Thứ Bảy, 7 tháng 10, 2023

Để Đảng trong sạch cần phải làm gì?

 


Tiến hành xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, rà soát, sàng lọc và kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng là hoàn toàn đúng đắn, thể hiện cao độ tính đấu tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng ta hiện nay. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật là “thanh trừng, đấu đá nội bộ”. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh đặt ra nhiều vấn đề đối với nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên của Đảng ta hiện nay nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ:

Nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019 của Ban Bí thư về “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”. Chú trọng công tác xây dựng kế hoạch tạo nguồn kết nạp đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng cần tiến hành chặt chẽ, cẩn trọng việc thẩm tra lý lịch và lấy ý kiến nhận xét của tổ chức chính trị-xã hội đối với người được xem xét kết nạp vào Đảng. Chú trọng việc kết nạp đảng viên ở cơ sở trọng điểm còn ít đảng viên hoặc chưa có đảng viên. Kết hợp chặt chẽ giữa kết nạp đảng viên với giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và sàng lọc đảng viên. Đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng. Kiên quyết chấn chỉnh những biểu hiện sai trái trong công tác kết nạp đảng viên, khắc phục triệt để tình trạng chạy theo số lượng, xem nhẹ chất lượng.

Tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện, quản lý đảng viên. Đa dạng hóa các nội dung giáo dục, rèn luyện đảng viên, trong đó tập trung giáo dục, nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng; chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn; các chỉ thị, nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, “tự soi”, “tự sửa”, đề cao danh dự, lòng tự trọng của đảng viên. Chú trọng đổi mới, nâng cao chất lượng học tập lý luận chính trị, học tập nghị quyết; chủ động nắm tình hình, diễn biến tư tưởng, kịp thời định hướng cho đảng viên trước những vấn đề phát sinh; tăng cường trách nhiệm của đảng viên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Tăng cường công tác quản lý đảng viên toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; các quan hệ xã hội; về việc lập và sử dụng các trang thông tin trên internet, mạng xã hội; quản lý chặt chẽ đảng viên ở ngoài nước và đảng viên ra nước ngoài công tác, học tập, lao động. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 2-1-2020 của Bộ Chính trị về “Trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú”. Quan tâm, tạo điều kiện và phát huy tính tích cực, tự giác của đội ngũ đảng viên trong tự học, tự rèn luyện, tự quản lý.

Đề cao tính đấu tranh tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Thường xuyên giáo dục cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, mục đích của tự phê bình và phê bình; duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình. Thường xuyên đổi mới nội dung, cách thức tiến hành tự phê bình và phê bình. Trong sinh hoạt tự phê bình và phê bình cần có động cơ trong sáng, thái độ chân thành, không nể nang, né tránh, bao che khuyết điểm; không lợi dụng tự phê bình và phê bình để nói xấu, gây mất đoàn kết, hạ uy tín của các cá nhân, tổ chức. Mặt khác, cần có biện pháp bảo vệ người phê bình đã dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; đồng thời cần có quy định cụ thể đối với cá nhân, tổ chức có khuyết điểm, bị phê bình phải kiên quyết sửa chữa, khắc phục khuyết điểm không để kéo dài; các cá nhân, tổ chức khi được phê bình cần tôn trọng và tiếp thu những đóng góp để đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa cho phù hợp. Kết hợp chặt chẽ tự phê bình và phê bình trong Đảng với phê bình của quần chúng. Nêu cao vai trò, trách nhiệm, tính tiền phong gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, thực hiện “trên trước, dưới sau”, làm “từ trong ra, từ ngoài vào”. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện có thái độ thành kiến, trù dập người phê bình khuyết điểm; thiếu trách nhiệm cả trong phê bình và tự phê bình; chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, cục bộ bè phái, mất đoàn kết trong thực hiện tự phê bình và phê bình.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, thực hiện tốt Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về “Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; chủ động nắm chắc tình hình tổ chức đảng, đảng viên, nâng cao năng lực dự báo các tình huống, các vấn đề phức tạp, nổi cộm có thể nảy sinh trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Thực hiện chặt chẽ nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tăng cường công tác giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, kiểm tra đảng đột xuất đối với các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm để ngăn chặn, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm. Kịp thời củng cố, kiện toàn, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ; có đủ phẩm chất, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và có dũng khí đấu tranh trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các đơn, thư tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định; không để xảy ra tình trạng đơn, thư kéo dài hoặc lợi dụng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng để gây mất đoàn kết, chia rẽ trong các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên.

Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng về nhiệm vụ “xây” và “chống”, trong đó “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách. Tập trung xây dựng đội ngũ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sạch, lành mạnh; luôn năng động, sáng tạo, đi đầu trong các hoạt động, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung; đồng thời luôn vững vàng trước những cám dỗ của lợi ích vật chất. Triển khai thực hiện hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Cấp ủy, tổ chức đảng cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Tiếp tục cụ thể hóa nội dung đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tăng cường công tác tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt trong công tác xây dựng Đảng. Bên cạnh đó, cần kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; hoặc lợi dụng công tác xây dựng Đảng để đưa ra khỏi Đảng những người không cùng phe cánh, những người mình không ưa thích, hoặc dám đấu tranh phê bình mình.

          V3.

Căn nguyên của tình trạng đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.

 


 

Một là, chủ nghĩa cá nhân, vị kỷ là nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân của mọi nguyên. Chủ nghĩa cá nhân là nguồn gốc của những “căn bệnh” làm hư hỏng đội ngũ cán bộ đảng viên, làm tha hóa Đảng. Chủ nghĩa cá nhân đặc biệt nguy hiểm và khó chống vì nó là kẻ thù vô hình, lại nằm trong bản thân mỗi con người, là gốc của mọi bệnh, với những biến tướng phức tạp, đa dạng khôn lường. Căn bệnh này trong cán bộ, đảng viên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ và “mổ xẻ” từ sớm khi cho rằng: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm: quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí... Nó trói buộc, nó bịt mắt những nạn nhân của nó, những người này bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”[6]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân và người lãnh đạo phải khắc ghi điều đó trong công việc hằng ngày; muốn vậy, phải gần gũi, học hỏi quần chúng nhân dân, đảng viên, biết lắng nghe ý kiến của họ. Người lên án mạnh mẽ các biểu hiện tha hóa quyền lực, như lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực: “Thứ nhất, dân ghét các ông chủ tịch, các ông Ủy viên vì cái tật ngông nghênh, cậy thế, cậy quyền. Những ông này không hiểu nhiệm vụ và chính sách của Việt Minh, nên khi nắm được chút quyền trong tay vẫn hay lạm dụng...”[7].

Chủ nghĩa cá nhân, suy đến cùng là nguyên nhân tạo nên những cán bộ có tham vọng quyền lực, đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác. Vì chủ nghĩa cá nhân, lòng tham vô đáy đã thúc đẩy họ có tham vọng chức quyền. Vào Đảng là để có quyền lực nhiều hơn, vì thế có nhiều lợi ích hơn, dễ kiếm tìm danh lợi, bổng lộc, địa vị, tiền bạc. Quyền lực - lợi ích là công thức, đồng thời cũng là “vòng tròn khép kín” những mưu mô, thủ đoạn của những kẻ có tham vọng chức quyền, biến họ trở thành kẻ thoái hóa, biến chất, cơ hội, vụ lợi, có lối sống buông thả, chạy theo vật chất tầm thường, trở thành người có tội với Đảng, với nhân dân.

Hai là, tham vọng quyền lực xuất hiện có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu và cơ bản vẫn là do cơ chế kiểm soát quyền lực, chế ước quyền lực chưa hữu hiệu, tình trạng lạm dụng quyền lực chưa được khống chế. Quyền lực nhà nước từ chỗ là quyền lực công, nhưng do không có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ mà ít nhiều bị tha hóa, bị lợi dụng, trở thành quyền lực của cá nhân, hoặc của một nhóm người để tư lợi cá nhân.

Mặc dù Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống “chạy chức, chạy quyền”, nhất Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”, nhưng việc quán triệt và thực hiện ở các cấp chưa nghiêm.

Ba là, công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục. Việc giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa thực hiện nghiêm túc trong sinh hoạt Đảng, đoàn thể là một trong những nguyên nhân làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, thiếu niềm tin vào chủ nghĩa xã hội, suy thoái về đạo đức, lối sống.

          V3.

Việt Nam quan tâm, bảo đảm quyền của các dân tộc

 


 

Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.

Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5).

Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.

Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8).

Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.

Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm 1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu số.

Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới…

Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.

Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân biệt chủng tộc.

Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính, tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019 nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”.

Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.

Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ.

Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.

Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.

Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng làm rõ.

Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu./.

          V3.

 

Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức theo Nghị quyết Đại hội XIII

 


Xây dựng Đảng về đạo đức là toàn bộ hoạt động của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các tầng lớp Nhân dân trong việc định hình, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng của Đảng. Thông qua việc giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên góp phần tạo nên sức mạnh cho Đảng, để Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, lãnh đạo Nhân dân hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị.

Trước đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng càng ngày càng nặng nề, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải có bản lĩnh chính trị, tích cực rèn luyện đạo đức cách mạng để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những công việc chính của công tác xây dựng Đảng hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt cán. Việc Đoàn thể lấy cán bộ làm cốt cán. Cán bộ lấy đạo đức làm cốt cán”[1]. Mọi việc thành hay bại đều từ cán bộ mà ra; đây là đỉnh cao của “nghệ thuật” là “phương sách” dùng người - bí quyết thành công của sự nghiệp cách mạng.

Một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của Đại hội XIII đã nói đến vấn đề xây dựng Đảng: “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”[2]; xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, vận hành thông suốt hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất năng lực uy tín; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Xây dựng Đảng về đạo đức phải tuân theo những nguyên tắc xây dựng và thực hành đạo đức, xây đi đôi với chống, nêu gương về đạo đức và phải tu dưỡng đạo đức suốt đời nhằm thực hiện lời dạy của Người “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”[3].

Đứng trước bối cảnh và yêu cầu của thực tiễn cách mạng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Đảng về đạo đức càng trở nên quan trọng, trở thành một trong những vấn đề cấp bách của công tác xây dựng Đảng. Đại hội XIII của Đảng yêu cầu: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”[4]; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Thực tiễn hiện nay cho thấy: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”[5]. Điều đó đã gây ra dư luận xấu trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân, tổn hại đến mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, hạ thấp sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Chính vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[6]. Trong đó, xây dựng Đảng về đạo đức là nền tảng, là gốc để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng. 

Trong những năm tới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; chiến tranh quy mô lớn ít có khả năng xảy ra nhưng cạnh tranh chiến lược, xung đột cục bộ có thể diễn ra gay gắt hơn; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, nhất là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tiếp tục tiềm ẩn nhiều nguy cơ; thiên tai, dịch bệnh diễn biến khó lường đặt ra thách thức lớn đối với Quân đội nói riêng và nước ta nói chung. Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, từ bên trong, “phi chính trị hóa” quân đội, tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước. Từ thực tiễn và quán triệt phương hướng, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII, cần thực hiện một số nội dung nội dung cơ bản sau:

Một là, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Cần phải giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên nhằm tạo ra các giá trị đạo đức mới như: Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; có bản lĩnh chính trị, quan điểm, lập trường vững vàng, có thế giới quan, phương pháp tư duy khoa học, có kiến thức sâu rộng, có năng lực sắc bén về lý luận, nhạy cảm trong thực tiễn, có lòng dũng cảm cao, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao và giữ vững nền tảng tinh thần của xã hội. Kết quả của quá trình giáo dục đạo đức cách mạng phải đạt được theo đúng yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân”[7].

Xây dựng Đảng về đạo đức là làm cho mỗi cán bộ, đảng viên ngày càng trưởng thành hơn, để Đảng ta trở thành một Đảng chân chính, vĩ đại, thực sự văn hóa, thực sự đạo đức, thực sự văn minh. Để giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên có hiệu quả, cần phải đổi mới cả về nội dung, hình thức và phương thức tiến hành. Đặc biệt, cần đổi mới nội dung giáo dục đạo đức cách mạng để không bị lạc hậu, phải nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức cách mạng theo tinh thần “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” cho phù hợp với điều kiện mới và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc”[8] theo đúng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ  XIII của Đảng đã khẳng định.

Hai là, nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng là một điều kiện quan trọng để xây dựng, phát triển, hoàn thiện nhân cách người cách mạng. Mỗi người phải tự mình rèn luyện nâng cao các phẩm chất của người cộng sản vững vàng, kiên định, tự chủ; xây dựng cho mình thế giới quan khoa học, tôi luyện ý chí và tính cách của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố; cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[9]. Cho nên, cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng. Mỗi cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng phải tuân theo các vấn đề có tính nguyên tắc như: Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; nâng cao kiến thức, kỹ năng gắn liền với phát triển, củng cố bản lĩnh chính trị vững vàng. Chính vì vậy, cán bộ, đảng viên không chỉ tự rèn luyện về trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác mà còn phải tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ với tinh thần tự giác nhất.

Ba là, phát huy vai trò, tự giác nêu gương trong thực tiễn của cán bộ.

Đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, “Chính đó là con đường chúng ta có thể và phải theo nhằm trước hết làm cho việc nêu gương trở thành một kiểu mẫu về đạo đức”[10]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[11]. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên cần tự giác tu dưỡng, rèn luyện để nâng cao tính tiên phong, gương mẫu trong thực tiễn; phải thực sự sâu sát với quần chúng, quý trọng Nhân dân, gương mẫu về mọi mặt có như vậy mới tổ chức, tuyên truyền và vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước đạt hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống; thực sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” ra sức phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của Nhân dân, luôn đặt lợi ích của Đảng, của Nhân dân lên trên lợi ích cá nhân. Không ngừng tự rèn luyện đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện đề cao vai trò gương mẫu nêu gương sáng về phẩm chất, đạo đức, trí tuệ, văn hóa Đảng của mỗi cán bộ, đảng viên trong lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt, cần phải coi trọng và phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị các cấp. Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng phải gương mẫu về đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên noi theo; phải thực sự gương mẫu gắn “nói đi đôi với làm”; gương mẫu trong tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng; gương mẫu trong phương pháp, tác phong công tác; với tinh thần “chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”[12]. Đồng thời, phải “tự soi, tự sửa” bản thân mình trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện chức trách, nhiệm vụ trên cương vị được giao.

Bốn là, coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần phải tập trung kiểm tra, giám sát việc cán bộ, đảng viên chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, luật pháp Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ rộng rãi, giữ gìn đoàn kết nội bộ; tự phê bình và phê bình; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống; thực hành tiết kiệm; phòng, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí. Thường xuyên lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của người dân, thực hiện sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; thực hiện công khai, minh bạch thông tin và chế độ trách nhiệm trong Đảng, trong các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. 

Nội dung kiểm tra phải toàn diện, song có trọng tâm, trọng điểm. Tập trung kiểm tra với những cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kiểm tra người đứng đầu cấp ủy về giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, trách nhiệm nêu gương. Cần xây dựng quy chế, quy định cụ thể để cán bộ, đảng viên tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng nơi công tác, nơi cư trú; đề cao trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát, đánh giá, nhận xét phẩm chất đạo đức, lối sống “xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”[13].

Năm là, đấy mạnh đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về xây dựng Đảng về đạo đức.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục chỉ rõ: “Kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”[14]. Vì thế, phải kết hợp đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc, thù địch, xuyên tạc xây dựng Đảng về đạo đức gắn với chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách hiệu quả. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, là trách nhiệm chính trị; cần khẳng định bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác lại những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch một cách hiệu quả nhất.

Với phương châm “mỗi đảng viên là một tuyên truyền viên của Đảng”, bằng kiến thức của mình, cán bộ, đảng viên là những người đi đầu trong tuyên truyền, giải thích cho quần chúng ở địa phương, đơn vị hiểu rõ bản chất sai trái, xuyên tạc quan điểm chủ trương xây dựng Đảng về đạo đức của các thế lực thù địch; tuyệt đối không nghe, không tin theo. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tuân thủ pháp luật và ý thức công dân tuân thủ quy tắc ứng xử trên không gian mạng. Tích cực, chủ động đấu tranh trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, chủ động định hướng dư luận xã hội./.

          V3.

Những thách thức có thể dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” diễn ra

 


 

Để thực hiện được “cách mạng màu”, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình quốc tế, khu vực và trong nước để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Trong đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng một số vấn đề xã hội và thổi phồng lên để xuyên tạc, chống phá. Hiện nay, ở Việt Nam nổi lên một số vấn đề chính trị, xã hội được đặt ra là những thách thức tạo điều kiện để các đối tượng trong và ngoài nước có thể móc nối, kích động dẫn đến nguy cơ “cách mạng màu” có thể diễn ra.

Trước hết, vấn đề chính trị đang được các đối tượng lợi dụng để tấn công xuyên tạc đó là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và một số vấn đề như dân chủ, nhân quyền… Đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động hướng đến để “tấn công” rất đa dạng, trong đó trực diện hướng vào một bộ phận nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng sử dụng chiến lược “diễn biến hòa bình” thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam.

Đơn cử, trong thời gian vừa qua, một số đơn vị, địa phương thực hiện thi hành kỷ luật một số tập thể và một số cá nhân do buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để xảy ra sai phạm mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra trong các kỳ họp. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng, những vụ việc này “đều cần phải được điều tra một cách triệt để và minh bạch”. Một số vụ việc chúng còn quy chụp cho rằng là bao che cán bộ sai phạm, không xử lí nghiêm minh mà chỉ mang hình thức “kỷ luật mềm”… Với các thủ đoạn này, các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng tạo ra những bất ổn về chính trị. Chúng tạo ra những thông tin xấu độc để lan truyền, gây tò mò, hoang mang và dễ gây hiểu nhầm đối với sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước...

Thứ hai, thách thức về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là điều kiện để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện “cách mạng màu”. Như thông tin đã phân tích ở các bài trước, các cuộc "cách mạng màu" dẫn đến sự sụp đổ chế độ chính trị ở một số nước SNG và các nước Trung Đông, Bắc Phi cho thấy nguyên do sâu xa từ sự suy thoái, biến chất, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ban lãnh đạo đương nhiệm khiến nhân dân mất lòng tin, chống đối. Ở Việt Nam, chúng tận dụng "sức mạnh" của dư luận, mạng xã hội, những trang thông tin cá nhân chưa được kiểm soát để ráo riết tung tin về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Mục tiêu của chúng là làm cho nhân dân mất niềm tin với cán bộ, đảng viên và từ đó, tìm mọi thủ đoạn để thổi bùng lên những mâu thuẫn, nhằm gây bất ổn xã hội, tạo cơ hội cho thực hiện "cách mạng màu".

Có thể thấy rõ trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng những vụ việc được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật, như vụ án: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao, Công ty Việt Á, Công ty AIC, Vạn Thịnh Phát, Tân Hoàng Minh, FLC… để xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Đảng. Chúng rêu rao công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là không hiệu quả; xuyên tạc và cho rằng công cuộc “đốt lò” lúc cháy lúc không, chỉ đốt được "củi nhỏ", còn "củi gộc" thì bao che, dung túng. Các thế lực phản động, thù địch rêu rao rằng ở Việt Nam tham nhũng là “quốc nạn” và việc phòng, chống tham nhũng chỉ là “chữa ung thư bằng thuốc nhức đầu”. Chúng tìm mọi cách ngụy biện rằng muốn cho đất nước minh bạch và phát triển thì phải có nhiều đảng chính trị giám sát lẫn nhau, phải thực hiện “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực. Những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động này nhằm mục tiêu giảm uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; lợi dụng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng để cổ xúy và hướng lái cho sự hình thành chế độ đa đảng, tam quyền phân lập.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động đã cấu kết với lực lượng trong nước thực hiện những thủ đoạn có quy mô ngày càng rộng, phức tạp, kéo dài, có tổ chức tinh vi và chuyên nghiệp. Một mặt, chúng cố thổi phồng lên những yếu kém, sai phạm của cán bộ, đảng viên, mặt khác, chúng không ngừng rêu rao rằng chế độ xã hội chủ nghĩa không có dân chủ, mà có chăng thì chỉ là “dân chủ giả hiệu”.

Mới đây, vụ “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” diễn ra vào rạng sáng 11/6/2023 khi một nhóm đối tượng trang bị vũ khí tấn công vào trụ sở UBND xã Ea Tiêu và xã Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk bằng các hành vi mất nhân tính đã làm 9 người chết, 2 người bị thương, nhiều tài sản bị đốt phá. Sau khi vụ án xảy ra, trên nhiều kênh thông tin báo chí nước ngoài, các trang mạng hải ngoại, trang mạng cá nhân của các đối tượng thù địch, chống đối đã tung ra nhiều thông tin sai sự thật, các hình ảnh được dàn dựng, cắt ghép… Một số bài viết cố tình đánh tráo bản chất, hướng vụ án sang nguyên do khác nhằm kích động tâm lý kỳ thị dân tộc, gây chia rẽ giữa đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên. Từ vụ việc này cho thấy, các thế lực thù địch, phản động sẽ không từ mọi thủ đoạn để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại nền tảng cách mạng, gây ra sự bất ổn chính trị, đồng thời tạo cớ để kêu gọi các nước, các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Thứ ba, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội… trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nhằm mưu đồ thực hiện “cách mạng màu”. Các thế lực thù địch, phản động dùng chiêu bài phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của tư bản, là tự do cạnh tranh bị chi phối bởi một “bàn tay vô hình” của những tập đoàn kinh tế lớn, hướng người ta đến các quyết định về các vấn đề kinh tế cơ bản không cần đến sự can thiệp của nhà nước. Nhất là từ sau đại dịch COVID-19, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp khó khăn do biến động chung của thị trường thế giới, những hội nhóm “núp bóng yêu nước” này điên cuồng đăng tải những thông tin về kinh tế ảm đạm, lạm phát tăng cao, độc quyền giá điện, độc quyền xăng dầu… Những thủ đoạn đê hèn, dơ bẩn của chúng không thể chấp nhận được xét cả về phương diện chính trị, kinh tế và đạo đức; là cái nhìn phiến diện của những kẻ cố tình xuyên tạc Việt Nam, đi ngược lại lợi ích dân tộc, quốc gia, cố tình bóp méo, xuyên tạc sự thật. Mục đích những quan điểm sai lệch, phiến diện nhằm phủ nhận thành tựu phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong trạng thái “bình thường mới”, phủ nhận kết quả thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta... để cố hướng kinh tế nước ta theo con đường kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do cạnh tranh dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế.

Những năm vừa qua, ở nước ta đã xuất hiện một số vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng sử dụng các chiêu thức "cách mạng màu" để tấn công vào công cuộc xây dựng và phát triển của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Đơn cử như, lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại một số tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt...

Mặt khác, chúng lợi dụng nguy cơ xảy ra lợi ích nhóm trong các vấn đề chính trị, xã hội như công tác cán bộ, bổ nhiệm, sắp xếp cán bộ…, vấn đề trong quản lý doanh nghiệp nhà nước, quản lý dự án đầu tư, nhất là đầu tư công, quản lý đất đai, tài sản, bất động sản, trong quản lý việc cấp các loại giấy phép, tham mưu đường lối, chính sách… để nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa theo con đường “chủ nghĩa tư bản thân hữu”, rất nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.

          V3.

Một số giải pháp khắc phục biểu hiện đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác.

 


 

Thứ nhất, tiếp tục nhận diện những biểu hiện mới, biến tướng mới cũng như tác hại và nguyên của bệnh đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác trong đội ngũ cán bộ các cấp và không ngừng đấu tranh phê phán và có chế tài đủ mạnh để phòng, ngừa những kẻ đam mê quyền lực, kén chọn vị trí công tác chui vào nội bộ ta.

Thứ hai, thường xuyên quán triệt và triển khai sâu rộng Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương “Về những điều đảng viên không được làm”, đặc biệt là nội dung: Đảng viên không được quan liêu, thiếu trách nhiệm; đảng viên không được “biết mà không báo cáo, phản ảnh, xử lý các hành vi tham nhũng; không thực hiện các quy định về bảo vệ người chống tham nhũng”…, đảng viên không được lợi dụng chức vụ để bổ nhiệm, đề cử, ứng cử trái quy định; không được can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được “đề cử, ứng cử”…, “không được lợi dụng chức vụ để giúp người thân và để người thân ra nước ngoài khi chưa có phép của cơ quan có thẩm quyền”…

Thứ ba, đẩy mạnh tổ chức quán triệt và cụ thể hóa theo thẩm quyền để thực hiện nghiêm Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11/7/2023 của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ” (thay thế Quy định số 205-QĐ/TW). Quy định 114-QĐ/TW thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, đã liệt kê cụ thể 8 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn; 6 hành vi “chạy chức, chạy quyền” và 5 hành vi tiêu cực khác. Thực hiện tốt trách nhiệm kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. Trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng, tập thể lãnh đạo, “người được giao chức vụ, quyền hạn phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa; đồng thời, phải tăng cường giám sát, kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn”[8]. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần tự giác, tự nguyện, tự chỉ trích, lòng tự trọng và biết liêm sỉ, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên hết, trước hết.

Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn 2021 - 2030. Một trong 10 nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là: “Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu”[9].

Thứ tư, tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước liêm chính, chuyên nghiệp, hiện đại gắn với chế độ công vụ. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc xây dựng nền hành chính nhà nước của dân, do dân, vì dân. Kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Xây dựng Luật về đạo đức công vụ và thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức. Thực hiện “cải cách tiền lương, chế độ, chính sách đãi ngộ, tạo môi trường, điều kiện làm việc; khuyến khích, bảo vệ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung”[10]; tạo động lực để cán bộ, đảng viên cống hiến, ngăn ngừa tiêu cực trong thi hành công vụ, xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ./.

          V3.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH CHỐNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM!

     Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 189 nước thành viên của Liên Hợp quốc, đồng thời, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức và diễn đàn quốc tế. Nhờ đường lối đối ngoại nhất quán, vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Những kết quả đó là minh chứng sống động để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam. Mặc dù vậy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước thường xuyên thực hiện những âm mưu chống phá đường lối phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.
Một trong những vấn đề chúng tập trung chống phá, xuyên tạc là đường lối đối ngoại của Việt Nam với nhiều phương thức, thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi, khó lường. Đáng chú ý là các thế lực thù địch, các tổ chức lưu vong và một số đối tượng chống đối trong nước triệt để sử dụng không gian mạng, nhất là các mạng xã hội như Facebook, Youtube để xuyên tạc, tuyên truyền sai lệch chủ trương, đường lối đối ngoại của Việt Nam. Chúng cho rằng: Chính sách giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là “lý thuyết viển vông, phi thực tế”; “đã độc lập tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại đã hội nhập quốc tế thì không có sự độc lập tự chủ”; chính sách độc lập tự chủ của Việt Nam là “bảo thủ”, “tự cô lập mình”, “ngoại giao đu dây”, “nhạc nào cũng nhảy”(?!),… Chúng kêu gọi kích động bạo lực với cộng đồng người Nga tại Việt Nam, khuyên Việt Nam “phải chọn bên”, yêu sách Việt Nam phải “đổi mới” đường lối đối ngoại (?!).

Để chủ động đấu tranh có hiệu quả với những luận điệu xuyên tạc nêu trên, cần tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước về đối ngoại theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam”.

Thực hiện những định hướng nêu trên, trong quản lý nhà nước về đối ngoại cần quán triệt những quan điểm cơ bản:
Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Xây dựng nền ngoại giao hiện đại vì lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy phục vụ người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Thứ hai, quản lý nhà nước về đối ngoại phải gắn bó chặt chẽ với giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, giữa hợp tác quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội, đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước.

Thứ ba, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người làm công tác quản lý nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đối ngoại nói riêng. Đội ngũ cán bộ này phải am hiểu sâu về khoa học quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về đối ngoại, về pháp luật quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước là cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về đối ngoại và hội nhập quốc tế, giải quyết các tranh chấp quốc tế.

Thứ tư, quản lý nhà nước về đối ngoại phải gắn liền với hợp tác quốc tế nói chung và hợp tác quốc tế về pháp luật nói riêng, theo hướng chủ động, tích cực tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới nhằm tạo thay đổi về chất lượng công tác hợp tác quốc tế và hợp tác quốc tế về pháp luật. Nghiên cứu giải pháp gia tăng sự hiện diện của chuyên gia pháp luật Việt Nam trong các thiết chế luật pháp quốc tế.

Thứ năm, quản lý nhà nước về đối ngoại phải đảm bảo tính toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng,… Đồng thời, kiên quyết kiên trì đấu tranh, làm thất bại âm mưu, hoạt động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước.

Quán triệt quan điểm trên, quản lý nhà nước về đối ngoại thời gian tới cần tập trung giải quyết tốt những vấn đề sau:
Một là, đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về đối ngoại. Việc hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại cần tập trung trước hết vào ba lĩnh vực (ba trụ cột) của hoạt động đối ngoại là: Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về kinh tế, hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về chính trị và hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về văn hóa. Mặt khác, cần có quy định rõ trách nhiệm các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại.

Hai là, hoàn thiện và củng cố bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn về quản lý nhà nước trong hoạt động đối ngoại. Thiết lập quan hệ phối hợp và mạng lưới thông tin một cách chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại ở trung ương và các cơ quan, tổ chức làm công tác đối ngoại ở địa phương.

Ba là, tăng cường công tác thông tin đối ngoại và tuyên truyền trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại. Tiếp tục đổi mới phương thức, nội dung các hoạt động thông tin đối ngoại trong việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh văn hóa, con người, tiềm năng phát triển và hợp tác của Việt Nam ra nước ngoài nhằm tăng cường sự hiểu biết, ủng hộ của cộng đồng quốc tế với sự nghiệp xây dựng và phát triển của Việt Nam. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại về văn hóa trên cơ sở phát huy giá trị di sản tự nhiên, nhân văn (vật thể, phi vật thể), xây dựng các sản phẩm văn hóa - nghệ thuật có bản sắc riêng gắn kết truyền thống với hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả quảng bá đất nước và con người Việt Nam với bạn bè quốc tế. Tăng cường sự phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong nước và các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức các sự kiện văn hóa quốc tế tại Việt Nam, sự kiện văn hóa Việt Nam ở nước ngoài nhằm quảng bá văn hóa Việt Nam với thế giới, nhằm thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam.

Bốn là, xây dựng, đào tạo đội ngũ những người làm công tác quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại giàu về trí tuệ, bản lĩnh, giỏi ngoại ngữ, có kiến thức về khoa học công nghệ tiên tiến, thể lực tốt,… bởi họ chính là nguồn nhân lực chủ yếu góp phần vào công cuộc kiến thiết và phát triển đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách thu hút người tài làm công tác đối ngoại, xây dựng và ban hành chính sách khuyến khích tạo động lực cho đội ngũ công chức làm công tác đối ngoại.

Năm là, quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút hợp tác quốc tế, đầu tư, xúc tiến thương mại, du lịch và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Sáu là, tận dụng có hiệu quả sức mạnh của của công nghệ thông tin và truyền thông nhằm xúc tiến liên tục, bền bỉ chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại nói chung và quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại nói riêng, tạo niềm tin cho người nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài, các tổ chức quốc tế về đất nước, con người Việt Nam là nơi đáng sống và điểm đến an toàn.

Bảy là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo và điều hành của Nhà nước về hoạt động đối ngoại nói riêng.

Quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm và nội dung trên đây sẽ góp phần đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta./.
Yêu nước ST.

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

 


 Biển, đảo Việt Nam là một phần máu thịt thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc. Đảng và Nhà nước ta quyết tâm phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước. Các thế lực thù địch thì coi đây là “mảnh đất vàng”, lợi dụng bóp méo sự thật, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước ta. Yêu cầu đặt ra là mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải chung tay đấu tranh, phản bác những luận điệu xuyên tạc, kích động, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước.

Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, tình hình biển Đông có nhiều diễn biến mới, căng thẳng, phức tạp, đe dọa hòa bình, ổn định; sự phát triển, bùng nổ của thông tin trên Internet, mạng xã hội, các thế lực thù địch không ngừng gia tăng những thủ đoạn ngày càng tinh vi để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Tranh chấp chủ quyền biển, đảo luôn là “cái cớ” để các phần tử phản động, bất mãn lợi dụng nhằm xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Lợi dụng những “điểm nóng” trên biển Đông, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sử dụng các đối tượng trong nước thu thập thông tin, trả lời phỏng vấn các vấn đề nhạy cảm, phức tạp,... để phát tán tài liệu, hình ảnh, video, tạo ra các “chiến dịch truyền thông” sai sự thật, rêu rao về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.

Các thế lực thù địch cố tình vu khống trắng trợn rằng: Đảng và Nhà nước không quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, đặc biệt là chủ quyền biển, đảo; “chính quyền Việt Nam làm ngơ về biển Đông”; hải quân Việt Nam “hèn yếu”;... Chúng đòi “hợp tác với một nước khác để giải quyết tình hình”, đòi hỏi phải “chọn phe” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó đánh vào tâm lý hoài nghi của một bộ phận người dân, cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước “vì phe này, phe kia” để chủ quyền biển, đảo bị xâm lấn;... Đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn phủ nhận thành quả và quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thời gian qua; đồng thời, cũng là âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động luôn chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Thủ tướng Chính phủ - Phạm Minh Chính từng nhấn mạnh: “Chúng ta không “chọn bên” mà chọn lẽ phải, xu hướng thời đại là hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Hiện nay, các đảo và điểm đóng quân của Việt Nam trên biển ngày càng được củng cố vững chắc, là “phên giậu” bảo vệ Tổ quốc, từ đó càng khẳng định chủ quyền hợp pháp của đất nước. Vì vậy, cần nhận diện, bóc trần, phản bác và kiên trì đấu tranh với những chiêu trò suy diễn, xuyên tạc, phê phán đường lối đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Theo đó, để tăng cường đấu tranh, phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, thù địch, chống phá; bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh, chỉ đạo của Đảng về công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong các tầng lớp nhân dân về chủ quyền biển, đảo.

Thứ ba, phát huy trách nhiệm của thanh niên, sinh viên trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thứ tư, báo chí, truyền thông, văn nghệ sĩ phát huy vai trò cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, phản bác các quan điểm sai trái, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Thứ năm, tăng cường công tác nắm bắt thông tin, dư luận xã hội, chủ động phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về chủ quyền biển, đảo.

Thứ sáu, tăng cường quản lý Internet, mạng xã hội và bảo đảm an ninh mạng.

Thứ bảy, thực hiện chiến lược đầu tư phát triển kinh tế biển, đảo một cách hiệu quả./.

          V3.