Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

Đưa ra khỏi Đảng những đảng viên “hữu danh vô thực”

Làm trong sạch nội bộ Đảng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm, chú trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Tiến hành đưa ra khỏi Đảng những đảng viên thoái hóa, biến chất đang được Đảng ta đẩy mạnh, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” là chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu” (1).

Làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh

Việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng và góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Theo V.I.Lênin, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi đảng là tất yếu khách quan, bởi khi đảng giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền thì nhiệm vụ chính trị của đảng đã có sự phát triển, đòi hỏi phải tăng cường công tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới: “Ngày nay... mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, vì chúng ta đã chuyển sang chính sách kinh tế mới... Để thực hiện việc cải thiện đó, chúng ta phải gạt bỏ ra khỏi đảng những phần tử xa rời quần chúng (cố nhiên không cần nói đến những phần tử làm ô danh đảng trước quần chúng)” (2). Mặt khác, do vị trí của đảng cầm quyền đã làm cho một số kẻ cơ hội, vì sự hấp dẫn của đảng, tìm mọi cách luồn lách, chui vào đảng, dẫn đến tình trạng bè cánh, phe nhóm trong đảng. Bên cạnh đó, một số người cộng sản khi có chức quyền đã tha hóa, biến chất, mắc bệnh kiêu căng, quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ. Do đó, V.I.Lênin cho rằng: “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không, chúng ta không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải quan tâm là làm tăng thêm số lượng đảng viên” (3).

Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, thậm chí là những đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển, tương lai rộng mở nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “gục ngã” trước những cám dỗ vật chất tầm thường. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua, từ vụ án công ty Việt Á, vụ Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), vụ liên quan đến Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát đến vụ công ty AIC, dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”(4). Những sai phạm của cán bộ, đảng viên không thể để tiếp diễn, kéo dài, phải kiên quyết xử lý, kịp thời, nghiêm minh và công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Để Đảng trong sạch cần phải làm gì?

Tiến hành xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện cao độ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là “thanh trừng, đấu đá nội bộ”. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đặt ra nhiều vấn đề đối với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng ta hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ:

Nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”. Chú trọng công tác xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tiến hành chặt chẽ, cẩn trọng việc thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị-xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Chú trọng việc kết nạp đảng viên ở cơ sở trọng điểm còn ít đảng viên hoặc chưa có đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp đảng viên với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và sàng lọc đảng viên. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Kiên quyết chấn chỉnh những biểu hiện sai trái trong công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng.

Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Đa dạng hóa các nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng; chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường công tác quản lý đảng viên toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; các quan hệ xã hội; về việc lập và sử dụng các trang thông tin trên internet, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”. Quan tâm, tạo điều kiện và phát huy tính tích cực, tự giác của đội ngũ đảng viên trong tự học, tự rèn luyện, tự quản lý.

Đề cao tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Thường xuyên giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích của tự phê bình và phê bình; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức tiến hành tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để nói xấu, gây mất đoàn kết, hạ uy tín của các cá nhân, tổ chức. Mặt khác, cần có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời cần có quy định cụ thể đối với cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, bị phê bình phải kiên quyết sửa chữa, khắc phục khuyết điểm không để kéo dài; các cá nhân, tổ chức khi được phê bình cần tôn trọng và tiếp thu những đóng góp để đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cho phù hợp. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng. Nêu cao vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thực hiện “trên trước, dưới sau”, làm “từ trong ra, từ ngoài vào”. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình khuyết điểm; thiếu trách nhiệm cả trong phê bình và tự phê bình; chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cục bộ bè phái, mất đoàn kết trong thực hiện tự phê bình và phê bình.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên, nâng cao năng lực dự báo các tình huống, các vấn đề phức tạp, nổi cộm có thể nảy sinh trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện chặt chẽ nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tăng cường công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kiểm tra đảng đột xuất đối với các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm. Kịp thời củng cố, kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có đủ phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và có dũng khí đấu tranh trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định; không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài hoặc lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để gây mất đoàn kết, chia rẽ trong các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về nhiệm vụ “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh; luôn năng động, sáng tạo, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; đồng thời luôn vững vàng trước những cám dỗ của lợi ích vật chất. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tiếp tục cụ thể hóa nội dung đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt trong công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoặc lợi dụng công tác xây dựng Đảng để đưa ra khỏi Đảng những người không cùng phe cánh, những người mình không ưa thích, hoặc dám đấu tranh phê bình mình.

DANH SÁCH NHÓM 72, ĐÒI XOÁ BỎ ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

 1, Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Lộc cầm đầu nhóm 72, đã chết).


Lại vẽ trò bôi nhọ sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden

Trong bối cảnh Việt Nam - Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, các thế lực chống phá lại tiếp tục tung ra những luận điệu sai trái, cố tình tạo ra những cái nhìn méo mó về quan hệ hai nước.

Vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10-11/9 theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Tổng thống Joe Biden kể từ khi ông nhậm chức đầu năm 2021. Chuyến thăm cũng đánh dấu sự kiện lần đầu tiên Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ cùng thăm Việt Nam trong một nhiệm kỳ. Sự kiện còn diễn ra vào dịp hai nước kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện.

Tổng thống Joe Biden đến Việt Nam ngay sau khi dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại New Delhi, Ấn Độ. Chuyến thăm Việt Nam lần này là một dấu mốc quan trọng trong việc tăng cường quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Việc các Tổng thống Hoa Kỳ đều có chuyến thăm tới Việt Nam (kể từ chuyến thăm của Tổng thống Bill Clinton vào tháng 11/2000) đã phản ánh vai trò quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới đối tác của Hoa Kỳ ở khu vực.

Nhiều hãng truyền thông lớn trên thế giới đã đăng tải những thông điệp tích cực của chuyến thăm, khẳng định Việt Nam tiếp tục cho cả thế giới biết và hiểu hơn về đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam là độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Việc nâng mức quan hệ ngoại giao từ Đối tác Toàn diện lên Đối tác Chiến lược Toàn diện tiếp tục khẳng định mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ở tầm cao mới, đó là Đối tác Chiến lược Toàn diện, vì hoà bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Ngay sau chuyến thăm, Tổng thống Joe Biden đăng tải trên mạng xã hội video chia sẻ những khoảnh khắc quan trọng với hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì lễ đón chính thức tại Phủ Chủ tịch, cuộc hội đàm giữa hai nhà lãnh đạo và các cuộc hội kiến của Tổng thống Hoa Kỳ với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Tổng thống Joe Biden viết trên trang cá nhân: “Sau 50 năm tiến triển trong mối quan hệ giữa hai nước, từ xung đột đến bình thường hóa, tôi tự hào đã tăng cường hơn nữa mối quan hệ với Việt Nam – một đối tác quan trọng ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương”…  Những tình cảm đó cho thấy cá nhân Tổng thống Joe Biden nói riêng, Hoa Kỳ nói chung rất coi trọng mối quan hệ hợp tác với Việt Nam.

Ngược lại với thực tế đó, những phần tử phản động lưu vong ở hải ngoại lại tỏ ra lo lắng, tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam và việc nâng tầm mối quan hệ giữa Việt Nam – Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Các đối tượng tăng cường phát tán nhiều bài viết có nội dung sai trái, xấu độc để chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ cũng như quan hệ của Việt Nam với nhiều nước khác… Có trường hợp khi không thể ngăn cản chuyến thăm của Tổng thống Joe Biden thì quay sang miệt thị các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chính sách ngoại giao “bốn không” của Việt Nam…

Những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái, đối lập với chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Trong phát biểu trước báo chí tối 10/9, Tổng thống Joe Biden đã nhắc lại quá khứ quan hệ 2 nước trước năm 1975 với sự can thiệp của Hoa Kỳ vào miền Nam Việt Nam; tiếp đó đến mãi năm 1995, hai nước mới bắt tay hòa giải quan hệ ngoại giao.

Trải qua 28 năm, nay đã nâng đến mức độ cao nhất cho thấy sự tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau của cả hai nước. Tổng thống Joe Biden chia sẻ rằng, trước đây khi trở thành nghị sĩ, ông đã bỏ phiếu phản đối cuộc chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam, yêu cầu Chính phủ, Quốc hội Hoa Kỳ phải rút quân về nước. Ngay trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Joe Biden đã nhắc đến cố Thượng nghị sĩ John McCain, Đặc phái viên của Tổng thống Hoa Kỳ về khí hậu John Kerry - người bắc cầu cho quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Phải khẳng định rằng, việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là phù hợp với thực tiễn của quan hệ ngoại giao hai nước, đáp ứng sự mong mỏi và tình cảm của các nhà lãnh đạo, nhân dân hai nước. Như Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Marc E.Knapper đã nhấn mạnh trong cuộc gặp gỡ với báo chí trưa 13/9 rằng, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển tốt đều mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia và Hoa Kỳ muốn trở thành một phần trong quá trình Việt Nam nỗ lực để trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2050.

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ cựu thù trở thành đối tác và Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững đã được nhiều nhà ngoại giao thế giới gọi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế, là tấm gương để các quốc gia khác noi theo, học tập.

Nghĩa là không chỉ hai quốc gia Việt Nam - Hoa Kỳ mà cả cộng đồng thế giới đều ghi nhận, trân trọng những nỗ lực trong bước tiến vượt bậc về quan hệ ngoại giao giữa hai bên bởi điều này còn có sự ảnh hưởng tích cực lớn đến an ninh, hòa bình, sự đoàn kết, thịnh vượng của khu vực và trên thế giới.

Cho nên, những lời lẽ kiểu hậm hực rằng, Hoa Kỳ đừng nên quan hệ với Việt Nam, rằng Hoa Kỳ cần đưa ra yêu sách buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thay đổi chế độ mới nâng cấp quan hệ hoặc châm chọc rằng, Việt Nam nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ là “theo phe này, chống phe kia”…  là không đúng với thực tiễn.

Thêm một luận điệu cũ mòn nữa là các đối tượng chống đối liên tục ca thán “bày tỏ mối quan ngại sâu sắc” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Cụ thể, một số tổ chức phi chính phủ đã viết thư chung gửi Tổng thống Hoa Kỳ, đề nghị ông Joe Biden khi sang thăm Việt Nam, trong các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Việt Nam cần gây áp lực, can thiệp phải sửa đổi các điều luật mà các đối tượng cho rằng “mang tính chất đàn áp”, bao gồm các Điều 117 và 331, Bộ luật Hình sự và đòi bỏ Luật An ninh mạng. Họ rêu rao “chấm dứt hành vi đàn áp xuyên quốc gia và trả tự do cho tất cả tù nhân của lương tâm”; “thả tự do cho tất cả 41 nhà báo bị giam giữ”; “gặp gỡ gia đình các tù nhân chính trị để nghe những lời trần tình của họ về tình hình nhân quyền ở Việt Nam”…

Rõ là những lời bịa đặt, vu khống cũ mòn về nhân quyền ở Việt Nam. Thực tiễn, ngoài những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chính sách cho đồng bào dân tộc và đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người khuyết tật..., những nỗ lực trong việc đảm bảo và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Trưởng Đại diện của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, bà Ramla Khalidi mới đây còn nhấn mạnh: "Việt Nam là một hình mẫu về giảm nghèo, nhất là trong một khoảng thời gian đặc biệt ngắn. Tôi nghĩ rằng, nhiều quốc gia sẽ nhìn vào Việt Nam để học hỏi những bài học đó".

Trong khi đó, Phó Trưởng đại diện thường trú của UNDP, ông Patrick Haverman lại đặc biệt ấn tượng với những nỗ lực không ngừng nghỉ của Việt Nam nhằm đem lại cuộc sống ấm no và công bằng cho người dân, phản ánh rõ nét trong thời kỳ đại dịch COVID-19. Theo ông Patrick Haverman, Việt Nam đã rất nỗ lực để bảo đảm an toàn, an ninh cho người dân và Việt Nam trở thành một trong các nước đi đầu triển khai nhanh chóng vaccine COVID-19 cho toàn dân. Rồi cũng chính Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á mở cửa biên giới, dỡ bỏ các hạn chế nhập cảnh, kích hoạt lại các hoạt động kinh tế.

Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 54 của Hội đồng Nhân quyền diễn ra ở Geneva Thụy Sĩ, trong bài phát biểu ngày 13/9, Đại sứ Lê Thị Tuyết Mai - Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva cũng đã nêu rõ chủ trương của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ việc thụ hưởng quyền con người của mọi người dân, trong đó đề cao chính sách phát triển của Việt Nam lấy con người làm trung tâm, coi con người là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển, hướng đến đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

Trước đó, Tuyên bố chung Việt Nam - Hoa Kỳ nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Joe Biden (10-11/9) cũng dành hẳn một mục với tựa đề “Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người”. Nghĩa là Việt Nam - Hoa Kỳ rất thẳng thắn, cởi mở và sẵn sàng chia sẻ với nhau những vấn đề liên quan đến con người, nhân quyền.

Cụ thể, Tuyên bố chung viết: “Hai nhà lãnh đạo khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, phù hợp với hiến pháp của mỗi nước và các cam kết quốc tế. Hai nước nhất trí tiếp tục ủng hộ thúc đẩy và bảo vệ quyền con người thông qua các cơ chế đối thoại thẳng thắn, xây dựng như Đối thoại nhân quyền, Đối thoại lao động Việt Nam-Hoa Kỳ hàng năm, qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau và giảm thiểu khác biệt.

Hai nhà lãnh đạo khuyến khích tăng cường hợp tác nhằm bảo đảm tất cả người dân, bao gồm các nhóm dễ bị tổn thương không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo hay khuynh hướng tình dục và người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền con người. Việt Nam và Hoa Kỳ ghi nhận quyền con người, ổn định khu vực, hòa bình thế giới và phát triển bền vững có mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau. Hai bên ghi nhận những đóng góp mà các tổ chức xã hội và tôn giáo tiếp tục mang lại trong các lĩnh vực như giáo dục, chăm sóc y tế và dịch vụ xã hội ở cả hai nước”.

Thực tế, dân chủ, nhân quyền là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách đầy đủ. Mỗi quốc gia thực hiện dân chủ, nhân quyền còn tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán và trình độ dân trí…

Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định rõ, bảo đảm quyền con người là bản chất của chế độ, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đồng thời là động lực của chế độ. Vì thế, Nhà nước Việt Nam luôn đẩy mạnh và coi trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người; củng cố tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thúc đẩy thực thi quyền con người, bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của nhân dân.

Thực tiễn bi hài của những kẻ phụ bạc với quê hương

Thời gian qua, người sử dụng các nền tảng mạng xã hội đã “nhẵn mặt” với những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước mang danh nghĩa “tự do, dân chủ”, “yêu nước”, “dân oan”, tung ra video, bài viết xuyên tạc, kích động hòng gây mất ổn định chính trị-xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, đằng sau những hành động khoác áo vì tự do, dân chủ, nhân quyền mà họ hô hào thì đích đến là nhận sự ban phát về lợi ích vật chất hoặc tị nạn chính trị ở các quốc gia phương Tây và Hoa Kỳ.

Những chiêu trò quen thuộc

Trong thế giới phẳng ngày nay, việc mỗi người đi, đến hay định cư ở một quốc gia nào đó hoàn toàn là quyền cá nhân. Quan trọng là có đáp ứng được các yêu cầu của nước sở tại khi đến định cư hay không. Với nhiều người Việt Nam, việc đi ra nước ngoài học tập, làm việc và định cư, đến Châu Âu, Úc, Mỹ là hoàn toàn bình thường, nhất là khi đất nước ta đã và đang ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng.

Nhưng ở một khía cạnh nào đó, vẫn còn có những người không có năng lực, trình độ, không có công ăn việc làm ổn định nhưng luôn mang trong mình giấc mộng phù hoa dù họ không đáp ứng được yêu cầu của các nước sở tại. Cũng có người có chút năng lực, khi “nổ” trên mạng xã hội thì ảo tưởng mình là tài năng, là hiếm có, cho rằng ở trong nước “nhân tài không được trọng dụng” nên tìm cách vu cáo mất dân chủ, nhân quyền hòng nhận sự để ý và hỗ trợ vật chất từ bên ngoài, dần dần tạo cớ để được “chiêu mộ đến xứ thiên đường”!

Để đạt được mục đích đó, họ đã bất chấp tất cả, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, phản bội lại mảnh đất đã nuôi dưỡng mình trưởng thành…

Vẫn là những chiêu trò cũ rích của thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền đưa ra những thủ đoạn, các luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật về dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như: Phủ nhận giá trị lý luận, thành tựu, thực tiễn, các quan điểm, đường lối của Đảng về dân chủ, nhân quyền; xuyên tạc, kích động vấn đề dân tộc, tôn giáo, tự do, dân chủ; lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội, sơ hở, thiếu sót trong quản lý, điều hành đất nước hoặc những vấn đề bức xúc, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm để lôi kéo, kích động người dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, xã hội...

Để thực hiện được những âm mưu đó, các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài cần những con rối ở trong nước tiếp tay hoạt động. Với chiêu trò cho tị nạn, hứa hẹn một tương lai xán lạn nơi xứ người đã khiến cho nhiều kẻ trở lên lóa mắt và sẵn sàng làm con rối cho chúng. Hằng năm, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong nước ngoài gửi về nước ngoại tệ cùng các phương tiện kỹ thuật như máy tính xách tay, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại thông minh, máy ghi âm từ xa… cho các đối tượng trong nước tiến hành kích động biểu tình, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do sự hậu thuẫn, hỗ trợ của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài nên số chống đối trong nước thời gian qua hoạt động chống phá ngày càng quyết liệt, nguy hiểm, thậm chí một số đối tượng coi hoạt động chống đối là một nghề kiếm sống, là một con đường để rời bỏ quê hương, tị nạn chính trị.

Khi số đối tượng trên bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý về các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định thì các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng để "tôn vinh" những đối tượng trên bằng những cái tên mỹ miều như "nhà dân chủ", "nhà phản biện", "luật sư nhân quyền" để rồi lớn tiếng cho rằng việc bắt giam những người này là "vi phạm dân chủ, nhân quyền". Một mặt, lo sợ trước sự phản ứng của người dân trong nước và sợ bị pháp luật trừng trị, các đối tượng đã tìm cách đào tẩu ra nước ngoài, xin tị nạn chính trị để tiếp tục bám gót các thế lực chống đối và sử dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin bịa đặt chống phá, bôi nhọ hình ảnh đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

Khi giấc mộng tan vỡ nơi xứ người

Thực tế cho thấy, không ít đối tượng sau khi rời khỏi Việt Nam đã vỡ mộng với “giấc mơ miền đất hứa” hoặc sống chui lủi trong các trại tị nạn ở nước thứ ba… Thật không khó để đoán được một tương lai khó khăn đối với những người vốn chỉ “dùng loa để kiếm sống”, khi ra nước ngoài do không có trình độ, năng lực, không còn được các tổ chức phản động sử dụng nên số này lâm vào túng quẫn.

Một điều dễ nhận thấy nhất là khi số đối tượng trên rời Việt Nam ra nước ngoài thì cũng là lúc họ không còn nhận được sự quan tâm từ những kẻ vốn luôn hứa hão, dần dần “chìm nghỉm” trên mạng, thậm chí số đối tượng trên còn phải chịu sự “ghẻ lạnh” từ chính những tổ chức từng đỡ đầu, khích lệ các hành vi chống phá ở trong nước do không còn giá trị lợi dụng. Trước khi rời Việt Nam, mạng xã hội được các đối tượng trên triệt để lợi dụng để kích động, chống đối, xuyên tạc sự thật. Còn sau khi rời Việt Nam thì mạng xã hội lại là nơi để các đối tượng kêu than về sự quay lưng của chính tổ chức từng cưu mang rồi cuộc sống khó khăn khi không có chuyên môn, trình độ…

Chuyện các nhà “dân chủ” ngày càng vỡ mộng về cuộc sống trời Tây đã chẳng còn là chuyện gì xa lạ nữa, thậm chí khi bị vỡ mộng, số này còn liên tục có những bài viết tố cáo lẫn nhau cho thấy thực tế thực sự bi hài. Kể từ khi Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (blogger Mẹ Nấm) được bảo lãnh “xuất khẩu miễn phí” ra nước ngoài từ năm 2018 đến nay, gần như các thông tin về “Mẹ Nấm” đã không còn xuất hiện nhiều trên mạng xã hội khi mà công việc chính là chống phá ở trong nước đã không còn thực hiện được nữa. Đến nay, những thông tin về “Mẹ Nấm” có chăng chỉ là những lời than vãn trên mạng xã hội về cuộc sống khó khăn, khổ sở mà trợ cấp thì không đủ để duy trì cuộc sống tối thiểu.

Trần Thị Nga khi sang đến Mỹ lại không nhận được sự trợ giúp từ những tổ chức vẫn nói “luôn đồng hành”, Nga túng thiếu, vật lộn khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần, khi đó mới nhận ra mình đã bị mắc mưu những kẻ giảo hoạt. Còn kẻ giảo hoạt thì nói rồi quên, hứa rồi bỏ, tung hô rồi phó mặc, sự thật ấy khi Nga nhận ra thì đã quá muộn. Thực tiễn vỡ mộng đó đã khiến cho Trần Thị Nga thốt lên chua xót: “Vậy là tôi đã có thêm một bài học một kinh nghiệm có giá trị”! Vậy mà, khi còn trong tù, Nga không hối lỗi cải tạo để sớm được trở về với xã hội, trở về với cộng đồng hưởng cuộc sống thanh bình, tự do, mà còn tìm kiếm mộng ảo nơi “thiên đường đất Mỹ”, giờ đây mới đớn đau tỉnh ngộ.

Hay như Lê Thu Hà, một người từng được biết đến là cộng sự đắc lực của Nguyễn Văn Đài trong các hoạt động gây rối khi còn ở Việt Nam. Tuy nhiên khi sang Đức tị nạn thì Hà đã bị Đài bỏ rơi vì không còn giá trị sử dụng mà chỉ làm vướng bận thêm cuộc sống của y để rồi khi tìm đường về Việt Nam thì không còn cơ hội nữa. Cũng có những trường hợp sau khi sang Mỹ, châu Âu, nhờ được sự giúp đỡ của người thân, họ tìm được việc làm, tạm ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, dù không quá vất vả, lận đận kiếm tiền song các “nhà dân chủ” sớm nhận ra sự thật đắng cay: Các tổ chức, cá nhân vốn hứa bao bọc, giúp đỡ nhằm tạo ngọn cờ chống đối trong nước, nay tìm cách tảng lờ, coi như không liên quan như Bạch Hồng Quyền, Nguyễn Văn Hải…

Có lẽ, đây mới chỉ là những đoạn đầu của con đường không tương lai của những người trên, những kẻ phản bội đất nước, dân tộc để cầu hư vinh. Chỉ khi ra nước ngoài, bản chất thật sự của số gọi là “nhà dân chủ, người yêu nước, nhà đấu tranh nhân quyền” mới bộc lộ, để rồi chìm dần vào sự quên lãng khi đã không còn giá trị sử dụng đối với các tổ chức chống phá ở nước ngoài. Cha ông ta thường dạy “không ai cho không thứ gì”. Những kẻ phản bội đất nước thì đa phần đều đã làm cha làm mẹ, luôn nói rằng được sống trong môi trường giáo dục nhưng bản thân lại không làm theo điều cha ông đã dạy “đói cho sạch, rách cho thơm”.

Quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý, làm sao có thể rời bỏ mẹ cha, ruồng bỏ quê hương. Chỉ có những người phụ bạc với đất mẹ, với Tổ quốc thì bước đi đâu mà không phải cúi đầu, còn gì liêm sỉ để ngẩng lên mà nhìn người khác? Con đường do họ chọn và chính họ chấp nhận rời bỏ quê hương, phản bội lại Tổ quốc, đi ngược lại với lợi ích của nhân dân. Đến khi nhận ra bị chính những tổ chức phản động lợi dụng “vắt chanh, bỏ vỏ”, sức tàn lực kiệt, hối cải, nghĩ đường về quê hương thì mọi thứ đã muộn. Đây cũng là bài học cho những kẻ trong nước lựa chọn con đường phản bội lại đất nước, dân tộc, tiếp tay cho các tổ chức thù địch, phản động, nuôi mộng định cư ở miền đất hứa và “đổi đời”.

Việt Nam nỗ lực đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới

Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) ngày 5/9 đã tiến hành các phiên bế mạc Khóa họp lần thứ 77 và khai mạc Khóa họp lần thứ 78 tại New York (Mỹ), trong đó trọng tâm là Tuần lễ cấp cao từ ngày 19-26/9 với sự tham dự của các nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ 193 nước thành viên của tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh.

Đại hội đồng LHQ là một trong 6 cơ quan chính của LHQ, bên cạnh Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế - Xã hội, Hội đồng Quản thác, Tòa án Công lý quốc tế và Ban thư ký LHQ; và là cơ quan có tính đại diện rộng rãi nhất trong hệ thống LHQ, với sự tham gia của tất cả các thành viên.

Đại hội đồng LHQ có thẩm quyền rộng rãi trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, văn hoá, xã hội; có quyền thảo luận và đưa ra các nghị quyết, quyết định về các vấn đề thuộc phạm vi Hiến chương hoặc bất kỳ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của các cơ quan của LHQ, nhằm mục đích thúc đẩy sự hợp tác quốc tế trên phạm vi toàn cầu.

Với chủ đề “Xây dựng lại niềm tin, khơi dậy tinh thần đoàn kết toàn cầu: Đẩy nhanh hành động Chương trình nghị sự 2030 và Các mục tiêu phát triển bền vững hướng tới hòa bình, thịnh vượng, tiến bộ và bền vững cho tất cả mọi người”, các đại biểu tham dự Khóa họp thứ 78 Đại hội đồng LHQ sẽ tập trung thảo luận về những vấn đề thời sự nhất như: biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, ngăn ngừa đại dịch, giải giáp vũ khí hạt nhân...

Theo giới chức LHQ, khóa họp lần này của Đại hội đồng được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt trên con đường hướng tới việc hoàn thành Chương trình nghị sự 2030 và nhu cầu cấp thiết đưa 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) trở lại đúng quỹ đạo. Các nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ sẽ nhóm họp để thống nhất việc chuyển đổi và tăng tốc hướng tới việc hoàn thành các mục tiêu này vào năm 2030. Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, từ ngày 17-26/9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 78 Đại hội đồng LHQ.

Tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam

Với việc kết thúc Khoá 77, Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng từ tháng 9/2022 tới tháng 9/2023. Trong quá trình đảm nhận cương vị Phó Chủ tịch Khóa 77, Việt Nam đã cùng một số nước đề xuất các sáng kiến, giải pháp trên nhiều vấn đề lớn của LHQ như: đề cao luật pháp quốc tế, đại dương và luật biển; an ninh nguồn nước; trách nhiệm bảo vệ và phòng ngừa tội ác chống lại nhân loại; tiếp cận công lý bình đẳng. Việt Nam cũng tham gia chuẩn bị cho hội nghị cấp cao về phòng chống dịch bệnh, bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, cải tổ hoạt động của Đại hội đồng LHQ, báo cáo của Tổng thư ký LHQ về hoạt động của tổ chức, báo cáo của Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), báo cáo của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC), theo Bộ Ngoại giao.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã chủ trì Đại hội đồng LHQ thảo luận và thông qua nghị quyết yêu cầu ICJ đưa ra ý kiến tư vấn đối với vấn đề biến đổi khí hậu, các nghị quyết liên quan tổ chức phiên họp cấp cao về sẵn sàng phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, bao phủ bảo hiểm y tế toàn cầu, bệnh lao, thúc đẩy các nội dung thảo luận tại Hội nghị của LHQ về nước. Việt Nam cũng đã hỗ trợ Chủ tịch Đại hội đồng điều hành các công việc chung của LHQ, trong đó có các sự kiện lớn cấp cao và các phiên họp quan trọng, cũng như trong điều phối và dẫn dắt quá trình thảo luận, thương lượng xây dựng các văn kiện, tiến trình mang tính định hướng chiến lược lâu dài của LHQ cho các năm tiếp theo. Việt Nam là nước được Chủ tịch Đại hội đồng LHQ Khóa 77 tín nhiệm, giao chủ trì điều hành nhiều cuộc họp của Đại hội đồng.

Sự kiện Việt Nam hoàn thành nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng LHQ với nhiều đóng góp thiết thực một lần nữa khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cho thấy, sự ghi nhận xứng đáng của cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu và nỗ lực của Việt Nam trong việc thúc đẩy bảo vệ quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Đây là minh chứng sinh động, đầy sức thuyết phục để phản bác những luận điệu xuyên tạc, cố tình phủ nhận những tiến bộ và thành tựu kinh tế, xã hội, đối ngoại nước ta.

Nhân tố cho hòa bình ổn định của khu vực và thế giới

LHQ là tổ chức đa phương lớn nhất thế giới với sứ mệnh duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đến Mỹ, tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Khóa 78 Đại hội đồng LHQ, diễn ra đúng dịp kỷ niệm Việt Nam gia nhập LHQ. Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của LHQ và kể từ đó, Việt Nam luôn là một đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng vào thực hiện các sứ mệnh của LHQ.

Trong gần 5 thập kỷ qua, các chương trình, dự án của LHQ đã đóng góp quan trọng vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhất là phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, chia sẻ kinh nghiệm phát triển trong nhiều lĩnh vực. Với những đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào nhiều tổ chức quan trọng của LHQ như Hội đồng Bảo an (2008-2009, 2020-2021), Hội đồng Kinh tế - Xã hội (1998-2000, 2016-2018), Hội đồng Nhân quyền (2014-2016), Ủy ban Luật pháp quốc tế (2017-2021, 2023-2027), Hội đồng Chấp hành Chương trình Phát triển LHQ (UNDP)...

Theo Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển quan trọng, được LHQ và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Theo Phó Tổng Thư ký LHQ Amina Mohammed, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực đối với công việc chung của LHQ, đồng thời, đề cao việc Việt Nam tham gia có trách nhiệm vào lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ, triển khai hiệu quả các mục tiêu SDG và nỗ lực thực hiện các cam kết chống biến đổi khí hậu, thúc đẩy hợp tác phát triển vì lợi ích chung của cộng đồng.

Cùng chung nhận định này, Chủ tịch Đại Hội đồng LHQ Khóa 76 Abdulla Shahid và Tổng Giám đốc UNDP Achim Steiner nhấn mạnh, Việt Nam là một trong những quốc gia hình mẫu của LHQ, có nhiều đóng góp quan trọng củng cố chủ nghĩa đa phương và tham gia công việc của LHQ, đặc biệt là tích cực thúc đẩy thực hiện các cam kết toàn cầu như triển khai các SDG và ứng phó với biến đổi khí hậu, mang lại nhiều kinh nghiệm thực tiễn quý báu cho LHQ và cộng đồng quốc tế.

Trong chuyến thăm đến Hà Nội tháng 8/2022, Trợ lý Tổng Thư ký LHQ, Cố vấn đặc biệt của Tổng Thư ký về hành động vì khí hậu Selwin Hart cho biết, ông đã tận mắt chứng kiến sự nghiêm túc và nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết đưa ra tại Hội nghị COP 26. Việt Nam còn thể hiện vai trò một thành viên trách nhiệm tại Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016. Trong 3 năm thực hiện nhiệm vụ, Việt Nam đã đưa ra nhiều sáng kiến được bạn bè quốc tế ủng hộ, trong đó có thúc đẩy quyền của các nhóm yếu thế, chống biến đổi khí hậu, được hơn 100 quốc gia đồng tình.

Cao ủy Nhân quyền LHQ Michelle Bachelet đánh giá cao các thành tựu kinh tế, xã hội, tạo nền tảng cho việc nâng cao đời sống, bảo đảm các quyền cho người dân Việt Nam trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời gian đại dịch và phục hồi sau dịch. Bà nhất trí với các ưu tiên của Việt Nam về bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương trước tác động biến đổi khí hậu. Chính việc luôn nỗ lực thúc đẩy các chương trình nghị sự nhằm bảo vệ các nhóm yếu thế tại LHQ, cũng như đặt ưu tiên thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, chống bạo lực và phân biệt đối xử về giới khi triển khai chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đã giúp Việt Nam tích lũy đủ về lượng, tạo thành động lực để Việt Nam trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025.

Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres từng đánh giá, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Năm ngoái, Tổng Thư ký LHQ thăm chính thức Việt Nam đúng dịp kỷ niệm 45 năm hợp tác Việt Nam-LHQ, sau khi Việt Nam hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 và vừa trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025.

Chuyến thăm thể hiện LHQ coi trọng hợp tác với Việt Nam, vai trò của Việt Nam tại LHQ và các diễn đàn đa phương, ghi nhận những thành tựu quan trọng về đổi mới, phát triển cũng như vị thế của Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm, đóng góp có hiệu quả vào hoạt động của LHQ và cộng đồng quốc tế.

Cũng trong chuyến thăm này, Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres đánh giá cao hệ thống cảnh báo sớm trong giảm thiểu rủi ro thiên tai cũng như công tác dự báo thời tiết, thủy văn của Việt Nam. “Tôi thấy rất vui vì các sản phẩm dự báo của Việt Nam không những phục vụ người dân trong nước mà còn chia sẻ với các cơ quan khí tượng của các nước trong khu vực và trên thế giới. Rõ ràng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, chúng ta không thể sống thiếu dự báo, đặc biệt là dự báo sớm…Tôi hy vọng sau này, khi cháu tôi đến Việt Nam, sẽ thấy đây là một khu vực xanh tươi, năng động với những hoạt động kinh tế phát triển và cuộc sống thịnh vượng”, Tổng Thư ký LHQ nói.

Chuyến thăm tháng 10/2022 của Tổng Thư ký LHQ Antonio Guterres là chuyến thăm thứ tư của một Tổng Thư ký LHQ đến Việt Nam (trước đó là các chuyến thăm của ông Boutros Ghali vào năm 1993, ông Kofi Annan vào tháng 5/2006 và ông Ban Ki-moon vào tháng 5/2015).

Đón tiếp Tổng Thư ký LHQ thăm chính thức, Việt Nam tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và có hiệu quả. Đây là bước tiếp tục triển khai đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương, phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, nhất là tại LHQ.

Kiên quyết chống bệnh nói suông, phô trương hình thức

Trong việc đưa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, thì một công việc hệ trọng và thiết thực hiện nay là cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) phải thường xuyên học tập phong cách “Nói phải đi đôi với làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để từ đó luôn đề cao tinh thần tích cực hành động cách mạng vì nước, vì dân, vì lợi ích chung. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV hiện nay mắc phải căn bệnh “tự kiêu, tự đại” nên dẫn đến nói và làm không nhất quán, nói không đi đôi với làm, hứa nhiều làm ít, mà nguy hại hơn là nói một đằng, làm một nẻo. Đây là biểu hiện của sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải nhận diện, kiên quyết đấu tranh loại bỏ.

Nguy hại từ vỏ bọc trá hình

Bàn về vấn đề này, ông cha ta đã đúc kết “Nói chín thì nên làm mười/Nói mười làm chín kẻ cười người chê” nhằm để răn dạy thế hệ con cháu sau này biết được, tác hại của việc nói nhiều làm ít sẽ gây ra hệ lụy xấu. 

Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cho thấy, những người giỏi giang sẽ không cần tự chứng minh vì mọi người đều hiểu, giống như “Cỏ dại ngẩng cao, lúa chín cúi đầu”, luôn thích hành động hơn là lời nói, âm thầm làm việc khi đại sự hoàn thành, người khác tự khắc công nhận. Đó chính là kiểu “Nói chín thì làm nên mười”. Tuy nhiên, nói đi đôi với làm không phải ai cũng có thể thực hiện trọn vẹn mọi nơi, mọi lúc cái điều mình đã nói. 

Bởi vì xuất phát từ đạo lý hảo tâm, thiện chí, có lúc chúng ta muốn làm hoặc hứa làm một điều tốt đẹp nào đó, nhưng rồi do điều kiện khách quan, chúng ta bỏ lỡ nên day dứt, ân hận vì không thực hiện được. Đây chính cũng chính là “Hành nan, ngôn dị” một tổng kết sâu sắc của ông cha ta nói về cái khó trong đạt tới sự nhất quán giữa nói và làm. Còn trong xã hội phong kiến xưa kia, các bậc quân tử luôn coi trọng ngũ thường là “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín”. Trong đó, biểu hiện cốt lõi của chữ “tín” là “quân tử nhất ngôn; tứ mã nan truy”. Nghĩa là người quân tử chỉ nói một lời và khi đã nói, đã hứa thì không bao giờ thay đổi, đã nói là làm.

Nhắc lại điều đó để thấy rằng, thời nào cũng vậy, nói và làm đều là biểu tượng, hình ảnh, uy tín, danh dự tốt đẹp của mỗi chúng ta trong xã hội, do vậy phải đề cao, coi trọng và có trách nhiệm giữ gìn, bảo đảm thống nhất giữa lời nói và hành động. Nhất là trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, bất cứ lời nói, phát ngôn nào của CB, ĐV khi đã được đăng tải công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì những “lời hay ý đẹp” đều trở thành tiêu điểm của dư luận, đồng thời cũng là bằng chứng để người dân theo dõi, giám sát lời nói và việc làm xem có phù hợp, nhất quán với nhau hay không. 

Và ngược lại, nếu CB, ĐV chỉ nói suông và phô trương hình thức, thì sẽ để lại hậu quả, tác hại vô cùng nghiêm trọng, đó là làm phai nhạt niềm tin, bào mòn mối quan hệ máu thịt của quần chúng nhân dân với Đảng. Bài học đắt giá được dư luận nhắc tới nhiều như trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu Bí thư Thành ủy Đà Nẵng. Khi mới nhậm chức ông Nguyễn Xuân Anh đã có những phát ngôn làm nức lòng nhiều CB, ĐV, nhân dân địa phương và thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội, như: “Không có quyền lực ngoài pháp luật”; “Tiết kiệm là vinh dự, lãng phí là xúc phạm đến lòng tin của dân, tham nhũng là có tội với nhân dân”… 

Thế nhưng ông Nguyễn Xuân Anh lại nói một đằng, làm một nẻo, để lại nhiều hệ lụy, tai tiếng cho cá nhân, gia đình ông và gây ra nhiều phiền toái cho cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và nhân dân địa phương. Trường hợp khác cũng được dư luận nhắc đến là ông Trương Minh Tuấn, cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Từng chủ biên cuốn sách “Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng trong CB, ĐV hiện nay”, nhưng chính ông lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng những điều đảng viên không được làm, vi phạm pháp luật Nhà nước.

Qua thực tiễn cho thấy, tổ chức, cá nhân nào mà mắc căn bệnh nói suông, phô trương hình thức sẽ gây ra hậu quả rất nguy hại. Cụ thể là thời gian qua báo chí đã phản ánh, nào là từ lễ hội, họp hành, đón tiếp khách, gặp mặt, liên hoan rầm rộ, tốn kém cả tiền bạc lẫn thời gian, ví như việc chia tay nguyên giám đốc CDC ở Quảng Ninh về nghỉ hưu gây xôn sao dư luận về sự xa hoa, tốn kém là một ví dụ điển hình; hay cho đến xây dựng trụ sở cơ quan hoành tráng, mua sắm xe công đắt tiền ở một huyện miền núi mà truyền thông đã đề cập. Ở phạm vi nhỏ hơn, trong một số gia đình CB, ĐV mắc căn bệnh phô trương, các công việc như ma chay, cưới hỏi, mừng thọ, mừng sinh nhật thường được tổ chức rình rang, linh đình gây bức xúc cho dư luận. Do đó, nói mà không đi đôi với làm, phô trương hình thức là nguyên nhân sinh ra bệnh tự kiêu, tự đại, dẫn đến suy thoái về phẩm chất đạo đức ở CB, ĐV.

Cách khắc phục thiết thực là tích cực học tập và làm theo Bác

Không phải sau này, mà ngay từ khi còn theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp ở thành phố Vinh, cậu bé Nguyễn Tất Thành đã thắc mắc tại sao thực dân Pháp rêu rao khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” mà lại đàn áp, bóc lột tàn nhẫn nhân dân Việt Nam? Người đã nung nấu ý tưởng được làm quen với nền văn minh Pháp để tìm hiểu xem đằng sau khẩu hiệu ấy ẩn giấu những gì? Vì thế, nước Pháp là điểm dừng chân đầu tiên trong hành trình tìm đường cứu nước của Người.

Khi trực tiếp chứng kiến cuộc sống ở nước Pháp, Bác đã vô cùng thất vọng với một nền văn minh mà ở đó “Tự do-Bình đẳng-Bác ái” chỉ dành cho giai cấp tư sản, còn các tầng lớp nhân dân lao động Pháp cũng bị bóc lột nặng nề, nghĩa là giữa khẩu hiệu và thực tế không thống nhất với nhau. Qua đó, Người đã lấy hình ảnh “con đỉa hai vòi” để gán cho chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Trong “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”, ngày 1/3/1947, Bác nêu rõ những khuyết điểm mà mỗi CB, ĐV phải kiên quyết tẩy sạch, đó là bệnh nói suông, “ham chuộng hình thức”. 

Bác thường xuyên phê phán nghiêm khắc căn bệnh tai hại này: “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được; nghĩa là chỉ quen chỉ thị, quen đề xuất, nói rồi quên, nói cao giọng mà không tính đến các điều kiện thực tế, đến khả năng hành động, thực thi của chính mình. Hình như họ nói cốt để cho người khác làm, còn chính mình lại không quyết tâm theo đuổi, chỉ đạo thực hiện đến cùng một công việc nào đó. 

Thành ra, có nhiều chủ trương không đi vào cuộc sống, không đem lại chuyển biến đáng kể trong thực tế...”, đồng thời Bác nhắc nhở CB, ĐV phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và giữ vững “tính Đảng”. Muốn làm được điều đó, Bác cho rằng: “Bất kỳ ở từng lớp nào, giữ địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt: 1. Mình đối với mình. 2. Mình đối với người. 3. Mình đối với công việc”. Vì thế, thực hành “nói đi đôi với làm” cần phải được tiến hành nghiêm túc trong tất cả các quan hệ đó. Trong cuốn sách “Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ”, xuất bản năm 1973 cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bình sinh, Hồ Chủ tịch không thích hình thức, chống nói suông, và rất coi trọng việc làm thiết thực”.

Thế nên, để khắc phục tình trạng này, cần đẩy mạnh phong trào tự giác học tập và làm theo Bác về “nói đi đôi với làm” trong mỗi tổ chức Đảng và CB, ĐV là hết sức cần thiết, mà trước hết phải thực hiện từ tổ chức Đảng, từ người lãnh đạo đến CB, ĐV, phải đề cao tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình, xây dựng cho mình tác phong công tác sâu sát, gần gũi với nhân dân. Khi phát ngôn, nói năng phải cụ thể, dễ hiểu, thiết thực, bắt đầu từ nhỏ đến lớn, từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. 

Chúng ta đều hiểu rằng, mỗi người, mỗi ngành, nghề, mỗi giới, các tầng lớp nhân dân đều có những công việc, nhiệm vụ cụ thể, nên CB, ĐV muốn lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền được, thì không thể đại khái, dẫn đến nói chung chung, ai cũng nói được, nghe thì hay, nhưng không biết thực hiện thế nào. Do đó, người đứng đầu tổ chức đảng, CB, ĐV phải sâu sát, nói đi đôi với làm, nói đúng và làm trước để nhân dân lấy đó làm gương noi theo. 

Để khắc phục tình trạng “nói suông và phô trương hình thức”, đối với mỗi CB, ĐV phải tích cực nghiên cứu, học tập lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng để có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm và chống chủ nghĩa cá nhân, tránh nói suông, đánh trống bỏ dùi. Đây là điều kiện tiên quyết làm cơ sở cho mỗi CB, ĐV nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nói và thực hiện cho đúng, đồng thời tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân làm theo mới có hiệu quả.

Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm

Tinh thần trách nhiệm là phẩm chất cao đẹp, CB, ĐV có tinh thần trách nhiệm là người luôn nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình, sẵn sàng phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng cách mạng, vì cuộc sống hạnh phúc của nhân dân mà trước hết là thực hiện tốt nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức phân công, thể hiện tốt chức trách của mình với đồng chí, đồng nghiệp, cơ quan, đoàn thể. Tuy nhiên, do thiếu tinh thần trách nhiệm nên dẫn đến một số CB, ĐV sợ sai, né tránh trách nhiệm, không có bản lĩnh, sáng tạo, làm việc cầm chừng, dễ làm khó bỏ, thành tích thì vơ cho mình, khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi cho người khác, nhiều quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước vì thế không đi vào cuộc sống. Đây chính là “U nhọt” trong cơ thể Đảng cần phải loại bỏ.

Không có trách nhiệm sẽ nảy sinh nhiều hệ lụy xấu

Trong cuộc sống cũng như trong công việc hằng ngày, không khó để nhận biết những CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, nhất là những CB, ĐV là cán bộ lãnh đạo, quản lý, chủ trì cơ quan, đơn vị, tổ chức. Bởi vì, người cán bộ lãnh đạo, quản lý có trách nhiệm thường tích cực đi sâu, đi sát, lắng nghe ý kiến, tâm tư,nguyện vọng của quần chúng để tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nảy sinh, giải quyết triệt để những hạn chế, tồn tại của cơ quan, đơn vị mình. 

Đồng thời, luôn tích cực kiểm tra, đôn đốc cán bộ cấp dưới thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Ngược lại, nếu thiếu tinh thần trách nhiệm, những CB, ĐV này thường làm việc cầm chừng, không phân công, phân cấp rõ ràng, không tạo không gian, môi trường, điều kiện, cơ chế dân chủ để cho đồng chí, đồng nghiệp, cấp dưới đề xuất kiến nghị đưa ra những sáng kiến hoặc phát biểu trao đổi thảo luận đi đến tận cùng của vấn đề trước khi quyết định, rồi cấp dưới chưa phát biểu thì đã phủ đầu. Họ không tích cực chủ động, sáng tạo, dám thay đổi những điều chưa hợp lý, chỉ làm theo nếp cũ dần dần dẫn tới bảo thủ, trì trệ. Nguy hiểm hơn khi thấy đơn vị mình có biểu hiện mất đoàn kết cũng không nhắc nhở xử lý từ sớm từ xa, mà thậm chí còn kích động dùng người này để kiểm soát người kia, “Tọa sơn quan hổ đấu”, các chú cứ mất đoàn kết với nhau đi rồi lúc đấy anh xử lý kỷ luật.

Chúng ta đều biết, một trong những phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng, là muốn lãnh đạo, chỉ đạo hiệu quả thì đương nhiên đi cùng với đó là phải kiểm tra, kiểm soát. Người chủ trì, đứng đầu các cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng vậy, muốn công việc, nhiệm vụ của đơn vị mình hoàn thành tốt, thì trong bất kỳ công việc gì dù lớn hay nhỏ, dễ hay khó, khi giao việc cho cấp dưới đều phải định hướng, hướng dẫn, chỉ ra phương pháp tiếp cận như thế nào và tạo điều kiện để cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ. 

Cùng với đó, là tăng cường kiểm tra, giám sát, khi thấy cấp dưới gặp khó khăn, vướng mắc cần một niềm tin, cần một sự động viên, cần một chỗ dựa tin cậy về mặt chính trị thì người chủ trì phải tỏ rõ tinh thần trách nhiệm, cảm thông, đồng cảm, sẻ chia, cùng chung tay gánh vác, tháo gỡ khó khăn cho cấp dưới, đó chính là phong cách lãnh đạo, là đạo đức, văn hóa công vụ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở CB, ĐV: “Phải thương yêu đồng chí, hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”.

Tuy nhiên, đối với những CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, họ không quan tâm chia sẻ, luôn mang tư tưởng giao việc cho cấp dưới là “xong nhiệm vụ”, né tránh trách nhiệm, tội vạ do cấp dưới chịu, chỉ lo vun vén lợi ích cá nhân; không chấp hành kỷ luật, kỷ cương, quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu khi giải quyết công việc liên quan đến tổ chức và nhân dân, gây ra nhiều hệ lụy xấu, làm tổn hại nghiêm trọng cho nền đạo đức công vụ là văn hóa phục vụ nhân dân của Đảng. 

Và thực tế những năm qua, đã có hàng trăm CB, ĐV thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống đã bị kỷ luật, trong đó, có cả những đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo thiếu gương mẫu, đạo đức, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, cá nhân chủ nghĩa, không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao và phải chịu các hình thức kỷ luật đảng như cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng; bị pháp luật trừng trị, khởi tố, bắt giam. 

Cụ thể từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật hơn 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 Ủy viên, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của người CB, ĐV đối với công việc để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm của CB, ĐV ngay từ khi mới phát sinh.

Khắc phục theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đối với CB, ĐV, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bất kỳ ai, ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm”. Người giải thích: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng phải đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm”.

Do đó, mỗi CB, ĐV khi thực thi nhiệm vụ cần phải gương mẫu về đạo đức, tự giác tuân thủ kỷ luật, giữ vững nền nếp công tác, tránh được những cám dỗ tầm thường. Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ phụ trách phải theo đường lối chung nhưng cũng phải suy nghĩ tìm tòi, có những sáng kiến riêng của mình, theo tinh thần “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, như thế công việc mới “chạy” được. Mọi người cần đoàn kết thân mật, hợp tác chặt chẽ như tay với chân thì công việc mới hoàn thành được. 

Bác chỉ rõ: “Đối với đồng chí mình phải thế nào? Thân ái với nhau, nhưng không che đậy những điều dở. Học cái hay sửa chữa cái dở. Không nên tranh giành ảnh hưởng của nhau. Không nên ghen ghét đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình. Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị”. Nếu trong một tập thể mà các thành viên có thành kiến với nhau, dè dặt, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau thì “nó làm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”. 

Tuy nhiên, thân ái, hợp tác ở đây không phải là bao che khuyết điểm cho đồng nghiệp mà để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ và kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ và trong cuộc sống. Đồng thời, Bác cũng nhắc nhở chúng ta: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. 

Đối với những người có thói hư tật xấu, từ hạng người phản Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời”. Vậy nên trước khi đi xa, trong Di chúc Bác vẫn đau đáu căn dặn: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, nhắc nhở mỗi CB, ĐV phải “Trung với nước, hiếu với dân”, “luôn yêu thương con người”. Đó chính là phẩm chất đạo đức cộng sản của người cán bộ chân chính.

Hiện nay, trong quá trình thực thi nhiệm vụ, một số nhân tố khách quan và chủ quan đã tác động gây ra tình trạng lệch chuẩn đạo đức công vụ ở một bộ phận CB, ĐV làm giảm lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực thi công vụ. Do đó, mỗi CB, ĐV, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các cấp phải quán triệt sâu sắc, nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của CB, ĐV là “công bộc của nhân dân”, kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, mệnh lệnh hành chính, xa rời quần chúng và thực tế công việc; nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống biểu hiện thờ ơ, vô cảm khi tiếp xúc, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công cho tổ chức, cá nhân và trước khó khăn của nhân dân.

 Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thường xuyên kiểm tra, giám sát, tạo chuyển biến rõ nét về tác phong, thái độ của đội ngũ CB, ĐV trong thực thi công vụ, nhất là trên các lĩnh vực thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Đối với CB, ĐV phải là người tiên phong, gương mẫu, đi đầu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, luôn bám sát thực tiễn, biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đồng thời tích lũy kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng công tác, rèn luyện bản lĩnh và năng lực lãnh đạo, quản lý, khả năng hợp tác, tổ chức thực hiện và sự chịu trách nhiệm; kiên quyết và kiên trì trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện sai trái, tiêu cực.