Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Lý luận và thực tiễn đều bác bỏ những luận điệu sai lệch về tự do tôn giáo ở Việt Nam

Hiện nay, các thế lực thù địch đưa ra nhiều ý kiến mang tính phiến diện, cực đoan, thể hiện cái nhìn thiếu khách quan, thậm chí luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam được diễn giải theo mưu đồ chính trị nhằm phủ nhận sự đổi mới chính sách về tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

Tuy nhiên, các luận cứ và thực tiễn diễn ra đều bác bỏ những luận điệu sai lệch và xuyên tạc  về tự do tôn giáo ở Việt Nam đó.

Về căn cứ pháp lý

Tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng là chính sách nhất quán, thể hiện xuyên suốt từ cương lĩnh chính trị đến nghị quyết, văn kiện, báo cáo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và thể hiện rất rõ trong Hiến pháp.

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm 1946 đã quy định quyền tự do tín ngưỡng là một quyền hiến định của nhân dân. Quyền tự do tín ngưỡng của công dân tiếp tục được mở rộng nội hàm trong các Hiến pháp năm 1959 và năm 1980. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 nhấn mạnh quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo, Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo hộ cho các cơ sở thờ tự của các tổ chức tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Cụ thể hóa Hiến pháp, quyền tự do tôn giáo còn được bảo đảm xuyên suốt trong các luật cơ bản. Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Giáo dục, Luật Tổ chức Chính phủ đều có điều khoản quy định về bảo vệ quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Trong suốt hơn 35 năm đổi mới đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng”. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VII, Đảng ta khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo”. Nghị quyết số 25-NQ/TW và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) làm sâu sắc thêm những nguyên tắc của Đảng về vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Đặc biệt, văn kiện của các kỳ đại hội Đảng đều nhất quán quan điểm tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Trong đó, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhìn nhận tổ chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội và chủ trương: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”.

Nhằm cụ thể hóa các quan điểm của Đảng và thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội thông qua ngày 18-11-2016, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tín đồ, chức sắc, các tổ chức tôn giáo và người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Có thể thấy, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được hiến định và thể chế hóa bằng pháp luật, thể hiện nhất quán hòng chỉ đạo công tác lập pháp tôn giáo.

Từ lý thuyết đến thực tiễn sinh động

Bức tranh khởi sắc về đời sống tôn giáo ở Việt Nam là minh chứng sống động nhất cho quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Với chính sách tôn giáo ngày càng cởi mở, đến nay, Nhà nước đã công nhận 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với khoảng hơn 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Năm 1990, Nhà nước chỉ công nhận 6 tôn giáo thì đến nay số tôn giáo được thừa nhận đã tăng 2,5 lần và con số này sẽ còn tiếp tục tăng.

Cùng với đó là sự gia tăng đáng kể số lượng tín đồ, chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự, cơ sở đào tạo tôn giáo và kinh sách xuất bản hằng năm. Điều này cho thấy sự quan tâm và quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước ta trong việc hiện thực hóa chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng vào thực tiễn đời sống.

Trên thực tế, xuất phát từ quan điểm đổi mới, tôn giáo ở Việt Nam được nhìn nhận là “một bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc”, được tạo điều kiện để thực sự trở thành nguồn lực xã hội quan trọng, đóng góp không chỉ trên phương diện văn hóa, đạo đức mà còn trên các phương diện kinh tế, chính trị, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo.

Việt Nam đã tích cực đăng cai tổ chức nhiều diễn đàn, hội nghị tôn giáo quốc tế và khu vực, tham gia ký kết nhiều điều ước quốc tế về tôn giáo, thực hiện các cuộc đàm phán ngoại giao với các tổ chức quốc tế về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam.

Trong bối cảnh mở cửa, hội nhập quốc tế, chính sách tôn giáo của Việt Nam ngày càng thông thoáng theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo trong nước có mối quan hệ giao lưu, hợp tác với các tổ chức tôn giáo quốc tế(11). Nhiều hoạt động nghi lễ tôn giáo mang tầm khu vực và quốc tế được Nhà nước tạo điều kiện tổ chức như Đại lễ Phật đản Vesak của Phật giáo năm 2008, 2014 và 2019; Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012 của Công giáo; Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017 của Tin lành... cho thấy không gian phát triển ngày càng rộng mở của các tôn giáo ở Việt Nam. 

Sự thật không thể phủ nhận

Cùng với quá trình đổi mới chính sách tôn giáo, thành tựu của việc tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam là hết sức rõ ràng. Dù có vu cáo, áp đặt đến đâu thì sự thật mà cộng đồng quốc tế không thể phủ nhận đó là - Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN về tôn giáo với những đặc điểm của nhà nước thế tục, được xây dựng dựa trên hai chân đế là tự do tôn giáo và chính giáo phân ly. Do đó, luận điệu vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm soát, giới hạn tự do tôn giáo thông qua các điều khoản luật “mơ hồ” là vô căn cứ và thiếu tính khách quan. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo gồm 09 chương, 68 điều, trong đó đưa ra những quy định cụ thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Dựa trên cơ sở pháp lý đó, trong thực tiễn, tín đồ các tôn giáo đều được bảo đảm quyền sinh hoạt tôn giáo theo nghi lễ truyền thống; người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo; tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận được đối xử bình đẳng trước pháp luật; chức sắc tôn giáo được tự do truyền đạo và được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật.

Về vấn đề đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đây là mô hình mà một số nước trên thế giới lựa chọn và áp dụng, quy định cụ thể trong luật pháp của từng nước chứ không chỉ riêng Việt Nam. Thí dụ, Luật Pháp nhân tôn giáo của Nhật Bản, Luật Tự do lương tâm và các hiệp hội tôn giáo của Liên bang Nga... Việc các nước phương Tây lớn tiếng chỉ trích Việt Nam gây khó khăn cho các nhóm tôn giáo với quy trình nhiều bước, nhất là các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới hoàn toàn là cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí.

Quy trình và thủ tục để được công nhận tổ chức tôn giáo ở Việt Nam từ Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã có nhiều bước tiến đáng kể theo hướng giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tôn giáo khi có nhu cầu đăng ký. Điển hình là việc giảm bớt thời lượng từ 23 năm xuống còn tối thiểu là 5 năm để tổ chức tôn giáo được công nhận trước pháp luật.

Đối với các nhóm tôn giáo vùng dân tộc thiểu số, Nhà nước Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động và công nhận cho 311 chi hội, 1.742 điểm nhóm của đạo Tin lành ở Tây Nguyên, 14 chi hội và 797 điểm nhóm Tin lành ở khu vực miền núi phía Bắc. Chính trong Báo cáo thường niên năm 2020 của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đã ghi nhận điều này như một nỗ lực tích cực của Việt Nam. Đối với các nhóm phái của Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Bà la môn... hoạt động tại các vùng dân tộc thiểu số cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và cho phép tự do hoạt động. Một số nhóm tôn giáo phát triển trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới chưa được thừa nhận mà một số luận điệu đánh giá là “bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu” thực chất là các hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chẳng hạn, tại Tây Nguyên, các nhóm “Hà Mòn”, “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Cây Thập giá Chúa Jêsu Krits” đều muốn tạo lập tôn giáo mới của dân tộc thiểu số với tên gọi “Tin lành Đề ga” hay “Công giáo Đề ga”, tiến tới phát triển thành quốc giáo của “Nhà nước Đề ga tự trị” nhằm thực hiện ý đồ kích động đòi ly khai dân tộc.

Đối với các cá nhân được nhắc tên trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ mà được cho là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” nêu trong các bản báo cáo nhân quyền của một số nước phương Tây và trên một số diễn đàn xã hội thực chất là những công dân Việt Nam nhân danh tôn giáo để có các hoạt động vi phạm pháp luật, chống đối Nhà nước, làm tổn hại đến an ninh quốc gia.

Việc Nhà nước Việt Nam truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân đó theo quy định của pháp luật là hết sức bình thường bởi quyền lợi luôn đi liền với trách nhiệm, nghĩa vụ. Quyền lực tư pháp không can dự vào khía cạnh tinh thần, nhưng sẽ có những can thiệp cần thiết đối với hành vi lợi dụng giá trị tinh thần để kích động cộng đồng. Do đó, bảo vệ quyền tự do tôn giáo đồng thời phải có sự giới hạn cần thiết đối với quyền tự do tôn giáo nếu quyền này xâm phạm quyền tự do của người khác hoặc gây tổn hại đến phúc lợi công cộng. Điều này là hoàn toàn tương thích với quy định trong khoản 3 điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Về luận điệu cho rằng, các tôn giáo ở Việt Nam bị nhìn nhận dưới lăng kính chính trị cũng là hoàn toàn sai lầm, không có cơ sở hiện thực. Các tôn giáo ở Việt Nam tham gia tích cực vào các hoạt động hướng đích xã hội với tư cách là thực thể xã hội, là nguồn lực xã hội. Tôn giáo tham gia phát triển kinh tế thông qua tổ chức sản xuất nông nghiệp, làm đồ thủ công mỹ nghệ, kinh doanh văn hóa phẩm, đồ dùng việc đạo; cung ứng các dịch vụ tâm linh, hướng dẫn tín đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất; phát triển du lịch tâm linh... Nhiều chức sắc, tín đồ tôn giáo tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp). Các tôn giáo tích cực tham gia ký kết chương trình hành động nhằm bảo vệ môi trường, nhiều mô hình điểm được triển khai hiệu quả. Trên lĩnh vực giáo dục, các tôn giáo đóng góp chủ yếu vào hệ thống giáo dục mầm non và dạy nghề. Về y tế, từ thiện nhân đạo, các tôn giáo đóng góp sôi nổi và đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận.

Theo đó, các luận điệu cho rằng, Việt Nam thực hiện hai chính sách, Việt Nam thực hiện “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo” hay “tự do tôn giáo chỉ có được khi thành lập khu tự trị tôn giáo” cũng là sự bịa đặt, vu khống, phải kiên quyết bác bỏ. Đó là những mưu đồ xấu nhằm kích động tư tưởng cực đoan, những nhận thức sai lầm, lệch lạc trong bộ phận người dân có nhận thức mơ hồ về quan điểm tôn giáo, dân tộc và thiếu kiên định lập trường tư tưởng.

Như vậy, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng cho mọi người dân là chính sách nhất quán, luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện trong thực tiễn bằng ý chí và quyết tâm cao. Các luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam là cái cớ để các lực lượng cực đoan can thiệp vào nội bộ chính sách của Việt Nam, tạo sức ép cho Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế nhằm “cải cách” Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam. Tuy nhiên, với những thành quả đã đạt được từ lý luận cho đến thực tiễn trong suốt quá trình đổi mới, sự thật về quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Chúng ta sẵn sàng nhận diện và đấu tranh không khoan nhượng với mọi mưu đồ lợi dụng tôn giáo để chia rẽ, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” ở Việt Nam.

Những luận điệu sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam


Với cái nhìn thiếu thiện chí, một số quốc gia phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp, kiểm soát, giới hạn tự do tôn giáo thông qua các điều khoản luật “mơ hồ”.

Trong các báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ và Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, từ góc nhìn thiên lệch và thiếu khách quan, thường đưa ra nhiều nhận định chủ quan rằng “chủ nghĩa vô thần chống tôn giáo”, quyền tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng. Trong Báo cáo thường niên mới nhất của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế vẫn cho rằng tình trạng vi phạm tự do đức tin và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam chưa được cải thiện, rằng việc thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là trái với các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế và vi phạm có hệ thống tự do tôn giáo.

Trên cơ sở Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong Báo cáo tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 nhận định, luật pháp Việt Nam quy định sự kiểm soát đáng kể của Chính phủ đối với các hoạt động tôn giáo, trong đó bao gồm nhiều điều khoản “mơ hồ” để hạn chế quyền tự do tôn giáo vì lợi ích của an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội. Nhiều tổ chức ở Hoa Kỳ liên tục chỉ trích Việt Nam trong vấn đề pháp nhân tôn giáo. Họ cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo duy trì một quy trình đăng ký và công nhận với nhiều giai đoạn áp dụng cho các nhóm tôn giáo, đặc biệt là với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số và nhóm tôn giáo mới.

Mặc dù Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế năm 2021 cũng ghi nhận một số cải thiện về tự do tôn giáo ở Việt Nam, song nhìn chung, vẫn cáo buộc Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo, cho rằng chính quyền đóng cửa khu vực màu xám (tức các nhóm tôn giáo chưa đăng ký hoạt động) và cáo buộc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo.

Như vậy, trong cách nhìn nhận của các tổ chức này, việc Chính phủ Việt Nam ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thực chất là nhằm “quản chế” và “trừng phạt” các hoạt động tôn giáo, khiến cho các hoạt động tôn giáo trở nên khó khăn hơn. Họ lập luận rằng, Việt Nam chưa thực sự xem tổ chức tôn giáo như một nguồn lực xã hội mà vẫn xem đây là một thực thể chính trị, điều này dẫn tới việc cản trở đức tin và thực hiện đức tin tôn giáo vẫn tiếp diễn.

Mỹ cũng thường xuyên phối hợp với các nước trong Liên minh châu Âu (EU) gây sức ép với Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền và tôn giáo. Điển hình nhất là Nghị quyết về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam do Nghị viện châu Âu thông qua ngày 26-11-2009. Sau khi Nghị quyết ra đời, Ủy ban và Hội đồng châu Âu đã tạo sức ép đối với Việt Nam về các vấn đề liên quan đến tôn giáo, nhân quyền trong các tiêu chuẩn để thương lượng về hiệp định thương mại tự do FTA.

Tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ trong các tờ trình gửi tới EU thường xuyên bày tỏ mong muốn EU gây sức ép để Việt Nam ngừng can thiệp vào các công việc tôn giáo và có các biện pháp cụ thể để ngăn chặn “nạn công an bạo hành”. Gần đây, trong Báo cáo thế giới năm 2021, tổ chức này đã xếp Việt Nam vào nhóm các nước vi phạm nhân quyền, vi phạm quyền tự do tôn giáo. Báo cáo này cáo buộc Việt Nam “sách nhiễu và dùng vũ lực đàn áp các nhóm tôn giáo” hoạt động bên ngoài các định chế tôn giáo chính thức do Nhà nước kiểm soát.

Bên cạnh đó, các nước như Anh, Ôxtrâylia, Đức cũng thường xuyên đưa ra các Báo cáo nhân quyền liên quan đến Việt Nam, yêu cầu Việt Nam sửa đổi Hiến pháp và các quy định của pháp luật mà theo họ là không tương thích với luật pháp quốc tế. Họ lớn tiếng kêu gọi thả các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” mà thực chất là những đối tượng mượn danh tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam.

Một số cá nhân, tổ chức cực đoan ở nước ngoài có tư tưởng thù địch với chế độ có quan điểm lệch lạc cho rằng, Việt Nam có “hai chính sách tôn giáo”: chính sách bảo đảm trên hình thức và “chính sách” không bảo vệ, thông qua “cơ chế xin - cho” và tạo lập các “tôn giáo quốc doanh”.

Một số nhóm người Việt sống lưu vong ở nước ngoài có tư tưởng thù địch, chống đối chế độ liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp với các tổ chức phản động quốc tế để lên án tất cả các vấn đề của Việt Nam, trong đó có vấn đề tôn giáo. Họ thông qua nhiều hình thức như tổ chức các cuộc hội luận, họp báo, phát tán tài liệu, đăng đàn nhiều quan điểm trên không gian mạng... để tuyên truyền xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “kiểm soát tôn giáo”, khiến cho các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc phải im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước. Mục đích của những luận điệu này là tập trung gây chia rẽ, khoét sâu mâu thuẫn giữa tôn giáo với chính quyền.

Quan điểm sai trái của một số cá nhân, tổ chức bất mãn trong nước, Việt Nam thực hiện chính sách “độc tài cai trị”, “đàn áp tôn giáo”, khống chế không gian phát triển của tôn giáo.

Một số tổ chức, cá nhân trong nước tận dụng những kẽ hở của luật pháp và những bất cập, sơ hở trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để gây bất ổn về an ninh trật tự tại địa phương. Chúng triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo nhằm chính trị hóa sự việc, kích động hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc, nghi ngờ trong xã hội.

Một số tu sĩ, chức sắc có mưu đồ xấu và nhận thức lệch lạc nêu vấn đề, muốn có tự do tôn giáo phải thành lập khu tôn giáo tự trị hòng gây chia rẽ đoàn kết tôn giáo.

Một bộ phận tu sĩ, chức sắc tôn giáo nhận được sự hậu thuẫn từ các tổ chức cực đoan trong và ngoài nước cố tình xuyên tạc vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam, kích động tín đồ đòi “tự do tôn giáo” và “quyền tự trị dân tộc”. Tại Tây Bắc và Tây Nghệ An, họ lập đạo Vàng Chứ để thành lập “Vương quốc Mông tự trị”. Tại Tây Nguyên, họ yêu sách với chính quyền đòi thành lập “Nhà nước Đề Ga độc lập” với quốc giáo là Tin lành Đề Ga. Tại Tây Nam Bộ, họ đòi thành lập “Nhà nước Khơ me Crôm” với “Phật giáo riêng của người Khơ me”. Đây thực chất là mưu đồ “tôn giáo hóa vùng dân tộc thiểu số”, kích động lòng thù hận dân tộc, làm xuất hiện chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

Luận điệu “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ” thực chất là một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền Việt Nam

 

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả trong bảo vệ, bảo đảm thực hiện nhân quyền, nhưng lại nổi lên những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ về tình hình nhân quyền Việt Nam từ những tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội tại Việt Nam, thậm chí họ cố tình quy chụp tình hình “nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ”.

Luận điệu về “nhân quyền ở Việt Nam hết sức tồi tệ” thực chất là một cách nhìn hết sức tồi tệ về nhân quyền ở Việt Nam, bởi lẽ:

Thứ nhất, thông tin cóp nhặt, manh mún, xuyên tạc về bức tranh nhân quyền ở Việt Nam

Thực tế cho thấy, các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả về nhân quyền, như các bản phúc trình toàn cầu về nhân quyền của HRW và các báo cáo của Mỹ về tự do tôn giáo, nhân quyền, buôn người, mắc hạn chế lớn là dựa trên những thông tin được thu thập theo kiểu cóp nhặt, cắt xén rời rạc, mang động cơ chính trị thực dụng, nên phiến diện và không phản ánh đúng thực tiễn nhân quyền tại Việt Nam. Thực tế qua những phiên tòa xét xử công khai, nghiêm minh, các đối tượng đều thừa nhận có hành vi vi phạm pháp luật. Việc các cơ quan chức năng tiến hành khởi tố, điều tra, xét xử công khai là việc làm cần thiết của một Nhà nước pháp quyền có chủ quyền nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm của họ gây ra đối với xã hội. Hơn nữa, tại tòa, những người này đều công khai chấp nhận các kết luận của tòa về những tội danh của mình.

Thứ hai, cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, chính trị hóa mọi vấn đề xã hội

Lợi dụng tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các tổ chức khủng bố (Việt Tân, Triều Đại Việt, Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời) và một số đối tượng chống đối trong nước đã đưa ra nhiều thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội ở nước ta, để tác động xấu đến tư tưởng nhằm gây bất ổn từ bên trong. Ở Cuba cũng vậy, ngay sau cuộc biểu tình nổ ra vào ngày 11-7-2021, nhiều trang mạng tại phương Tây, nhất là Mỹ, đã tung các bài bình luận, đánh giá biểu tình chủ yếu xuất phát từ chế độ chính trị; từ đó xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN và kích động, kêu gọi người dân Cuba lật đổ chế độ. Trong khi đó, từ giữa năm 2020 đến nay, biểu tình, kể cả bạo động, đàn áp người biểu tình, đã diễn ra ở nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Italia, Ôxtrâylia, Thái Lan...) do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Nếu cũng với cách nhìn mang động cơ thù địch về chính trị, liệu các đối tượng xấu có cho nguyên nhân biểu tình, bạo động trong đại dịch Covid-19 là xuất phát từ bản chất chính trị và người dân muốn lật đổ chế độ xã hội tại các nước này hay không?

Thứ ba, việc lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào thuật ngữ pháp lý, phản ánh cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết

Thuật ngữ “tù nhân lương tâm” mà các thế lực thù địch thường rao giảng là sự lắp ghép khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào khái niệm pháp lý. Tù nhân là cụm từ dành cho những người có hành vi vi phạm pháp luật, bị tòa án tuyên là có tội và phải chịu hình phạt tù theo quyết định có hiệu lực của tòa án. Việc một người bị phạt tù là hậu quả tất yếu khi người đó có hành vi phạm tội đã được quy định trong bộ luật hình sự, bị điều tra, truy tố, xét xử công khai, nghiêm minh tại tòa án. Cho nên trong nền tư pháp Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Việc cài đặt khiên cưỡng yếu tố đạo đức vào một thuật ngữ pháp lý phản ánh một cách tư duy chiết trung, ngụy biện, thiếu đạo đức khi không có cơ sở pháp lý cần thiết để tố cáo Việt Nam về dân chủ, nhân quyền.

Cách gọi “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò của các tổ chức, cá nhân thù địch với chế độ xã hội ở Việt Nam, nhằm cổ vũ, hậu thuẫn cho các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam để dễ bề can thiệp vào việc bảo vệ, kích động những đối tượng này. Dựa vào chiêu bài “tù nhân lương tâm”, các đối tượng chống đối trong nước tìm cách tạo cớ cho những thế lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, gây sức ép với chính quyền và xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiến tới gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự để thực hiện âm mưu thúc đẩy “cách mạng màu” nhằm chuyển hóa chế độ xã hội tại Việt Nam.

Tại Việt Nam cũng như ở bất kỳ quốc gia có chủ quyền nào khác, những đối tượng vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hoàn toàn không có việc bắt giữ, điều tra, truy tố, xét xử đối với những đối tượng vi phạm pháp luật lại bị coi là đàn áp những người “bất đồng chính kiến” hay giam giữ “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, biến những kẻ vi phạm pháp luật thành nạn nhân, dễ bề đánh lừa dư luận trong và ngoài nước, lu loa với luận điệu nhân quyền ở Việt Nam là hết sức tồi tệ.

Thứ tư, diễn giải tư biện, trừu tượng về nhân quyền phổ quát

Nhân quyền phổ quát là quyền tự nhiên của mỗi người dựa trên nhân phẩm của con người. Các luận điệu phê phán Việt Nam thường cho Việt Nam (và các nước đang phát triển khác) xem xét nhân quyền theo một nội hàm quá rộng, nên chung chung, trừu tượng, mà coi nhẹ việc tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của những cá nhân cụ thể. Đúng là phải tôn trọng, bảo vệ, thực hiện quyền tự nhiên của cá nhân, nhưng không thể chỉ thấy quyền của bản thân một hay vài cá nhân cụ thể mà hy sinh quyền tự nhiên, trước hết của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến những cá nhân đó. Bởi lẽ, nhân phẩm con người không chung chung, trừu tượng mà được thể hiện, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện một cách tự nhiên trong thực tế ứng xử, quan hệ và hoạt động cùng với những cá nhân khác, trước hết là với những người sống quanh mình. Đó chính là biểu hiện tự nhiên của nhân quyền phổ quát. Vì thế không chỉ Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tiếp cận và thực hành nhân quyền phổ quát không chung chung, trừu tượng, mà trong mối quan hệ tự nhiên giữa quyền cá nhân với quyền của nhóm xã hội hay quyền của cộng đồng. Chỉ khi quyền tự nhiên của cá nhân hài hòa với quyền tự nhiên của cộng đồng, trước hết là quyền tự nhiên của nhóm xã hội liên quan trực tiếp đến cá nhân đó, thì thuộc tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên mới thành hiện thực.

Các luận điệu phê phán theo lối tư biện nhân danh tính phổ quát của nhân quyền tự nhiên của cá nhân cùng lối suy diễn một chiều thái quá và mang động cơ thù địch về chính trị, đã dựa trên một số thông tin chưa được kiểm chứng cùng sự kỳ thị đối với Việt Nam để cường điệu hóa quyền của một vài cá nhân, mà bỏ qua quyền của các cá nhân, nhóm xã hội trực tiếp liên quan đến sự vi phạm nhân quyền của cá nhân đó. Cách nhìn nhận hết sức tồi tệ này thể hiện rõ trong các bản phúc trình nhân quyền toàn cầu của HRW; khi tổ chức này lâu nay liên tục báo động về “một xu hướng nhân quyền tiếp tục xuống cấp nghiêm trọng tại Việt Nam”. Nếu theo luận điệu này thì cho đến nay, HRW hầu như chẳng còn thu thập được chất liệu bảo đảm quyền con người nào ở nước ta để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền. Đó chính là một logic hết sức tồi tệ của các luận điệu phê phán nhân quyền tại Việt Nam.

Thứ năm, nhân danh nhân quyền phổ quát để che lấp ý thức hệ chính trị phương Tây

Ý thức hệ chính trị này vốn đẫm màu sắc chủ nghĩa đế quốc văn hóa, xem văn hóa phương Tây là trung tâm, coi nhân quyền phương Tây chi phối nhân quyền phổ quát toàn thế giới và cao hơn chủ quyền quốc gia. Nó lại bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động của những cá nhân, tổ chức dân sự nước ngoài theo cơ chế thị trường và không thiện chí với Việt Nam. Nên điều dễ hiểu là nó thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị thực dụng, vụ lợi, thậm chí nhiều khi có tính chống đối công khai, trắng trợn và quyết liệt. Từ đó nó dễ gây ra phản ứng tiêu cực trong dư luận Việt Nam và cả thế giới. Thí dụ các bản phúc trình về nhân quyền của HRW thường bị phản ứng, bị chỉ trích tức thì do chịu quá nhiều tác động bởi thế lực cực hữu trong chính quyền Mỹ, như về Vênêxuêla hoặc các hoạt động bài Hồi giáo. Để huy động được nhiều vốn cho hoạt động, HRW còn lợi dụng tâm lý chống Ítxraen để “sản xuất” phúc trình về nhân quyền theo cơ chế có lợi cho việc gây quỹ; tại nước Ả rập Xê út giàu có bằng cách tập trung chỉ trích Ítxraen nhưng lại “nhẹ nhàng” với các chế độ độc tài trong khu vực.

Thứ sáu, vi phạm nghiêm trọng công ước và nguyên tắc quốc tế về cấm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác

Cụ thể là đã vi phạm nghiêm trọng Điều 2, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Nghị quyết 2625 năm 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc cũng như trong nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Theo Nghị quyết 2625: không quốc gia nào hay nhóm quốc gia nào có quyền can thiệp, trực tiếp hay gián tiếp, vì bất kỳ lý do gì vào công việc đối nội và đối ngoại của quốc gia khác. Mâu thuẫn nội tại của các luận điệu đó là mặc dù nhân danh nhân quyền phổ quát nhưng lại không tuân theo nguyên tắc điều chỉnh của luật nhân quyền quốc tế đối với chủ quyền quốc gia và trách nhiệm quốc gia, chẳng hạn theo Điều 1 của hai công ước quốc tế năm 1966 về các quyền dân sự, chính trị và kinh tế, xã hội, văn hóa cũng như theo “Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế, điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc” (năm 1970).

Xuất phát từ những nguyên tắc đó, Nhà nước Việt Nam, trong nhiều văn bản pháp luật đã quy định rõ các cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự nước ngoài, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên của những cơ quan đó phải: tôn trọng pháp luật và phong tục, tập quán của Việt Nam; không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và nền văn hóa do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống... nên cách tiếp cận nhân quyền phổ quát có thể khác nhau. Theo ông Lý Quang Diệu (Thủ tướng Xinhgapo), không ở đâu trên thế giới, các quyền này lại được phép thực hiện mà không có những giới hạn, vì nếu áp dụng một cách mù quáng những ý tưởng này có thể đi theo hướng hủy hoại xã hội có tổ chức.

Nhận diện hoạt động các tà đạo, tạp đạo gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự

 Theo thống kê của cơ quan chức năng, cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng, trong đó có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, một số di tích được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Hàng năm, Việt Nam có gần 13.000 lễ hội, gồm 5 loại: lễ hội dân gian, lễ hội lịch sử cách mạng, lễ hội tôn giáo, lễ hội du nhập từ nước ngoài, lễ hội văn hóa - thể thao và ngành nghề. Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ (chiếm 27% dân số), 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được nhà nước công nhận hoặc cấp chứng nhận đăng ký hoạt động. Cả nước hiện có hơn 57,4 ngàn chức sắc, trên 147 ngàn chức việc, hơn 29,6 ngàn cơ sở thờ tự… Thực tế cho thấy, các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đều mang những nét đặc trưng riêng nhưng có một điểm chung đó là hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ và có sự dung hợp, đan xen, hòa đồng với truyền thống, văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam. Qua đó tạo nên một đất nước đa sắc màu tôn giáo, cũng chính vì thế có đánh giá cho rằng, Việt Nam như “bảo tàng tôn giáo” của thế giới.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, ở Việt Nam còn xuất hiện một số loại hình tín ngưỡng, tôn giáo pha tạp những yếu tố mê tín dị đoan như: Hội Thánh đức Chúa trời mẹ, đạo bà Điền, đạo Dừa… Có những hiện tượng tôn giáo mới nhưng mang đậm chất tà đạo, tạp đạo như “Thanh Hải vô thượng sư”, “tà đạo Hà Mòn”, “Bà Cô Dợ”, “Tin Lành Đề Ga”, “Dương Văn Mình”… Ngoài ra, nhiều địa phương nổi lên hoạt động mê tín dị đoan trá hình dưới hình thức xem tử vi, bói toán, đoán vận mệnh kết hợp với “đuổi tà ma”, “trục vong đeo bám”… Những hiện tượng, tín ngưỡng tôn giáo này đều có một điểm chung là không được Nhà nước ta công nhận tư cách pháp nhân hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động do được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo trên vẫn được một số cá nhân, tổ chức tìm cách nuôi dưỡng, lén lút hoạt động, thậm chí có lúc, có nơi, các đối tượng còn tìm cách qua mặt cơ quan chức năng, công khai hoạt động.                        

Hiện nay, những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đang có diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, quản lý khi vẫn còn một bộ phận quần chúng nhân dân tin theo và gây ra nhiều hệ lụy đến đời sống xã hội. 

Dưới góc độ tư tưởng, mê tín dị đoan khiến cho họ xa rời với khoa học hiện đại, phủ nhận những tiến bộ xã hội, mất niềm tin với đời sống xã hội khi dành niềm tin tuyệt đối, mù quáng vào một thế giới siêu nhiên, vào sự quyết định và chi phối của thần linh, ma quỷ. Trong đời sống sinh hoạt xã hội hàng ngày, mê tín dị đoan gây nên những lãng phí, bất ổn, đau thương, mất mát, tiêu hao của cải, vật chất của con người. Ở mức độ nguy hiểm hơn, đã có không ít trường hợp từng có nhiều người bị mắc bệnh nhưng lại tin vào sự mê tín rằng chỉ làm lễ để cúng bái thì có thể “đuổi con ma”, chữa khỏi bệnh, từ đó dẫn đến mất mạng hoặc mang thương tật, tàn phế. 

Những hệ lụy của mê tín dị đoan rõ ràng đang ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, đời sống của người dân. Đặc biệt, có một thực tế nguy hại khi trong số những người tin theo thần linh, đi theo tà đạo, tạp đạo ngoài bộ phận quần chúng có đời sống khó khăn, nhận thức hạn chế thì có cả người có học thức, có hiểu biết nhưng vẫn tin và làm theo những chỉ dẫn hoang đường, tin theo lời nói của những người tự nhận mình có “khả năng tâm linh”! Thực tế đó không thể phù hợp trong một xã hội mà chúng ta đang xây dựng - xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 

Trong khi những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan đã và đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội thì những hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo có yếu tố tà đạo, tạp đạo do một số tổ chức, cá nhân có ý đồ xấu về chính trị thành lập, nuôi dưỡng đang có những hoạt động gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự. Có đối tượng còn trở thành tay sai, quân cờ của các thế lực thù địch để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam; kích động, lôi kéo tín đồ cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, lợi dụng vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng để gây rối, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn trong nội bộ nhân dân. Một số đối tượng cầm đầu trong các tổ chức như “Tin Lành Chrish”, “tà đạo Hà Mòn”, “Tin Lành Đề Ga”, “đạo Bà Cô Dợ”, “tà đạo Dương Văn Mình”… còn lợi dụng vấn đề tôn giáo để lừa bịp, kích động bà con đồng bào dân tộc thiểu số tham gia các hoạt động ly khai tự trị, chống đối chính quyền. Hành động này không chỉ xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương mà còn  gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền lãnh thổ…

Ngoài ra, các cá nhân này còn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, lợi dụng niềm tin của tín đồ để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ dưới chiêu bài đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… Số này biến mình thành những quân cờ dưới sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức chống phá ở nước ngoài, điển hình là Human Rights Watch, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF)… Đổi lại, các tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam nêu trên sẽ có thông tin sai lệch từ các đối tượng chống đối trong nước cung cấp. Đây là cơ sở để họ cho “ra lò” các báo cáo thường niên về nhân quyền, về tự do tôn giáo toàn cầu với nội dung chứa đựng những luận điệu phiến diện, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”! Đây chính là cái cớ để họ gây sức ép về mặt chính trị, ngoại giao,  tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Chính vì vậy, việc nhận diện đúng đắn những loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có yếu tố mê tín dị đoan, các tà đạo, tạp đạo nêu trên sẽ góp phần nâng cao nhận thức của mỗi người dân. Qua đó giúp chúng ta hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, nắm được tác hại của các tà đạo, tạp đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và những ảnh hưởng xấu đến an ninh, an toàn xã hội. Từ đó hình thành tính tự giác trong công tác phòng ngừa, tham gia đấu tranh ngăn ngừa hoạt động của các tà đạo. Đây cũng là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ nhân dân, tạo thế trận lòng dân trong việc tẩy chay các hiện tượng tà đạo, tạp đạo; xử lý nghiêm số đối tượng cầm đầu, cốt cán lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng nhân dân ngay tại cơ sở, tuyên truyền vận động người dân tuân thủ theo pháp luật, đảm bảo đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn, lành mạnh.

Nhìn rõ luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền con người với những "nhà hoạt động nhân quyền"

 

Lợi dụng Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tổ chức phản động Việt Tân tiếp tục xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam “Chính phủ Việt Nam không cho phép các tổ chức nhân quyền trong nước được thành lập và hoạt động. Nhà cầm quyền thường khẳng định việc vận động cho nhân quyền và dân chủ là hành động chống lại đảng và Nhà nước Cộng sản này”. Đây là luận điệu phiến diện, xuyên tạc, đưa ra với mục đích xấu nhằm phủ định những thành quả về nhân quyền mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được, kích động gây bất ổn xã hội ở Việt Nam. 

Vừa qua, tổ chức Việt Tân cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền trong các lĩnh vực khác như bắt và giam giữ tùy tiện; tù nhân chính trị; sự độc lập của tư pháp, chúng tự vẽ ra các con số “chính quyền đã bắt giữ ít nhất 173 người hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, trong đó có 24 người đang bị tạm giam chờ xét xử, có 19 người bị bắt giữ và 26 người khác bị kết án vì thực thi các quyền. Điển hình như việc những ngày qua trên trang Facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục đăng tải các bài viết về nhân quyền ở Việt Nam và đòi thả tự do cho các đối tượng như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang,… những kẻ mà chúng tự phong là “nhà hoạt động nhân quyền”.

Có lẽ người dân đều chẳng mấy xa lạ khi nhắc đến những cái tên như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang, bởi từ lâu, các đối tượng trên đã được biết đến với hàng loạt các hành vi chống phá Nhà nước, công kích chính quyền, miệt thị đất nước. Thực chất đây đều là những kẻ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Trương Văn Dũng, sinh năm 1958, trú tại số 69, ngõ 73, Nguyễn Lương Bằng, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Trước khi “dấn thân” vào “nghề dân chủ”, y sống ở phố Ô Chợ Dừa, hành nghề xe ôm có biệt danh “Ly lùn Trương Văn Dũng”, đã có nhiều tiền án, tiền sự vì tội trộm cắp và gây rối trật tự công cộng. Do ghen tức với nhà hàng xóm trong cùng ngõ không thuộc diện bị giải tỏa, được ra mặt đường, Dũng khăng khăng đòi hưởng mức độ đền bù như nhà mặt đường. Khi không được chấp nhận, ông ta tự nhận mình là “dân oan” và bắt đầu gia nhập “hội anh em dân chủ” từ đó. Bị đối tượng xấu xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc phong cho cái danh hão “người hùng dân chủ Trương Văn Dũng”. Thế là nhân vật này đã trở thành “con buôn dân chủ” được Việt tân và đồng bọn dán nhãn “nhà bất đồng chính kiến”, “bloger, nhà đấu tranh dân chủ” càng khiến y ảo tưởng và ngày càng lấn sâu vào con đường tội lỗi. Một vài ví dụ được dân mạng liệt kê về “thành tích” làm nghịch tặc của nhân vật này như: Trong hầu hết các vụ biểu tình gây rối an ninh trật tự, an toàn xã hội tại nhiều địa phương do bọn phản động khủng bố Việt Tân và các nhóm “dân oan”, “nhóm Nou”, “hội Anh em dân chủ” tổ chức thì Trương Văn Dũng hiếm khi vắng mặt, hưởng ứng với vai trò là hạt nhân xung kích. Bên cạnh đó, Dũng còn nhiều lần xuyên tạc, cung cấp thông tin sai sự thật về lực lượng Công an nhân dân như: Ngày 02/6/2013, Dũng tố bị Công an Trại phục hồi nhân phẩm đánh bất tỉnh với thương tích ở đầu, chấn thương sọ não, sắp chết; thế nhưng ngay ngày hôm sau, người dân đã thấy Dũng uống bia cùng đồng bọn, cười nói, rôm rả, chém gió, trong một quán bia hơi. Ngày 25/10/2013, Dũng lại loan tin bị công an còng tay và 10 chiến sĩ công an phường Thụy Khê “tra tấn” đến mức gãy 3 xương sườn nhưng ngay sau đó, người dân đã thấy ông ta bình thường, tiếp tục hò hét, đấu tranh. Ngày 22/12/2017, Dũng tố cáo “bị lực lượng công an đánh tàn bạo khi bị bắt về đồn công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam” trong phiên tòa phúc thẩm Trần Thị Nga nhưng ngay sau đó, người dân lại thấy hắn trên mạng xã hội với hình ảnh không hề xây xát và hoàn toàn khỏe mạnh. Những hành động của y đã nhiều lần bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhắc nhở, cảnh cáo, nhưng không hề sửa đổi mà vẫn tiếp tục lấn sâu hơn nữa với những hành vi, vi phạm pháp luật một cách trắng trợn, coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Có thể nhận rõ, những hành động và việc làm của Dũng hoàn toàn mang mục đích chống phá, kích động, chia rẽ, đả phá, tấn công vào lực lượng thực thi pháp luật của cơ quan Nhà nước và quy kết rằng đó là “sản phẩm lỗi của chế độ cộng sản”, từ đó kêu gọi tẩy chay chế độ, chỉ trích, chống phá Đảng. 

Ngày 21/5/2022, Trương Văn Dũng đã bị bắt để điều tra về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Các quyết định và lệnh nêu trên đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phê chuẩn; Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội tích cực điều tra và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Lê Đình Lượng vốn là đối tượng cộm cán, một cánh tay đắc lực của tổ chức Việt Tân, hoạt động phổ biến ở các địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Thông qua các trang mạng xã hội, Lê Đình Lượng đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết tuyên truyền ca ngợi, cổ vũ cho đường lối của Việt Tân, xuyên tạc về tình hình đất nước, lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế-xã hội, môi trường để xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 2018, Lê Đình Lượng bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên án 20 năm tù và phạt quản chế 5 năm về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Từ lâu nay, cái tên Phạm Đoan Trang vốn nằm trong số nhiều cái tên được các thế lực thù địch liên tục nhắc tới trên các diễn đàn như những kẻ xả thân đấu tranh vì dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Thế nhưng, trong thực tế Phạm Đoan Trang là đối tượng đã soạn thảo, tán phát nhiều tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước, đả phá thể chế, công kích chính quyền nhân dân, hướng dẫn kỹ năng cho các hoạt động chống phá, cấu kết với các phần tử, tổ chức trong và ngoài nước nhằm chống đối chính quyền nhân dân. Ngày 07/10/2020, Phạm Đoan Trang bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự 2015.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc thực thi quyền con người là một trong những mục tiêu quan trọng đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trên cơ sở Hiến pháp, các quy định về quyền con người tiếp tục được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Báo chí năm 2016…

Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979... và những đóng góp lớn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đặc biệt, ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77. Kết quả này không chỉ là minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam mà còn là lời khẳng định sự tín nhiệm của quốc tế đối với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Không chỉ riêng Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, người nào vi phạm pháp luật cũng sẽ bị xử lý nghiêm. Thực tế khách quan đã chứng minh không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “hoạt động nhân quyền”,“bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc có chủ đích theo một chiều, không phản ánh đúng hiện thực khách quan. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.

Cần nhận thức đầy đủ ý nghĩa, sự cần thiết ban hành các dự án luật

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc, phá hoại nói trên, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đại biểu Quốc hội và người dân ở các tỉnh, thành phố qua quá trình nghiên cứu, thảo luận đã khẳng định, việc ban hành các dự án luật do Bộ Công an chủ trì soạn thảo nói trên là hết sức cần thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi khách quan. Điều này xuất phát từ sự đa dạng, phức tạp của công tác bảo đảm ANTT, luôn có sự biến động, thay đổi, đòi hỏi các quy định pháp luật phải được bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Với những vấn đề mới khi đưa ra thảo luận, đóng góp ý kiến, có những ý kiến đồng tình hoặc chưa tán thành nội dụng, vấn đề nào đó là điều hết sức bình thường. Tuy nhiên, cần tỉnh táo trước những luận điệu lợi dụng việc góp ý để xuyên tạc nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc, suy giảm niềm tin, kích động tâm lý, thái độ chống đối, phá hoại dự thảo luật, sâu xa hơn là chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Các dự án luật trên có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; tăng cường quản lý nhà nước và bảo đảm quyền lợi của công dân; nâng cao hiệu quả hoạt động của lực lượng CAND. Tạo cơ sở vững chắc giúp lực lượng Công an chủ động trong công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh trật tự, triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại theo tinh thần Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị.

Đối với dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động gây tâm lý hoài nghi, dao động, ảnh hưởng đến mục tiêu giữ vững sự ổn định và bảo đảm ANTT ngay từ cấp cơ sở. Do vậy, chúng ta cần nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có cách thức đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái.

Cần thấy rằng, việc xây dựng Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là sự cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, trong đó CAND là lực lượng nòng cốt, bảo vệ ANTT từ xa, từ sớm, từ cơ sở. Việc xây dựng dự thảo, lấy ý kiến các nhà khoa học, các cơ quan chức năng trước khi hoàn thiện để Chính phủ trình Quốc hội thảo luận, thông qua nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi thực tiễn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn cơ sở.

Hiện nay, cùng với lực lượng Công an, trên địa bàn cấp xã có sự tham gia bảo vệ ANTT của các lực lượng: Bảo vệ dân phố, dân phòng, Công an xã bán chuyên trách đã kết thúc nhiệm vụ được tiếp tục sử dụng. Các lực lượng này được gọi chung là lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Đây là lực lượng quần chúng do UBND cấp xã thành lập, quản lý, duy trì hoạt động, hỗ trợ lực lượng Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở địa bàn cấp xã. Mặc dù vậy, hiện nay mỗi nơi từ tên gọi đến tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng khác nhau, không rõ ràng. Từ đó một số nơi gặp khó khăn trong chỉ đạo, tổ chức, thực hiện, do vậy đòi hỏi cần phải được chuẩn hóa, đưa vào luật.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở thời gian qua đã bộc lộ nhiều vướng mắc bất cập, nhất là về chính sách, pháp luật. Các quy định hiện hành về tổ chức, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở được đề cập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, do nhiều cơ quan có thẩm quyền ban hành. Mặt khác, các quy định về thẩm quyền thực hiện một số nhiệm vụ bảo vệ ANTT, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ bị chồng lấn giữa các lực lượng. Quy định về chế độ, chính sách; điều kiện đảm bảo về cơ sở vật chất, trang, thiết bị hoạt động của các lực lượng này còn thiếu, chưa thống nhất.

 “Lấy dân làm gốc” là nguyên tắc cơ bản, mục tiêu xuyên suốt của dự thảo luật và phát huy vai trò của lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở. Theo cơ quan soạn thảo, việc xây dựng, tổ chức lại lực lượng tham gia bảo vệ ANTT không làm tăng biên chế, tăng ngân sách nhà nước. Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là cánh tay nối dài, sâu sát với nhân dân, hỗ trợ cấp ủy, chính quyền, hỗ trợ lực lượng nòng cốt là Công an chính quy trong việc đảm bảo ANTT tại cơ sở, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội, lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở đã phát huy tích cực thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ bảo đảm ANTT địa bàn dân cư, sát dân, hiểu, nắm được tâm tư nguyện vọng nhân dân, góp phần tham gia tổ chức, thực hiện phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Rõ ràng, với mục tiêu, ý nghĩa như trên, việc ban hành Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở là thực sự cần thiết và đáp ứng yêu cầu thực tiễn khách quan, có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng, củng cố các lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phục vụ hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân và phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội. Do đó, những quan điểm, luận điệu lệch lạc, sai trái, chống phá việc nghiên cứu, xây dựng và trình Quốc hội ban hành dự luật cần phải được đấu tranh, ngăn chặn kịp thời.

Âm mưu phía sau những luận điệu xuyên tạc

Thực hiện kế hoạch của Chính phủ, Bộ Công an được giao chủ trì soạn thảo các dự án luật quan trọng gồm: Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật CAND; Luật Căn cước; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và các tổ chức phản động lợi dụng quá trình Bộ Công an triển khai lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật nêu trên để đưa ra đủ luận điệu xuyên tạc, vu cáo. Các đối tượng cho rằng, Việt Nam muốn hạn chế các quyền tự do dân chủ rồi ban hành luật để trói buộc, gò ép người dân, thậm chí chúng còn lôi kéo, kích động người dân phản đối các dự luật khi đưa ra lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân.

Lướt qua các mạng xã hội Facebook, Youtube… hay các phương tiện truyền thông nước ngoài như đài BBC tiếng Việt, RFA, VOA cho thấy những chiêu trò chống phá khi liên tiếp đăng tải, phát tán các bài viết có nội dung xuyên tạc các dự án luật. Chẳng hạn, khi nói về dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ ANTT ở cơ sở, các đối tượng tung ra bài viết cho rằng, Nhà nước muốn tạo ra một mạng lưới chân rết quần chúng sát với từng người dân để nắm được từng chân tơ kẽ tóc, mọi hoạt động của dân, rồi hạch sách, nhũng nhiễu… gây nguy hại cho dân; nếu hình thành một lực lượng như thế thì gần như là lực lượng bán vũ trang, rồi chi phí dụng cụ hành nghề, thậm chí có thể là vũ khí nóng gây bất an cho dân... Từ đó hướng lái vấn đề “lực lượng này dù có hợp nhất hay không cũng sẽ không giữ được ANTT như mong muốn của nhà cầm quyền cộng sản khi soạn luật mà nó sẽ làm mất ANTT và xã hội sẽ trở nên hỗn loạn hơn”...

Ngay sau đó, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong liền đăng tải các bài viết nhằm bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và kích động người dân. Đây là những luận điệu xuyên tạc nhằm dẫn dắt, hướng lái dư luận, tạo ra nhận thức lệch lạc, thái độ phản đối, chống phá đối với dự án luật. Từ việc xuyên tạc nội dung trong dự án luật, các đối tượng hướng đến bôi nhọ hình ảnh lực lượng vũ trang, bôi nhọ chính sách quốc phòng, an ninh, đối ngoại, cho rằng cách làm như vậy là sai lầm, làm mất vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế! Cùng với việc vu khống, bôi nhọ cán bộ, đảng viên, các đối tượng tìm cách tâng bốc những người bất mãn, cơ hội chính trị, coi những đối tượng hoạt động tuyên truyền, chống phá nhà nước bị pháp luật xử lý là những “nhà dân chủ”; cổ vũ tư tưởng dân tộc cực đoan, kích động "lòng yêu nước" để tụ tập, biểu tình chống đối nhằm tới mục tiêu "cách mạng đường phố", "cách mạng màu" để thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

“Bắt bệnh” thiếu niềm tin một cách mù quáng

 

Câu chuyện dù đã quen thuộc trong đời sống xã hội nhưng rất ít người đề cập thẳng thắn. Ấy là việc nhiều cá nhân thiếu niềm tin một cách mù quáng vào người tốt, cái tốt đang hiện hữu trong đời sống xã hội, rồi sinh ra tâm lý tiêu cực, bất mãn, thiếu trách nhiệm với tổ chức, cộng đồng, thậm chí là với chính mình. Đây là căn bệnh khá phổ biến ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng; rất cần được cơ quan chức năng sớm nhận diện, dập tắt.

1. Trên trang Facebook cá nhân, một cán bộ hưu trí ở phía Nam bỗng dưng đăng bài viết bày tỏ bức xúc, quy chụp và lớn tiếng phê bình lối sống của một số cán bộ cấp cao. Chủ tài khoản mạng xã hội này cho rằng cán bộ tốt bây giờ không còn nữa nên bản thân thật sự mất niềm tin. Biết anh từ khá lâu nên chúng tôi gặng hỏi, sao anh lại quy chụp kiểu “vơ đũa cả nắm” như thế. Anh bực dọc: “Bây giờ cán bộ ai chả thế. Những người tưởng chừng là tốt, là hay rồi cũng đã “nhúng chàm”. Thế thì còn biết tin ai, tin vào đâu”.

Không đồng tình với quan điểm đó, chúng tôi đấu lý rồi kể tên hàng loạt cán bộ cấp cao liêm chính, giản dị, sống vì dân. Bảo rằng cán bộ tha hóa, biến chất trong xã hội bây giờ không hiếm, nhưng đó không phải là tất cả. Đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Thuyết phục mãi anh mới chịu hạ giọng, nhưng vẫn chua thêm một câu qua điện thoại, đại thể: Nói chung, không thể tin được cán bộ bây giờ!

Một câu chuyện khác, khi báo chí đăng tải một bài viết về tấm gương cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở miền Trung, dù không biết cán bộ đó là ai, không rõ thực hư thành quả cá nhân đó đạt được như thế nào nhưng nhiều người đọc ở ngoài Bắc vẫn bình luận bày tỏ sự hoài nghi, thậm chí dị nghị: Lại “bôi trơn”, tung hô nhau đây. Đúng là “đài nói láo, báo nói thêm”...

Rõ ràng, tâm lý xã hội đang thật sự có vấn đề. Đó không chỉ là tâm lý của những người dân bình dị mà còn là lối nghĩ của không ít trí thức, người có vị trí xã hội, kể cả những người có chức trách, nhiệm vụ đi tuyên truyền, giáo dục. Công bằng mà nói, lâu lắm rồi, báo chí và các phương tiện truyền thông chưa quan tâm thỏa đáng, đúng tầm mức việc tuyên truyền về người tốt-việc tốt, cán bộ tiêu biểu, điển hình, mô hình... 

Minh chứng là khi thử thao tác tra cứu Google với cụm từ “gương cán bộ cấp tỉnh, thành phố”... thì kết quả thu được thật khó tin: Gần như chỉ đếm được trên đầu ngón tay số cán bộ cấp tỉnh, thành phố, cán bộ công chức ở các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương được báo chí truyền thông viết thành gương điển hình.

Thực tế cho thấy, không phải không có điển hình, mà chính những người trong cuộc lại ngại được tuyên truyền, vì tâm lý sợ “lợi bất cập hại”... Mặt khác, ngay cả cơ quan báo chí cũng chưa dành nhiều thời gian, đầu tư công sức để mở chuyên trang, chuyên mục ngợi ca, tôn vinh các điển hình, mô hình, cái hay, cái đẹp một cách hệ thống, thường xuyên, hiệu quả. Cũng bởi thế mà trong dòng chảy thông tin xã hội, thông tin mạng xã hội lấn át thông tin báo chí chính thống; thông tin tiêu cực bao trùm lên thông tin tích cực một cách khó kiểm soát.

Kết quả khảo sát tại một số cơ quan báo chí cho thấy, những bài viết về cái hay, cái đẹp, gương người tốt-việc tốt thời gian qua nhận được rất ít sự quan tâm của bạn đọc, lượng chia sẻ, tương tác khá khiêm tốn; số lượng bình luận bày tỏ thái độ tiêu cực, thiếu niềm tin nhiều hơn sự ghi nhận, khen ngợi nhân vật điển hình.

Thậm chí trong không ít năm, các giải thưởng báo chí ở nhiều cấp, ngành, địa phương thường ưu tiên giải thưởng cho các tác phẩm đề cập đến nội dung đấu tranh chống tiêu cực, dám bóc trần những hạn chế, yếu khuyết của đời sống xã hội. Hơn thế, trên báo chí, mạng xã hội hiện nay, người ta nói nhiều đến sự vô cảm và dễ dàng bắt gặp những tin tức tội phạm, câu chuyện tiêu cực, hành vi ứng xử kém văn hóa... Những thứ ấy được đào xới, lan truyền một cách bừa bãi, nhận sự ủng hộ của cộng đồng mạng theo lối a dua, ăn theo; nhưng lại có quá ít người sẻ chia, ủng hộ những tấm gương tốt, việc làm thiện, cách sống hay. 

2. Ông cha ta đã dạy “... mất niềm tin là mất tất cả”. Những người không tin tưởng vào chính mình, không có niềm tin vào cuộc sống, nhất là những điều tốt đẹp sẽ không biết bản thân nên làm gì, hành động thế nào. Từ đó, họ sinh ra tâm lý chán nản, không muốn làm việc tốt, không có động lực dấn thân, cống hiến. Khi một cá nhân không có niềm tin sẽ không tin vào phẩm chất, năng lực của chính mình; không còn khả năng đương đầu với khó khăn, thử thách, dễ dàng buông xuôi. Tổ chức, cơ quan, địa phương có những cá nhân mất niềm tin thì công việc sẽ đình trệ, nội bộ mất đoàn kết.

Vì thiếu niềm tin vào người tốt, cái tốt của xã hội nên không ít cá nhân nhìn nhận xã hội này bằng những gam màu xám xịt. Nhiều người sinh ra bất mãn, tự ti, cực đoan. Khi đó, họ so sánh xã hội này với xã hội khác, xã hội hiện nay với xã hội ngày xưa... Điều này tiềm ẩn nguy cơ lớn của việc đòi hỏi thay đổi chế độ, đòi hỏi dân chủ quá trớn, tự do quá đà. Trong xã hội có những cá nhân mất niềm tin như vậy như những đốm lửa nhỏ cháy âm ỉ, từng ngày lan truyền tạo thành đám lửa lớn, sinh ra những xung đột kiểu “đại dịch... thiếu niềm tin”.

Điều đáng nói là các thế lực thù địch, phản động luôn tung ra những luận điệu xuyên tạc, quy chụp về các hiện tượng tiêu cực, cá nhân sai phạm, từ đó hướng lái dư luận xã hội mất niềm tin vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng, đòi thay đổi chế độ.

Trong thời đại của “xã hội ảo”, lợi dụng internet, mạng xã hội, những kẻ hiềm khích, chống phá dựng nên nhiều “tấm gương tốt” ở bên kia chiến tuyến, dựng nên cuộc chiến tranh tâm lý, tạo ra sự nghi ngờ bao trùm trong xã hội, thật-giả, tốt-xấu lẫn lộn khiến người dân hoang mang, mất niềm tin. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đó là nguy cơ của mọi nguy cơ, vì mất niềm tin là mất tất cả!

3. Thật ra, người tốt, cái tốt luôn hiện hữu quanh ta. Vấn đề là mỗi người cần tĩnh tâm nhìn nhận để phát hiện ra điều đó, bởi người tốt thì không bao giờ lộ thiên, điều tốt thì thiêng liêng, cao quý, rất khó để cảm nhận đủ đầy giá trị của nó. Những người tốt thường khiêm tốn, không thích khoe khoang thành tích cá nhân, không thích được vinh danh, xướng tên trên truyền thông, báo chí. Lòng tốt đôi khi chỉ là những cử chỉ, lời nói động viên rất nhỏ, có khi chỉ thoảng qua khiến chúng ta khó nhận ra, ví dụ như việc giúp một người già qua đường, nhường ghế cho một người yếu thế trên xe buýt... Đừng nghĩ rằng việc tốt phải là những việc to tát, lớn lao.

Ngày nay, trong cuộc sống náo nhiệt với sự đa dạng về văn hóa, ứng xử... chắc hẳn không ít người từng bắt gặp những con người, hành vi chưa tốt, để rồi chép miệng “xã hội tốt-xấu lẫn lộn, chẳng thể tin ai”. Cũng không phải tự nhiên mà người ta nghi ngại như vậy. Bởi đôi khi, sự giả tạo vẫn tồn tại trong cuộc sống và trong nhiều trường hợp có phần lấn át cái hay, cái đẹp, khiến chúng ta khó nhận ra cái tốt trước mắt. Đặc biệt, khi người ta đánh giá con người qua “xã hội ảo” nhiều hơn xã hội thực thì việc kiểm chứng thông tin càng trở nên khó khăn gấp bội.

Cái đẹp, cái thiện vẫn âm thầm, lặng lẽ tồn tại xung quanh chúng ta. Người tốt là người biết lo nghĩ cho người khác, sẵn sàng cống hiến cho cộng đồng, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, để phát hiện người tốt-việc tốt, để “cả dân tộc ta là một rừng hoa đẹp” thì công tác tuyên truyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không ít cơ quan truyền thông, báo chí vẫn xem đó là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, cũng là việc cần kíp để nhân lên niềm tin tốt đẹp trong xã hội. Ví như ở Báo Quân đội nhân dân, với trách nhiệm vinh danh, nhân lên phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và những giá trị cao đẹp chân-thiện-mỹ trong đời sống xã hội, liên tục hơn 14 năm qua, tờ báo chiến sĩ đã duy trì hiệu quả Cuộc thi viết “Những tấm gương bình dị mà cao quý”, phát hiện hàng nghìn tấm gương sáng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, để cán bộ, quần chúng soi chiếu, học tập, làm theo.

Như vậy, để khắc phục, khống chế “đại dịch... thiếu niềm tin” đang lan tràn rộng khắp thì giải pháp cần kíp và lâu dài vẫn là quan tâm kiếm tìm, tôn vinh, nhân lên những tấm gương sáng, hành động đẹp trong đời sống xã hội. Phần việc này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, mà trước hết cần phải thay đổi tư duy, quan niệm về sự ghi nhận, đón nhận, tán dương cái hay, cái tốt, cái đẹp bằng sự lạc quan, tin tưởng tuyệt đối của cả cộng đồng xã hội.

Mất điện, lại "bật loa rè"...

 

Mấy hôm nay, trên địa bàn huyện phải cắt điện luân phiên để tránh quá tải. Giữa trưa nắng, ông Hạnh mắc chiếc võng trong vườn, vừa phe phẩy chiếc quạt mo vừa hóng gió. Đang lim dim thì ông nghe tiếng dép loẹt xoẹt từ cổng vọng vào cùng tiếng oang oang như chửi:

- Nóng quá ông Hạnh nhỉ! Mất điện, thời tiết đã nóng đến phát rồ người lên rồi mà tôi còn phải dùng điện thoại biên “tút” mắng cho mấy đứa trẻ trâu trên mạng xã hội một trận cũng chỉ vì chuyện điện đóm ông ạ.

- Ông Linh đấy à! Ông vào đây tôi rót ngụm trà tươi cho hạ hỏa. Chuyện thế nào mà để “cây bút chiến” của xóm hôm nay phải vào cuộc vậy?

Ông Linh vừa vuốt vuốt màn hình điện thoại cho ông Hạnh xem, vừa kể:

- Đây ông xem đi. Nắng nóng, người dân sử dụng điện nhiều, ngành điện phải điều tiết luân phiên cắt điện để giảm tải. Thế mà mấy cậu trẻ trâu lại vin vào cớ đó cùng với câu chuyện về một số nước đang dư thừa điện để công kích chính quyền, nói xấu nhà nước ta là yếu kém trong quản lý, điều hành; rồi xuyên tạc ra cả chuyện ngành điện và chính quyền đang bắt tay hưởng lợi từ miếng bánh độc quyền, làm cho dân khổ. Cậu An ở xóm trên không hiểu biết tường tận còn mượn chuyện mất điện để viết trên Facebook, nói xấu chính quyền địa phương. Nào là cán bộ huyện ta yếu kém nên bị trên "bắt nạt" cắt điện khiến dân khổ theo; nào là các công sở to đùng vẫn mở điều hòa chạy phe phé, suốt ngày cán bộ chỉ ngồi phòng lạnh, họp hành mãi mà chuyện điện đóm cho dân cũng chẳng giải quyết được...

- Có chuyện đó thật hả ông? 

- Thì đấy, ông xem đi. Chính sự thiếu hiểu biết tường tận sự việc và thái độ bất mãn không chịu chia sẻ với khó khăn chung nên cứ hở ra là nói xấu chính quyền. Tôi đã nhắn tin hỏi cậu An, khuyên cậu ấy gỡ thông tin trên Facebook xuống thì cậu ấy bảo thấy trên mạng nói thế nên nói theo, ông ạ!

Nghe ông Linh kể, ông Hạnh cũng bắt đầu bừng bừng cơn giận trong lòng:

- Vậy là đang có kẻ lợi dụng chuyện điện đóm để công kích chính quyền, nói xấu chế độ rồi ông Linh ạ! Con gái tôi làm ở văn phòng UBND huyện kể rằng các công sở cũng bị mất điện, lúc có điện thì cũng phải sử dụng tiết kiệm, nếu không sẽ bị "bêu gương" và trừ điểm thi đua. Để tôi kể chuyện này trên mạng xã hội, rồi cùng ông biên thêm "tút" mắng cho những kẻ lợi dụng thời điểm thiếu điện chống phá chế độ một trận, để chúng tắt cái "loa rè chống phá" ấy đi.