là điểm tựa niềm tin lớn nhất mà nhân dân trao quyền, ủy quyền lãnh đạo của mình cho Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nói về vai trò của Đảng trong bảo vệ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc không thể không nhắc đến những thành quả to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước. Với mức tăng GDP hằng năm trung bình khoảng 7% trong hơn 35 năm qua, hiện nay Việt Nam đứng trong top 40 nền kinh tế có quy mô GDP lớn nhất thế giới, top 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Tính đến năm 2022, quy mô nền kinh tế ước đạt gần 400 tỷ USD; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 4.000USD; quy mô thương mại khoảng 750 tỷ USD, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế. Việt Nam là nơi hội tụ của hàng vạn nhà đầu tư đến từ 140 quốc gia, vùng lãnh thổ, với gần 35.000 dự án FDI đang hoạt động có tổng vốn đầu tư gần 430 tỷ USD. Không chỉ vậy, Việt Nam thuộc nhóm nước đạt mức cao chỉ số phát triển con người (HDI). Năm 2020, tỷ lệ nghèo đa chiều theo chuẩn quốc tế giảm còn 4,8% (so với 9,9% năm 2016). Việt Nam đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ MDG-2015 và đang nỗ lực thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững SDG-2030 của Liên hợp quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới coi Việt Nam là một hình mẫu đáng tham khảo, học hỏi kinh nghiệm về việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội.

Vì là một đảng “tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” nên trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu để ngang tầm với sứ mệnh mà nhân dân giao phó. Sai đâu sửa đấy, dám nhìn thẳng vào khuyết điểm, thừa nhận khuyết điểm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa khuyết điểm không chỉ là dũng khí, bản lĩnh của một đảng mác xít chân chính mà còn thể hiện tinh thần cầu thị của Đảng để không phụ lòng tin của nhân dân và dân tộc. Việc Đảng ta kịp thời sửa sai trong chủ trương thực hiện cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước; kiên quyết từ bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp và thực hiện đường lối đổi mới toàn diện vào giữa thập niên 80 của thế kỷ trước và những năm gần đây thực hiện quyết liệt việc thanh lọc, xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên sai phạm để làm trong sạch Đảng cũng không ngoài mục đích bảo vệ những lợi ích chính đáng của đại đa số nhân dân, bảo vệ sự liêm chính của quốc gia, bảo vệ những thành quả cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam đã chung tay góp sức giành được trong gần 80 năm qua.

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính

Từ bản lĩnh, trí tuệ, tầm nhìn đổi mới mạnh mẽ được Đảng ta khởi xướng từ năm 1986, với sự nỗ lực bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, đến nay, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định. 

Trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp và diễn biến khó lường hiện nay, Đảng ta vẫn kiên định với phương châm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc ở Việt Nam không phải là lợi ích quốc gia, dân tộc hẹp hòi, cực đoan như có kẻ từng rêu rao, xuyên tạc. Bởi lẽ, những năm qua, Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối và Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia, dân tộc, đặt trong mối quan hệ hợp tác cùng phát triển, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Mặt khác, trong quan hệ đối ngoại, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”. Phương châm này thể hiện nhận thức nhất quán của Đảng là giải quyết hài hòa giữa lợi ích của dân tộc và lợi ích chung của nhân loại, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế chân chính của giai cấp công nhân.

Những năm gần đây, uy tín của Việt Nam không ngừng được củng cố, tăng cường trên trường quốc tế khi được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng kinh tế-xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam đồng thời đảm nhiệm 3 trọng trách: Ủy viên không Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA. Từ một nước gần như bị bế quan tỏa cảng, sau gần 4 thập niên, đến nay, Việt Nam đã có thiết lập quan hệ ngoại giao với 190 quốc gia, trong đó thiết lập quan hệ ổn định lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện. Đặc biệt, các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đã tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình (PKO) đạt nhiều kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Như vậy, từ những cơ sở, thành quả nêu trên, có thể khẳng định rằng, dù thời cuộc có nhiều biến động, thế giới có nhiều đổi thay nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng, phát triển đất nước theo con đường XHCN, đồng thời đó cũng là bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, mọi sự xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam không quan tâm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.

Phương Tây đồng loạt tuyên bố cấp xe tăng cho Ukraine

 


 


Tổng thống Mỹ Joe Biden phê chuẩn viện trợ 31 xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams do Mỹ sản xuất cho Ukraine, những xe tăng "uy lực nhất thế giới" này sẽ "giúp Ukraine tăng cường năng lực bảo vệ lãnh thổ và đạt được các mục tiêu chiến lược" cả trong tương lai gần và xa.

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH VỚI BỆNH QUAN LIÊU, XA DÂN


Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ ra rằng, bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, là nguy cơ lớn nhất của đảng cầm quyền. Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn ngừa, khắc phục và loại bỏ những biểu hiện của bệnh quan liêu, xa dân.

ĐOÀN THỊ THÙY DƯƠNG ĐẸP ĐẤY, NHƯNG LẠI MANG VẺ ĐẸP ĐU CÀNG, VONG QUỐC!


Đây là Đoàn Thị Thùy Dương, quê ở Long An, hiện đang trốn chui trốn lủi ở Na Uy - một tên phản động từng tự ứng cử đại biểu Quốc hội để leo cao chui sâu vào bộ máy công quyền Việt Nam nhưng đã bị nhân dân phát giác là tên phản động và bị nhân dân loại ngay từ vòng hiệp thương đầu tiên.

Cần cảnh giác, tỉnh táo hơn khi phán xét mọi thông tin nóng

 


Phải nói rõ là xã hội nào cũng có 2 mặt tích cực và tiêu cực, tổ chức, cơ quan đơn vị nào cũng có mạnh có yếu, có tốt, có xấu nhưng chắc chắn không ai bao che cái xấu, triệt tiêu cái tốt cả.