Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

Bịt mọi lỗ hổng để kiểm soát quyền lực

Ngay từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã nhận thức và nhấn mạnh tầm quan trọng của kiểm soát quyền lực bằng việc đưa ra những quan điểm chỉ đạo cụ thể về việc này.

Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên khái niệm kiểm soát quyền lực chính thức được ghi vào văn kiện Đại hội, nêu rõ "quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp".

Đến Ðại hội XIII, kiểm soát quyền lực tiếp tục là nội dung được nhấn mạnh trong văn kiện của Đảng, trong đó chỉ rõ một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là phải "tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức".

"Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền" khi đó cũng được coi là một trong các nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng, chỉnh đốn Ðảng trong sạch, vững mạnh.

Dù vậy, trên thực tế, đã có không ít cán bộ có chức có quyền lợi dụng những sơ hở trong công tác kiểm soát quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, cấu kết để trục lợi, tham nhũng.

Với mục tiêu khắc phục những tiêu cực đó, chủ trương tăng cường kiểm soát quyền lực tiếp tục được quán triệt, nhấn mạnh tại Đại hội XIII của Đảng. Đảng quyết liệt chỉ đạo việc kiểm soát quyền lực phải được thực hiện thường xuyên, liên tục ở mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương, đơn vị, "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ", khắc phục triệt để tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm quyền và lợi ích của nhân dân. Ðảng chỉ rõ kiểm soát quyền lực là trách nhiệm không chỉ của Ðảng mà của cả hệ thống chính trị và của toàn dân.

Song Ðảng cũng thẳng thắn chỉ ra cái khó trong công tác này bởi nó liên quan trực tiếp đến những người nắm quyền lực, những người "có chức có quyền" trong xã hội. Kiểm soát quyền lực vì thế được xem là công việc hệ trọng, cấp bách hiện nay.

Kết luận phiên họp thứ 23 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực hồi tháng 1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ trong năm 2023, các cơ quan chức năng cần phối hợp xây dựng được nhiều cơ chế, thể chế, chính sách để kiểm soát quyền lực, cán bộ không thể, không dám, không muốn, không cần tham nhũng.

"Cần có sự phối hợp rất nhịp nhàng "trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt", phải giáo dục và có cách làm đặc biệt để cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp càng cao, càng phải gương mẫu giữ mình trong sạch", theo lời Tổng Bí thư.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đề nghị tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế của Đảng và Nhà nước, bảo đảm đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch. Trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; cơ chế xử lý những phản ánh, tố giác về tham nhũng, tiêu cực.

Năm 1945, Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Ngay sau đó, đến ngày 23/11, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64 thành lập Ban Thanh tra đặc biệt, bản chất là để giám sát bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức, giám sát quyền lực. Nghĩa là ngay từ thời điểm đó, chúng ta đã quan điểm rất rõ ràng và thể hiện nhận thức sâu sắc về vấn đề kiểm soát quyền lực.

Từ thời điểm đó đến nay, cơ chế giám sát, kiểm soát quyền lực ngày càng được hoàn thiện. Song trên thực tế, liên tiếp các vụ đại án như Việt Á, chuyến bay giải cứu… xảy ra trong những năm gần đây cho thấy hiệu quả của việc giám sát, kiểm soát quyền lực chưa được như mong đợi.

Điểm chung của những đại án này là liên quan rất nhiều cán bộ từ địa phương đến Trung ương, thậm chí cả những cán bộ cấp cao là Ủy viên Trung ương, bộ trưởng, lãnh đạo địa phương. Bên cạnh đó, số tài sản, tiền bạc thất thoát trong những vụ án này rất lớn. Và quan trọng hơn là tính sai phạm có chủ đích, có hệ thống, có sự bắt tay giữa nhiều đơn vị, tổ chức và cá nhân với mục đích nhằm trục lợi.

Từ thực tế này, nhìn nhận có những lỗ hổng cần tiếp tục hoàn thiện để kiểm soát quyền lực tốt hơn, hạn chế những hành vi sinh ra tham nhũng.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các cơ quan Đảng đang cố gắng cụ thể hóa những nguyên tắc chung trong kiểm soát quyền lực thành từng chính sách, cơ chế trong từng lĩnh vực quản lý cụ thể, để cơ chế này vừa làm trên diện rộng, vừa được thực hiện một cách có trọng tâm, trọng điểm.

Để cơ chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả, cần rà soát, xem lại các cơ quan hiện nay được giao chức năng này đã có đủ quyền hạn, đủ sức mạnh để thực hiện hay chưa.

Ngoài ra, sự giám sát của người dân, theo ông Minh, cũng là cơ chế kiểm soát quyền lực vô cùng quan trọng để có thể phản ánh những việc làm trong quá trình thực thi công vụ, sử dụng quyền lực của cán bộ. Muốn vậy, một mặt Nhà nước phải tạo ra cơ chế, công khai minh bạch, đặt hoạt động công quyền và việc sử dụng quyền lực dưới ánh sáng, trước hàng vạn lỗ tai con mắt của người dân.

Nhưng mặt khác, bản thân người dân và xã hội cũng cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực đấu tranh, kiểm soát của mình, bởi muốn thực hiện quyền của mình cũng phải có kiến thức, nắm chắc thông tin và luật pháp.

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này.

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.

Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”. Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.

Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.

Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.

Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.

Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.

Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.

Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.

Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”.

Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”.


Hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đối với công việc trong giai đoạn mới

Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên đối với công việc được hiểu là những quy định về tiêu chuẩn, nguyên tắc, thước đo hành vi chuẩn mực mà mỗi cán bộ, đảng viên khi thực thi nhiệm vụ đều phải có và tuân thủ. Trong từng giai đoạn, từng công việc khác nhau, các chuẩn mực đạo đức không chỉ được cán bộ, đảng viên thường xuyên rèn luyện thực hành, trau dồi, đồng thời bổ sung, phát triển những chuẩn mực đó lên tầm cao mới cho phù hợp với thời đại, với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Chuẩn mực đạo đức cách mạng được thể hiện bằng các chuẩn giá trị như lòng trung thành, tính trung thực, tận tụy, trách nhiệm, chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quy định của pháp luật; luôn có tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dấn thân vì sự nghiệp chung, vì thế nó được coi là những căn cứ để đánh giá phẩm chất, nhân cách, thái độ, hành vi của cán bộ, đảng viên, đồng thời là điều kiện để cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Chuẩn mực đạo đức cách mạng hiện nay của cán bộ, đảng viên đối với công việc phải được xây dựng trên cơ sở kế thừa văn hóa truyền thống của dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu tinh hoa văn hóa đạo đức của thời đại mở cửa, hội nhập quốc tế. Mục tiêu của hoàn thiện chuẩn mực đạo đức cách mạng là để cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi, ứng xử trong công việc hằng ngày, hoàn thiện bản thân, xây dựng giá trị chung của cán bộ, đảng viên trong thời kỳ mới. Chuẩn mực đạo đức phải bám sát và phục vụ nhiệm vụ chính trị đang đảm nhiệm, phù hợp với môi trường, điều kiện làm việc mới như không gian mạng, môi trường số.

Việc tiếp tục xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên là yêu cầu vừa cấp thiết vừa có ý nghĩa chiến lược trong việc xây dựng và hoàn thiện nhân cách, phẩm chất văn hóa của con người Việt Nam trong thời đại mới. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng cũng đã đặt ra yêu cầu các cơ quan chức năng “Nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần Đảng ta là đạo đức, là văn minh cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”.

Dưới góc độ nghiên cứu, các chuẩn mực đạo đức cách mạng của người đảng viên đối với công việc cần được chuẩn hóa theo các nhóm sau đây:

Thứ nhất, nhóm chuẩn mực đạo đức về hệ tư tưởng, ý thức chính trị gồm các yếu tố làm nên tiêu chuẩn chính trị của người cán bộ đảng viên như lòng trung thành, sự tin tưởng, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của bản thân; nghiêm chỉnh chấp hành, tuân thủ mọi chủ trương, đường lối của Đảng, kỷ luật đảng; không suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống; không có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, luôn có ý chí, khát vọng cống hiến vì sự phát triển của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thứ hai, nhóm chuẩn mực đạo đức về pháp luật là các tiêu chí thể hiện sự tuân thủ, thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị nơi công tác; giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, giữ nghiêm kỷ luật, bảo đảm cho một xã hội luôn được vận hành một cách trật tự, có kỷ luật, kỷ cương.

Thứ ba, nhóm chuẩn mực đạo đức về quan hệ xã hội là các tiêu chí về mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với cấp trên, cấp dưới và đồng nghiệp, với nhân dân, với đối tác trong thực thi nhiệm vụ được giao. Trong đó, cần chú trọng đến các giá trị như sự trung thực, sự tận tụy, tận tâm, tinh thần đoàn kết, tương trợ nhau trong công việc. Đặc biệt là trong sự tương tác, giải quyết công việc liên quan đến nhân dân, người cán bộ, đảng viên phải có các phẩm chất đạo đức: tôn trọng nhân dân, tin dân, gần dân và học dân.

Thứ tư, nhóm chuẩn mực đạo đức về khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Hiện nay, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang phát triển mạnh mẽ, việc ứng dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực, các ngành nghề, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên cũng cần có những tiêu chuẩn, tiêu chí về đạo đức cách mạng như sử dụng đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm và bảo quản tốt tài sản các phương tiện cơ sở, vật chất, trang thiết bị; giữ gìn bí mật quốc gia, tích cực tham gia phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Thứ năm, nhóm chuẩn mực đạo đức trong quan hệ quốc tế. Đất nước ta đang chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng nhằm tận dụng thời cơ, nguồn lực từ quốc tế phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ ngoại giao, quan hệ quốc tế cũng cần phải có những tiêu chuẩn phẩm chất, đạo đức như tinh thần hòa hiếu, lòng vị tha, ứng xử văn hóa, có trách nhiệm, ham học hỏi, cầu tiến bộ.

Song song với các nhóm chuẩn mực nêu trên, cần đẩy mạnh giáo dục đạo đức và quy định chế độ học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Với tư cách là bộ phận ưu tú của dân tộc, thành viên của đội tiên phong lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, cán bộ, đảng viên ở bất cứ vị trí công tác nào cũng đều phải tiên phong gương mẫu trong rèn luyện, tu dưỡng, thực hành đúng đắn các chuẩn mực đạo đức cách mạng để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Mỗi cán bộ, đảng viên cần xác định tâm thế rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, mọi lúc, mọi nơi, gắn với thực tiễn công việc của bản thân để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Bên cạnh sự tự giác của cá nhân, các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị cũng cần tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng để cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi, ứng xử trong công việc hàng ngày, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận, trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách, không bị cám dỗ bởi tiền tài, vật chất, danh vọng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Đồng thời, cần quy định chế độ học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên thông qua thực hành công việc, thực hiện chức trách, nhiệm vụ.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời gian tới bên cạnh những thuận lợi, thời cơ cũng có không ít khó khăn, thách thức, nguy cơ, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ có tri thức, năng lực mà còn phải có lòng nhiệt tình cách mạng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có khát vọng cống hiến, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; không tham nhũng, tiêu cực, lãng phí; chống chủ nghĩa cá nhân; trọng dân, tin dân, học dân, vì nhân dân, tất cả vì sự phát triển đất nước phồn vinh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Đó là những biểu hiện của chuẩn mực đạo đức cao đẹp mà mỗi cán bộ, đảng viên phải hướng tới để hoàn thiện nhân cách, phẩm chất của mình, để hoàn thành nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Những biểu hiện cụ thể của chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên đối với công việc

Đạo đức cách mạng là một trong những giá trị cốt lõi của người cán bộ, đảng viên; là yếu tố quan trọng tạo nên giá trị, vị thế, uy tín của người cán bộ, đảng viên trong xử lý các mối quan hệ xã hội và trong công việc. Bên cạnh yếu tố trí tuệ, tài năng, chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ, đảng viên làm việc có mục đích, luôn kiên định và giữ vững mục tiêu, lý tưởng, thấy rõ bổn phận và trách nhiệm, điều chỉnh hành vi ứng xử, trong bất cứ hoàn cảnh nào; khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ hãi, chán nản, lùi bước.

Trong thực hiện công việc, đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên được thể hiện thông qua những phẩm chất, thái độ, tư duy, phương pháp, cách ứng xử với mục tiêu cao nhất là hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thực tiễn. Thông qua công việc, người cán bộ được thực hành các tiêu chuẩn đạo đức, được thể hiện nhân cách, được bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của cá nhân, qua đó, góp phần lưu giữ, làm giàu truyền thống đạo đức của tập thể và của dân tộc. Đối với người đảng viên, đạo đức cách mạng là yếu tố quan trọng tạo nên bản chất của Đảng như Bác Hồ đã từng khẳng định “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; sự giàu có về đạo đức cách mạng sẽ làm cho Đảng có đủ bản lĩnh, dũng khí, tư cách, tài năng lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Những tiêu chí cụ thể của chuẩn mực đạo đức đối với công việc được thể hiện ở nhiều khía cạnh, nhiều giá trị đã được khẳng định và đang được cán bộ, đảng viên thực hiện, đó là: Tinh thần yêu Tổ quốc, tự hào về truyền thống dân tộc; nắm vững và thực hiện nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; am hiểu công việc, tâm huyết với nghề nghiệp, thực hiện đúng chức trách, thẩm quyền, nhiệm vụ được giao; luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết và trước hết; có ý thức giữ gìn danh dự, phẩm giá, uy tín của cán bộ, đảng viên; có tinh thần đoàn kết, phối hợp, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ được giao; thường xuyên tự soi, tự sửa, rút kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ để hoàn thiện bản thân, phát triển những giá trị mới của đạo đức cách mạng trong thời kỳ mới. Thông qua công việc, những tiêu chuẩn, giá trị đạo đức nêu trên của người cán bộ, đảng viên được bộc lộ, được rèn luyện và được chuẩn hóa, phát triển lên tầm cao mới phù hợp với chức trách, nhiệm vụ đảm nhận.

Bên cạnh phần lớn cán bộ, đảng viên luôn tuân thủ và thực hành tốt đạo đức cách mạng đối với công việc, vẫn còn không ít cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, suy thoái về nhiều mặt, trong đó có suy thoái về đạo đức công vụ với nhiều biểu hiện cơ bản như: Phai nhạt lý tưởng, lười học tập lý luận chính trị; chỉ lo vun vén lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân; không chấp hành kỷ luật, kỷ cương; quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và nhân dân. Thực tế những năm qua, đã có hàng nghìn cán bộ, đảng viên vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống đã bị kỷ luật, trong đó, có cả những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo thiếu gương mẫu, đạo đức, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cá nhân chủ nghĩa, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao và phải chịu các hình thức kỷ luật đảng như cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng; bị pháp luật trừng trị, khởi tố, bắt giam. Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên đối với công việc để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm của cán bộ, đảng viên ngay từ khi mới phát sinh.

TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

     Hồ Chí Minh luôn yêu cầu Đảng Cộng sản Việt Nam phải mạnh dạn chỉ rõ những khuyết điểm của Đảng và kiên quyết sửa chữa tiến bộ để xứng đáng là một Đảng chân chính cách mạng. Người nói: “Chỉ có đảng chân chính cách mạng và chính quyền thật dân chủ mới dám mạnh dạn tự phê bình, hoan nghênh phê bình, và kiên quyết sửa chữa”. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở: “Chỉ có không ngừng đấu tranh, phê bình và tự phê bình, nhận rõ đúng sai, phát huy cái đúng, khắc phục cái sai, mới có thể làm cho mình, cho Đảng, cho cách mạng tiến bộ mãi”. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng yêu cầu mỗi đảng viên phải thực hiện tốt trách nhiệm, phận sự của mình, là khi Đảng có khuyết điểm thì người đảng viên chân chính phải không để cho ai lợi dụng những khuyết điểm ấy. Và Hồ Chí Minh luôn vững tin, khẳng định rằng: “Chúng ta không sợ khuyết điểm, vì chúng ta có đủ nghị lực và quyết tâm để sửa chữa khuyết điểm”.

Một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm

Là một phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm nhưng “bất bạo động” lại thường được ngụy trang dưới danh nghĩa phản kháng “ôn hòa”, “dân sự”. Vì vậy, việc nhận diện đúng bản chất của phương thức “bất bạo động” không chỉ góp phần thống nhất nhận thức mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch, phản động, từ đó chủ động trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn.

 “Bất bạo động” được hình thành và phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu của thế kỷ XX. Trên thế giới, Mahatma Gandhi được xem là người đầu tiên áp dụng phương thức đấu tranh này để giải phóng dân tộc Ấn Độ khỏi sự đô hộ của Anh. Đấu tranh “bất bạo động” cũng được biết đến từ cuộc nổi dậy của sắc dân da đen ở Mỹ đòi quyền bình đẳng, chống lại nạn kỳ thị, phân biệt chủng tộc, được lãnh đạo bởi mục sư Martin Luther King.

Gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước không gian hậu Xô viết, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Vậy, “bất bạo động” là gì? Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng vũ khí, súng đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Có thể nhận diện phương thức “bất bạo động” với những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, “bất bạo động” là phương thức hoạt động không sử dụng vũ khí, súng, đạn mà sử dụng áp lực của quần chúng, từng bước làm suy yếu, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Hai là, tẩy chay, bất hợp tác với chính quyền, đưa chính quyền vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” là những nội dung cơ bản của phương thức “bất bạo động”.

Ba là, đình công, biểu tình, tuần hành chống đối chính quyền là hình thức chủ yếu, đặc trưng chính của “bất bạo động”. Mục tiêu chính của các thế lực thù địch, phản động trong thực hiện phương thức “bất bạo động” là bằng những “chiến thuật” hòa bình trong đấu tranh chính trị để lật đổ chính quyền. 

Bốn là, “bất bạo động” đến một mức độ nhất định có thể chuyển thành “bạo động” khi có điều kiện, thời cơ.

Ở Việt Nam, thời gian gần đây được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch nước ngoài, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan trong nước đang ra sức hô hào, tuyên truyền rộng rãi về phương thức “bất bạo động” trên các trang mạng xã hội; mở các lớp huấn luyện, đào tạo về “bất bạo động” cho số đối tượng chống đối, phản động; triệt để lợi dụng các vụ việc, sự kiện chính trị, xã hội phức tạp, nhạy cảm để lôi kéo, kích động, thu hút quần chúng tham gia vào các hoạt động trái pháp luật…

Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng.

Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhận diện bản chất của “bất bạo động” có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Cảnh giác với thủ đoạn Tung hỏa mù trên thế giới ảo

Trong thời gian gần đây, trên trang mạng xã hội, blog cá nhân, các thế lực thù địch, phản động đã không ngừng tăng cường các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với các phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm. Các thế lực thù địch, phản động sử dụng các trang mạng xã hội, đưa lên internet về chương trình cấp đất, cấp nhà miễn phí để lừa bịp, lôi kéo, tuyển dụng lực lượng tham gia. Từ những thủ đoạn trên, các thế lực thù địch, phản động đã hình thành nhóm tổ chức cầm đầu khiếu kiện, chỉ đạo tập trung đông người, phản đối chủ đầu tư, chính quyền, dựng lều lán, có hành động quá khích ngăn cản việc thi công dự án, chống đối lực lượng chức năng.

Xét về bản chất, đây vẫn là phương thức các thế lực thù địch, phản động nhằm thực hiện âm mưu chia rẽ, gây nghi ngờ và từng bước làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Nhưng, xét về thủ đoạn, đây là một trong những thủ đoạn mới, tung hỏa mù cực kỳ tinh vi, xảo quyệt.

Thủ đoạn tung hỏa mù là hình thức tung tin thất thiệt nhằm đánh lạc hướng dư luận, với mục đích, người tiếp nhận thông tin không biết được đâu là mục tiêu chính mà chúng nhằm tới. Với những thông tin trên, có thể nhiều người biết rõ sự việc, sẽ cho rằng, đó chỉ là những tin bịa đặt, song trong đầu, đã có vết mờ của sự nghi ngờ, hư hư thực thực. Với những người trung dung thì thông tin trên càng làm cho niềm tin thêm rạn nứt, đứt gãy. Với thành phần đã đánh mất bản lĩnh, đánh mất niềm tin, bất mãn, thoái hóa biến chất, những thông tin của các thế lực thù địch, phản động tung ra sẽ trở thành cái “cọc” để ra sức tuyên truyền, lôi kéo, lấy làm minh chứng cho những tồn tại, yếu kém của Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý xã hội.

Thực ra, thủ đoạn tung hỏa mù này đã được sử dụng từ rất lâu, nay được các thế lực thù địch và phản động tái hiện lại với sự tinh vi và xảo quyệt hơn. Thủ đoạn cũ nhưng được làm mới với hình thức và nội dung dễ tiếp cận cho nhiều thành phần, nhiều đối tượng, nhất là khi khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, chỉ cần một cái “bấm chuột”, tốc độ lan truyền của thông tin “lộng giả thành chân” sẽ “phủ sóng” đến hang cùng ngõ hẻm.

Đảng ta đang đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch nội bộ. Công cuộc cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ kiến tạo đang gặp những khó khăn nhất định. Đời sống văn hóa, an sinh, xã hội cũng có nhiều việc phải bổ sung, hoàn thiện. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động sẽ không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào để chống phá. Chúng không chỉ tiếp tục thực hiện các âm mưu từng bước làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nước, gây mất đoàn kết, tạo hoài nghi trong nội bộ và nhân dân, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng.

Âm mưu không thay đổi, song, chúng sẽ không ngừng làm mới các thủ đoạn, hình thức, phương cách để đẩy mạnh, đẩy nhanh chiến lược chống phá qua các hoạt động công khai, bí mật, bán bí mật như “tung hỏa mù”, “lộng giả thành chân” hiện nay đang áp dụng.

Nhận thức rõ bản chất, hiểu sâu sắc âm mưu, nhận diện chính xác các thủ đoạn, không chỉ làm rõ được mục đích, mà còn để thấy sự tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong cuộc chiến đấu tranh tư tưởng “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong chính mỗi tổ chức và cá nhân hiện nay.

GIÁ TRỊ CỦA TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP

 

GIÁ TRỊ CỦA TỰ DO VÀ ĐỘC LẬP

Theo Hồ Chí Minh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Chế độ XHCN ra đời sẽ tạo cơ sở kinh tế để nhân dân được ăn no, mặc ấm. Chế độ chính trị của CNXH sẽ bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Chế độ xã hội trong CNXH sẽ bảo đảm cho quyền tự do, dân chủ, bình đẳng và tiến bộ. Khi nhân dân được thụ hưởng những lợi ích thực sự mà cách mạng đem lại, nhân dân các nước XHCN sẽ ra sức bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ, qua đó góp phần củng cố độc lập dân tộc bền lâu.

DÂN CHỦ KIỂU TƯ BẢN…HÌNH THỨC VÀ TRỐNG RỖNG

 

DÂN CHỦ KIỂU TƯ BẢN…HÌNH THỨC VÀ TRỐNG RỖNG

Cho đến tận ngày nay, chế độ tư bản chủ nghĩa không phải là 1 chế độ mà ở đó con người được giải phóng và phát triển thực sự; chế độ TBCN là chế độ mà ở đó “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”, nhưng lại luôn cho mình cái quyền áp đặt tự do, dân chủ, nhân quyền…do đó “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất” đó là kiểu dân chủ TBCN.

Tự do Internet ở Việt Nam là một thực tế không thể phủ nhận

Sau 36 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên thành một điểm sáng tăng trưởng trong khu vực và trên thế giới với nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó có nỗ lực nhằm bảo đảm tự do internet. Tuy nhiên, vẫn có cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí từ bên ngoài, đưa ra những đánh giá phiến diện, bóp méo thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet.… Đây là những âm mưu hòng xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng, thái độ thù địch; bôi nhọ hình ảnh, uy tín đất nước. Thực tế này càng đòi hỏi cần phải có cơ chế phối hợp quyết liệt, hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành, địa phương trong việc nhận diện, giải thích, làm rõ, phản bác các thông tin sai lệch bảo vệ hình ảnh đất nước, nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế.

Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 09/11/1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Tại Hội nghị cung cấp thông tin cho báo chí về công tác nhân quyền và thông tin đối ngoại, ông Đinh Tiến Dũng, Phó Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại, Bộ Thông tin và Truyền thông nhấn mạnh: “Quyền con người ngày càng có tầm quan trọng trong quan hệ quốc tế và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam. Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền”. Theo ông Dũng, hoạt động truyền thông, báo chí luôn luôn song hành cùng với quá trình phát triển đất nước; từng bước xây dựng và truyền tải rất nhiều thông tin hữu ích ở nhiều lĩnh vực khác nhau đến nhân dân. Trong lĩnh vực bảo vệ và phát huy quyền con người, thông qua các kênh thông tin truyền thông, các giá trị xã hội, các chuẩn mực về quyền con người quốc tế và Việt Nam được phổ biến và nhắc đi nhắc lại cho mọi người cùng biết, thuyết phục và vận động mọi người cùng nhau tuân thủ để bảo đảm những lợi ích thiết yếu và hợp pháp cho từng cá nhân hay bất cứ tổ chức nào.

Mới đây nhất, báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022 đã xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới. Đây không phải là lần đầu tiên FH đưa ra những đánh giá phiến diện, tiêu cực, sai sự thật về vấn đề tự do, dân chủ tại Việt Nam. Hằng năm, tổ chức Freedom House có trụ sở tại Mỹ đã tự khoác cho mình chiếc áo nhân quyền, công bố bản báo cáo về tự do Internet của hơn 60 quốc gia trên thế giới. Trong đó, tổ chức này nhiều lần xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia không có tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do ngôn luận, internet. Đó thực chất vẫn là những luận điệu "bổn cũ soạn lại", được đưa ra một cách vô căn cứ và cố tình phớt lờ thực tế sinh động, những thành tựu trong bảo đảm quyền tự do Internet ở Việt Nam.

Từ xuất phát điểm của FH và cách chấm điểm thiếu khoa học nêu trên, có thể nói, trong nhiều phần đánh giá FH đã đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái, lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước, và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền và tự do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ và thúc đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Mọi người dân ở Việt Nam đều có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua mạng xã hội. Sau 25 năm hiện hữu, Internet nay đã có thể truy cập ở hầu như bất cứ đâu và bất cứ thời điểm nào ở Việt Nam và thậm chí là miễn phí, Internet ứng dụng mọi lĩnh vực của đời sống, từ giáo dục, y tế, giao thông… tới cả xây dựng chính phủ điện tử. Mọi người dân ở Việt Nam đều có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua mạng xã hội. Đó là những minh chứng sống động của việc Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do Internet.

CẦN NHỮNG CÁI ĐẦU TỈNH TÁO KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

 

CẦN NHỮNG CÁI ĐẦU TỈNH TÁO KHI THAM GIA MẠNG XÃ HỘI

Trong tuần vừa qua khi nhân dân cả nước chào mừng ngày vui Chiến thắng 30-4-1975 – thống nhất đất nước và ngày Quốc tế Lao động 1-5, các thế lực thù địch lại ráo riết thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đi kèm với đó là yêu sách đòi “phi chính trị hóa” Quân đội bằng các thủ đoạn vô cùng tinh vi, nham hiểm và xảo quyệt rồi tung lên mạng xã hội. tại sao? Bởi vì, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị “không mù mờ”, chúng đang triệt để lợi dụng tình hình thế giới, khu vực để “mượn gió bẻ măng”, cố tình đẩy nhanh việc thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam khi bối cảnh thế giới đang diễn ra nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng việc toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ đến các quốc gia trên nhiều phương diện; thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng; các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau để chống phá Đảng, Nhà nước ta. chúng không muốn Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta tiếp tục giành những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới đất nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Chính vì vậy, chúng muốn đất nước ta gặp nhiều khó khăn, thách thức, không thể thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Chúng muốn Nhân dân ta mãi sống trong nghèo nàn, lạc hậu, để từ đó, tạo ra sự so sánh, đố kỵ, nghi ngờ, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, tính ưu việt của chế độ XHCN. Đây cũng là cái cách mà chúng xúc tiến thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội dễ dàng ngăn chặn các thế hệ thanh niên nhập ngũ. các luận điệu sai trái, xuyên tạc, lừa mị Nhân dân “về quân đội đứng ngoài chính trị, trung lập về chính trị”; những luận điệu bóp méo, tuyên truyền xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội…

Chính vì thế; kiên định và tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là công việc “gốc” của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam và của cả hệ thống chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, tiến lên hiện đại. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta; bảo đảm cho Quân đội luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cho nên, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là đảm bảo chắc chắn nhất cho Quân đội luôn xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; không bị mắc mưu “phi chính trị hóa”.

Sự nguy hại của biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, tạo dựng môi trường và không gian xã hội mới, xóa nhòa khoảng cách về không gian, thời gian và địa vị xã hội của mỗi con người; tạo ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa khác hẳn về chất trên tất cả các lĩnh vực, với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Chúng ta đang đứng trước cơ hội và thách thức tiếp cận khối lượng khổng lồ các sản phẩm văn hóa của nhân loại bao gồm cả sản phẩm có giá trị văn hóa và phản văn hóa. Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Song, trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sự kết nối xuyên “biên giới” trên không gian mạng, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa vẫn còn những lệch lạc, biểu hiện ở hiện tượng “sùng ngoại” và “lai căng” văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến thời kỳ hội nhập.

“Sùng ngoại” trong văn hóa có thể hiểu là sự đánh giá thái quá những yếu tố, sản phẩm, giá trị của nước ngoài; từ đó, dẫn đến cuồng tín, tôn sùng, theo đuổi trong nhận thức và hành động, hạ thấp, coi thường các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước. Còn “lai căng” văn hóa là sự tiếp thu sản phẩm, giá trị văn hóa nước ngoài trên không gian mạng để pha trộn, gán ghép một cách gượng ép, tùy tiện với các sản phẩm, giá trị văn hóa trong nước theo kiểu “dở tây dở ta”, hay nói cách khác, đó là sự bắt chước nước ngoài không có chọn lọc, gây phản cảm.

 “Sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng như những virus “văn hóa độc hại” lây lan, tác động to lớn đến con người và xã hội Việt Nam. Nó cổ súy cho lối sống dân chủ, thể chế chính trị tư sản phương Tây. Những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa theo khuynh hướng xã hội công nghiệp hiện đại và mặt trái của kinh tế thị trường, như: chủ nghĩa thực dụng, đề cao cá nhân, lối sống hưởng thụ, tôn thờ tiền bạc thái quá, thị hiếu thấp kém,… đi ngược lại với giá trị văn hóa truyền thống, con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Không chỉ vậy, nó còn làm cho những giá trị đạo đức cốt lõi bị lung lay, ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhất là của giới trẻ hiện nay, mà còn tạo ra nhiều hệ lụy trong xã hội, làm cho nhiều người dễ dao động, buông xuôi trước sự tấn công của văn hóa ngoại lai xấu độc, gây khủng hoảng niềm tin, mất phương hướng trong lựa chọn các giá trị, lối sống, v.v. Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 27/7/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) chỉ rõ: “Nhiều sản phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài đã xâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường, tác động rất xấu đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc”.

 

CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM QUA SÁCH HAY

 


Cuốn sách “Kỷ yếu Hoàng Sa” là cuốn kỷ yếu quy mô nhất về Hoàng Sa, với nhiều giá trị, giới thiệu cho người đọc về vị trí địa lí, quá trình xác lập chủ quyền, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Trong cuốn kỷ yếu này, bạn đọc có thể tìm thấy những mốc lịch sử của Hoàng Sa một cách chi tiết nhất về quần đảo này. Bảo đảm tính khoa học, chuẩn xác và tính pháp lí để tạo lập niềm tin trong đấu tranh chống các luận điểm xuyên tạc của một số sách, báo nước ngoài.

 

Có rất nhiều nhân chứng lịch sử đã kể những câu chuyện về Hoàng Sa mà cuộc đời họ đã gắn bó trước đây mà bạn đọc có thể tìm thấy trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa” để thêm tin yêu vào mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc. Tất cả điều đó đều khẳng định: Hoàng Sa là của Việt Nam.

Cảnh giác với luận điệu bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

 

Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu.

Nguồn: Báo QĐND