Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
(CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết
số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc. Công ước CERD ra
đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc, đồng thời xác
lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp cần thiết
và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình thức phân biệt dựa trên
chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu số.
Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng định: “Tất cả mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng
để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất kỳ sự kích động phân biệt đối
xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự
phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp
luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, nguồn gốc quốc
gia hay sắc tộc” (Điều 5).
Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm tương đồng chủ trương,
đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ khi mới khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) tại bản
Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng trên các nguyên tắc:
Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; bảo
đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của
nhân dân.
Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định: Tất cả công dân Việt Nam
đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa (Điều thứ 6);
tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chính
quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình (Điều thứ
7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về
mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều thứ 8).
Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và bảo đảm tính thực
thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước
Việt Nam.
Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát
triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Ngôn ngữ quốc gia là
tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân
tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều
kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”.
Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt chủng tộc được tiếp tục
cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục tiêu quốc gia,… và triển
khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm dân tộc
thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Chính sự tương đồng về quan điểm, mục tiêu bảo vệ quyền con người
nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc nói riêng nên từ năm 1982,
Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn thực hiện
nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực triển khai thực hiện nhiều
chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền của đồng bào dân tộc thiểu
số.
Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012, Việt Nam đã bốn lần bảo vệ
thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD. Điều này cho thấy những nỗ
lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước CERD, đặc biệt là việc bảo
đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã
hội, bình đẳng giới…
Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc gia CERD 5 gửi
đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp thứ 111 của Ủy ban (dự
kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia CERD 5, bà Trần Chi Mai
- Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho biết báo cáo được xây
dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan Nhà nước ở Trung ương
và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và người dân.
Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể hiện kết quả Việt Nam
thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào các nội dung: Hệ thống
pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy quyền của người dân tộc
thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc và đánh giá sự phù hợp
của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật của Việt Nam; vai trò
quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc trong việc
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực hiện các cam kết cấm và
xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo đảm quyền bình đẳng
trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; các biện pháp bảo đảm
cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất cứ hành động phân
biệt chủng tộc.
Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng định Báo cáo quốc gia
CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh khá toàn cảnh về vấn đề
chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện pháp lập pháp, hành chính,
tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã xây dựng, triển khai cho đến
kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2019
nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi kỳ thị, phân biệt về chủng tộc
tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ tại Ủy ban Công ước sẽ là
cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu bảo vệ nhân quyền nói chung
và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với người dân tộc thiểu
số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân tộc thiểu số thì việc bảo
đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình ảnh đất nước, con người
Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức tuân thủ pháp luật sẽ được
lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự hiểu biết và thúc đẩy các
quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục này sẽ góp phần bác bỏ những
luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí đối với
Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân
tộc thiểu số.
Đáng buồn là thời gian qua, trên một số diễn đàn mạng xã hội và
trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm, ý kiến lạc lõng, sai sự
thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử với đồng bào dân tộc
thiểu số” ở Việt Nam.
Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá, thù địch thường xuyên lợi
dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các tranh chấp, khiếu kiện,
những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để tấn công, hòng khoét
sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan. Địa bàn được
các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ,
nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở khu vực Tây Bắc, các đối
tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”, và đưa ra yêu sách về
“quyền tự trị”.
Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao “Tây Nguyên là của người
Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính quê hương của mình” từ đó
kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên kết lại đuổi người Kinh về
xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích động người dân tộc Khmer ly
khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.
Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo, dụ dỗ, tổ chức các hoạt
động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào
mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng tộc, vi phạm nhân quyền,
kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không khó để nhận diện âm mưu của
các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước, kích động bạo loạn,
lật đổ chế độ.
Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch chưa bao giờ từ bỏ âm
mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc
hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc kích động, chống phá trên
không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa “chân rết” đi đến các vùng
miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu số, tác động theo kiểu
“mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.
Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, cũng
như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách dân tộc,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng
bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần
phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối
với các đối tượng có hành vi chống phá, kích động phân biệt chủng tộc.
Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số cần nâng cao tinh
thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, không
tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để thực hiện các hành vi vi
phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát
hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo cáo tới cơ quan chức năng
làm rõ.
Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính trị và người dân sẽ tạo
khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn hiệu quả và làm thất
bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu./.
V3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét