Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

 


 Biển, đảo Việt Nam là một phần máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta quyết tâm phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Các thế lực thù địch thì coi đây là “mảnh đất vàng”, lợi dụng bóp méo sự thật, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta. Yêu cầu đặt ra là mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải chung tay đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, tình hình biển Đông có nhiều diễn biến mới, căng thẳng, phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định; sự phát triển, bùng nổ của thông tin trên Internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng những thủ đoạn ngày càng tinh vi để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo luôn là “cái cớ” để các phần tử phản động, bất mãn lợi dụng nhằm xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng các đối tượng trong nước thu thập thông tin, trả lời phỏng vấn các vấn đề nhạy cảm, phức tạp,... để phát tán tài liệu, hình ảnh, video, tạo ra các “chiến dịch truyền thông” sai sự thật, rêu rao về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch cố tình vu khống trắng trợn rằng: Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; “chính quyền Việt Nam làm ngơ về biển Đông”; hải quân Việt Nam “hèn yếu”;... Chúng đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó đánh vào tâm lý hoài nghi của một bộ phận người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn;... Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn phủ nhận thành quả và quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thời gian qua; đồng thời, cũng là âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Thủ tướng Chính phủ - Phạm Minh Chính từng nhấn mạnh: “Chúng ta không “chọn bên” mà chọn lẽ phải, xu hướng thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Hiện nay, các đảo và điểm đóng quân của Việt Nam trên biển ngày càng được củng cố vững chắc, là “phên giậu” bảo vệ Tổ quốc, từ đó càng khẳng định chủ quyền hợp pháp của đất nước. Vì vậy, cần nhận diện, bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, xuyên tạc, phê phán đường lối đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Theo đó, để tăng cường đấu tranh, phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, thù địch, chống phá; bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp nhân dân về chủ quyền biển, đảo.

Thứ ba, phát huy trách nhiệm của thanh niên, sinh viên trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thứ tư, báo chí, truyền thông, văn nghệ sĩ phát huy vai trò cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, phản bác các quan điểm sai trái, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Thứ năm, tăng cường công tác nắm bắt thông tin, dư luận xã hội, chủ động phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo.

Thứ sáu, tăng cường quản lý Internet, mạng xã hội và bảo đảm an ninh mạng.

Thứ bảy, thực hiện chiến lược đầu tư phát triển kinh tế biển, đảo một cách hiệu quả./.

          V3.

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

 


1. Mới đây, khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Căn biệt thự của gia đình ông cựu Bí thư Tỉnh ủy nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất của TP Lào Cai từ lâu đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Cũng theo kết luận của cơ quan chức năng, ông Nguyễn Văn Vịnh có tới 7 lô đất đều nằm ở các vị trí đắc địa của TP Lào Cai, chưa kể những tài sản khác. Hình ảnh người cán bộ như vậy đã khiến người dân không có cảm tình. 

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc “bệnh xa dân” khá phổ biến. Có những nơi đã hình thành khu ở của người giàu, của một số “quan chức”, hoặc vợ con họ sống xa xỉ, hưởng lạc. Đó là những khu phố luôn kín cổng cao tường, xa cách với nhân dân lao động. Ngay tại TP Lào Cai, ngày 24/5/2017, Báo Tuổi trẻ đã đăng tải bài điều tra “Đấu giá đất biệt thự “đắc địa” Lào Cai: Toàn quan chức trúng”. Theo bài báo, cả 6 lô biệt thự ở vị trí đắc địa bậc nhất Lào Cai sau đấu giá đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình quan chức tỉnh này, trong đó có ông Nguyễn Văn Vịnh, khi đó đang đương chức Bí thư Tỉnh ủy.

Chuyện cán bộ mắc “bệnh xa dân” ngày nay thể hiện muôn hình vạn trạng, đó là cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gì gặp được họ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Luật pháp có quy định, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đều phải thực hiện tiếp công dân. Người đứng đầu phải định kỳ tiếp công dân theo quy định của luật. Mục đích của việc tiếp công dân chính là sự gần dân, là để nắm bắt tâm tư nguyện vọng, tiếp nhận ý kiến của công dân để giải quyết, để ban hành chủ trương, chính sách sát thực tiễn. Tuy vậy, kết quả nội dung thanh tra trách nhiệm của các địa phương trong thực hiện việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo những năm qua cho thấy một tình trạng phổ biến đó là việc tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu không đầy đủ, không nền nếp, ủy quyền cho người khác tiếp công dân, nhiều người đứng đầu nhiều năm không tiếp công dân. Chính vì người đứng đầu, có thẩm quyền giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân lại không tiếp dân khiến bức xúc của người dân không những không được giải quyết mà còn bị đẩy lên cao, trở thành điểm nóng.

Ở một góc độ khác, chính vì mắc “bệnh xa dân” nên có những cán bộ chỉ nắm được tình hình qua báo cáo. Mà chất lượng báo cáo thì không phải ở đâu, chỗ nào cũng đúng, cũng thực chất. Tình trạng “tô hồng” báo cáo là một “trọng bệnh” với đa số ưu điểm, thành tích mà lảng tránh khuyết điểm, yếu kém.  

2. Trở lại với nguyên lý gốc về người cán bộ và nhân dân thì mối quan hệ này như thế nào trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hay cụ thể nhất là Nhà nước ta? Cán bộ thực chất là những thủ lĩnh của nhân dân trong mối quan hệ công nhân - nông dân - trí thức và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước bền chặt. Nguyên nghĩa đó là những hạt nhân tinh túy trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các giai tầng khác để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp.

Vì là những hạt nhân tinh túy nhất nên dĩ nhiên họ xuất phát từ chính những người dân, từ nhân dân mà ra, qua quá trình lăn lộn trong đấu tranh, lao động mà trưởng thành. Đắm mình trong thực tiễn, họ đã xuất sắc hơn so với đại đa số quần chúng, cả về tài năng, trí tuệ và đặc biệt là phẩm chất đạo đức tốt đẹp (đạo đức cách mạng). Họ trở thành thủ lĩnh để dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng. Nhưng mục đích lớn nhất đó là dẫn dắt quần chúng làm cách mạng, phục vụ cách mạng chứ không phải là những người làm quan phát tài, ăn trên ngồi trốc. Cần thiết phải nói rõ ngọn nguồn như vậy để hiểu sâu sắc người cán bộ là ai, họ đứng ở vị trí nào và phải làm gì cho nhân dân.

Soi điều đó vào thực tiễn, trong suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã có biết bao thế hệ cán bộ thực sự là của nhân dân, vì nhân dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng. Họ lớn lên trong cách mạng, vào sống ra chết vì cách mạng, vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chính nhân dân đã rèn luyện, đào tạo cán bộ, từ phẩm chất, bản lĩnh đến ý chí, hành động. Trong suốt quá trình thực tiễn lịch sử đất nước càng thấm thía điều đó. Ai từng một lần đặt chân đến di tích Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo hay nhiều nhà tù khác mới hiểu hết tấm lòng kiên trung vì nước, vì dân của những chiến sĩ cách mạng trong sự nghiệp cao cả của dân tộc. Họ là những cán bộ, đảng viên của dân tộc, của nhân dân. Trong số hàng vạn chiến sĩ cách mạng ấy, đã có nhiều người sau này trở thành cán bộ chủ chốt, giữ các cương vị cấp cao của đất nước nhưng họ vẫn giữ mãi những phẩm chất cao quý, thanh liêm đó. Họ đã được dân tin, dân quý, dân chở che, bảo vệ.

Ngày nay, trên thực tế, rất nhiều cán bộ, từ Trung ương đến cơ sở vẫn nỗ lực để lo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp, nhất là lo cho người dân trong thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội. Hình ảnh những cán bộ luôn hết lòng vì dân, từ suy nghĩ đến việc làm rất đáng trân trọng. Những mô hình như “ngày cuối tuần cùng dân” khởi đầu từ huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) qua thực tiễn 4 năm, giờ đã được nhiều địa phương hưởng ứng bởi tính hiệu quả gần dân của nó. Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt kể về việc cán bộ gần dân, vì dân, giúp dân, dân giúp, xuất hiện thường xuyên trên mặt báo thật đáng quý.

Người cán bộ khi đó không chỉ tạo sự gần gũi, gắn kết giữa người dân với chính quyền, với tổ chức mà điều quan trọng nhất là việc này đã giúp đội ngũ cán bộ được nghe, tiếp nhận được thông tin đúc rút từ thực tiễn để tham mưu, ban hành các chủ trương, chính sách đúng, tháo gỡ được vướng mắc, khó khăn từ cơ sở. Suy cho cùng, việc cán bộ phải vì dân vẫn luôn là bài học lớn và rất sâu sắc, đúng như tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

3. Đã có rất nhiều cảnh báo, phân tích về hệ lụy ghê gớm của “bệnh xa dân”, một biểu hiện rõ nét nhất của tệ quan liêu nếu mỗi cán bộ, đảng viên không thực tâm rèn luyện. Chính vì xa dân, không được nghe và không chịu nghe những ý kiến từ đời sống khiến cán bộ mắc thói quan liêu, cửa quyền. Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người cũng lớn lên từ đó, là căn nguyên khiến cán bộ hư hỏng.

Lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và nhân dân lao động toàn thế giới V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Toàn bộ công việc của tất cả cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết vì bệnh quan liêu. Nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng, giáo dục cán bộ công quyền phải trọng dân, gần dân, vì dân mới làm được cách mạng và đó mới là mục đích của cách mạng. Ngay từ những ngày đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cách mạng, Bác Hồ đã nhiều lần nhấn mạnh: “Có dân là có tất cả”. Trong cuộc đời mình, Người đã dành nhiều thời gian đi cơ sở, thăm nhân dân, cán bộ, công nhân, người lao động. Trong những lần đến, Bác rất chú ý thăm đồng bãi, công trường, nhà ăn, nơi ngủ nghỉ của công nhân, người lao động. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 10 năm, từ năm 1955 đến 1965, Bác đã về địa phương, cơ sở, đến với nhân dân hơn 700 lần. Những chuyến đi của Bác thường không được báo trước, gọn nhẹ, không gây tốn kém, lãng phí cho cơ sở. Nhiều lần Người còn mang cơm nắm đi, ăn cùng cảnh vệ cho đỡ phiền phức địa phương và đặc biệt là tác phong giản dị, không bao giờ quan cách.

Để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng và hành động, đặc biệt chống thái độ thờ ơ, vô cảm, quan liêu, “bệnh xa dân”, cùng với từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp của cả hệ thống chính trị, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị trong vấn đề này. Điển hình là Quy định số 11-QĐi/TW “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân” được Bộ Chính trị khóa XII ban hành. Quy định này đã yêu cầu đội ngũ bí thư, cấp ủy và rộng hơn là mỗi cán bộ phải khắc phục biểu hiện thiếu sâu sát thực tế cơ sở, xa dân; cần coi việc gần dân, công tác tiếp dân, giải quyết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên. Trung ương chỉ rõ 1 trong 27 biểu hiện suy thoái đó là “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Nhìn nhận từ lý luận gốc đến thực tiễn sự vận động phát triển trong xã hội ngày nay, càng thấy vấn đề “gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân” là cốt tử của mỗi người cán bộ, đảng viên trong cơ quan công quyền. Cán bộ mà quan liêu, xa dân thì chỉ có hại cho dân, cho nước và hại cho chính họ. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”./.

          V3.

TIẾP TỤC KIÊN ĐỊNH, KIÊN TRÌ ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH "HÒA BÌNH TỰ VỆ" TRONG BỐI CẢNH MỚI

 


Từ thực tiễn gần 40 năm đổi mới, trước tình hình thế giới, khu vực thường xuyên có những biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra những thách thức mới. Vì vậy, kiên định, kiên trì đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” trong bối cảnh mới là vấn đề hết sức quan trọng, cần tiếp tục được quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc. Muốn vậy, thời gian tới cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”, tạo sự thống nhất cao nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm củng cố vững chắc lòng tin vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và những quyết sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ Công an trong giải quyết các tình huống xảy ra. Thực hiện giải pháp này, các cấp, các ngành, các lực lượng cần đa dạng những hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục; mở rộng đối tượng tham gia, chú trọng luận giải rõ vì sao phải gắn kiên định với kiên trì đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Chống tư tưởng chần chừ, do dự hoặc nóng vội, chủ quan, thiếu cân nhắc, tính toán, dẫn đến những ứng xử sai lầm, gây hậu quả nghiêm trọng.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược. Công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từ diễn biến hết sức nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống nảy sinh, sự gia tăng chống phá của các thế lực thù địch, phản động,... công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược cần quán triệt sâu sắc quan điểm Đại hội XIII của Đảng và Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Đại hội đại biểu Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VII, đó là: “Nâng cao năng lực dự báo chiến lược; giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”(13). Việc nghiên cứu, dự báo phải hướng vào tư duy, phân tích những động thái, biểu hiện mang tính “bất thường” của các nước có liên quan, nhất là những điều chỉnh về chiến lược quốc phòng - an ninh, đối ngoại và sự thay đổi bố trí lực lượng của các nước lớn, từ đó dự kiến những “kịch bản”, phương án đối phó chính xác, kịp thời. Đồng thời, cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, các lực lượng liên quan trong nước và quốc tế để nắm bắt, thu thập, cung cấp, trao đổi thông tin, trên cơ sở đó nghiên cứu, dự báo và tham mưu kịp thời, chính xác. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu chiến lược bảo đảm đủ năng lực khai thác, phân tích và xử lý thông tin; kết hợp nâng cấp với đầu tư mua sắm bảo đảm cơ sở vật chất, trang bị, phương tiện phục vụ công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong thực hiện đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Lực lượng vũ trang giữ vai trò nòng cốt để vừa bảo vệ Tổ quốc, vừa giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vì thế, cần phát huy đầy đủ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân, của quân đội nhân dân và công an nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ được giao, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường khả năng phòng thủ, giữ vững môi trường an ninh, an toàn và duy trì cơ quan, đơn vị sẵn sàng chiến đấu cao; chủ động nghiên cứu, nắm vững, đánh giá, dự báo chính xác các tình huống chiến lược, có phương án xử lý kịp thời, hiệu quả, không để bị động, bất ngờ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc; đẩy mạnh công tác đối ngoại quốc phòng - an ninh, xây dựng lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo, dân tộc, các mục tiêu, tuyến, lĩnh vực, địa bàn trọng yếu về quốc phòng - an ninh, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”(14).

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc phòng - an ninh, đối ngoại, góp phần nâng cao thế và lực để thực hiện đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ”. Hội nhập về quốc phòng - an ninh, đối ngoại là quan điểm nhất quán của Đảng ta và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước. Vì vậy, cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và các nghị quyết có liên quan; tăng cường hội nhập quốc tế về quốc phòng - an ninh, đối ngoại, phát huy các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, xây dựng lòng tin chiến lược, phát huy hiệu quả sự đồng thuận của các quốc gia trong Cộng đồng ASEAN, tăng cường mối quan hệ với các nước trên thế giới. Hội nhập về quốc phòng - an ninh, đối ngoại cần gắn kết chặt chẽ với hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc.

Năm là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong đường lối cách mạng của Đảng ta, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(15). Vì vậy trong thời gian tới, các cấp, các ngành cần quán triệt và tổ chức thực hiện hiệu quả hơn nữa Nghị quyết; tăng cường hợp tác tạo thế đan cài lợi ích với các nước, nhất là các nước lớn, các đối tác chiến lược, các nước láng giềng và các nước trong khu vực; tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc.

“Hòa bình và tự vệ” trong đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là quan điểm nhất quán, thể hiện tầm nhìn chiến lược và sự đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trước tình hình mới. Nhận thức đúng đắn về quan điểm này là cơ sở để phản bác, đập tan các luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ đường lối quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước ta, góp phần quan trọng tạo sự thống nhất ý chí và hành động của cả hệ thống chính trị và nhân dân, thực hiện hiệu quả, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp quốc gia, vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong thực tiễn bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh, mạnh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.

          V3.

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

 


Sự phi lý của một luận điệu

Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế.

Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này.

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Theo Tổng cục Thống kê, tính đến năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 732,5 tỷ USD, xuất siêu 11,2 tỷ USD. Đầu tư vào Việt Nam đã đăng ký hơn 400 tỷ USD, năm 2022 đạt 22,4 tỷ USD, tăng 13,5% so với năm trước. Việt Nam được xếp vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI hàng đầu thế giới. Hiện nay cộng đồng tài trợ quốc tế hoạt động thường xuyên ở nước ta đã lên tới hơn 50 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và hơn 20 nhà tài trợ đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại


Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế.

Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế.

Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả.

Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này./.

          V3.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG, XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG - AN NINH CỦA VIỆT NAM

 



Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và đối ngoại. Chúng ta đã khẳng định rất rõ và thể hiện mong muốn, quyết tâm trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; đồng thời, tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn tính chất cơ bản của nền quốc phòng - an ninh Việt Nam là “hòa bình và tự vệ”.

Tuy vậy, bất chấp sự thật đó, nhiều cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, phản động vẫn ra sức tuyên truyền, rêu rao, tung tin thất thiệt, hòng dẫn dắt dư luận cả trong  và ngoài nước hướng vào ý đồ của họ. Họ cố tình phủ nhận những thành tựu của đất nước, tỏ vẻ quan tâm, lo lắng khi hiện nay, thế giới có những biến chuyển sâu sắc và khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn đã tác động mạnh mẽ đến an ninh của các quốc gia và quốc tế. Từ đó, họ rêu rao rằng, Việt Nam “không thể” giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bởi theo họ, khả năng và sức mạnh tổng hợp quốc gia, sức mạnh quân sự, an ninh của Việt Nam hiện nay là “quá yếu” và “lạc hậu”, không đủ sức để tự bảo vệ. Họ “khuyên” Việt Nam nên “liên minh”, “chọn bên”, dựa vào nước lớn có thực lực quân sự, an ninh mạnh để nhận được sự bảo trợ, kể cả cung cấp, trang bị vũ khí; đưa lực lượng quân đội, an ninh đến trợ giúp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển, đảo quốc gia; rằng “chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền, bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”?!

Ở một chiều cạnh khác, họ rêu rao rằng đường lối quốc phòng - an ninh “hòa bình và tự vệ” của Việt Nam rất “mơ hồ”, “không rõ ràng quan điểm” và “phi thực tế”. Thậm chí, họ nhấn mạnh đây là “đối sách nhu nhược”, là “hành động tự trói”, không phù hợp với xu thế hiện nay. Đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam luôn thể hiện quan điểm, lập trường rõ ràng, xuyên suốt, đó là kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, và điều này được thể hiện qua những lần Việt Nam bỏ phiếu thông qua các nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về tình hình Ukraine. Nhưng một số kẻ lại trắng trợn xuyên tạc rằng, Việt Nam phản đối sử dụng vũ lực, nhưng không bỏ phiếu ủng hộ; Việt Nam vì lợi ích mà bỏ qua “công lý và đạo lý”, khiến nhiều người “phải suy nghĩ lại” về lập trường chọn chính nghĩa của Việt Nam(!). Cá biệt, có luận điệu rêu rao rằng, Việt Nam đang thể hiện quan điểm theo kiểu “chung chung”, rằng Việt Nam ngụy tạo về “đứng về lẽ phải, công lý”... Họ tung tin thất thiệt, suy diễn thiếu căn cứ rằng Việt Nam, một mặt, nói là tự vệ; mặt khác, lại đang đẩy mạnh các hoạt động tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh, hiện đại hóa lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang với việc trang bị nhiều loại vũ khí để dụng ý răn đe, đe dọa, chống lại một nước thứ ba. Từ đó, họ quy kết Việt Nam khơi mào cho cuộc chạy đua vũ trang trong khu vựctạo nguy cơ bất ổn trong khu vực.

Thực chất của những luận điệu phiến diện, phản động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị khi xuyên tạc đường lối quốc phòng - an ninh của Việt Nam là hòng phủ nhận đường lối quốc phòng - an ninh của Đảng, Nhà nước ta, với dã tâm muốn phá vỡ nguyên tắc nền quốc phòng - an ninh tự chủ, tự lực, tự cường của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, hòng làm suy yếu nền quốc phòng - an ninh của Việt Nam, dẫn đến sự lệ thuộc vào các lực lượng bên ngoài, gây nên những hệ quả xấu tới sức mạnh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của Việt Nam. Mặt khác, họ mưu toan hướng lái Việt Nam vào tình thế đối đầu với nước khác để chia rẽ, làm mất lòng tin, phủ nhận truyền thống yêu chuộng hòa bình, nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam cũng như thiện chí và sự đóng góp của Việt Nam trong thúc đẩy hòa bình trên thế giới.

          V3.

Làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh

 


Việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi Đảng, góp phần làm cho Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng và góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Theo V.I.Lênin, đưa những người không còn đủ tiêu chuẩn ra khỏi đảng là tất yếu khách quan, bởi khi đảng giành được chính quyền, trở thành đảng cầm quyền thì nhiệm vụ chính trị của đảng đã có sự phát triển, đòi hỏi phải tăng cường công tác xây dựng Đảng nhằm đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới: “Ngày nay... mặt trận quân sự đã nhường chỗ cho mặt trận kinh tế, vì chúng ta đã chuyển sang chính sách kinh tế mới... Để thực hiện việc cải thiện đó, chúng ta phải gạt bỏ ra khỏi đảng những phần tử xa rời quần chúng (cố nhiên không cần nói đến những phần tử làm ô danh đảng trước quần chúng)” (2). Mặt khác, do vị trí của đảng cầm quyền đã làm cho một số kẻ cơ hội, vì sự hấp dẫn của đảng, tìm mọi cách luồn lách, chui vào đảng, dẫn đến tình trạng bè cánh, phe nhóm trong đảng. Bên cạnh đó, một số người cộng sản khi có chức quyền đã tha hóa, biến chất, mắc bệnh kiêu căng, quan liêu, tham nhũng và ăn hối lộ. Do đó, V.I.Lênin cho rằng: “Những đảng viên hữu danh vô thực thì cho không, chúng ta không cần. Đảng độc nhất nắm chính quyền trên thế giới quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đến việc thanh trừ “bọn luồn lọt vào đảng” ra khỏi hàng ngũ mình, chứ không phải quan tâm là làm tăng thêm số lượng đảng viên” (3).

Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, trong đó có cả những cán bộ, đảng viên giữ vị trí quan trọng trong các cơ quan, tổ chức của Đảng và Nhà nước, thậm chí là những đảng viên được đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn phát triển, tương lai rộng mở nhưng lại thiếu tu dưỡng, rèn luyện, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, “gục ngã” trước những cám dỗ vật chất tầm thường. Có thể nói, chưa bao giờ chúng ta xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm như vừa qua, từ vụ án công ty Việt Á, vụ Cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao), vụ liên quan đến Tập đoàn FLC, Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát đến vụ công ty AIC, dự án đường cao tốc Đà Nẵng-Quảng Ngãi... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Đây là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh của kỷ luật Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm”(4). Những sai phạm của cán bộ, đảng viên không thể để tiếp diễn, kéo dài, phải kiên quyết xử lý, kịp thời, nghiêm minh và công khai, làm nghiêm từ trên xuống dưới, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

          V3.

Đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác - Hiểm họa khôn lường

 


 

Bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có đạo đức tốt.

Mặt tiêu cực của quyền lực là luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Quyền lực là “con dao” hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì lợi ích thấp hèn của cá nhân.

Quyền lực là của nhân dân, người được ủy quyền khi bị quyền lực làm tha hóa, sẽ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà vì lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, của một nhóm người, họ quay lại với nhân dân, nhưng biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành bị chèn ép, thậm chí bị tước đoạt. Họ sử dụng quyền để trục lợi cá nhân hay lợi ích nhóm hoặc sử dụng quyền vượt ra ngoài giới hạn được trao để thỏa mãn khát khao quyền lực. Trường hợp thứ nhất sinh ra tham nhũng, trường hợp thứ hai gọi là lạm quyền. Đó đều là quyền lực bị tha hóa. Trên thực tế, tham nhũng và lạm quyền luôn song hành.

Hiểm họa khôn lường của đam mê quyền lực, kén chọn vị trí của cán bộ xuất phát từ vai trò của cán bộ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (tháng 10/1947) khi Người khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”[4]. Theo đó, mức độ nguy hại phụ thuộc vào việc những kẻ đam mê quyền lực đó đang giữ vị trí nào, ở lĩnh vực nào, cụ thể là:

Trước hết, đối với nội bộ, người đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác sẽ làm mất dân chủ, mất đoàn kết nội bộ, từ đó làm suy yếu thậm chí làm mất sức chiến đấu của các tổ chức, nhất là tổ chức Đảng, chính quyền và bộ máy quản lý. Điều này xuất phát từ vấn nạn chạy chức, chạy quyền. Bởi lẽ, những người có phẩm chất, năng lực nhưng không chịu chạy sẽ không được đề bạt, bổ nhiệm; từ đó nảy sinh tư tưởng, bất mãn, chán chường với công việc, sẵn sàng đề đạt nguyện vọng thuyên chuyển sang nơi khác, thậm chí nghỉ việc. Còn những kẻ kém tài, kém đức nhưng khéo chạy, biết cách chạy có thể sẽ dễ dàng leo lên các thang bậc của quyền lực. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công lớn mà còn đẻ ra tham nhũng. Bởi vì, khi đã có chức quyền, kẻ có tham vọng chức quyền trục lợi phi pháp, chúng sẽ dùng chính những đồng tiền trục lợi được để đi hối lộ nhằm tạo sự bao che một cách trắng trợn, để rồi được tiếp tục thăng tiến hoặc hạ cánh an toàn. Việc chạy chức, chạy quyền không chỉ tạo ra bất công, mà còn dẫn đến nghịch cảnh trớ trêu là: “Nước quá trong thì không có cá, người tốt quá thì không ai chơi” và bị coi là quan hệ kém… 

Nếu cán bộ đam mê quyền lực là cán bộ cấp chiến lược thì hiểm họa càng lớn. Bởi vì, khi họ ở vị trí có quyền quyết định đến sinh mệnh chính trị của người khác, thì họ ký thêm hàng chục, hàng trăm quyết định bổ nhiệm cán bộ thuộc quyền, cấp dưới cũng có hành vi “chạy” như mình; hệ quả là sẽ tạo ra “một dây” - hệ thống vướng vào tiêu cực trong nhiệm kỳ của anh ta, vì một lẽ thường tình: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Chính vì vậy, bất kì sai lầm nào trong công tác cán bộ, đặc biệt là với cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp chiến lược sẽ đều phải trả giá rất đắt, “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”[5].

Thứ hai, đối với nhân dân, những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác thực chất là những kẻ đã “tha hóa quyền lực”, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định thì bị chính người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta, là trở lực lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ đó, gây bức xúc trong dư luận, làm giảm sút niềm tin vào kết quả thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ.

Thứ ba, đối với bạn bè và đối tác, làm suy giảm sự tin cậy của bạn bè và đối tác của Việt Nam về môi trường kinh doanh ở các địa phương và của cả nước vì những cán bộ vướng vào tham nhũng, tiêu cực thì hầu hết lại là những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác lại thường gây khó khăn cho các doanh nghiệp xúc tiến đầu tư và triển khai các dự án khi nhũng nhiễu doanh nghiệp để trục lợi bất chính. Nếu các hành vi tiêu cực đó của họ bị các thế lực thù địch và kẻ cơ hội chính trị lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước ta thì mức độ nguy hại càng lớn. Trước hết, làm mất thiện cảm, mất niềm tin của bạn bè quốc tế và các đối tác đối với Việt Nam; nguy hiểm hơn và không loại trừ khả năng nước ta dễ rơi vào hoàn cảnh bị cô lập nếu những kẻ đam mê quyền lực đã “chui sâu, leo cao” vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa của Việt Nam khi họ đưa ra hoặc tham mưu cho Đảng, Nhà nước ra những quyết định sai lầm.

          V3.

Bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm

 


Có thể thấy, họ ham thích đến mức sính thành tích, trở thành một căn bệnh của xã hội-bệnh sính thành tích. Những người này làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, sẵn sàng làm gian dối, thích được ca ngợi, thích được tung hô, vì vậy, họ cố tình “báo cáo khống”, có một báo mười, thậm chí hàng trăm, hàng nghìn để thổi phồng thành tích. Một số khác (thường là những cá nhân có chức, có quyền) lại sử dụng công quỹ và nhân danh tập thể để rùm beng, biến thành tích của đơn vị, địa phương thành thành tích cá nhân.

Nguy hại hơn, vì thành tích mà họ cố tình che giấu khuyết điểm bằng cách tự “nặn ra thành tích”, không được thì họ “chạy thành tích”, cậy cục, gõ cửa cấp trên, lo lót cho một số cán bộ có chức quyền để báo cáo gian dối, xuyên tạc kết quả, thậm chí sẵn sàng dùng những mánh khóe để đánh lừa cấp trên và dư luận... Vì thành tích mà họ thù ghét những ai vạch mặt, chỉ tên những hạn chế, khuyết điểm của mình. Họ nâng sự che giấu khuyết điểm lên tầm “nghệ thuật”, gọi là “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm. Sính thành tích và che giấu khuyết điểm luôn gắn liền với nhau, là hệ lụy của nhau. Họ dùng thành tích để che giấu khuyết điểm, đánh bóng tên tuổi, tạo sự vững mạnh giả tạo, làm bình phong che chắn cho mình, để mở cánh cửa thăng tiến, củng cố vị trí, quyền lực.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những biểu hiện của những kẻ sính thành tích, đó là: “... ham chuộng hình thức, làm việc không xét đến kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai; làm được ít suýt ra nhiều...; tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình; báo cáo dối, giấu cái dở, cái xấu, chỉ nêu cái tốt, cái hay...”. Thực tế thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao bị kỷ luật, thậm chí ra hầu tòa, nhưng trước đó đều được xếp loại hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được biểu dương, khen thưởng... 

Căn bệnh này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là một trong những biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống: Mắc bệnh thành tích, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”... Bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm đã và đang gây ra những hệ lụy nghiêm trọng, gây mất đoàn kết nội bộ, mất niềm tin dẫn đến hủy hoại uy tín, danh dự của cá nhân và sức mạnh của tổ chức, xa hơn, nó còn làm tổn hại đến Đảng, Nhà nước và chế độ.

Nhận diện căn bệnh này không quá khó, nhưng khá phức tạp vì nó thường được che giấu bởi vẻ bề ngoài hào nhoáng, bóng bẩy. Nếu không nhìn nhận thấu đáo, soi vào bản chất, logic của vấn đề thì khó đoán biết, phải qua kiểm tra, giám sát của tổ chức, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân mới phát hiện được chính xác. Bệnh sính thành tích và "nghệ thuật” che giấu khuyết điểm xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan.

Thứ nhất, xuất phát từ tâm lý háo danh, ưa chuộng hình thức, tư tưởng kèn cựa, đố kỵ “con gà tức nhau tiếng gáy” còn tồn tại trong suy nghĩ, nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thành tích không chỉ là phương tiện nhằm thỏa mãn tâm lý thích được đề cao, ca ngợi mà mục đích sâu xa hơn, họ còn dùng để ngụy trang, bưng bít khuyết điểm. Tâm lý thích khen hơn chê, sĩ diện, thích phô trương theo kiểu “đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”; tâm lý không muốn “vạch áo cho người xem lưng”; tâm lý nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh hoặc lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau.

Thứ hai, vì mang nặng chủ nghĩa cá nhân mà mắc bệnh sính thành tích, nhất là trong những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, chỉ biết chăm lo, vun vén cho lợi ích cá nhân, quên lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, đặt cái riêng lên trên cái chung mà bao che, giấu giếm khuyết điểm, khuếch trương thành tích. Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã chỉ ra một trong những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân đó là: “Thổi phồng thành tích, đánh bóng tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm”.

Thứ ba, do tính chiến đấu của các tổ chức nói chung, tổ chức cơ sở đảng nói riêng chưa được phát huy đúng mức, tự phê bình và phê bình yếu. Cán bộ cấp dưới, đảng viên thì sợ khuyết điểm, không dám chịu trách nhiệm, không đủ dũng cảm để nhìn thẳng vào sự thật, báo cáo đúng sự thật. Thấy cái xấu, cái sai của người có vị trí cao hơn mình chẳng ai dám nói ra. Ai can đảm nói ra thì những người có quyền lợi liên quan hoặc có thể bị ảnh hưởng sẽ cùng nhau cho người đó ra rìa, bị cười nhạo hoặc ghét bỏ.

Việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở kém hiệu quả, vai trò của quần chúng không được phát huy. Quần chúng không nói không phải không biết hay không có gì để nói mà họ nghĩ nói ra cấp trên sẽ không nghe, thậm chí có khi còn bị trù dập theo kiểu “đấu tranh-tránh đâu”. Họ sợ sẽ bị quy kết làm mất uy tín cán bộ, làm ảnh hưởng đến thành tích của cơ quan, đơn vị, làm mất đoàn kết nội bộ, làm giảm ý chí chiến đấu của tập thể.

Ngoài ra, công tác thi đua, khen thưởng ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực chất, nặng về hình thức. Việc tổ chức đánh giá, kiểm soát về chất lượng không kỹ càng đã tạo kẽ hở và điều kiện cho hành vi “làm láo, báo cáo hay”, “chạy thành tích”, “chạy danh hiệu”... đang là một trong những lý do dẫn đến bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm của cán bộ, đảng viên hiện nay. Để khắc phục căn bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm cần tập trung giải quyết dứt điểm căn nguyên của nó.

Một là, khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, quá coi trọng hình thức, phô trương; giấu giếm khuyết điểm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Cũng cần nhìn nhận rằng, giấu giếm khuyết điểm và thích khen hơn chê là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan. Do đó, muốn chữa bệnh phải điều trị từ gốc. Trước hết, chủ quan của những người này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây bao gồm cả những người mắc bệnh sính thành tích, che giấu khuyết điểm và những người đứng đầu tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên). Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn “chữa bệnh”.

Lý do thật đơn giản: Tự nhận khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới những quyền lợi cá nhân. Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người cho là dại dột “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”... không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người đã rút ra “bài học” chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”.

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận đối với khuyết điểm theo quan điểm “nhân vô thập toàn” và thái độ tích cực khắc phục, sửa chữa khuyết điểm của mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên; sự nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu theo hướng trân trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “căn bệnh” và khắc phục nghịch lý không muốn “chữa bệnh” nêu trên.

Hai là, đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát của cấp ủy, người đứng đầu và các cơ quan cấp trên đối với cơ sở. Duy trì nghiêm nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng, chấn chỉnh nền nếp sinh hoạt chi bộ. Đổi mới công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên theo đúng Quy định số 132-QĐ/TW ngày 8-3-2018 của Bộ Chính trị và Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW ngày 18-10-2019 của Ban Tổ chức Trung ương.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, huy động quần chúng nhân dân tham gia phòng, chống, ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên. Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. 

Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng.

Ba là, chỉnh sửa, bổ sung quy chế thi đua, khen thưởng cho phù hợp với thực tiễn. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm nguy hại. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để tránh bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm, nên bỏ các phong trào, chỉ tiêu thi đua, các danh hiệu thi đua... Chúng ta không thể đồng tình với quan điểm này, bởi vì thi đua là động lực của sự phát triển. Bác Hồ từng nói: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”. Điều quan trọng là phải xây dựng được chỉ tiêu thi đua sao cho phù hợp với tình hình thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, tránh bệnh sính thành tích.

Cũng không nên bóp méo, làm sai lệch bản chất, ý nghĩa tích cực của việc thi đua, để rồi biến chỉ tiêu thi đua thành “vũ khí” để hù dọa, trù dập của lãnh đạo, quản lý đối với cấp dưới hoặc là “sản phẩm” để đánh bóng tên tuổi cho lãnh đạo, quản lý và những kẻ cơ hội, thực dụng. Việc đăng ký các danh hiệu, hình thức thi đua, khen thưởng cũng cần thực hiện dân chủ và linh hoạt. Cần động viên, khuyến khích mọi người đăng ký theo nguyện vọng chứ không nên ép buộc, áp đặt. Mặt khác, cũng không nên khống chế, giới hạn số lượng, tỷ lệ đăng ký thi đua để tránh tình trạng bình xét thi đua thiếu công bằng, dân chủ.

Bốn là, phát huy vai trò, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu và sự tự giác tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, đối với đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất thiết phải trung thực với Đảng, phải coi việc nói dối Đảng, nói dối cấp trên, báo cáo sai sự thật, che giấu khuyết điểm là có tội với Đảng, vi phạm tư cách đảng viên, tổ chức đảng ở đó cần xem xét xử lý kỷ luật, thậm chí sẵn sàng đưa ra khỏi Đảng nếu có những vi phạm nghiêm trọng.

Làm tốt công tác bồi dưỡng tạo nguồn, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ "đúng người, được việc, được tổ chức” theo tinh thần, tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Phải trong sáng, công tâm, khách quan, đặc biệt là phải rất tỉnh táo, tinh tường trong lựa chọn cán bộ, “đừng thấy đỏ tưởng là chín”, đừng chỉ thấy “cái mã bên ngoài, nó che đậy cái sơ sài bên trong” bằng những tấm bằng khen của các cấp nhưng lại làm mờ dần đi tính trung thực, đưa lối suy nghĩ, làm việc dối trá lên hàng đầu mà quên đi cái hiện thực không mấy tốt đẹp bên ngoài bản báo cáo.... 

Khắc phục bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm là công việc đòi hỏi phải có sự thống nhất về tư tưởng, hành động, được tiến hành kiên trì và đồng bộ ở tất cả các cấp với nhiều giải pháp tích cực và chủ động. Trong đó phải thật sự coi trọng biện pháp trọng tâm: Khắc phục tâm lý sùng bái thành tích, phô trương, giấu giếm khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; phát huy quyền làm chủ tập thể của đảng viên và quần chúng trong mỗi tổ chức đảng trên cơ sở nâng cao trình độ hiểu biết của đảng viên, quần chúng về mọi mặt; khắc phục sự hình thức trong thi đua... chính là biện pháp cơ bản nhất để chống bệnh sính thành tích và che giấu khuyết điểm.

          V3.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp, chống lại mọi âm mưu “cách mạng màu” ở Việt Nam

 


 

Những cái gọi là “luận cứ” và những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra với quy mô và tính chất ngày càng phức tạp hơn. Chúng không bao giờ từ bỏ dã tâm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trước những thách thức về nguy cơ "cách mạng màu" đặt ra yêu cầu cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp thiết thực, cụ thể nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới hiện nay.

Thứ nhất cần phải nhận diện đầy đủ và sâu sắc, kiên quyết đấu tranh phòng, chống các biểu hiện thúc đẩy "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, nâng cao khả năng nhận diện của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân về chủ thể, phương thức, bản chất, mục đích, nguy cơ và hệ quả của "cách mạng màu". Cụ thể hơn là chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài "cách mạng màu" để chống phá cách mạng nước ta. Trong đó, cần thiết phải nhận diện và đưa ra âm mưu “cách mạng màu” từ những đặc điểm, ngôn từ, cách diễn đạt, nguồn địa chỉ thông tin, video, so sánh kiểm chứng đúng - sai, thật - giả trên các trang mạng khác nhau, xác định đường liên kết tên miền của Việt Nam hay nước ngoài… giúp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân đánh giá chính xác được vấn đề, nhất là mạng xã hội mà các thế lực thù địch dùng làm phương tiện triển khai "cách mạng màu".

Giải pháp đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực thù địch, phản động. Thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất, nguy cơ và thủ đoạn của "cách mạng màu". Quản lý phát huy hiệu quả vai trò của báo chí và các binh chủng thông tin, tuyên truyền góp phần thông tin nhanh nhạy, chính xác, đầy đủ đến nhân dân và định hướng đúng dư luận, tích cực trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay. Cần chú ý tập trung đến công tác giáo dục, bồi dưỡng và tập huấn cho đội ngũ phóng viên báo chí, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và nhất là thế hệ trẻ như học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức cần thiết về nhận diện "cách mạng màu", về kỹ năng xử lý và tham gia đấu tranh phòng, chống những nguy cơ "cách mạng màu" cũng như những thông tin xấu, độc trên mạng xã hội hiện nay. Các cơ quan báo chí, truyền thông tích cực, thường xuyên đấu tranh phòng, chống, phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, đẩy mạnh phòng ngừa “từ sớm, từ xa” trước những thách thức và nguy cơ về "cách mạng màu" ở Việt Nam. Đồng thời, cần nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm của "cách mạng màu"...

Thứ hai, cùng với việc nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của "cách mạng màu" là việc trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấm nhuần sâu sắc nền tảng tư tưởng của Đảng; tin tưởng, kiên định, giữ vững con đường cách mạng và thành tựu đổi mới, hội nhập, phát triển của đất nước ta. Trong đó, phải thường xuyên nắm bắt và bồi dưỡng công tác tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đây là vấn đề có ý nghĩa căn cơ lâu dài, mang tầm chiến lược trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi nguy cơ gây tổn thất cho cách mạng. Cụ thể, tiếp tục thực hiện Kết luận 01-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và quán triệt, triển khai, thực hiện hiệu quả các Nghị quyết Trung ương; tiếp tục lan tỏa việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên và thiết thực; thúc đẩy việc rèn luyện đạo đức, bản lĩnh, “tự soi” và “tự sửa” hằng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, bền bỉ rèn luyện hằng ngày trong công việc cũng như trong cuộc sống…

Theo GS.TS. Hoàng Chí Bảo (Giảng viên cao cấp Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh): “Mỗi cán bộ, đảng viên và nhất là thế hệ trẻ cần học Bác Hồ là học nói đi đôi với làm, học đạo đức cách mạng, học nêu gương, học phong cách quần chúng, học tác phong làm việc khoa học và dân chủ… Học đi đôi với thực hành đều đặn để trở thành cán bộ liêm chính, đời tư trong sáng”.

Cùng với đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị. Các cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị chủ động học tập, quán triệt, trau dồi, nghiên cứu và thấm nhuần sâu sắc nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” nhằm xây dựng luận cứ khoa học, bồi dưỡng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc củng cố niềm tin và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta; đồng thời, chủ động, tích cực phê phán quan điểm lệch lạc, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái và thù địch. Đây cũng là biện pháp ngăn ngừa đối với những biểu hiện xa rời lý tưởng cách mạng của cán bộ, đảng viên, của thế hệ trẻ; đồng thời qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và trách nhiệm với Đảng, với đất nước.

Cùng với việc đẩy mạnh công tác nghiên cứu, học tập lý luận chính trị, cần chú trọng công tác tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận sáng tạo, đáp ứng đúng quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Trọng tâm, tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, sâu rộng, thiết thực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân theo hướng gợi mở những giá trị vận dụng, phát triển sáng tạo hiện nay.

Theo TS. Nhị Lê, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản, cần phải "thực hiện đồng bộ 4 kiên định mà Đại hội XIII của Đảng nói đến là: Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Phải thực sự đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, nắm lấy quy luật và hợp lòng dân”. Cụ thể, tăng cường công tác nghiên cứu, phát triển lý luận góp phần “kiến tạo nền móng” dẫn đường cho sự phát triển thực tiễn, nâng cao niềm tin của nhân dân vào sự tất thắng của sự nghiệp đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, thực hiện đồng bộ giải pháp thường xuyên là ổn định và an sinh xã hội, nâng cao đời sống và trình độ dân trí, gắn liền với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ. Điều này trở thành “liều thuốc” hữu hiệu và căn cơ trong việc chống lại mọi âm mưu và thách thức "cách mạng màu" ở Việt Nam. Trong đó, chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, quan tâm thúc đẩy ba động lực tăng trưởng phát triển là đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng... Như PGS.TS Nguyễn Mạnh Hùng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng: “Chú trọng các chính sách kích thích phát triển kinh tế gắn với quan tâm đặc biệt đến chính sách xã hội, chính sách đối với con người, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững; phát triển hài hòa giữa kinh tế với xã hội, không vì tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ tiến bộ, công bằng xã hội, phải tạo điều kiện cho con người được thụ hưởng mọi thành tựu của phát triển, cuộc sống của con người được cải thiện đồng thời với tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế”. Việc bảo đảm an sinh xã hội, sinh kế cho người dân, thúc đẩy sản xuất, giải quyết thất nghiệp sẽ kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn xã hội và những thách thức an ninh phi truyền thống, phòng ngừa được kích động tâm lý xã hội gây mất an ninh, trật tự xã hội, qua đó góp phần chống lại âm mưu "cách mạng màu".

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền đa kênh, đa phương tiện, chú trọng chất lượng thông tin và truyền thông xã hội giúp cho người dân hiểu rõ, nhận diện đúng bản chất và nguy cơ về "cách mạng màu "- Ảnh: Phạm Cường. 

Thứ tư, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ gắn với việc xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta xác định công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của vấn đề then chốt”; cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, ý thức được những nguy cơ và thách thức lớn đối với Đảng cầm quyền là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị, Đảng ta đã đặt ra yêu cầu phải thường xuyên đổi mới công tác cán bộ theo quy trình chặt chẽ, có đánh giá tín nhiệm; chú trọng đạo đức và năng lực lãnh đạo, quản lý; khuyến khích cán bộ dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần chỉ rõ: Kiên quyết không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức vào đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ quy hoạch cấp chiến lược. Xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật của Nhà nước đối với cán bộ vi phạm, những cán bộ có động cơ sai trái, tư tưởng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm” trong công tác cán bộ và cũng không để bị lợi ích nào cám dỗ, không để bị chi phối bởi quan hệ cá nhân, thân quen không trong sáng. Kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ, gây mất đoàn kết nội bộ, kể cả khi đã chuyển công tác.

Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ, kết hợp nhiều hình thức và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng thông qua thực tiễn công tác, học tập, rèn luyện... của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đánh giá cán bộ, sử dụng những cán bộ đủ tiêu chuẩn với việc kiên quyết đưa ra khỏi cương vị lãnh đạo, quản lý những cán bộ không đáp ứng về phẩm chất và năng lực ở những nơi trì trệ, yếu kém, mất đoàn kết kéo dài. Đồng thời, thực hiện tốt việc luân chuyển cán bộ, chú trọng thực hiện tốt Quy định số 110-QĐ/TW ngày 06/7/2023 của Ban Bí thư về luân chuyển cán bộ trong ngành Kiểm tra Đảng; cùng với đó thực hiện hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Đặc biệt, tiếp tục quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về 8 bài học quý báu, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, 5 nhiệm vụ, giải pháp để công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt những bước tiến mới, quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn. Phát huy cao độ trách nhiệm chính trị của Ban Chỉ đạo Trung ương và Ban Chỉ đạo các ban, ngành, địa phương về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp hướng tới mục tiêu “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực.

Thứ năm, cùng với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị để Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, đảm bảo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, cần phải không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở. Đây vừa là lực lượng trực tiếp, vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”[1]. Trong thời gian qua, chúng ta “Tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh và lực lượng vũ trang”[2]. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và phương hướng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII của Đảng xác định. Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; nỗ lực ngăn chặn những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; ứng phó có hiệu quả với các tình huống, các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế sự gia tăng tội phạm..., góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao tiềm lực, uy tín, vị thế quốc tế của đất nước.

Có thể khẳng định rằng, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, luôn đề cao cảnh giác và thực hiện các giải pháp nhằm kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn để tiến hành “cách mạng màu” ở Việt Nam, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa nguyên nhân, thách thức từ sớm, từ xa. Trong đó, cần loại bỏ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xử lý các cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Khi làm tốt việc này, niềm tin của nhân dân dành cho Đảng, chính quyền sẽ tăng lên. Họ sẽ không dễ bị lôi kéo, kích động. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng; giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên; học và làm theo Bác ở những điều thiết thực nhất, việc gì có lợi cho dân hết sức làm; rèn luyện lối sống giản dị, đời tư trong sáng, cống hiến hết mình, vượt qua mọi cám dỗ vật chất, danh lợi, kiên quyết, bản lĩnh, tỉnh táo, sáng suốt trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao... Đặc biệt, cán bộ, đảng viên cũng như mỗi người dân Việt Nam tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp sức xây dựng đất nước Việt Nam "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"./.

          V3.