Thứ Hai, 9 tháng 10, 2023

 

NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ TỪ ĐẦU NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIII


Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bao gồm hệ thống quan điểm, tư tưởng, đường lối, định hướng chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Công tác xây dựng Đảng về cán bộ từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đã quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội.

Những quy định, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Xây dựng đội ngũ cán bộ là một nội dung lớn trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức; bởi vì, cán bộ và tổ chức có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết, tác động qua lại với nhau. Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta luôn lồng ghép công tác cán bộ là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức, coi đây là hai nhiệm vụ cần được thực hiện đồng thời, cùng lúc. Đến Đại hội XIII, từ những bài học kinh nghiệm của Đảng ta về công tác cán bộ và từ yêu cầu, đòi hỏi cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có chất lượng, ngang tầm nhiệm vụ, nên cần tách nội hàm cán bộ từ xây dựng Đảng về tổ chức thành một nội dung riêng. Trong phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu… đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Điều này cho thấy những nhận thức mới, cũng như quyết tâm của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.

Bám sát định hướng chỉ đạo của Văn kiện Đại hội XIII, công tác cán bộ được đẩy mạnh ngay từ đầu nhiệm kỳ, thực sự là “then chốt của then chốt”. Các nghị quyết, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ có nội dung bao trùm, với nhiều điểm mới, cụ thể là:

Thứ nhất, Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy quyết tâm chính trị của toàn Đảng về khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Ngay đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, nhằm khuyến khích và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên tự tin đổi mới, sáng tạo, dám bước qua những lối mòn, vượt qua những thách thức để cống hiến cho đất nước, phục vụ nhân dân. Kết luận số 14-KL/TW là sự cụ thể hóa một trong những phương hướng được Đại hội XIII của Đảng xác định là xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Để khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận số 14-KL/TW nêu rõ, “khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”. Những nội dung này tạo cơ sở chính trị, củng cố niềm tin và tạo động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là một giải pháp căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của cơ quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của đất nước. Đây chính là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.

Thứ hai, mở rộng phạm vi không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị; không chỉ đối với đảng viên và các cấp ủy, tổ chức đảng, mà còn mở rộng ra đối với cán bộ, công chức, viên chức, các cấp chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị.

Thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, đã xác định những nội dung không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Kết luận số 21-KL/TW yêu cầu, phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên tầm cao mới, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đảng đặt ra yêu cầu phải chủ động tiến công mạnh mẽ, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái, tiêu cực, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, là bước đột phá mới, cấp độ cao hơn, cường độ và mức độ quyết liệt hơn, thái độ xử lý nghiêm khắc hơn; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”; yêu cầu cao về đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, “lợi ích nhóm”, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.

Một trong những điểm nhấn của Kết luận số 21-KL/TW là đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, đòi hỏi phải được thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, bảo đảm kết hợp giữa “xây” và “chống” trong công tác cán bộ. “Xây” là tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đó phải là những cán bộ có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn ý thức đầy đủ về trách nhiệm, “đúng vai, thuộc bài”, thật sự chuyên nghiệp, làm tốt nhiệm vụ được giao, phải gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, ủng hộ. Trong khi đó, “chống” chính là kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ vi phạm; tập trung vào phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát người đứng đầu thực hiện trách nhiệm trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Thứ ba, các quy định của Trung ương tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ.

Quy định số 50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác quy hoạch cán bộ” cho thấy tư duy đổi mới, toàn diện của Đảng về công tác quy hoạch cán bộ. So với Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30-11-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Quy định số 50-QĐ/TW bổ sung 5 nguyên tắc bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác quy hoạch cán bộ. Theo đó, công tác quy hoạch cán bộ phải bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên thông, công khai, minh bạch trong công tác quy hoạch cán bộ. Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ tình hình thực tế về đội ngũ cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời gắn kết chặt chẽ với các khâu khác trong công tác cán bộ. Quy định số 50-QĐ/TW yêu cầu phải rà soát, đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch, thực hiện phương châm quy hoạch “động” và “mở”. Hằng năm, tiến hành đánh giá, rà soát để kịp thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện; bổ sung vào quy hoạch những nhân tố mới từ nguồn nhân sự tại chỗ hoặc nguồn nhân sự từ nơi khác đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có triển vọng phát triển. Một trong những nguyên tắc quan trọng trong Quy định số 50-QĐ/TW là chỉ quy hoạch chức danh cao hơn, mỗi chức danh lãnh đạo, quản lý, quy hoạch không quá 3 cán bộ; một cán bộ quy hoạch không quá 3 chức danh cùng cấp; không thực hiện quy hoạch đồng thời với việc đề xuất bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.

Trên cơ sở tổng kết 5 năm thực hiện Quy định số 98-QĐ/TW, ngày 7-10-2017, của Bộ Chính trị, “Về luân chuyển cán bộ”, Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022, của Bộ Chính trị, “Về luân chuyển cán bộ” có những nội dung chặt chẽ hơn, từ việc xem xét, bố trí, quyết định cán bộ luân chuyển, đến việc giao trách nhiệm cho các cơ quan có liên quan nhận xét, đánh giá cán bộ định kỳ hằng năm, bố trí cán bộ sau khi hết thời gian luân chuyển,.... Nếu như Quy định số 98-QĐ/TW nhấn mạnh cán bộ được luân chuyển là những cán bộ trẻ, triển vọng trong quy hoạch, thì Quy định số 65-QĐ/TW chỉ rõ cán bộ luân chuyển chỉ trong diện quy hoạch lãnh đạo. Về nguyên tắc bố trí chức danh khi luân chuyển cán bộ, Quy định số 65-QĐ/TW quy định thực hiện theo nguyên tắc bố trí giữ chức vụ tương đương với chức vụ đang đảm nhiệm. Trường hợp cần thiết, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định bố trí chức vụ cao hơn chức vụ đang đảm nhiệm đối với cán bộ có phẩm chất, năng lực nổi trội, có khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chức vụ dự kiến phân công, bố trí. Trong khi đó, Quy định số 98-QĐ/TW quy định về nguyên tắc bố trí chức danh khi luân chuyển là đối với cán bộ đã giữ chức vụ cấp trưởng 2 nhiệm kỳ liên tục và những cán bộ luân chuyển để thực hiện chủ trương không phải là người địa phương, khi luân chuyển chủ yếu bố trí làm cấp trưởng. Về tiêu chuẩn, điều kiện luân chuyển cán bộ, Quy định số 65-QĐ/TW nêu rõ, “có đủ sức khỏe và còn thời gian công tác ít nhất 10 năm công tác tính từ thời điểm luân chuyển. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”.

Thứ tư, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong công tác cán bộ; tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, đồng thời kiên quyết loại bỏ những cán bộ yếu kém ra khỏi hàng ngũ của Đảng.

Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ”, đã giải thích rõ nội hàm của khái niệm “miễn nhiệm”, “từ chức”; đồng thời, đưa ra những quy định, quy trình xem xét miễn nhiệm, từ chức và bố trí công tác đối với cán bộ sau khi từ chức. So với Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2-10-2009, “Về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ”, Quy định số 41-QĐ/TW cụ thể hóa những quy định, cơ chế, chính sách trong việc xử lý đối với cán bộ chưa hoàn thành nhiệm vụ và việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời gian bổ nhiệm. Quy định số 41-QĐ/TW bổ sung nhiều khái niệm mới, như “miễn nhiệm là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức”. So với Quy định số 260-QĐ/TW, Quy định số 41-QĐ/TW có những quy định xử lý mạnh hơn, cho thấy tinh thần kiên quyết của Đảng trong việc xử lý những cán bộ yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu công việc.

Về quy trình xem xét miễn nhiệm, từ chức, Điều 8 Quy định số 41-QĐ/TW đưa ra những mốc thời gian cụ thể, ngắn hơn so với Quy định số 260-QĐ/TW, thể hiện rõ quan điểm quyết liệt của Đảng trong xử lý cán bộ thiếu năng lực: “Khi có đủ căn cứ miễn nhiệm, từ chức, chậm nhất trong thời gian 10 ngày làm việc thì cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ có trách nhiệm trao đổi với cán bộ và đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”. Đồng thời, “cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, cho từ chức trong thời gian 10 ngày làm việc; trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì có thể kéo dài không quá 15 ngày làm việc”. Quy định số 260-QĐ/TW nêu mốc thời gian 30 ngày cùng quy trình giải quyết khiếu nại, nên ít nhiều chưa thể hiện được tính kịp thời. Tương tự, hồ sơ và quy trình xử lý theo Quy định số 41-QĐ/TW cũng gọn hơn so với Quy định 260-QĐ/TW.

Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu khái quát về việc bố trí công tác đối với cán bộ sau khi từ chức, trong đó “bố trí công tác phù hợp” theo điều kiện cụ thể, đồng thời tiếp tục “xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử” nếu thể hiện sự tiến bộ. Điều này cho thấy, Đảng ta rất rạch ròi, kiên quyết trong xử lý cán bộ yếu kém, nhưng cũng rất nhân văn, bao dung, mà mục đích chính là làm cho tổ chức, cán bộ, đảng viên thấy được vi phạm, khuyết điểm của mình để sửa chữa, khắc phục.

Hướng đến mục tiêu kỷ luật tự giác và nhân văn, Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022, của Bộ Chính trị, “Về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”, có nhiều nội dung mới về tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng mức kỷ luật trong việc xem xét vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Điều 5 Quy định số 69-QĐ/TW đưa ra một số tình tiết để xem xét, giảm nhẹ mức kỷ luật đối với các tổ chức đảng, như chủ động, kịp thời báo cáo vi phạm với tổ chức đảng cấp trên, thái độ kiểm điểm nghiêm túc, tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với vi phạm, chủ động cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phản ánh đầy đủ, trung thực về vi phạm, chủ động chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục cơ bản, kịp thời hậu quả do vi phạm của tổ chức mình gây ra trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát,…; đối với đảng viên, chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ chức đảng, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và trong quá trình kiểm tra, giám sát thì sẽ được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật. Ngược lại, Quy định số 69-QĐ/TW cũng quy định các trường hợp đảng viên sẽ bị tăng nặng mức kỷ luật, như đảng viên đã được tổ chức đảng yêu cầu kiểm điểm, nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm; không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm, hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm; gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không khắc phục hậu quả hoặc khắc phục không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, không tự giác nộp lại tiền, tài sản do vi phạm mà có; đối phó, quanh co, cản trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán…; bao che cho người vi phạm; đe dọa, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm…

Đặc biệt, Quy định số 69-QĐ/TW khuyến khích đảng viên đổi mới, sáng tạo. Đảng viên thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo nhưng xảy ra thiệt hại và nguyên nhân để xảy ra thiệt hại là do khách quan, thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì miễn kỷ luật đảng. Đảng viên do chấp hành quyết định sai trái của cấp trên hoặc bị ép buộc, nhưng đã chủ động, kịp thời báo bằng văn bản về ý kiến, đề xuất của mình trước khi thực hiện thì cũng được miễn kỷ luật đảng.

Bên cạnh đó, Thông báo Kết luận số 20-TB/TW, ngày 8-9-2022, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”, cho thấy sự quyết liệt, nhưng cũng rất nhân văn trong công tác cán bộ của Đảng. Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút thì cần tự nguyện xin từ chức; đồng thời, nhấn mạnh đến việc tạo điều kiện cho cán bộ bị kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, để tiếp tục phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện.

Thứ năm, Quy định số 80-QĐ/TW của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa chủ trương của Đại hội XIII, làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ.

Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị”. Đây là định hướng chỉ đạo quan trọng, tạo nền tảng cho Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18-8-2022, của Bộ Chính trị, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”. Quy định số 80-QĐ/TW, thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; đồng thời, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị; đánh giá khách quan, công tâm, lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

So với Quy định số 105-QĐ/TW, Quy định số 80-QĐ/TW đưa ra nội dung bao quát, toàn diện hơn về quản lý cán bộ; trong đó, bổ sung việc bổ nhiệm lại, tái cử, chỉ định, phong, thăng, giáng, tước quân hàm, cho thôi chức vụ, tạm đình chỉ, đình chỉ chức vụ, cho từ chức, cách chức cán bộ và giải quyết khiếu nại, tổ cáo trong công tác cán bộ và cán bộ. Về nguyên tắc bổ nhiệm cán bộ, Quy định số 80-QĐ/TW bổ sung thêm tiêu chí “uy tín của cán bộ” khi xem xét bổ nhiệm cán bộ và không bổ nhiệm đối với cán bộ, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật. Những điểm mới này thể hiện sự minh bạch, khách quan, nghiêm minh trong công tác cán bộ của Đảng, là đòi hỏi cấp thiết đặt trong bối cảnh “một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”.

Về điều kiện bổ nhiệm cán bộ, Quy định số 80-QĐ/TW bổ sung quy định về việc cán bộ phải có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm hoặc chức vụ tương đương ít nhất là 2 năm. Đây là điểm mới của Quy định số 80-QĐ/TW so với quy định trước đây về điều kiện bổ nhiệm cán bộ. Bên cạnh đó, Quy định số 80-QĐ/TW cũng đã thay đổi điều kiện về bổ nhiệm cán bộ đối với trường hợp kỷ luật như sau: 1- Cán bộ bị kỷ luật khiển trách sẽ không được bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 12 tháng (tính từ ngày ký quyết định kỷ luật); 2- Cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo sẽ không được bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 30 tháng; 3- Cán bộ bị kỷ luật cách chức sẽ không được bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 60 tháng. Như vậy, thời gian không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn đã được quy định cụ thể hơn so với quy định trước đây.

Thời gian tới, để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, trên cơ sở đánh giá, tổng kết các quy định, kết luận đã có, cần tiếp tục ban hành những quy định mới nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc trong công tác cán bộ. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc”. Do đó, cần có những quy định nhằm tiếp tục cụ thể hóa tiêu chí, quy trình, phương pháp đánh giá, xếp loại cán bộ, xử lý cán bộ sau đánh giá; bổ sung, hoàn thiện chính sách, cơ chế, quy định công tác cán bộ toàn diện, bảo đảm tính khoa học và tính khả thi đối với tất cả các khâu, các bước, các nội dung, công việc của công tác cán bộ.

Hai là, gắn dân chủ với tăng cường kỷ luật đảng, tạo môi trường đổi mới, sáng tạo trong công tác cán bộ. Trong bối cảnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn diễn biến phức tạp, thì công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng cần phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, bài bản, để kịp thời đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái, không xứng đáng, có năng lực, uy tín thấp, đồng thời tạo sức răn đe, cảnh tỉnh lớn hơn. Xử lý đúng người, đúng tính chất sai phạm còn góp phần bảo đảm dân chủ, tạo động lực để cán bộ yên tâm công tác, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Ở khía cạnh này, tăng cường kỷ luật đảng không những không làm cán bộ nhụt chí vì an toàn, mà còn là một cơ chế bảo vệ và khuyến khích cán bộ dám đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Bên cạnh đó, Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị cần được thể chế hóa thành pháp luật của Nhà nước, cụ thể hóa bằng những chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp để cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung có thể nhanh chóng đi vào thực tiễn cuộc sống, là việc làm thường xuyên của Đảng và của cả hệ thống chính trị.

Ba là, tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ được đưa ra trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền”. (Điều này thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng nhằm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả đối với công tác cán bộ, trong đó có cả kiểm soát chặt chẽ người làm công tác cán bộ. Thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định chặt chẽ, đồng bộ ở tất cả các khâu trong công tác cán bộ; gắn kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm quy rõ trách nhiệm của từng cán bộ, từng khâu trong công tác cán bộ; bảo đảm tính đồng bộ, lô-gíc, khoa học, chặt chẽ cả về nguyên tắc, đối tượng và hình thức kiểm soát trong công tác cán bộ./.

 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG


Các thế lực thù địch đã đăng tải thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội hòng thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận, chống phá công tác nhân sự của Đảng.

Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) đang tiến hành thảo luận, bàn bạc, quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, có liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, như: phát triển kinh tế - xã hội, cải cách tiền lương, chính sách đại đoàn kết dân tộc, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV)... Trong đó, việc xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV) là công việc hoàn toàn bình thường, diễn ra theo kế hoạch, lịch trình trong các hội nghị, kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương đã được xây dựng trong cả nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, với bản chất, âm mưu, dã tâm xấu, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, Instagram… để tung tin xuyên tạc, kích động, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nội bộ trong Đảng nhằm thu hút sự chú ý, gây hoang mang dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân. Chiêu trò, thủ đoạn chủ yếu của chúng là lợi dụng việc Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đã phát hiện, xử lý kỷ luật một số Ủy viên Trung ương suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực… từ đó, suy diễn, quy chụp rằng: đây là sự tranh giành, đấu đá, hạ bệ nhau giữa các phe cánh trong Đảng.

Lần này cũng vậy, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) khai mạc sáng 2/10 thì ngày 3/10, trang Facebook Việt Tân đăng nội dung: “Nội bộ của Đảng đang bắt đầu tranh giành quyền lực. Họ sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt hạ lẫn nhau”. Vẫn sử dụng lại “bình cũ” đó, nhưng chúng thay “rượu mới”. Chúng rêu rao rằng, “Đảng đã làm thay Nhà nước, làm thay Quốc hội”. Với mục đích không thay đổi là chống phá, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, câu view, câu like, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội.

Trước hết, cần khẳng định rằng những luận điệu của các thế lực phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, không thể bôi nhọ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Trò cũ diễn mãi cũng nhàm, mọi chiêu trò xuyên tạc của Việt Tân chỉ tốn công, vô ích bởi lẽ, tất cả nhân dân Việt Nam đều suy nghĩ và nhận thức rằng: Với những cán bộ, đảng viên liêm chính thì dù làm ở vị trí nào, giữ cương vị gì, họ cũng đều có một mục đích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Họ đều làm việc, cống hiến vì nước, vì dân, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, không nên nhẹ dạ cả tin, kiên quyết đấu tranh đập tan mọi ý đồ xuyên tạc, vu khống của các đối tượng xấu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

HÃY BÀY TỎ LÒNG YÊU NƯỚC ĐÚNG CÁCH


Trong mỗi người con dân đất Việt, hầu như ai cũng mang trong mình một tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đất nước. Điều quan trọng là mỗi người cần thể hiện tình yêu nước sao cho đúng cách, đúng lương tâm trách nhiệm của một công dân chân chính.

TỈNH TÁO TRƯỚC NHỮNG ÂM MƯU ĐEN TỐI CỦA CÁC PHẦN TỬ XẤU

Thời gian qua, đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, lợi dụng lòng yêu nước nhưng nhận thức còn mơ hồ của một bộ phận người dân, một số đối tượng xấu đã lên mạng xã hội kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân xuống đường, biểu tình. Chưa dừng lại ở đó, những phần tử cơ hội chính trị, bất đồng chính kiến còn đưa ra cái gọi là “thông điệp mạnh mẽ của người dân lên án thái độ ươn hèn và phản ứng nhu nhược của Đảng, Nhà nước trước hành động ngang ngược vi phạm chủ quyền Việt Nam của Bắc Kinh”(!).

Thực ra không phải bây giờ, mà những năm gần đây, lợi dụng vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã kích động một bộ phận người dân xuống đường biểu tình, tuần hành mà thực chất là nhằm gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân. Tháng 5-2014, lợi dụng việc Trung Quốc hạ giàn khoan dầu Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển Việt Nam, các phần tử xấu đã xúi giục, lôi kéo, kích động người dân, công nhân xuống đường đi tuần hành, biểu tình trái pháp luật. Một số người dân quá khích xông vào đập phá tài sản của một số doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, gây thiệt hại về kinh tế.

Trước hết phải khẳng định rằng, việc Trung Quốc mới đây đưa tàu thuyền vào bãi Tư Chính thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam là trái với luật pháp quốc tế.

KHÔNG ĐỂ LÒNG YÊU NƯỚC BỊ LỢI DỤNG

Trước những vấn đề hệ trọng của đất nước, việc người dân bày tỏ quan điểm, thể hiện lòng yêu nước là rất đáng trân trọng. Chỉ đáng tiếc, trong khi đa số người dân đã thể hiện thái độ bình tĩnh, đúng mực, vẫn còn một số người do thiếu thông tin hoặc bị xúi giục, lôi kéo, kích động nên đã bị cuốn theo “tâm lý đám đông” tiêu cực, rồi bày tỏ lòng yêu nước thái quá, không phù hợp với lợi ích quốc gia dân tộc.

Lòng yêu nước của nhân dân ta, như Bác Hồ từng khẳng định “đó là một truyền thống quý báu của ta”. Nhưng truyền thống quý báu đó chỉ thực sự phát huy tác dụng khi mỗi người dân thể hiện lòng yêu nước đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ; không có bất cứ thái độ, cử chỉ, hành vi nào làm tổn thương đến hình ảnh đất nước, phương hại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Người dân có lòng yêu nước chân chính không thể đi tuần hành rầm rộ gây cản trở giao thông, xông vào đập phá trụ sở chính quyền, ném gạch đá vào lực lượng công an đang thực thi nhiệm vụ, dọa “đốt” công ty… như từng xảy ra ở tỉnh Bình Thuận và một số địa phương phía Nam trong tháng 6-2018.

Để lòng yêu nước chân chính của nhân dân không bị lợi dụng, các cấp ủy, chính quyền cần làm tốt hơn nữa công tác dân vận, tăng cường biểu dương, khen thưởng, nhân rộng gương người tốt, việc tốt; đồng thời, chú trọng nắm bắt dư luận xã hội để kịp thời giải quyết những nguyện vọng chính đáng của dân. Hiện nay, trình độ dân trí ngày càng tăng, nhu cầu của các tầng lớp nhân dân cũng ngày càng cao và đa dạng. Sự bùng nổ thông tin, nhất là thông tin trên mạng xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm, lối sống, ứng xử… của các thành phần trong xã hội, nhất là giới trẻ. Điều này đặt ra yêu cầu, trách nhiệm đối với đội ngũ cán bộ cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp cơ sở phải chủ động, tăng cường gặp gỡ, đối thoại, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân để thu hẹp những khoảng cách bất đồng, tháo gỡ mâu thuẫn, tìm biện pháp giải quyết và bảo đảm lợi ích tối ưu cho người dân.

ĐỂ “CÁI TÔI” YÊU NƯỚC HÒA VÀO “NHỊP ĐẬP CHUNG” CỦA CỘNG ĐỒNG

Đất nước ta đã trải qua mấy chục năm chiến tranh đau thương, mất mát. Chúng ta giành được hòa bình, độc lập, thống nhất non sông như hôm nay phải đánh đổi bằng bao xương máu của thế hệ cha anh. Nhiều năm qua, Việt Nam được dư luận thế giới đánh giá là một đất nước có nền chính trị ổn định, là điểm đến thân thiện, an toàn của hàng triệu du khách quốc tế và là một trong những nước có môi trường đầu tư hấp dẫn. Những đánh giá, ca ngợi đó thể hiện sự khâm phục, ngưỡng mộ của bạn bè thế giới dành cho nhân dân ta, đồng thời cũng là một cách tôn vinh hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Vậy nên, không có lý do gì để chúng ta lại làm cho hình ảnh đất nước bị tổn thương, tình hình xã hội thêm phức tạp chỉ vì những lời dụ dỗ, kích động bởi những kẻ quá khích, bất mãn, những phần tử cơ hội chính trị, phản động. Trước những thông tin hoài nghi, trước những lời tuyên truyền mị dân của các phần tử xấu, người dân cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo nhận diện đâu là đúng - sai, phải - trái, chính - tà, thật - giả, thiện - ác để không bị mắc mưu, “sập bẫy”. Hãy biết trân trọng lịch sử cách mạng của ông cha ta, hãy biết nâng niu những giá trị hòa bình mà chúng ta đang có, hãy bày tỏ tình yêu quê hương đất nước bằng những thái độ, hành vi ứng xử chuẩn mực, hợp đạo lý, đúng pháp luật.

Lo lắng cho vận mệnh đất nước cũng là một biểu hiện của tinh thần yêu nước. Nhưng thời gian gần đây, cũng có một số người lo lắng đến mức chỉ biết ngồi “khóc lóc”, than thở, hoài nghi… thì lại là một thứ “yêu nước suông”! Cũng không nên “bày tỏ tình yêu nước” bằng cách suốt ngày chỉ ngồi bên bàn phím để “than thân trách phận”, đổ lỗi, chỉ trích, mong muốn xã hội thế này, đòi hỏi đất nước phải thế kia… trong khi hàng triệu người dân đang cần mẫn lao động hăng say ở khắp mọi miền đất nước và hàng vạn chiến sĩ đang ngày đêm đổ mồ hôi trên thao trường huấn luyện và làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác giữ gìn biên cương, biển, đảo, lãnh thổ Tổ quốc.

Thật ra, đã sống trong cuộc đời này, ai cũng có quyền bày tỏ tình yêu quê hương, đất nước. Bởi đó là một tình cảm tự nhiên, không thuộc quyền sở hữu của bất cứ giai cấp, thành phần nào trong xã hội. Nhưng yêu nước không có nghĩa là cứ hô hào, kêu gọi, cổ xúy người khác phải tụ tập đông người nhằm thị uy, tạo sức ép không đáng có đối với chính quyền và các cơ quan chức năng.

Tình yêu nước không phải là điều gì đó quá cao siêu, mà đôi khi bắt đầu bằng suy nghĩ giản dị là hiểu những gì mình đang có, những quyền lợi mình đang được thụ hưởng và cố gắng làm tốt công việc của mình; đồng thời, làm tròn bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Ở chiều sâu hơn, đó là sự cảm thông, chia sẻ với những khó khăn, thách thức mà đất nước đang phải gồng mình vượt qua và luôn tự nhắc nhở mình cần phải làm gì để chung tay góp sức với cộng đồng, nỗ lực vượt lên những thử thách ấy.

Tình yêu nước của mỗi người chỉ thật sự có giá trị khi biết khơi nguồn, lan truyền cảm hứng tình cảm thân thương của mình cho người khác và cộng đồng. Yêu nước vừa là “cái chung” của mọi người, vừa là “cái riêng” của mỗi con người. Và tình yêu nước chân chính chỉ thể hiện đúng mực, đúng lúc, đúng chỗ khi “cái tôi” yêu nước của mỗi người luôn biết bắt nhịp, hòa chung với “cái tôi” yêu nước của cộng đồng, của mọi người trong xã hội./.

 

XUNG LỰC MỚI CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI


Sau 7 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ, trách nhiệm, sáng 8-10, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

Thành công của hội nghị minh chứng cho ý chí, quyết tâm rất cao của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lãnh đạo, chỉ đạo, giải quyết những vấn đề lớn, hệ trọng, nhằm tạo động lực mới, xung lực mới thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương đã đề cao trí tuệ, trách nhiệm; tập trung thảo luận nhiều nội dung thể hiện sâu sắc quyết tâm đổi mới đồng bộ các nhân tố, thành tố của công cuộc đổi mới.

Trong đó, Trung ương tập trung giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế; giữa phát triển kinh tế với bảo đảm chính sách an sinh xã hội; giữa thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa xây dựng đội ngũ cán bộ, phát triển lực lượng trí thức của đất nước với bảo đảm chế độ, chính sách, nhất là hiện thực lộ trình cải cách tiền lương mới; việc phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ với phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc... Tất cả phần việc đó thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Ban Chấp hành Trung ương trong việc vận dụng sáng tạo lý luận nền tảng vào thực tiễn cách mạng mới.

Với tinh thần trách nhiệm rất cao trước Đảng, trước nhân dân, Ban Chấp hành Trung ương tập trung thảo luận, tổng kết nhiều nghị quyết quan trọng được ban hành từ các nhiệm kỳ trước. Kết quả tổng kết minh chứng rằng, các nghị quyết của Đảng đã hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, sát với thực tiễn và nhiều nội dung còn nguyên giá trị ở thời điểm hiện tại.

Qua tổng kết, Trung ương kịp thời nhận diện khó khăn, vướng mắc để có giải pháp tháo gỡ, khắc phục hiệu quả. Đó cũng là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương lãnh đạo trong thời gian tới.

Việc tiến hành đánh giá, tổng kết nghị quyết cũng là dịp nghiêm túc rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và các chương trình, đề án, dự án tổ chức thực hiện của Chính phủ, các địa phương và cơ quan liên quan, đặc biệt là việc huy động nguồn lực, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội đất nước trong những năm còn lại của nhiệm kỳ Đại hội XIII với tinh thần bứt tốc cán đích các chỉ tiêu, mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Không chỉ thống nhất ban hành những chủ trương lãnh đạo đúng đắn, thể hiện trí tuệ và tầm nhìn của Đảng, vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, Trung ương còn dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ thực hiện quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ 2026 - 2031 là bước khởi đầu quan trọng của quá trình xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược của Đảng trong thời kỳ cách mạng mới.

Cùng với đó, Ban Chấp hành Trung ương còn quyết định thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng; bầu bổ sung nhân sự Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương; xem xét, thi hành kỷ luật cán bộ... Đây là những phần việc hệ trọng nhằm chuẩn bị kỹ lưỡng cho Đại hội Đảng nhiệm kỳ kế tiếp.

Với ý nghĩa to lớn của hội nghị, để nhanh chóng thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, trước hết, các cấp ủy, trực tiếp là bí thư cấp ủy cần nhận thức đúng, quyết tâm cao, nghiêm túc tổ chức học tập, quán triệt một cách sáng tạo, thực chất.

Trong đó, người đứng đầu, cán bộ chủ trì phải thực hành nêu gương ngay chính từ việc học tập, triển khai nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương lần này; đồng thời có giải pháp phát huy sức mạnh đoàn kết trong Đảng, hệ thống chính trị, làm cơ sở phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu thực hiện thắng lợi các chủ trương, giải pháp vừa được ban hành.

Trong đó, đối với các chủ trương, giải pháp xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức, cần phổ biến, quán triệt, nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm của toàn xã hội. Qua đó hình thành, xây dựng một xã hội học tập rộng khắp, thực chất; kết hợp với xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách khuyến học, khuyến tài, trọng dụng hiền tài, trí thức...

Đối với nhiệm vụ trọng yếu là bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để từng cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận thức rõ trách nhiệm công dân đối với nhiệm vụ thiêng liêng này. Bảo vệ Tổ quốc cần được thực hiện với sự tham gia của mọi lực lượng, giai tầng xã hội; hiện thực bằng tư duy mới, với nội hàm bảo vệ Tổ quốc bao quát, rộng lớn hơn. Trong điều kiện mới, phải thực hiện bảo vệ Tổ quốc cả trên thực địa, trên không gian mạng và cả ngoại giao quốc tế...; cần nhất quán bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; đồng thời nỗ lực góp phần quan trọng vào việc bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; được nhân dân đùm bọc, yêu thương, trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, cường thịnh.

Trong điều kiện mới, quán triệt, triển khai các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 8, khóa XIII, cán bộ, đảng viên, quần chúng trong Đảng bộ Quân đội nguyện đem hết tài năng, trí tuệ, gương mẫu đi đầu trong triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao phó./.

 

TRƯỚC HẾT PHẢI TỰ PHÊ BÌNH


Phát biểu tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở: Hết sức tránh tình trạng “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” để cảnh báo, phòng ngừa "căn bệnh" rất đáng lo ngại này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đây vừa là một biểu hiện, đồng thời là một trong những nguyên nhân dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"...

Thời gian qua, cùng với những kết quả quan trọng của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không ít cán bộ, đảng viên, có cả người đứng đầu các cấp bị kỷ luật, xử lý hình sự. Đáng nói là trong đó có một số cán bộ lúc đương chức nổi tiếng với những phát ngôn mạnh mẽ, quyết liệt trong chỉ đạo, răn dạy cấp dưới và quần chúng phải phấn đấu sống tốt, nỗ lực cống hiến, tránh bị cám dỗ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân dẫn đến sai phạm, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Thực tế, có không ít cán bộ khi chưa bị phát hiện sai phạm đã hùng hồn rao giảng: Cán bộ, đảng viên, công chức phải làm việc vì dân, không được tham nhũng, tiêu cực; phải tuân thủ các giá trị đạo đức cách mạng, đạo đức công vụ; phải ra sức học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thông qua những việc làm thiết thực, cụ thể để nêu gương trước quần chúng... Thế nhưng, sau đó không lâu, những cán bộ này bị pháp luật "sờ gáy" với hàng loạt sai phạm ở thời điểm trước khi phát ngôn hay ở ngay lúc đang hùng hồn phát biểu dạy dỗ cấp dưới. Những cá nhân này đã thể hiện sự liêm chính giả tạo để lấp liếm, che giấu dư luận và tổ chức. Thậm chí, họ còn rốt ráo chỉ đạo thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm cán bộ, nhân viên cấp dưới với những vi phạm mà chính mình cũng đang mắc phải theo kiểu “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”.

Dư luận không khỏi bức xúc trước những người đầy rẫy thói hư tật xấu nhưng không tự sửa mình mà lại cứ săm soi, đánh giá, phán xét, giáo dục, lên lớp người khác. Theo Thiếu tướng, Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thái, nguyên Phó cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử công an, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Công an nhân dân: “Nếu chân tay đã vấy bùn mà còn tiếp tục đi giáo dục người khác là anh không thể làm gương; che giấu khiếm khuyết của mình, dối trá để đi dạy người khác là không thể chấp nhận được. Cán bộ như thế mà “soi” người khác thì không thể hiệu quả, nhiều khi bị phản ứng trở lại”. Đặc biệt, khi trong hàng ngũ có nhiều cán bộ rơi vào tình trạng như thế thì rất dễ dẫn đến gây mất niềm tin cho cấp dưới và quần chúng, vì người không tốt mà lại săm soi, phê bình, lên lớp người khác thực chất là “nói một đằng, làm một nẻo”, nói mà không làm hoặc nói đúng, nói hay nhưng làm sai, làm dở.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “căn bệnh” này, nhưng nguyên nhân căn bản nhất xuất phát từ sự rèn luyện không thường xuyên, liên tục, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, sinh ra những thói hư tật xấu, thiếu gương mẫu, làm ảnh hưởng đến đồng nghiệp, đồng đội và tập thể. Cũng có người bị những cá nhân không trong sáng lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc... dẫn đến tha hóa, tìm cách hạ uy tín của người khác. Thực tế cũng có người chạy chức, chạy quyền, khi leo đến vị trí quyền lực thì ra oai bằng cách rao giảng, phán xét, áp đặt ý kiến chủ quan đối với cấp dưới và những người xung quanh, thậm chí lạm dụng quyền lực để hạ bệ người khác. Nhiều trường hợp sự soi mói, phán xét áp đặt chủ quan lại xuất phát từ lòng đố kỵ, ghen tức nên tìm cách nâng mình, hạ người... Những người mắc "căn bệnh" này sẵn sàng “bới lông tìm vết”, phê bình, nói xấu người khác theo kiểu “thầy bói xem voi”, xuyên tạc, suy diễn, thêu dệt đủ chuyện...

Hiện tượng tiêu cực trên gây ra hậu quả lớn cho các cá nhân, tổ chức. Những người “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” khiến đồng chí, đồng nghiệp bất bình, bức xúc. Tập thể cơ quan, đơn vị nào có cán bộ như vậy dễ sinh ra mất đoàn kết, nếu người đứng đầu có tính xấu như vậy sẽ làm triệt tiêu tính đấu tranh tự phê bình và phê bình, dẫn đến tình trạng cấp dưới chán nản, có tư tưởng tiêu cực, người tốt không được ghi nhận có thể dẫn đến bất mãn, "tự diễn biến"; tạo môi trường thuận lợi cho những “con lươn”, “con chạch”, những kẻ xu nịnh, bè phái, yếu năng lực nhưng giỏi "quan hệ” tác oai tác quái. Hệ lụy nguy hiểm nhất là những cán bộ "nói một đằng, làm một nẻo", nói hay, làm dở khiến quần chúng nhân dân bức xúc, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên; thậm chí tạo ra tâm lý nghi ngờ những phát ngôn mạnh mẽ, hành động quyết liệt của những người đứng đầu thực sự có phẩm chất, năng lực tốt.

“Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người” được người xưa đúc kết nhằm phê phán thói xấu soi mói người khác trong khi chính mình có rất nhiều tật xấu mà không chịu sửa đổi; ngụ ý khuyên mọi người nên sửa mình trước, mình có thực sự tốt thì phê bình, nhắc nhở người khác mới hiệu quả. Ngược lại, nếu người không tốt mà lại lên lớp, phê bình người khác thì sẽ phản tác dụng.

Lịch sử đã chứng minh, quy luật tồn tại, phát triển và nguyên tắc sinh hoạt của Đảng là tự phê bình gắn với phê bình. Bất kỳ tổ chức nào, nếu chỉ có phê bình mà không có tự phê bình thì chắc chắn sẽ suy yếu, mất đoàn kết, tan rã. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Phê bình mình cũng như phê bình người, phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, thâm độc. Phê bình việc làm, chứ không phải phê bình người”. Người thường đặt mệnh đề “tự phê bình” lên trước, với hàm ý “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, bản thân phải gương mẫu mới nói được người khác.

Để không mắc bệnh “Chân mình còn lấm bê bê, lại cầm bó đuốc đi rê chân người”, trước hết, các cấp ủy, tổ chức đảng phải tăng cường giáo dục, nhắc nhở, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức thật sâu sắc, đầy đủ hàm ý của lời răn dạy này; quán triệt, thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng. Đồng thời, phải duy trì thực hiện nghiêm túc các chế độ, nguyên tắc sinh hoạt đảng; có biện pháp nhắc nhở, định hướng, yêu cầu đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình. Đặc biệt, cấp ủy, thủ trưởng cấp trên phải thường xuyên quan tâm kiểm tra, giám sát, có biện pháp để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, yêu cầu cán bộ chủ trì, chủ chốt cấp dưới phải thực hiện đúng nguyên tắc tự phê bình gắn với phê bình, bảo đảm chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, thực sự nêu gương trước quần chúng. Việc thực hành nêu gương phải được đặc biệt chú trọng, bảo đảm nói đi đôi với làm, người đứng đầu làm trước, nêu gương trước. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm, cán bộ không nêu gương, tung tin đồn xuyên tạc, nói xấu người khác hoặc gửi đơn thư tố cáo sai sự thật, nặc danh, mạo danh...

Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức cần quan tâm xây dựng môi trường làm việc, sinh hoạt văn hoá, văn minh, đoàn kết; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch những nội dung công việc, chế độ, chính sách theo đúng quy định để tạo sự đồng thuận, thông suốt về tư tưởng, không còn những "khoảng tối", mập mờ tạo cơ hội cho tính xấu nảy sinh./.

 

ĐỪNG CỐ TÌNH XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM


Sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam và việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện, một số tổ chức, cá nhân thù địch phát tán nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, đả kích đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam đang “bài Trung, thoát Nga, ngả Mỹ”. Họ tiếp tục cho rằng chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước Việt Nam là sai lầm, nếu tiếp tục kiên định chính sách này Việt Nam sẽ “bị cô lập” trong cộng đồng quốc tế.

Chúng ta chẳng lạ gì luận điệu đã cũ rích này. Lâu nay, trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, đối ngoại là lĩnh vực trọng điểm mà các thế lực thù địch, phản động nhằm vào để chống phá. Không chỉ phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại mà bằng nhiều thủ đoạn, họ mưu toan gia tăng tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; kích động chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng; phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của Nhân dân Việt Nam; hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Cần phải khẳng định rằng những luận điệu ấy là vô căn cứ, trắng trợn xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách đối ngoại quốc phòng của Việt Nam. Nhưng dù bằng luận điệu, chiêu trò gì chăng nữa các tổ chức, cá nhân thù địch cũng không thể xuyên tạc được sự thật. Những gì đã và đang diễn ra trong quan hệ ngoại giao nói chung và đối ngoại quốc phòng của Việt Nam nói riêng đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái đó.

Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không”: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đường lối đối ngoại của đất nước, phù hợp với lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc cũng như tình hình thực tiễn của Việt Nam. Quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ. Bài học “Dựa vào sức mình là chính”, “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”… vẫn còn nguyên giá trị. Từ thực tiễn lịch sử, Việt Nam cho rằng bảo vệ Tổ quốc phải bằng sức mạnh nội lực, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại chứ không thể dựa vào bất kỳ liên minh quân sự hay hiệp ước quân sự nào và càng không thể trông chờ, ỷ lại vào bất cứ một quốc gia nào. Sẽ là không phù hợp và sai lầm nếu Việt Nam ngả theo bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không “bài” nước này, “thoát” nước nọ, “ngả” nước kia mà luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, công lý và lẽ phải, bảo vệ Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ) và những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm lược hơn ai hết Việt Nam hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Việt Nam không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác. Bởi nếu làm như vậy thì rất dễ biến đất nước mình trở thành mục tiêu tiến công của các thế lực thù địch, khó tránh khỏi nguy cơ bị lôi kéo vào xung đột, chiến tranh. Mặt khác, Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình. Với Việt Nam quốc phòng tối ưu là không phải tiến hành chiến tranh. Việc không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống lại nước khác còn thể hiện rõ thiện chí của Việt Nam trong việc giữ gìn, xây dựng và thúc đẩy hoà bình trên thế giới.

Trong giải quyết các vấn đề của quan hệ quốc tế, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ... bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ.

Thực tiễn đã chứng minh chủ trương, chính sách đối ngoại quốc phòng “bốn không” là giải pháp hiệu quả để Việt Nam bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích quốc gia, dân tộc. Công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam những năm qua không ngừng mở rộng và thúc đẩy mạnh mẽ. Công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng giữ vai trò tiên phong trong việc tạo lập quan hệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa mọi nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao nhà nước với 193 trong tổng số 200 quốc gia trên toàn thế giới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với hơn 100 nước và tổ chức quốc tế, trong đó có đầy đủ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an LHQ và tất cả các nước lớn là đối tác chủ chốt, quan trọng. Từ tháng 6-2014 đến nay, Việt Nam đã cử 533 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tham gia gìn giữ hòa bình LHQ và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước, nhân dân ghi nhận, đồng tình ủng hộ và LHQ cùng cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Những thành quả đó góp phần khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng được thúc đẩy mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực phù hợp với nhu cầu, khả năng của Việt Nam cũng như các đối tác và được xác định là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Một trong những kênh đối ngoại quan trọng hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam đó là đối ngoại quốc phòng…

Thực tế đó đã chứng tỏ chẳng những không hề bị cô lập, mà ngược lại quan hệ đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả. Điều đó mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột, chiến tranh, duy trì hòa bình, ổn định, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và quốc phòng Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những diễn biến mới của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ của công tác đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

Như vậy có thể thấy chủ trương, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là rất rõ ràng, minh bạch, phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế chung của thế giới. Những gì được Đảng Cộng sản Việt Nam nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII thêm một lần nữa khẳng định việc thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là hoàn toàn đúng đắn và Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện chính sách này trong những năm tiếp theo.

Nếu ai đó nói rằng Việt Nam “bài”, “thoát” nước này, “ngả” theo nước kia, chính sách quốc phòng “bốn không” là “sai lầm”, Việt Nam sẽ “bị cô lập” nếu kiên trì thực hiện chính sách này… thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm động cơ chính trị và mưu đồ đen tối. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh, phản bác, loại bỏ những luận điệu sai trái, vô căn cứ ấy ra khỏi đời sống trong nước và quan hệ hợp tác quốc tế.

 


 

 

 

MUỐN HƯỞNG TRÁI HÒA BÌNH, PHẢI BẢO VỆ CÂY ĐỘC LẬP

“Dĩ bất biến” trong kiên định đường lối, mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình và “ứng vạn biến” bằng sách lược mềm dẻo, phương thức linh hoạt, đối phó hiệu quả với sự biến động phức tạp của tình hình; sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng; với mọi âm mưu, thủ đoạn, tình huống của các thế lực thù địch, phản động, nhằm đạt mục tiêu cao nhất.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại thành công và sự ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mở ra một trang vàng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không những giúp nhân dân Việt Nam chấm dứt kiếp nô lệ, lầm than mà còn mang lại độc lập, tự do; xác lập vị thế mới để đất nước tiếp tục vượt qua những thách thức thời đại, ngày càng phát triển như hôm nay. Thế mà, bằng những luận điệu xét lại lịch sử, 74 năm trôi qua, đây đó vẫn có những kẻ cơ hội chính trị muốn xuyên tạc, đổi trắng thay đen hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

"BÌNH CŨ RƯỢU MỚI" CỦA NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ

Họ lu loa rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công thực chất là “cuộc đảo chính của cộng sản Việt Nam” hoặc hằn học cho rằng thắng lợi đó chỉ là “sự ăn may”(!). Vậy, sự thật có phải như họ xuyên tạc không? Họ tỏ ra thông thái, phân tích lại thời cuộc, rằng: “Nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không phát động Cách mạng Tháng Tám và Toàn quốc kháng chiến thì chúng ta sẽ tránh được cuộc chiến tranh, tại sao không theo cách của nhiều nước sau này vẫn giành được độc lập, ít hao tổn xương máu!”.

Họ phủ nhận, xúc phạm sự hy sinh xương máu của bao thế hệ, lập lờ rằng: Từ sau cuộc đảo chính của Nhật (ngày 9/3/1945), Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng không còn là thuộc địa của Pháp, mà là thuộc địa của Nhật. Trong khi đó, phát xít Nhật đã bị quân Đồng minh đánh cho tơi tả, phải chịu thất bại thảm hại và tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Như vậy, ở Đông Dương xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, cho nên cách mạng chỉ cần nổ ra là giành thắng lợi và “Cách mạng Tháng Tám là một sự ăn may”.

Đặc biệt, gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, những người có tâm địa không tốt tiếp tục bóp méo, nhào nặn thông tin “rượu cũ” trong chiếc “bình mới”, xuyên tạc đường lối, quan điểm và thực tế bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Họ xuyên tạc, cho rằng Việt Nam nhu nhược, thiếu đường lối chiến lược. Họ khuyến nghị phải xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, liên minh, liên kết với các cường quốc, thực hiện đa đảng thì mới phát huy được sức mạnh toàn dân tộc và sức mạnh quốc tế để đủ sức bảo vệ Tổ quốc. Từ đó, họ kêu gọi phải thực hiện các cuộc tổng biểu tình, tiến hành cách mạng đường phố để “làm một cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai” đi tới lật đổ chế độ XHCN.

LỚP PHẨM MÀU DỐI TRÁ KHÔNG THỂ XÓA NHÒA HIỆN THỰC VIẾT BẰNG MÁU

Luận điệu "Cách mạng Tháng Tám là cuộc đảo chính của cộng sản Việt Nam" chỉ là sự “nhai lại” những lời gian trá cũ rích từ 74 năm trước, khi Cách mạng Tháng Tám mới thành công của các thế lực thù địch lúc bấy giờ. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam xuất bản năm 1995: “Đảo chính là thủ đoạn tranh giành quyền lực thống trị bằng sử dụng áp lực quân sự hoặc các áp lực khác trái với thể chế pháp luật hiện hành, lật đổ chính quyền đương nhiệm một cách bất thường và thiết lập chính quyền nhà nước khác trong khuôn khổ chế độ xã hội cũ”. Việc coi Cách mạng Tháng Tám là “cuộc đảo chính” hòng xuyên tạc trắng trợn bản chất của một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trong Nghị quyết tại Hội nghị cán bộ Bắc Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 10 và 11/9/1945, Đảng ta khẳng định: Nhật đầu hàng, điều kiện khách quan và chủ quan đầy đủ cho một cuộc cách mạng chín muồi (nền móng của phát xít hoàn toàn tan rã, đại đa số quần chúng đã nghiêng về cách mạng, đội tiền phong cương quyết và hy sinh).

Cuộc khởi nghĩa hoàn toàn thắng lợi là do kết quả của bao cuộc đấu tranh trong nhiều thập niên đổ máu, chứ không phải một cuộc đảo chính đơn giản. Những luận điệu xuyên tạc trên như lớp phẩm màu dối trá không thể xóa nhòa được lịch sử đấu tranh khốc liệt đã được cả dân tộc Việt Nam viết nên bằng máu.

Về luận điệu không cần chiến tranh, có thể dùng biện pháp khéo léo tránh chiến tranh mà vẫn giữ được độc lập, phát triển thì chính các nhà nghiên cứu nước ngoài cũng nhiều lần bác bỏ. Nhà sử học Pháp Philip Deville đã nhận định: “Trong khi máy bay, xe tăng và binh lính Pháp ùn ùn kéo đến Việt Nam để chuẩn bị xâm lược thì chỉ có một dân tộc cam chịu để mình bị cắt cổ, chỉ có một dân tộc ươn hèn, thực sự phản bội dân tộc mình mới không chuẩn bị gì, không hành động gì để chống lại”.

Hiện thực và bài học lịch sử chứng minh, không thể giành độc lập bằng cách ngồi chờ giặc rủ lòng thương. Trong điều kiện dân tộc Việt Nam bị đọa đày, đau khổ dưới ách áp bức thống trị của chế độ thực dân, phong kiến, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi, từ lập trường Cần Vương đến xu hướng tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bằng cương lĩnh, đường lối đúng đắn, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế lúc bấy giờ, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới. 

Sau này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có đánh giá hết sức khách quan: “Suốt trong 80 năm nước ta bị Pháp chiếm, nhân dân ta từ Nam đến Bắc đã nhiều lần nổi dậy chống giặc ngoại xâm. Nhưng vì bọn vua quan hèn mạt, câu kết với địch, phản nước hại dân, cho nên các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Cách mạng Nga thành công đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, dạy cho họ cách tổ chức, đấu tranh và giành thắng lợi. Nhờ vậy mà ta có Đảng tiên phong, có Mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do, làm Cách mạng Tháng Tám thắng lợi”.

MUỐN HƯỞNG TRÁI HÒA BÌNH, PHẢI BẢO VỆ CÂY ĐỘC LẬP

Cách đây ít ngày, Nguyễn Linh-một bạn trẻ ham thích dùng mạng xã hội vừa viết bài phê phán các hiện tượng nhận thức lệch lạc vừa quảng bá bán sản phẩm mật ong rừng của quê hương Hà Tĩnh đã có chuyến đi về Bình Dương. Linh bắt gặp hình ảnh trụ sở của một doanh nghiệp bề thế nay chỉ là ngôi nhà hoang nằm chỏng chơ, tường đen sì-dấu tích cuộc đốt phá của những người biểu tình nhân danh “yêu nước” vào mùa hè cách đây 5 năm. 5 năm đã trôi qua mà công ty này vẫn chẳng thể quay lại hoạt động bình thường, tòa nhà bề thế cũng chưa được sửa sang lại.

Đó chỉ là một ví dụ nhỏ cho thấy thiệt hại, sự nguy hiểm của những âm mưu kích động, phá hoại. Ngày nay, chúng ta đang thừa hưởng giá trị của hòa bình-độc lập thực sự là thành quả vĩ đại do Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc đem lại. Đó là khát vọng, là thành quả của dân tộc Việt Nam mà chúng ta phải kiên trì bảo vệ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời phỏng vấn nhà báo người Anh Phê-lích Gơ-rin ngày 18/11/1965 đã khẳng định: “Nhân dân Việt Nam rất muốn có hòa bình để xây dựng đất nước. Nhưng muốn có hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự”; và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình. Sự đấu tranh ấy là thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi người dân đất Việt nhưng phải đặt trong con đường, mục tiêu, cách thức chung của đất nước, cộng đồng, trong sách lược và chiến lược của Đảng, Nhà nước. Yêu nước mà thiếu sự tỉnh táo, sa bẫy lôi kéo của các thế lực phản động, cơ hội thì chẳng khác gì rút lông ngỗng trên con đường phát triển của đất nước.

Những lời kêu gọi “một cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai” cho thấy những âm mưu phá hoại nền hòa bình, độc lập vĩ đại của đất nước ta vẫn luôn được kẻ thù rắp tâm thực hiện. Nhưng nó chỉ đánh lừa, gây dao động một bộ phận rất ít người suy nghĩ non nớt, lệch lạc.

Dân tộc này, đất nước này đã trải qua biết bao hy sinh, biết bao máu và nước mắt để có nền hòa bình, độc lập hôm nay. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà kỳ nghỉ 2/9 hằng năm giờ đây được nhiều nơi gọi là Tết Độc lập. Từ “Tết” tự thân nó khiến người ta nghĩ đến cái Tết cổ truyền của cả dân tộc. Giá trị độc lập trở thành thiêng liêng, vĩnh hằng, niềm vui độc lập sau 74 năm như lắng sâu hơn, để những người đang sống hôm nay coi như một cái Tết thứ hai của mỗi người dân đất Việt. Theo đó, những kẻ cơ hội chắc sẽ thấy xấu hổ vì nếu họ phát động cái gọi là "cuộc Cách mạng Tháng Tám lần thứ hai" thì mục tiêu của cuộc “cách mạng” ấy là gì, phục vụ ai, đem lại lợi ích cho ai, do ai lãnh đạo? Ai đủ tâm, tầm, trí hơn Đảng Cộng sản Việt Nam-tổ chức của bao triệu người đã hy sinh, phấn đấu vì dân, vì nước từ khi ra đời đến nay?

Cách đây ít lâu, trả lời báo chí, một đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng khẳng định: Chúng ta đã chiến đấu và chiến thắng để giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Chúng ta đánh để có hòa bình, cho nên chúng ta rất coi trọng những yếu tố, nhân tố để có được hòa bình. Thứ nhất, chúng ta giữ hòa bình, hữu nghị với những nước bạn bè. Thứ hai, hòa bình, hữu nghị để tranh thủ nhận được sự ủng hộ của các quốc gia khác trên thế giới đối với sự nghiệp xây dựng đất nước của chúng ta. Thứ ba, kể cả đối với đối tượng đối nghịch, chúng ta bao giờ cũng sẵn sàng hòa bình nếu họ tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, từ bỏ ý chí xâm lược nước ta. Chủ trương nhất quán của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xác định nhiệm vụ chung là bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ độc lập, bảo vệ chủ quyền của đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, trong đó tập trung bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân; bảo vệ hòa bình bền vững cho đất nước. Đây là 3 mục tiêu chung của bảo vệ Tổ quốc và là nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng, của quân đội.

Có lẽ, đó cũng chính là tinh thần “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” như lời quả quyết của Bác Hồ trong bản Tuyên ngôn Độc lập.

VẬN DỤNG SÁNG TẠO NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ

Trong một bài viết về Toàn quốc kháng chiến gần đây, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng chỉ rõ: Chúng ta luôn "quyết tâm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa", “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”; "... hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc và đối sách xử lý hiệu quả các tình huống và trong quan hệ đối ngoại; bảo đảm không bị động, bất ngờ về chiến lược, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa".

Nhận thức sâu sắc những bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Tám và các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Quân đội ta đã và đang thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong bảo vệ Tổ quốc.

“Dĩ bất biến” trong kiên định đường lối, mục tiêu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, môi trường hòa bình và “ứng vạn biến” bằng sách lược mềm dẻo, phương thức linh hoạt, đối phó hiệu quả với sự biến động phức tạp của tình hình; sự đan xen, chuyển hóa phức tạp giữa đối tác và đối tượng; với mọi âm mưu, thủ đoạn, tình huống của các thế lực thù địch, phản động, nhằm đạt mục tiêu cao nhất.

Chúng ta cũng xác định vừa hợp tác, vừa đấu tranh, theo tinh thần thêm bạn, bớt thù; giữ cân bằng, tận dụng tối đa quan hệ với các nước lớn, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi. Lấy đối ngoại quốc phòng làm công cụ quan trọng giải quyết tranh chấp, bất đồng, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia; tạo lợi thế chính trị trong mọi biến động của tình hình, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực.

Chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh trên cơ sở nắm vững, tận dụng luật pháp quốc tế, giữ vững chủ quyền lãnh thổ, không để xảy ra xung đột, chiến tranh; không để bạo loạn kéo dài, lan rộng; không sử dụng lực lượng vũ trang giải quyết mâu thuẫn nội bộ nhân dân, mắc mưu khiêu khích, tạo cớ cho thế lực thù địch can thiệp quân sự; không để thế lực có tham vọng lãnh thổ lợi dụng hoặc thỏa hiệp với thế lực thù địch…/.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HỒ CHÍ MINH: “CẤT NHẮC CÁN BỘ, KHÔNG NÊN LÀM NHƯ GIÃ GẠO”!

     Trong quá trình sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng, lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ và việc sử dụng, bố trí cán bộ.
Trước hết, Hồ Chí Minh xác định rõ tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong bộ máy của Đảng, của cách mạng. Ngày 20-7-1947, trong bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt”. Vì vậy, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, mong muốn Đảng phải có đội ngũ cán bộ, “vừa hồng, vừa chuyên”, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân. Theo Người, muốn làm được như vậy cần phải có nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, đồng bộ để tạo ra sức mạnh tổng hợp thì mới có được đội ngũ cán bộ tốt. Hồ Chí Minh yêu cầu từng cán bộ phải tự giác rèn luyện phấn đấu để trưởng thành, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, coi đây là giải pháp quan trọng, cần thiết nhất. Đồng thời, Hồ Chí Minh chỉ rõ Đảng phải có sự quan tâm, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho cán bộ rèn luyện phấn đấu. Người dạy: “Thương yêu là giúp họ học tập thêm, tiến bộ thêm. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn sinh hoạt, ngày thường thì điều kiện dễ chịu, khi đau ốm được chăm nom, gia đình họ khỏi khốn quẫn…”. Người chỉ rõ: “Giúp đỡ - Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi họ đau ốm, phải có thuốc thang. Tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trong Đảng”. Hồ Chí Minh cũng đề nghị nhân dân cần quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ cán bộ một cách chân thành, thiết thực nhất. Cùng với hoan nghênh, biểu dương khen ngợi khi cán bộ làm tốt, ngay cả khi cán bộ có sai phạm, khuyết điểm thì nhân dân cũng cần đóng góp, phê bình để họ sửa chữa tiến bộ. Mục đích là để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của Đảng, xứng đáng là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đồng thời, Hồ Chí Minh đưa ra nhiều quan điểm, cách làm đúng đắn, phù hợp về việc sử dụng, bố trí cán bộ. Theo Hồ Chí Minh phải xác định động cơ, mục đích đúng, trong sáng khi sử dụng, bố trí cán bộ. Trong tác phẩm Sửa đối lối làm việc, tháng 10-1947, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “… cất nhắc cán bộ, phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái. Như thế công việc nhất định chạy. Nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng, Như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào”. Người cho rằng: “Cất nhắc cán bộ, không nên làm như giã gạo. Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên”. Người xác định: “Chọn người và thay người cũng là một vấn đề quan trọng trong việc lãnh đạo”. Người thẳng thắn vạch ra những hậu quả của việc bố trí, sử dụng không đúng cán bộ: “Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo. Như thế là rất có hại”.

Vì vậy, Hồ Chí Minh nhấn mạnh cần có đánh giá đúng về cán bộ, để “xem người ấy xứng với việc gì”, mà sử dụng, bố trí cho phù hợp, hiệu quả. Người phân tích kỹ, chỉ ra phương pháp, cách thức bố trí, sử dụng hoặc xử lý đối với cán bộ rất cụ thể, rõ ràng. Theo Người: “Ai mà hay khoe công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế, tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt”. Đối với những cán bộ “cậy mình là “công thần cách mạng”, rồi đâm ra ngang tàng, không giữ gìn kỷ luật, không thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ. Thế là họ kiêu ngạo, họ phá kỷ luật của Đảng, của Chính phủ”, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Cần phải mời các ông đó xuống công tác hạ tầng, khép họ vào kỷ luật, để chữa tính kiêu ngạo, thói quan liêu cho họ và để giữ vững kỷ luật của Đảng và của Chính phủ”. Người còn chỉ ra với “hạng người nói suông. Hạng người này tuy thật thà, trung thành, nhưng không có năng lực làm việc, chỉ biết nói suông” cũng cần phải rất chú ý khi bố trí, sử dụng họ.

Với quan điểm Đảng là người đầy tớ trung thành của nhân dân, cán bộ, đảng viên phải gần gũi, gắn bó với nhân dân, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không”. Người nhắc nhở phải kiên quyết tránh tình trạng: “Có những đồng chí còn giữ thói “một người làm quan cả họ được nhờ”, đem bà con, bạn hữu đặt vào chức này, việc kia, làm được hay không, mặc kệ. Hỏng việc, đoàn thể chịu, cốt là cho bà con, bạn hữu có địa vị là được” và “Tư túng - Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này, chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng, việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”.

Quán triệt, tiếp thu, thực hiện nghiêm túc tư tưởng, lời dạy của lãnh tụ Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành, phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác cán bộ với nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp tích cực, phù hợp, hiệu quả. Những thành công trong công tác cán bộ đã góp phần thiết thực giúp Đảng có được uy tín, sức mạnh lãnh đạo cách mạng thành công. 

Hiện nay, trước yêu cầu của thực tiễn cách mạng và công tác xây dựng Đảng, Đảng đang tiếp tục quan tâm, đổi mới, nâng cao chất lượng mọi mặt của công tác cán bộ, coi đó là khâu then chốt của then chốt như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 2-10-2023, tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, và thực hiện lời dạy của Bác, Đảng ta lâu nay luôn luôn xác định: Cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ; công tác cán bộ được xem là khâu then chốt trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”.
Toàn Đảng, từ các tổ chức Đảng đến mọi cán bộ, đảng viên của Đảng phải nỗ lực phấn đấu, đoàn kết thống nhất, phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm để cùng thực hiện tốt mục tiêu mà Đảng ta và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra: “Tất cả chúng ta, nhất là những người trực tiếp làm công tác tổ chức, cán bộ, phải có ý chí, quyết tâm cao, có tấm lòng trong sáng, có con mắt tinh đời, đừng “Nhìn gà hóa cuốc”!; “đừng thấy đỏ tưởng là chín”!
Môi trường ST.

SỰ BỊA ĐẶT, XUYÊN TẠC TRẮNG TRỢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM

     Dùng thủ đoạn phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc Hiến pháp Việt Nam tuy không phải là mới nhưng hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch. Trên trang “Thongluan-rdp.org’,với bút danh Lê Mạnh Tường đăng bài “Đảng cộng sản Việt Nam hãy chấm dứt thực thi bản Hiến pháp 2013!”. Trong bài viết, Y cho rằng:“Bản Hiến pháp đang có ở Việt Nam chủ trương chuyên chính vô sản; là độc tài toàn trị cộng sản; có nghĩa là các quyền tự do phải bị hạn chế ở mức tối thiểu nhất và thậm chí một số quyền còn bị cấm chỉ”. Đây là một luận điệu xuyên tạc trắng trợn, ngang nhiên chống phá Đảng, Nhà nước và Hiến pháp Việt Nam.

    Thứ nhất, Lê Mạnh Tường cần hiểu rằng, Hiến pháp Việt Nam là văn kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam; nhân tố bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội và chủ quyền quốc gia, thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Hiến pháp năm 2013, được kế thừa và phát triển từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 2013, được xây dựng trên cơ sở cách tiếp cận quyền con người; đã đề cập toàn diện các quyền con người và cách thức tổ chức bộ máy bảo đảm và bảo vệ quyền con người. Trước khi Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua, đã được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi toàn dân, bằng nhiều hình thức phong phú, cả ở trong nước và ở nước ngoài và được sự đồng thuận cao, nhất là về bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Tại Điều 3 Hiến pháp năm 2013 đã hiến định: Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Hiến pháp năm 2013 đã dành toàn bộ Chương II (từ Điều 14 đến Điều 49) nói về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Như vậy, bên cạnh việc ghi nhận quyền rộng rãi hơn, đầy đủ hơn so với các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ quyền con người.

    Trong khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Đây là điều khoản được hiến định trong Hiến pháp, nhằm giải quyết sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi của người khác và của xã hội; xét cho cùng giới hạn quyền cũng là cách thức bảo vệ quyền con người. Những nội dung quy định này đã tương thích với quy định của luật pháp quốc tế và các bản hiến pháp tiến bộ trên thế giới về nguyên tắc hạn chế quyền, như: Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966.

    Thứ hai, thực tế hiện nay, trên thế giới hầu hết các quốc gia đều có quy định về nguyên tắc giới hạn quyền bằng một điều khoản cụ thể. Ở Việt Nam, việc giới hạn quyền bằng luật là cần thiết, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, đã góp phần bổ sung cho hệ thống cơ chế bảo vệ quyền con người tại Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 đã lồng ghép cả hai cách thức về giới hạn quyền là: Nguyên tắc chung về giới hạn quyền con người, quyền công dân và quy định một số giới hạn đối với một số quyền cụ thể. Về cơ bản, các quy định về giới hạn quyền trong Hiến pháp năm 2013 phù hợp với tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế.

    Theo đó, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, song trong Cương lĩnh, các văn kiện của Đảng, cũng như Hiến pháp đều xác định rõ: Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân, lợi ích chung của dân tộc. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân và quay trở lại phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân. Đảng, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và yêu cầu nhân dân, báo chí giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên.

    Không thể phủ nhận rằng, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam 2013 đã đạt nhiều bước tiến vượt bậc trong việc ghi nhận những quyền, tự do cơ bản của con người. Rất nhiều những quyền, tự do ấy, về cơ bản, phù hợp với các tiêu chuẩn của Luật nhân quyền quốc tế. Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được xác định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013 và trong hệ thống pháp luật mới được ban hành và sửa đổi. Khẳng định rõ các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm đối với xã hội đã được Nhân dân Việt Nam xây dựng, đang được thực thi và bảo vệ rất tốt.

    Như vậy, luận điệu của Lê Mạnh Tường là sự bịa đặt, xuyên tạc vô căn cứ, thể hiện rõ bản chất phản động, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, Hiến pháp Việt Nam năm 2013. Do đó, mỗi người dân Việt Nam cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ, đồng thời nghiêm chỉnh thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, các chính sách và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ CỦA ĐẢNG

 

    Các thế lực thù địch đã đăng tải thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội hòng thu hút sự quan tâm chú ý của dư luận, chống phá công tác nhân sự của Đảng.

    Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) đang tiến hành thảo luận, bàn bạc, quyết nghị nhiều nội dung quan trọng, có liên quan đến những vấn đề hệ trọng của đất nước, như: phát triển kinh tế - xã hội, cải cách tiền lương, chính sách đại đoàn kết dân tộc, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV)... Trong đó, việc xem xét quy hoạch nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIV) là công việc hoàn toàn bình thường, diễn ra theo kế hoạch, lịch trình trong các hội nghị, kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương đã được xây dựng trong cả nhiệm kỳ.

    Tuy nhiên, với bản chất, âm mưu, dã tâm xấu, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube, Instagram… để tung tin xuyên tạc, kích động, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nội bộ trong Đảng nhằm thu hút sự chú ý, gây hoang mang dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân. Chiêu trò, thủ đoạn chủ yếu của chúng là lợi dụng việc Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đã phát hiện, xử lý kỷ luật một số Ủy viên Trung ương suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực… từ đó, suy diễn, quy chụp rằng: đây là sự tranh giành, đấu đá, hạ bệ nhau giữa các phe cánh trong Đảng.

    Lần này cũng vậy, ngay sau khi Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII) khai mạc sáng 2/10 thì ngày 3/10, trang Facebook Việt Tân đăng nội dung: “Nội bộ của Đảng đang bắt đầu tranh giành quyền lực. Họ sẽ tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt hạ lẫn nhau”. Vẫn sử dụng lại “bình cũ” đó, nhưng chúng thay “rượu mới”. Chúng rêu rao rằng, “Đảng đã làm thay Nhà nước, làm thay Quốc hội”. Với mục đích không thay đổi là chống phá, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, câu view, câu like, thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận xã hội.

    Trước hết, cần khẳng định rằng những luận điệu của các thế lực phản động đăng tải trên mạng xã hội là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Dù chúng có những chiêu trò, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, không thể bôi nhọ các đồng chí cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước. Trò cũ diễn mãi cũng nhàm, mọi chiêu trò xuyên tạc của Việt Tân chỉ tốn công, vô ích bởi lẽ, tất cả nhân dân Việt Nam đều suy nghĩ và nhận thức rằng: Với những cán bộ, đảng viên liêm chính thì dù làm ở vị trí nào, giữ cương vị gì, họ cũng đều có một mục đích chung là vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Họ đều làm việc, cống hiến vì nước, vì dân, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

    Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, không nên nhẹ dạ cả tin, kiên quyết đấu tranh đập tan mọi ý đồ xuyên tạc, vu khống của các đối tượng xấu. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần thường xuyên coi trọng định hướng tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức cống hiến để góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

CHÚC MỪNG EM XUÂN MẠNH.


Chúc mừng chàng trai xứ Thanh.

Rất xuất sắc và đã giành giải cao.

Đỉnh Olympia đón chào

Mùa 23 quá ngọt ngào gọi tên.


Mai này em sẽ học lên

Lớp đi trước lại kề bên dắt dìu

Dư luận bàn tán đa chiều

Đi du học bổng bao nhiêu người về 😂.


Cuộc sống vất vả trăm bề

Chúc em cứ thỏa đam mê trong đời

Học và làm việc mọi nơi

Cũng đều cống hiến giữa trời nhân gian 😃😄😄


Chúc mừng em Xuân Mạnh.