Thứ Năm, 27 tháng 4, 2023
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SÀI GÒN TRƯỚC 1975!
CHUNG TAY VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI!
LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 1962!
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Từ khi được thành lập đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều
kiện mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền sinh hoạt tôn giáo
bình thường theo đúng pháp luật, khẳng định tôn giáo là nhu cầu của một bộ
phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Ngay từ năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đề nghị ban hành chính sách: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn
kết. Với quan điểm đoàn kết tôn giáo là một bộ phận trong tư tưởng đại đoàn kết
toàn dân tộc, góp phần làm nên sức mạnh, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Quan
tâm xây dựng thiết chế văn hóa tại chùa, hỗ trợ trùng tu, sửa chữa chùa di
tích, nhất là di tích cấp quốc qua. Có chính sách bảo tồn, phát huy giá trị của
các thiết chế văn hóa, làng nghề, nghề thủ công, lễ hội truyền thống trong vùng
dân tộc Khmer gắn với phát triển du lịch.Tuyên truyền,
nâng cao nhận thức trong các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong việc bảo
tồn và phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật dân tộc Khmer Nam Bộ. Hình thành trường đào tạo nghệ thuật
Khmer của khu vực; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về
lĩnh vực văn hóa dân tộc. Đầu tư, hỗ trợ sản xuất các sản phẩm văn hóa của dân tộc để phục
vụ nhu cầu thụ hưởng của đồng bào. Điều chỉnh cơ chế chính sách hỗ trợ các địa
phương vùng đồng bào dân tộc chủ động mua trang thiết bị, sản phẩm, ấn phẩm văn
hóa thông tin phù hợp nhu cầu thực tế từng địa phương.
Quan
tâm công tác đào tạo bồi dưỡng và phát triển đội ngũ chức sắc. Phát huy vai trò
của Hội đoàn kết sư sãi yêu nước, Ban quản trị chùa và người có uy tín trong
đồng bào dân tộc Khmer đối với công tác vận động đồng bào. Cấp kinh phí đặc
thù hỗ trợ Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước
hoạt động, truyên truyền. Chỉ đạo các bộ ngành có liên quan giải quyết
các tranh chấp, khiếu kiện tại cơ sở có liên quan đến yếu tố chùa chiền, tôn
giáo của đồng bào Khmer ở địa phương, không để phát sinh những vấn đề phức tạp
ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự xã hội.
PHÁT HUY VAI TRỔ TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN HÒA BÌNH
“Diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ là hai khái
niệm có tính độc lập tương đối, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau.
“Diễn biến hòa bình” làm cho chế độ suy yếu và chuẩn bị lực lượng, tạo ra điều
kiện, thời cơ cho bạo loạn lật đổ. Bạo loạn lật đổ là biện pháp dùng bạo lực để
thực hiện mục tiêu cuối cùng của “Diễn
biến hòa bình” là lật đổ chính quyền, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nói cách khác, bạo loạn lật đổ là một phương thức cướp chính quyền, lật đổ Nhà
nước XHCN bằng bạo lực phản cách mạng trong bối cảnh do “Diễn biến hòa bình”
tạo ra. Phát huy vai
trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhândân để xây dựng, chỉnh
đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh
Tiếp
tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho
nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp uỷ đảng về công tác cán bộ.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội
đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội, góp ý
xây dựng Đảng, xây dựng chính quyềncủa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các
tổ chức chính trị - xã hội; của báo chí.
Chú
trọng giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống và nêu
gương của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán
bộ, đảng viên và công chức, viên chức trong hệ thống chính trị. Hoàn
thiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở để thực hiện có hiệu quả phương
châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".
Đổi
mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị gắn với
chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính
trị, nhất là công tác dân vận của chính quyền các cấp. Người đứng đầu
cấp uỷ, chính quyền các cấp phải tăng cường trách nhiệm giải
trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước
về tiếp, đối thoại với công dân; tiếp nhận và kịp
thời chỉ đạo giải quyết các vấn đề nhân dân phản ánh, khiếu
kiện, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống
của cán bộ, đảng viên.
NHẬN THỨC VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH
Phát triển kinh tế xã
hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải toàn diện, cơ bản, lâu
dài ngay từ trong chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với
tăng cường quốc phòng an ninh trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng ngành và ở
từng địa phương. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc
phòng an ninh phải tập trung có trọng điểm, quan tâm đầu tư vào những vùng, địa
bàn chiến lược trọng yếu, biên giới, hải đảo, những ngành, những lĩnh vực hoạt
động kinh tế xã hội quan trọng.
Xây
dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng, miền trong cả nước; sẵn sàng động
viên nền kinh tế, động viên công nghiệp khi chuyển địa phương từ thời bình sang
thời chiến. Bảo đảm an ninh trong công nghiệp, nông nghiệp (an ninh lương
thực), chú trọng dự trữ quốc gia. Gắn việc nâng cao năng lực, hiệu quả đánh bắt
thủy hải sản xa bờ, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, vận tải biển và phát
triển hải đảo với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc. Phát triển văn hóa,
giáo dục, khoa học công nghệ, y tế với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc,
tôn giáo. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở
vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị
hiện đại.
Gắn
kết ngay từ khâu lực chọn đối tác trong các dự án đầu tư nước ngoài, những đối
tác đầu tư vào nước ta phải có ưu thế chế ngự, cạnh tranh với các thế lực mạnh
bên ngoài, làm cho các thế lực thù địch muốn chống phá ta cũng khó khăn. Lựa
chọn, phân bố đầu tư vào các vùng, ngành phải chú ý lợi ích cả trước mắt và lâu
dài, không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Phải phối hợp chặt chẽ
và toàn diện hoạt động giữa các ngành khoa học với các ngành khoa học của quốc
phòng, an ninh trong việc hoạch định chiến lược nghiên cứu phát triển và quản
lý sử dụng phục vụ cho cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi trọng giáo dục bồi
dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng cả sự nghiệp xây dựng
phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng, an ninh. Thực hiện có hiệu quả công
tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là trong các nhà
trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong lĩnh vực y tế: Phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa ngành y
tế dân sự với y tế quân sự trong nghiên cứu, ứng dụng, trong đào tạo nguồn nhân
lực. Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi có chiến tranh,
dịch bệnh xảy ra. Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng chống, khám
chữa bệnh cho nhân dân thời bình và thời chiến.
NÂNG CAO NHẬN THỨC MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trước hết, quán triệt quan điểm của Đảng ta là: chủ động, tích
cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc ứng phó
với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí
hậu; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ
quốc tế vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội
lực, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác
động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế... Tham gia các cơ chế hợp tác an
ninh song phương và đa phương trên cơ sở tối đa hóa trong bảo vệ lợi ích quốc
gia - dân tộc, đồng thời tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc
tế.
Thống nhất nhận thức, xây dựng cơ chế lòng tin và
hoàn thiện khung khổ thể chế giữa các nước về an ninh phi truyền thống - cơ sở
cho hợp tác quốc tế có hiệu quả. Dù đã diễn ra nhiều tranh luận giữa học giả,
chính giới các nước, nhưng đến nay cách hiểu an ninh phi truyền thống còn khác
xa nhau, có vấn đề nước này đưa vào danh mục an ninh phi truyền thống nhưng
nước khác lại không chấp nhận. Vì vậy, các nước, các tổ chức khu vực, các tổ
chức quốc tế cần
sớm đưa ra một định nghĩa thống nhất và đề xuất danh mục các
thứ tự ưu tiên trong hợp tác đa phương về phòng ngừa và ứng phó với thách thức
an ninh truyền thống. Sau khi có nhận thức chung, các nước và tổ chức quốc tế
cần hợp tác để định hình khung khổ thể chế, pháp luật nhằm ràng buộc trách
nhiệm các quốc gia trong phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi
truyền thống, khắc phục tình trạng ra tuyên bố nhiều nhưng ít có hiệu lực thực
tế trong đời sống.
Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, trong đó có
hợp tác về phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
thông qua cơ chế và phương thức đa tầng, đa dạng, linh hoạt. Đó là, cơ chế hợp
tác trong khung khổ Liên hợp quốc mà Việt Nam là một thành viên tích cực, có
trách nhiệm, đã ký kết nhiều điều ước quốc tế trên các lĩnh vực, về các vấn đề
an ninh phi truyền thống phát sinh trong khu vực xây dựng thể chế và chính sách cho
phòng ngừa và ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THƯC HIỆN NHIỆM VU BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Một
số giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới,
là rất cần thiết trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc hiện nay. Đòi hỏi đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội
ngũ cán bộ cấp chiến lược phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc mục tiêu, nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành
những giải pháp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quán
triệt đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.
Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa; thêm bạn,
bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi
ích chiến lược giữa nước ta với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác
chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối
đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc. Vận dụng đúng đắn quan điểm về đối tác, đối
tượng; nâng cao chất lượng công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động phòng
ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong
có thể dẫn đến những đột biến, bất lợi.
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần
tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chiến lược sau. Giữ
vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Không để xảy ra
bạo loạn chính trị và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Ngăn chặn, đẩy lùi mọi
âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, nguy cơ can thiệp quân sự và xung đột vũ
trang, xâm hại chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Xây dựng
Đảng trong sạch, vững mạnh, kết hợp chặt chẽ với bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh
chính trị nội bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt vững vàng về
chính trị, có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Đẩy
mạnh công tác nghiên cứu lý luận và giáo dục chính trị- tư tưởng. Phát huy
truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc. Xây dựng Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể thực sự trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân.
Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát
triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, không ngừng nâng cao đời
sống nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội. Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết
toàn dân tộc, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường trật tự, kỷ cương, giải quyết tốt các
vấn đề dân tộc, tôn giáo; tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia và
toàn vẹn lãnh thổ.
CHỦ ĐỘNG CỦNG CỐ XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH BẢO ĐẢM TRONG MỌI TÌNH HUỐNG
Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam là trách nhiệm thiêng
liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng
bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững. Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: Mục
tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng
trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện có
hiệu quả cải tiến hiện đại hóa giữ gìn, khai thác và sử dụng tốt vũ khí trang bị kỹ thuật trong qui hoạch. Bảo
đảm tốt vũ khí trang bị kỹ thuật cho huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị
làm nhiệm vụ đặc biệt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ
vùng trời, biển đảo. Tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở sửa chữa các cấp,
làm chủ công nghệ sửa chữa các loại vũ khí trang bị kỹ thuật trong biên chế,
đặc biệt các loại vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại mới mua sắm, nâng cao khả
năng sửa chữa cơ động.
Cùng với việc
xây dựng quân đội, cần tăng cường xây dựng lực lượng an ninh nhân dân bảo vệ an
ninh quốc gia. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng tổng
hợp cao, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong các tình huống
xảy ra ở cơ sở. Coi trọng xây dựng dân quân cơ động, thường trực ở biên giới,
địa bàn trọng điểm. Nghiên cứu trang bị ngày càng hiện đại cho dân quân tự vệ
đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Là
một cán bộ của Đảng, tại Học viện Quốc phòng; qua học tập, nghiên cứu đã giúp
cho tôi củng cố thêm kiến thức về lĩnh vực quốc phòng – an ninh; tự kiểm nghiệm
lại những công việc trong hoạt động thực tiễn vừa qua xem những gì mình đã làm
được, những gì mình còn nhận thức và chỉ đạo thực hiện còn sai sót, hạn chế để
tự mình điều chỉnh cho phù hợp trong thời gian tới. Đồng thời từng bước giúp
tôi đổi mới tư duy của một người cán bộ có tầm nhìn còn thiên nhiều về lĩnh vực
kinh tế - xã hội mà có lúc còn chưa coi trọng đúng mức về quốc phòng - an ninh,
nay đã có một tầm nhìn ở tầm chiến lược, rộng hơn, toàn diện hơn và bao quát
tổng thể hơn; đặc biệt là càng thấy rõ hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của
các ngành, lĩnh vực khác như kinh tế, xã hội, pháp luật, văn hóa, dân tộc, tôn
giáo, đối ngoại và quốc phòng, an ninh.
TĂNG CƯỜNG CẢNH GIÁC VỚI MƯU ĐỒ LỢI DỤNG AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG
Hiện
nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ
cùng với sự phát triển, bùng nổ của mạng Internet, các mạng xã hội toàn cầu và
những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường; các
thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống
phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Do đó để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới cần thực hiện các giải pháp sau đây:
Ứng
phó với các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống đồng thời phải đi đôi đảm
bảo an ninh truyền thống; cảnh giác trước các mưu đồ lợi dụng các vấn đề an
ninh phi truyền thống để chống phá cách mạng Việt Nam Tiếp tục quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tầm quan trọng của
công tác bảo đảm an ninh, trật tự; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực
hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước về công tác bảo đảm an ninh, trật tự, Xây dựng, củng cố hệ
thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả gắn với nâng
cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban hành các chủ trương,
giải pháp, có chính sách cụ thể và đồng bộ giúp Nhân dân phát triển kinh tế,
cải thiện đời sống.
Tăng
cường hợp tác quốc tế, phát huy ngoại lực kết hợp sức mạnh nội lực để ứng phó
với các nguy cơ đe dọa an ninh phi truyền thống. Đây là quan điểm, tư tưởng rất
phù hợp đã được Đảng, Nhà nước ta xác định từ những năm đầu đổi mới và đến nay
vẫn tiếp tục được nhấn mạnh. Cụ thể, chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình
mới xác định rõ quan điểm: Quán triệt đường lối độc lập, tự chủ, đồng thời chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế. Kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa; thêm bạn, bớt thù, vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Tăng
cường hợp tác, tạo thế đan xen lợi ích chiến lược giữa nước ta với các nước,
nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước
trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, phụ thuộc. Đặc biệt,
quan điểm tăng cường hợp tác quốc tế, tạo thế đan xen lợi ích giữa Việt Nam với
các nước để duy trì hòa bình, ổn định trong tình hình hiện nay.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN CÁC ÂM MƯU THỦ ĐOẠN, QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Do đặc thù phát triển quá nhanh của công nghệ, của các dịch vụ,
nội dung thông tin trên mạng nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chưa cụ thể hóa, bao quát hết các đối tượng
và hoạt động cần quản lý, hành vi sai phạm, chế tài xử lý chưa bảo đảm tính răn
đe. Trong khi đó, quy trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy
phạm pháp luật trên lĩnh vực này theo quy định hiện hành mất khá nhiều thời
gian, dẫn đến việc quy định vừa sửa đổi, bổ sung xong đã bắt đầu lạc hậu, gây
khó khăn cho công tác quản lý. Vì vậy, để kịp thời ngăn chặn, đập tan âm
mưu của các thế lực thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam cần nghiên cứu, vận
dụng thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, cần có giải pháp về cơ chế, chính sách: Hoàn thiện hệ thống
văn bản pháp luật, đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng, minh bạch, kịp thời bổ
sung, xây dựng các văn bản mới và xây dựng cơ chế chính sách về thông tin điện
tử cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng hiệu quả quản lý, bổ sung các chế
tài xử lý sai phạm nghiêm khắc hơn. Tổ chức họp định kỳ, đột xuất nhằm định
hướng, chấn chỉnh kịp thời hoạt động của các trang mạng xã hội trong nước; Xây
dựng chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát triển, tạo ra những
“đơn vị tiên phong” đủ mạnh để cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường; Nâng cao năng
lực quản lý, đẩy mạnh công tác kiểm tra, rà soát, kiên quyết xử lý thông tin
sai phạm trên mạng. Đối với các trường hợp vi phạm nhiều lần, mức độ nghiêm
trọng có thể xem xét rút giấy phép; tăng cường hướng dẫn, phối hợp với Sở TTTT
các địa phương và các đơn vị chức năng có liên quan xử lý hoạt động sai phạm về
thông tin điện tử trên mạng.
Thứ hai, cần chú trọng xây dựng tốt công tác kỹ thuật, công nghệ: Xây dựng cơ chế
phối hợp giữa các đơn vị quản lý và doanh nghiệp; nghiên cứu, định hướng trong
việc xây dựng bộ lọc và có cơ chế cập nhật khi có yêu cầu để các doanh nghiệp
thực hiện; kịp thời ngăn chặn truy cập, chia sẻ, tạm ngừng hiển thị nội dung
trên mạng internet khi phát hiện thông tin vi phạm. Chuẩn bị các phương án kỹ
thuật, công nghệ phù hợp để có thể chủ động ngăn chặn các thông tin vi phạm
trong trường hợp khẩn cấp với quyết tâm, thống nhất cao và sự phối hợp đồng bộ
của các bộ, ngành, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, internet;
Thứ ba, xây dựng đầu mối tiếp nhận, quy trình xử lý tin giả trên
mạng xã hội: Bộ
Thông tin và Truyền thông, các Sở Thông tin và Truyền thông tại các địa phương
sẽ là đầu mối thực hiện việc xử lý đối với các hành vi tung tin giả của các tổ
chức, cá nhân tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Việc xác định tin giả
cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành có liên quan theo chức năng,
nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong việc nhận diện và xác định tin giả theo từng
lĩnh vực, đối tượng ảnh hưởng đối với các vấn đề ảnh hưởng đến an ninh, chính
trị, kinh tế, xã hội... Ngoài ra, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá
nhân bị ảnh hưởng trực tiếp cần chủ động tập hợp, cung cấp các tài liệu, chứng
cứ để các cơ quan chức năng xác lập hành vi của các đối tượng tung tin
giả.
Thứ tư, cần tuyên truyền rộng rãi, nâng cao nhận thức: Các cơ quan chức năng
tiếp tục chủ trì, phối hợp với các cơ quan báo chí & truyền thông liên quan
triển khai thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức cho
người sử dụng về các quy định của pháp luật có liên quan nội dung thông tin
trên mạng. Tăng cường việc tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu với các thế hệ
học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh nhằm cung cấp, trao đổi thông tin về
những mặt tích cực và tiêu của Internet để thế hệ trẻ biết sàng lọc trước các
luồng thông tin xấu độc. Đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan
hoạt động trong lĩnh vực tuyên truyền, cần coi mạng xã hội cũng là một kênh
truyền thông tương tự như báo, đài, truyền hình để tiến hành các hoạt động
tuyên truyền. Đối với các ban, ngành hoạt động tiếp xúc với người dân nhiều thì
càng cần coi mạng xã hội cũng như Internet là một kênh quan trọng và cần có kế
hoạch truyền thông của riêng mình. Cần khuyến khích các cơ quan nhà nước bên
cạnh website của mình cần mở thêm một kênh thông tin giới thiệu về chuyên ngành
và lĩnh vực mình quản lý, qua đó tiếp cận và minh bạch thông tin với người dân.
Xây dựng và phổ biến rộng rãi bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội đối với
người sử dụng internet tại Việt Nam, thúc đẩy hình thành văn hóa ứng xử, chia
sẻ thông tin lành mạnh, lên án, tẩy chay hành vi đi ngược lại lợi ích cộng
đồng, lợi ích quốc gia trên mạng internet. Triển khai các hoạt động tuyên
truyền, hướng dẫn, phổ biến kỹ năng sử dụng internet an toàn và hiệu quả.
Thứ năm, phát triển mạng xã hội do doanh nghiệp tại Việt Nam cung
cấp dịch vụ: Hiện
nay tại Việt Nam, một số mạng xã hội của nước ngoài như Facebook, Youtube vẫn
đang chiếm phần lớn thị trường, chính vì vậy trong ngắn hạn, các giải pháp quản
lý và tuyên truyền vẫn cần tiến hành đối với mạng xã hội này. Tuy nhiên về dài
hạn, Việt Nam cần có những mạng xã hội tương đương, có khả năng thay thế hoặc
cạnh tranh được với Facebook tại Việt Nam và do doanh nghiệp tại Việt Nam cung
cấp dịch vụ. Do đó, cần có các giải pháp, cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, thúc
đẩy mạng xã hội trong nước phát triển.
Thứ sáu, các cơ quan cung cấp thông tin báo chí cần quan tâm chú ý
nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo các cơ quan báo chí về âm mưu, thủ đoạn
chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ đạo đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên nhận
thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa về Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Xây dựng nền tảng xuất
bản mở và đa nền tảng. Ứng dụng các công cụ hỗ trợ quản lý vận hành báo có tính
liên thông cao, ví dụ: Nhân sự, công việc, tính hiệu quả cần được liên kết chặt
chẽ, lấy công nghệ làm nền tảng, lấy công nghệ làm phương tiện, lấy công nghệ
làm công cụ dự báo. Bám sát việc phát triển công nghệ của toà soạn với
hoạt động chuyển đổi số chung của Chính phủ và doanh nghiệp để đồng bộ trong
chuẩn giao tiếp về thông tin.
Trong những năm tiếp theo, các cơ quan báo chí cần chủ động
tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII; chú trọng vào việc tuyên
truyền các ngày lễ kỷ niệm trong từng năm như: Ngày thành lập Đảng, ngày giải
phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước; Quốc khánh 2/9; Cách mạng Tháng
Tám thành công; ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam…/.
VHT.
ĐẤU TRANH CHỐNG “GIẶC NỘI XÂM” - CUỘC CHIẾN KHÔNG TIẾNG SÚNG NHƯNG VÔ CÙNG QUYẾT LIỆT, CAM GO
Nhân kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
(3/2/1930 - 3/2/2023) và 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực (1/2/2013 -1/2/2023), ngày 2/2/2023, tại Hà
Nội, Ban Nội chính Trung ương và Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ
chức Lễ ra mắt cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch,
vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nội dung những bài viết, tư tưởng, quan điểm
chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư trong cuốn sách này được rút ra từ thực tiễn
phong phú, thể hiện tầm nhìn, trí tuệ sáng suốt, sự chỉ đạo sâu sát, quyết
liệt, toàn diện, đầy sức thuyết phục của đồng chí Tổng Bí thư; góp phần làm
sáng rõ tư duy lý luận của Đảng ta về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu
cực và xây dựng, chỉnh đốn Đảng.Cuốn sách là tài
liệu rất giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn, có thể coi là “cẩm nang” về
công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta. Qua cuốn sách
này, bạn đọc trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về chủ trương, đường lối và quyết tâm
đấu tranh chống “giặc nội xâm”, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm tham nhũng,
tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta - một cuộc chiến không tiếng súng nhưng vô cùng
quyết liệt, cam go.
Trong cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư, có bài học: “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là “chống giặc nội xâm”, tức là
chống những thói hư, tật xấu, nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống, tệ ăn bớt, ăn cắp, ăn chặn của công dưới nhiều hình thức; lấy
tiền tài, của cải, vật chất do người khác “biếu xén”, “cho, tặng”, hối lộ,...
với động cơ không trong sáng. Nó diễn ra đối với những người có chức, có
quyền.”…. “Tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ.
Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa ngay tận gốc tham
nhũng trong một thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn và phương pháp đúng; không
thể chủ quan, nóng vội; không được né tránh, cầm chừng, thỏa mãn; trái lại,
phải rất kiên trì, “không nghỉ”, “không ngừng”; vừa phải kiên quyết phát hiện,
xử lý tham nhũng, tiêu cực, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn
đe, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực, vừa phải cảnh giác, đấu tranh với
những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu
tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng,
Nhà nước và chế độ ta”.
Thực tiễn trong những năm qua, đặc biệt là từ năm 2013, khi Ban
Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, trực thuộc Bộ
Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban, công tác đấu tranh phòng,
chống tham nhũng được tiến hành ráo riết, quyết liệt, “không có vùng cấm, không
có ngoại lệ”, đạt nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt; được nhân dân hoan
nghênh, đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt
Nam trong thời gian qua, đồng chí Tổng Bí thư đã đánh giá lại công tác phòng,
chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương
về phòng, chống tham nhũng (năm 2013) đến nay. Phát biểu kết luận của đồng chí
Tổng Bí thư tại các Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng và
kết luận tại các phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ
đạo, mỗi phát biểu, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đã trở thành mệnh lệnh của
người đứng đầu trong cuộc chiến đấu không khoan nhượng với “giặc nội xâm”.
Có thể nói, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự
chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - Trưởng ban Chỉ đạo Trung
ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực rất quyết liệt và nghiêm minh. Ngay
từ những ngày đầu đương nhiệm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đi đầu, kiên
quyết chống tham nhũng, quyết tâm đưa ra xét xử hàng loạt vụ tham nhũng lớn và
các cá nhân liên quan. Chưa khi nào chúng ta xử lý được nhiều vụ đưa và nhận
hối lộ như bây giờ. Cũng chưa khi nào thu được số tài sản lớn như vậy. Hơn 80
cán bộ cấp cao, cả Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và hàng loạt
tướng lĩnh công an và quân đội... vi phạm đều đã bị xử lý kỷ luật. Tổng Bí thư
đã lãnh đạo đất nước theo sự mong đợi và kỳ vọng của nhân dân, coi chống tham
nhũng là chống “giặc nội xâm”. Hàng loạt những “đại án” được phát hiện, điều
tra, khởi tố, truy tố, xét xử nghiêm minh; cán bộ, đảng viên và nhân dân hết
sức đồng tình ủng hộ. Không chỉ tâm huyết, kiên quyết phòng, chống tham nhũng,
người đứng đầu Đảng, Nhà nước ta còn hết sức coi trọng công tác cán bộ, không
ngừng trăn trở suy nghĩ, tìm chọn người tài cho Đảng, cho nước. Đồng chí luôn
tâm niệm, nhân sự quyết định tất cả, do đó phải thực hiện đúng quy trình, đúng
nguyên tắc, đúng tiêu chuẩn.
Có thể khẳng định rằng công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu
cực dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt nhiều kết quả tích cực, được nhân dân rất
hoan nghênh, đồng tình, ủng hộ; các tổ chức quốc tế ghi nhận, đánh giá tích
cực. Tuy nhiên, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh rất phức tạp và
lâu dài, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng. Với việc
đưa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là một trong 6 nhiệm vụ trọng
tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong giai đoạn hiện nay thể hiện
quyết tâm của Đảng ta trong cuộc chiến chống "giặc nội xâm” để giữ gìn sự
trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị; củng cố, nâng cao niềm
tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta; được cán bộ, đảng viên và
nhân dân rất quan tâm, đặt nhiều kỳ vọng.
Hơn ai hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách
nhiệm nêu gương trong phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương
mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác
phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo; phải thể hiện được tư
tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,
hết lòng vì nước, vì dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát
thực tiễn, thật sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí
tuệ tập thể, theo tinh thần Bác đã dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn
một trăm bài diễn văn tuyên truyền” . “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch
chủ nghĩa cá nhân”, kiên quyết, kiên trì, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn và đẩy
lùi tệ tham nhũng, tiêu cực, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống của cán bộ, đảng viên, tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh
trở thành việc làm thường xuyên, nhu cầu văn hóa tinh thần trong Đảng, tạo dấu
ấn rõ rệt về xây dựng văn hóa đảng, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn
minh”./.
VHT.
THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG MẠNG XÃ HỘI VÀ ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ VIỆT NAM
Trong giai đoạn hiện nay, mạng xã hội ở
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, có thể phân
thành hai loại sau:
Thứ nhất, mạng xã hội của Việt
Nam do các doanh nghiệp trong nước cung cấp và chịu sự điều chỉnh của pháp
luật Việt Nam. Ở Việt Nam không thiếu các mạng xã hội xưng danh là mạng
xã hội Việt, nhưng rất ít trong số đó tồn tại được quá một năm trước khi phải
khai tử. Các mạng xã hội Ở Việt
Nam, đặc biệt là các trang mạng xã hội đã được
cấp phép hoạt động phần lớn đều tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành. Số
ít trường hợp đã để xảy ra sai phạm và nội dung vi phạm chủ yếu là do thành
viên chia sẻ, trao đổi các nội dung vi phạm về thuần phong mỹ tục, dung tục và mang
tính chất phản cảm.
Thứ hai, mạng xã hội của nước
ngoài, do các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp xuyên biên giới vào Việt
Nam, điển hình như: Facebook, Google, Youtube, Twitter, Microsoft... cung
cấp vào Việt Nam, được người Việt Nam lựa chọn sử dụng nhiều nhất hiện nay là
Facebook và Youtube. Theo báo cáo của Google, Việt Nam là một trong nhóm 10
nước có lượng người dùng Youtube vào loại cao trên thế giới. Cả hai loại mạng
xã hội này đều hoạt dộng và cạnh tranh lẫn nhau ở
Việt Nam.
Trong môi trường phát triển số hóa mạnh mẽ như ngày nay, mạng xã hội cũng như “con dao hai lưỡi”. Không thể phủ
nhận tiện ích mà mạng xã hội đem lại cho con người trong đời sống hiện đại; thế
nhưng, đây lại là một thế giới ảo, thật giả lẫn lộn, có những điều tốt nhưng có
cả “thuốc độc”. Tính chất thật, giả lẫn lộn không chỉ trên phương diện cá nhân,
đối với từng con người, mà còn đối với phương diện xã hội, càng đặc biệt trở
nên nguy hiểm khi nó được sử dụng vào các hoạt động chính trị. Với khả năng
tương tác và tính lan truyền nhanh, làm cho sự thật giả của những thông tin
trên mạng xã hội càng trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, vấn đề không phải là cấm
mạng xã hội, nhưng mạng xã hội bộc lộ nhiều mặt trái mà chúng ta cần phải hạn
chế, quản lý, đặc biệt là sự lợi dụng mạng xã hội để công kích, chống đối Đảng,
Nhà nước và chế độ. Một hệ thống luật pháp đầy đủ để quản lý và điều chỉnh hành
vi những người sử dụng mạng xã hội và thiết bị trực tuyến là đòi hỏi bức thiết
của tình hình.
Thực tế mạng xã hội ở nước ta hiện nay cho thấy, tình trạng mất
an toàn thông tin mạng xã hội diễn biến rất phức tạp, mang tính phổ biến; ý
thức bảo đảm an toàn thông tin của một số cá nhân, tổ chức trong sử dụng công
nghệ thông tin chưa được đề cao; ý thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng của
một số cán bộ, chiến sĩ, nhất là số chiến sĩ trẻ còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng
tốt yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật về bảo đảm an toàn, an ninh mạng thông tin quốc gia, về giáo dục ý thức
bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng chưa thật đồng bộ, hiệu lực thi hành chưa
cao… Các hành vi tiêu cực như: Tung tin giả mạo, phát tán tin xấu độc, xuyên
tạc, bịa đặt, phát ngôn gây thù ghét... chủ yếu tồn tại trên các mạng xã hội nước ngoài do nhận thức của người sử dụng cho
rằng mạng xã hội là môi trường ảo, nên có thể tự do phát ngôn,
tự do thông tin mà không phải chịu trách nhiệm.
Mạng xã hội trở
thành môi trường thuận lợi để thông tin xấu độc, gây hại, những phát ngôn thù
ghét tràn lan; mức độ tác động đến xã hội ngày càng nghiêm trọng. Nhiều
thông tin không chính thống trên mạng xã hội đã làm nhiễu
loạn, ảnh hưởng rất nhiều đến công tác chỉ đạo, điều hành. Tuy nhiên, không thể
chỉ ngăn cấm mạng xã hội bằng những mệnh lệnh hành
chính, mà phải biết tận dụng mặt tích cực của nó để định hướng dư luận đến với
cái đúng, cái tốt, đấu tranh với cái sai, cái xấu. Điều đó chỉ có thể được thực
hiện khi cơ quan chức năng chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời đến
với người dân.
Trong tình hình mới, không gian mạng sẽ còn tiếp tục phát triển
mạnh mẽ, các thế lực thù địch ngày càng lợi dụng để chống phá cách mạng nước
ta, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong điều kiện đó, vấn đề bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không
gian mạng càng trở nên quan trọng và cấp thiết. Thông qua hội nhập kinh tế quốc
tế của nước ta, chúng còn triển khai hướng tiến công “mềm” thông qua việc đẩy
mạnh việc sử dụng các mạng thông tin, mạng quốc tế để tuyên truyền chống phá
cách mạng nước ta với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khó lường. Trong đó
đáng lưu ý là, việc Mỹ đang lợi dụng những cơ hội của toàn cầu hoá kinh tế để
thực hiện chiến lược “Mỹ hoá" toàn cầu. Sự du nhập lối sống phương Tây từ
việc mở rộng kết nối Internet đang thách thức sự kiểm soát của Nhà nước ta; sự
suy giảm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, vào khả năng xây dựng nền kinh tế độc
lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế; sự lẫn lộn về chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa tư bản, phai nhạt ý thức quốc gia dân tộc, suy giảm ý thức quốc
phòng trong một bộ phận nhân dân, trước hết là một bộ phận trong thế hệ trẻ là
không tránh khỏi.
Với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư
tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo,
dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự, chúng
triệt để lợi dụng những vấn đề "dân tộc", "tôn giáo",
"dân chủ", "nhân quyền"…; kết hợp
"diễn biến hoà bình" với bạo loạn lật đổ chống phá từ bên trong, thúc
đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, khi cần thiết và có điều kiện thì phát
động chiến tranh xâm lược quy mô lớn. “Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực
hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài
“dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Trong nội
bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”.
Đặc biệt, các thế lực thù địch sẽ đẩy mạnh tuyên truyền các luận
điệu nhằm ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ súy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực
dụng. Chúng tuyên truyền rằng chủ nghĩa tư bản là chế độ xã hội cuối cùng của
lịch sử loài người, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn
là một xã hội áp bức, bóc lột nữa. Đồng thời, chúng cho rằng con đường xã hội
chủ nghĩa mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn là “mù mờ”,
là “không tưởng”, hoặc cho rằng “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn dân
giàu, nước mạnh”. Chúng cố tình tách rời và đối lập độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội; đối lập một cách sai lầm chủ quyền dân tộc với ý thức hệ xã hội
chủ nghĩa; tuyên truyền luận điệu thù địch cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đặt
ý thức hệ cao hơn chủ quyền dân tộc”…
Các thế lực thù địch thông qua việc phát tán các ấn phẩm, tài
liệu sách, báo, băng hình trên các phương tiện thông tin, trên các trang mạng
xã hội,... nhằm xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng còn
đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng Hồ Chí Minh
chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc, chứ không lựa chọn con đường xã hội chủ
nghĩa. Chúng vin vào một số khuyết điểm, sai lầm trong quá trình lãnh đạo cách
mạng của Đảng, sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã làm
cho cách mạng nước ta có lúc gặp khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền các luận điệu
nhằm bôi xấu, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Được sự hậu thuẫn mạnh của các thế lực phản động bên ngoài, các
phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước tăng cường viết và phát tán
các tài liệu đưa ra những luận điệu, quan điểm, sai trái phủ định chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên không gian mạng. Họ cho rằng, đã đến lúc
phải xét lại cả những nguyên lý cơ bản có tính chất thế giới quan, phương pháp
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nguyên lý về giai cấp, đấu tranh giai
cấp, lý luận về hình thái kinh tế - xã hội… Các thế lực thù địch đã và đang
điều chỉnh một số vấn đề về chủ trương, giải pháp sử dụng các thủ đoạn “mềm,
ngầm, sâu, điểm”, mở rộng địa bàn hoạt động, nhất là các địa bàn trọng yếu;
tích cực móc nối, liên kết các nhóm, tổ chức phản động và tìm mọi cách xâm nhập
vào nội bộ ta (nhất là các cơ quan lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể) nhằm tạo
dựng “ngọn cờ” chuẩn bị thời cơ gây bạo loạn, ly khai ở một số vùng hoặc nhiều
vùng có tính chất độc lập để chia cắt nước ta, hy vọng tạo dựng nhà nước “tự
do”, “độc lập” chịu sự chi phối của bên ngoài,... Phương thức chống phá của các
thế lực thù địch hết sức đa dạng, có lúc lợi dụng sự công khai của báo chí,
truyền thông, lợi dụng sự tự do tư tưởng; có lúc ngụy trang dưới nhiều hình
thức, vỏ bọc tinh vi, đặc biệt là chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội.
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay với sự phát triển mạnh
mẽ của công nghệ thông tin, internet đã trở thành không gian xã hội mới “không
gian mạng” mang lại những cơ hội, vận hội mới để các quốc gia, dân tộc cùng
nhau hợp tác và phát triển. Các thế lực thù địch, phản động đang tận dụng
những ưu thế vượt trội của công nghệ số, mạng xã hội để tuyên truyền những tư
tưởng độc hại; thu thập thông tin, bí mật nhà nước, bí mật quân sự, phá vỡ niềm
tin và cắt đứt sợi dây liên kết giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận
những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta. Với sự phát triển
rất sôi động và phong phú của mạng thông tin toàn cầu, thì đó lại là một
"điều kiện", "thời cơ" thuận lợi để các thế lực thủ địch
thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá chủ nghĩa xã hội, phá hoại nền tảng tư
tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông
tin, truyền thông hiện đại như báo chí, đài phát thanh đặt ở ngoài nước,
internet, các trang mạng xã hội, các blog, tấn công vào nền tảng tư tưởng của
Đảng. Chúng còn trực tiếp tiến công vào báo chí cách mạng nước ta, làm nhiễu
mạng điện tử, tiến công vào những nhà báo cách mạng.
Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt lợi dụng báo
chí, mạng xã hội chống phá cách mạng nước ta, làm cho việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn
chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay gặp
những khó khăn, thách thức mới. Trong Báo cáo gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, Jon Aloisi
(cựu Phó Đại sứ Mỹ tại Việt Nam) từng viết: “Thành công lớn nhất là đã thực
hiện việc đưa vào Việt Nam mạng lưới internet. Đó là phương tiện hữu hiệu cho chiến
dịch truyền bá các tư tưởng phương Tây nằm trong chiến lược nhằm thay đổi chính
thể ở quốc gia này”.
Trong tình hình mới, “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch chống phá Việt Nam càng quyết liệt và nguy hiểm hơn. Cuộc đấu tranh phòng,
chống “diễn biến hoà bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù
địch trên mạng xã hội ở Việt Nam ngày càng phức tạp, khó khăn. Trong thời gian
tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực
tư tưởng, văn hoá, trong đó tập trung tuyên truyền, phủ nhận nền tảng tư tưởng,
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là
những thời điểm Quốc hội thông qua các văn bản pháp luật mới; phủ nhận thành
quả cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc chủ trương củng cố quốc
phòng, xây dựng quân đội; bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ hình ảnh các đồng
chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội; đả kích bản sắc văn hóa dân
tộc; làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta đối Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội
chủ nghĩa.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch trên
mạng xã hội ở Việt Nam là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta. Yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù
địch trên mạng xã hội ở Việt Nam là phải kết hợp chặt chẽ giữa "xây"
và "chống", lấy xây dựng là chính, tích cực chủ động phòng, chống là
quan trọng; kết hợp chặt chẽ giữa chủ động ngăn chặn, phòng ngừa với chủ động
tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hoà bình" của
các thế lực thù địch.
SỨC MẠNH NỘI SINH VÀ BÀI HỌC THỊNH SUY, THÀNH BẠI TỪ LỊCH SỬ
Đối với dân tộc Việt Nam,
đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu và giá trị văn hóa cốt lõi; là sức
mạnh vô địch trong suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chiến thắng thiên
tai, địch họa, định bờ cõi, xưng nền văn hiến, nêu cao độc lập, tự chủ. Đây là
sức mạnh nội sinh có tính chủ đạo xuyên suốt, bền vững của dân tộc trong suốt
chiều dài lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công”. Đó là chân lý về
sức mạnh vô địch của đoàn kết và phát triển truyền thống đoàn kết của dân tộc
Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Theo Hưng Đạo Đại vương
Trần Quốc Tuấn, đoàn kết là cội nguồn sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược
và gốc của đoàn kết là chăm lo, gìn giữ sức dân: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa
mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt... Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế
sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy". Sức mạnh của nhân dân khi
kết thành một khối là sức mạnh vô địch. Đó là chân lý được Nguyễn Trãi khẳng
định: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”. Tư
tưởng này là nền tảng quan trọng hội tụ đại đoàn kết toàn dân của Cuộc khởi
nghĩa Lam Sơn đập tan ách đô hộ tàn bạo 20 năm của giặc Minh. Trong "Bình
Ngô đại cáo", Nguyễn Trãi viết: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc
ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt
ngào”. Trước đó, đối mặt với giặc Minh xâm lược, nhà Hồ xây thành cao, hào sâu
nhưng không xây được khối đoàn kết, thống nhất lực lượng toàn dân nên thất bại
là tất yếu. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng từng nói: “Thần không sợ đánh giặc,
chỉ sợ lòng dân không theo mà thôi”.
Thời kỳ Pháp thuộc, triều
đình nhà Nguyễn chia rẽ, không quy tụ được sức mạnh đoàn kết dân tộc; nhiều
cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra song thường mang tính đơn lẻ, thiếu
ngọn cờ tập hợp lực lượng toàn dân nên đều thất bại. Đất nước ta lại chìm trong
đêm trường nô lệ trăm năm thuộc Pháp.
Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán đường lối chiến lược
đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp và phát huy sức mạnh đoàn kết vô địch của
toàn dân. Những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng
chủ nghĩa xã hội là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học
lớn chính là mục tiêu, lý tưởng, lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu,
lợi ích của dân tộc, nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Sự đoàn kết trong Đảng là
hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thế giới đương đại phản
ánh sâu sắc sự cạnh tranh gay gắt, kiềm chế lẫn nhau giữa các cường quốc. Xung
đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, bất ổn chính trị ở nhiều nơi và hiện
tại, tình hình chiến sự tại Ukraine đang diễn biến phức tạp... phản ánh rõ nét
sự can dự, cạnh tranh của các nước lớn và sự chia rẽ, mâu thuẫn, phân hóa từ
bên trong. Do vậy, phòng chống sự chia rẽ, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân
tộc cũng chính là bảo vệ hòa bình và phát triển bền vững đất nước ta trong
“những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo” của
thế giới hiện nay./.
VHT.
TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH NIỀM TIN VỀ ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG HÒA BÌNH, TỰ VỆ CHÍNH NGHĨA
Đường lối quốc phòng toàn dân là sự nhận thức
nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ
quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ
hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ
nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh
chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ
cấp bách trong tình hình hiện nay. Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội
chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là
“hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc
phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ
nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để
tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do
toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta
trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Chính vì
đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ
nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện
Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng
tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong
tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị.
Để góp
phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường
lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện
một số giải pháp chủ yếu sau:
Một
là, cần quan tâm
nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách
quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ,
chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền
lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân
Việt Nam.
Hai
là, nâng cao hiệu
quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn,
phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt
đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với
bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa
bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính
chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận
đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản,
lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.
Bốn
là, tiếp tục chăm
lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc
chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao
cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
cách mạng thế giới”./.
VHT.
Vướng vào tham nhũng thì về hưu ngủ cũng không ngon!
Chiều 27-4, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã có buổi tiếp xúc cử tri 3 quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà của TP Đà Nẵng để chuẩn bị kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV.
Nói về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, Chủ tịch nước khẳng định thời gian qua và thời gian sắp tới, Đảng và nhà nước sẽ tiếp tục đẩy mạnh xử lý tham nhũng, tiêu cực với phương châm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai".

Theo Chủ tịch nước, việc xử lý tham nhũng không chỉ ở những vụ việc lớn mà xử lý cả vấn đề tham nhũng vặt. "Hồi xưa mà cán bộ nào có tai tiếng một chút về hưu thì nói là hạ cánh an toàn, bây giờ không có chuyện đó. Vướng vào tham nhũng tiêu cực thì về hưu ngủ cũng không ngon. Chúng ta xử lý rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn" - Chủ tịch nước nhấn mạnh.
Bên cạnh xử lý cá nhân trực tiếp dính đến tham nhũng, Chủ tịch nước cho hay còn xử lý cả cán bộ không làm hết trách nhiệm, lãnh đạo chưa sát để nhiều cán bộ thuộc quyền quản lý của mình vi phạm khuyết điểm tham nhũng, tiêu cực.
"Vì sao càng làm thì phát hiện ra nhiều, là vì bây giờ chúng ta quyết tâm làm. Khi quyết tâm làm mới thấy nhiều sai phạm. Cử tri thấy nhiều là bởi Đảng và nhà trước chủ trương là làm công khai, không có giấu. Ủy ban kiểm tra các cấp xử lý Đảng viên cũng công khai. Hiện còn nhiều vụ việc đang tiếp tục làm và sẽ sớm có thông báo công khai hoặc sớm đưa ra xét xử" - Chủ tịch nước khẳng định. LVK ST
MẸ THỨ
Hiếm có người mẹ nào trên thế giới này mang nhiều nỗi đau và sự hy sinh cho Tổ quốc như mẹ Thứ.
Trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, mẹ Thứ lần lượt nhận 9 giấy báo tử của 9 con trai và nhận tin con rể cùng 2 cháu ngoại hy sinh...
Thời kỳ đất nước chìm trong khói lửa, vợ chồng mẹ Thứ cùng con gái đầu bám trụ xóm làng, vừa sản xuất, vừa đào hầm nuôi giấu cán bộ. Hằng đêm, mẹ để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động. Vườn nhà mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc...
Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ.
“...Nếu còn chiến tranh, các con tôi, rồi cháu tôi vẫn sẽ tiếp tục ra trận để giành độc lập, tự do, bình yên mà hôm nay chúng tôi đang hưởng”
Năm 80 tuổi, mẹ Thứ mù đôi mắt, sống với con gái ở quê nhà sau đó chuyển ra Đà Nẵng sống cùng con út Lê Tự Tân cho đến khi mất ở tuổi 106 vào ngày 10-12-2010.
Mẹ Thứ đã được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 1994. Trân trọng với những gì các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc, cho Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã thống nhất xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, lấy nguyên mẫu Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Công trình đã được khởi công vào ngày 27/7/2009, tại Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam), nay là địa chỉ đỏ, được nhân dân khắp mọi miền tổ quốc đến viếng.
Công trình lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ cùng thông điệp Mẹ là suối nguồn bao la vô tận, là linh hồn đất nước. Mẹ sinh ra từ mảnh đất anh hùng, rồi sinh ra những người con anh hùng và sẽ lại hoá thân vào đất, vào non nước Việt Nam. Mẹ sẽ sống mãi ngàn đời, vẫn tiếp thêm nguồn sức mạnh mẽ cho các thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
VIỆT NAM XẾP THỨ 5 TRONG TOP 10 ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN NHẤT CHÂU Á
Việt Nam xếp vị trí thứ 5 trong Top 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á và được đánh giá là một trong những quốc gia thanh bình nhất thế giới.
Mới đây, tạp chí The Travel (Canada) đã liệt kê 10 điểm đến tuyệt vời nhất tại khu vực châu Á cho du khách trên thế giới có thể lựa chọn tham quan và trải nghiệm. Trong đó, Việt Nam xếp vị trí thứ 5 và được đánh giá là một trong những quốc gia thanh bình nhất thế giới.
Việt Nam phát triển với sức sống trẻ trung và năng động. Dọc mảnh đất hình chữ S là nhiều kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ và tươi đẹp. Những đảo đá vôi lớn nhỏ với hình thù độc đáo ở vịnh Hạ Long, động Phong Nha – đệ nhất kỳ quan động - nằm trong Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hay sông nước hữu tình ở miền Tây chỉ là một vài trong số rất nhiều điểm hấp dẫn du khách tại Việt Nam. Không chỉ sở hữu vẻ đẹp thiên nhiên, Việt Nam còn thu hút du khách bởi những công trình kiến trúc in đậm dấu ấn lịch sử - văn hóa hàng thế kỷ. LVK ST
KƠ - PA KƠ - LƠNG NGƯỜI ANH HÙNG BẮN "XUYÊN TÁO"
Kơ-Pa Kơ-Lơng là anh hùng nhỏ tuổi người ở tỉnh Gia Lai.. Anh nổi tiếng với biệt tài bắn "xuyên táo", giết nhiều địch chỉ với một ít đạn.
Anh sinh ngày 19-8-1948, người dân tộc Gia Rai, tỉnh Kon Tum.
Mới 13 tuổi, Kơ-lơng đã xin vào du kích, nhưng không được xã đội nhận vì còn bé và không có súng để đánh giặc, Kơ-lơng liền tự làm lấy nỏ, vót tên, phục kích bắn bị thương một tên địch. Nhưng không chết vì tên không tẩm thuốc. Kơ-lơng xin người già mũi tên có thuốc và bắn chết liên tiếp ba tên liền.
Trong đơn xin gia nhập quân đội, Kơ-pa Kơ-lơng viết: “Em đã giết ba mươi bốn tên Mỹ Ngụy, phá được tám xe cơ giới. Nay em đã lớn, xin cấp trên cho em được làm giải phóng quân”.
Thế là Kơ-lơng được gia nhập du kích và được phát súng. Nhận ba viên đạn với điều kiện: phải hạ ba tên giặc.
Kơ-lơng đã bắn như sau: Phát thứ nhất, bắn “xâu táo” xiên một lúc năm tên.
Phát thứ hai “xâu táo” ba tên, hai thằng chết tại chỗ. Hạ quá ba tên rồi, Kơ-lơng nộp lại viên thứ ba!
Đến một trận khác. Kơ-lơng bắn ba viên hạ bảy tên.
Trận khác nữa: bảy viên hạ hẳn mười chín tên giặc!
Năm 15 tuổi, Kơ-lơng đã đánh 30 trận, giật 12 quả mìn, lật nhào 8 xe cơ giới, diệt 88 tên địch, trong đó có 4 tên xâm lược Mỹ.
Tổng cộng anh tham gia chiến đấu 32 trận, diệt 124 địch (có 6 lính Mỹ), phá huỷ 7 xe quân sự và là chiến sĩ trinh sát gan dạ, bắn giỏi đồng thời là một trong những người diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, anh được tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. LVK St







