NHỮNG ĐIỂM MỚI NỔI BẬT TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC
CÁN BỘ TỪ ĐẦU NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIII
Nghị quyết Đại
hội XIII của Đảng bao gồm hệ thống quan điểm, tư tưởng, đường lối, định hướng
chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc
trong tình hình mới. Công tác xây dựng Đảng về cán bộ từ đầu nhiệm kỳ Đại hội
XIII đã quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết Đại hội.
Những quy
định, kết luận của Trung ương về công tác cán bộ theo tinh thần Đại hội XIII
của Đảng
Xây dựng đội
ngũ cán bộ là một nội dung lớn trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức; bởi vì,
cán bộ và tổ chức có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết, tác động qua lại với nhau.
Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta luôn lồng ghép công tác cán bộ là một nội
dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức, coi đây là hai nhiệm
vụ cần được thực hiện đồng thời, cùng lúc. Đến Đại hội XIII, từ những bài học
kinh nghiệm của Đảng ta về công tác cán bộ và từ yêu cầu, đòi hỏi cần tập trung
xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, có chất lượng, ngang
tầm nhiệm vụ, nên cần tách nội hàm cán bộ từ xây dựng Đảng về tổ chức thành một
nội dung riêng. Trong phương hướng, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng, Đại hội
XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng Đảng về cán bộ các cấp, nhất là
cấp chiến lược và người đứng đầu… đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm
nhiệm vụ”. Điều này cho thấy những nhận thức mới, cũng như quyết tâm của Đảng
trong xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong
thời kỳ mới.
Bám sát định
hướng chỉ đạo của Văn kiện Đại hội XIII, công tác cán bộ được đẩy mạnh ngay từ
đầu nhiệm kỳ, thực sự là “then chốt của then chốt”. Các nghị quyết, kết luận
của Trung ương về công tác cán bộ có nội dung bao trùm, với nhiều điểm mới, cụ
thể là:
Thứ nhất, Kết
luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị cho thấy quyết tâm chính trị của toàn Đảng về
khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột
phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Ngay đầu nhiệm
kỳ Đại hội XIII, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021,
“Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích
chung”, nhằm khuyến khích và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên tự tin đổi mới,
sáng tạo, dám bước qua những lối mòn, vượt qua những thách thức để cống hiến
cho đất nước, phục vụ nhân dân. Kết luận số 14-KL/TW là sự cụ thể hóa một trong
những phương hướng được Đại hội XIII của Đảng xác định là xây dựng, hoàn thiện
chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ
năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì
lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Để khuyến khích
cán bộ dám nghĩ, dám làm, Kết luận số 14-KL/TW nêu rõ, “khi cán bộ thực hiện
thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc
gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ
nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp,
nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được
xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”. Những nội dung này tạo cơ sở chính
trị, củng cố niềm tin và tạo động lực để cán bộ, đảng viên dám dấn thân cống hiến
vì lợi ích chung. Việc xây dựng cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có tư duy
đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm là một giải pháp
căn cơ đối với công tác cán bộ, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của cơ
quan, đơn vị, địa phương và rộng hơn là sự phát triển của đất nước. Đây chính
là cơ chế tạo động lực cho sự đổi mới, bứt phá, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách
nhiệm, khát vọng cống hiến, nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước Việt
Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng.
Thứ hai, mở
rộng phạm vi không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà còn bao gồm cả xây
dựng hệ thống chính trị; không chỉ đối với đảng viên và các cấp ủy, tổ chức
đảng, mà còn mở rộng ra đối với cán bộ, công chức, viên chức, các cấp chính
quyền, các cơ quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị.
Thực hiện các
nhiệm vụ đã đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về “xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh”, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021,
của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng
viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa””, đã xác định những nội dung không chỉ trong xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, mà cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Kết luận số 21-KL/TW
yêu cầu, phải đặc biệt coi trọng và đưa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng lên
tầm cao mới, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Đảng đặt ra yêu cầu phải chủ động tiến công mạnh mẽ, kiên quyết
đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái, tiêu cực, những biểu hiện “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa” trong nội bộ, là bước đột phá mới, cấp độ cao hơn, cường độ và
mức độ quyết liệt hơn, thái độ xử lý nghiêm khắc hơn; kết hợp hài hòa giữa
“xây” và “chống”; yêu cầu cao về đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; kiên quyết
chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, “lợi ích nhóm”, quan liêu, xa dân, vô
cảm trước khó khăn, bức xúc của dân.
Một trong
những điểm nhấn của Kết luận số 21-KL/TW là đã đề ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp
toàn diện, đòi hỏi phải được thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, bảo đảm kết
hợp giữa “xây” và “chống” trong công tác cán bộ. “Xây” là tập trung xây dựng
đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi
mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả. Đó phải là những cán bộ có lý tưởng cách mạng, có bản lĩnh chính
trị vững vàng, đạo đức trong sáng, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân,
có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ dù ở vị trí nào cũng
phải luôn ý thức đầy đủ về trách nhiệm, “đúng vai, thuộc bài”, thật sự chuyên
nghiệp, làm tốt nhiệm vụ được giao, phải gắn bó mật thiết với nhân dân, được
nhân dân tín nhiệm, ủng hộ. Trong khi đó, “chống” chính là kiên quyết, kiên trì
đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ vi phạm; tập
trung vào phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán
bộ, đảng viên, công chức, viên chức; đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác phát
hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực tại địa phương, cơ sở; tăng cường thanh tra,
kiểm tra, giám sát người đứng đầu thực hiện trách nhiệm trong phòng, chống tham
nhũng, tiêu cực.
Thứ ba, các
quy định của Trung ương tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, làm sáng tỏ nhiều
vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác cán bộ.
Quy định số
50-QĐ/TW, ngày 27-12-2021, của Bộ Chính trị, “Về công tác quy hoạch cán bộ” cho
thấy tư duy đổi mới, toàn diện của Đảng về công tác quy hoạch cán bộ. So với
Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30-11-2004, của Bộ Chính trị, “Về công tác quy
hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”, Quy định số 50-QĐ/TW bổ sung 5 nguyên tắc bảo đảm thực hiện có hiệu
quả công tác quy hoạch cán bộ. Theo đó, công tác quy hoạch cán bộ phải bảo đảm
nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ;
thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; bảo đảm chặt chẽ, đồng bộ, liên
thông, công khai, minh bạch trong công tác quy hoạch cán bộ. Quy hoạch cán bộ
lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ tình hình thực tế về đội ngũ cán bộ, yêu
cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị, đồng thời gắn kết chặt
chẽ với các khâu khác trong công tác cán bộ. Quy định số 50-QĐ/TW yêu cầu phải
rà soát, đánh giá đúng cán bộ trước khi đưa vào quy hoạch, thực hiện phương
châm quy hoạch “động” và “mở”. Hằng năm, tiến hành đánh giá, rà soát để kịp
thời đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện; bổ
sung vào quy hoạch những nhân tố mới từ nguồn nhân sự tại chỗ hoặc nguồn nhân
sự từ nơi khác đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có triển vọng phát triển. Một trong
những nguyên tắc quan trọng trong Quy định số 50-QĐ/TW là chỉ quy hoạch chức
danh cao hơn, mỗi chức danh lãnh đạo, quản lý, quy hoạch không quá 3 cán bộ;
một cán bộ quy hoạch không quá 3 chức danh cùng cấp; không thực hiện quy hoạch
đồng thời với việc đề xuất bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử.
Trên cơ sở
tổng kết 5 năm thực hiện Quy định số 98-QĐ/TW, ngày 7-10-2017, của Bộ Chính
trị, “Về luân chuyển cán bộ”, Quy định số 65-QĐ/TW, ngày 28-4-2022, của Bộ
Chính trị, “Về luân chuyển cán bộ” có những nội dung chặt chẽ hơn, từ việc xem
xét, bố trí, quyết định cán bộ luân chuyển, đến việc giao trách nhiệm cho các
cơ quan có liên quan nhận xét, đánh giá cán bộ định kỳ hằng năm, bố trí cán bộ
sau khi hết thời gian luân chuyển,.... Nếu như Quy định số 98-QĐ/TW nhấn mạnh
cán bộ được luân chuyển là những cán bộ trẻ, triển vọng trong quy hoạch, thì
Quy định số 65-QĐ/TW chỉ rõ cán bộ luân chuyển chỉ trong diện quy hoạch lãnh
đạo. Về nguyên tắc bố trí chức danh khi luân chuyển cán bộ, Quy định số
65-QĐ/TW quy định thực hiện theo nguyên tắc bố trí giữ chức vụ tương đương với
chức vụ đang đảm nhiệm. Trường hợp cần thiết, cấp có thẩm quyền xem xét, quyết
định bố trí chức vụ cao hơn chức vụ đang đảm nhiệm đối với cán bộ có phẩm chất,
năng lực nổi trội, có khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chức vụ dự kiến
phân công, bố trí. Trong khi đó, Quy định số 98-QĐ/TW quy định về nguyên tắc bố
trí chức danh khi luân chuyển là đối với cán bộ đã giữ chức vụ cấp trưởng 2
nhiệm kỳ liên tục và những cán bộ luân chuyển để thực hiện chủ trương không
phải là người địa phương, khi luân chuyển chủ yếu bố trí làm cấp trưởng. Về
tiêu chuẩn, điều kiện luân chuyển cán bộ, Quy định số 65-QĐ/TW nêu rõ, “có đủ
sức khỏe và còn thời gian công tác ít nhất 10 năm công tác tính từ thời điểm
luân chuyển. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định”.
Thứ tư, kết
hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong công tác cán bộ; tăng cường xây dựng
đội ngũ cán bộ các cấp, đồng thời kiên quyết loại bỏ những cán bộ yếu kém ra
khỏi hàng ngũ của Đảng.
Quy định số
41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối
với cán bộ”, đã giải thích rõ nội hàm của khái niệm “miễn nhiệm”, “từ chức”;
đồng thời, đưa ra những quy định, quy trình xem xét miễn nhiệm, từ chức và bố
trí công tác đối với cán bộ sau khi từ chức. So với Quy định số 260-QĐ/TW, ngày
2-10-2009, “Về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ”, Quy định
số 41-QĐ/TW cụ thể hóa những quy định, cơ chế, chính sách trong việc xử lý đối với
cán bộ chưa hoàn thành nhiệm vụ và việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ
khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời gian bổ nhiệm. Quy định số 41-QĐ/TW bổ
sung nhiều khái niệm mới, như “miễn nhiệm là việc cấp có thẩm quyền quyết định
cho cán bộ thôi giữ chức khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm
do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa
đến mức xử lý kỷ luật cách chức”. So với Quy định số 260-QĐ/TW, Quy định số
41-QĐ/TW có những quy định xử lý mạnh hơn, cho thấy tinh thần kiên quyết của
Đảng trong việc xử lý những cán bộ yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu công
việc.
Về quy trình
xem xét miễn nhiệm, từ chức, Điều 8 Quy định số 41-QĐ/TW đưa ra những mốc thời
gian cụ thể, ngắn hơn so với Quy định số 260-QĐ/TW, thể hiện rõ quan điểm quyết
liệt của Đảng trong xử lý cán bộ thiếu năng lực: “Khi có đủ căn cứ miễn nhiệm,
từ chức, chậm nhất trong thời gian 10 ngày làm việc thì cấp ủy, tổ chức đảng,
tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng cán bộ hoặc cơ quan
tham mưu về công tác cán bộ có trách nhiệm trao đổi với cán bộ và đề xuất cấp
có thẩm quyền xem xét, quyết định”. Đồng thời, “cấp có thẩm quyền xem xét,
quyết định việc miễn nhiệm, cho từ chức trong thời gian 10 ngày làm việc;
trường hợp cần thiết vì lý do khách quan thì có thể kéo dài không quá 15 ngày
làm việc”. Quy định số 260-QĐ/TW nêu mốc thời gian 30 ngày cùng quy trình giải
quyết khiếu nại, nên ít nhiều chưa thể hiện được tính kịp thời. Tương tự, hồ sơ
và quy trình xử lý theo Quy định số 41-QĐ/TW cũng gọn hơn so với Quy định
260-QĐ/TW.
Điều 10 Quy
định số 41-QĐ/TW nêu khái quát về việc bố trí công tác đối với cán bộ sau khi
từ chức, trong đó “bố trí công tác phù hợp” theo điều kiện cụ thể, đồng thời
tiếp tục “xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử” nếu thể hiện sự
tiến bộ. Điều này cho thấy, Đảng ta rất rạch ròi, kiên quyết trong xử lý cán bộ
yếu kém, nhưng cũng rất nhân văn, bao dung, mà mục đích chính là làm cho tổ
chức, cán bộ, đảng viên thấy được vi phạm, khuyết điểm của mình để sửa chữa,
khắc phục.
Hướng đến mục
tiêu kỷ luật tự giác và nhân văn, Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022, của Bộ
Chính trị, “Về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”, có nhiều nội dung mới
về tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng mức kỷ luật trong việc xem xét vi phạm của
tổ chức đảng, đảng viên. Điều 5 Quy định số 69-QĐ/TW đưa ra một số tình tiết để
xem xét, giảm nhẹ mức kỷ luật đối với các tổ chức đảng, như chủ động, kịp thời
báo cáo vi phạm với tổ chức đảng cấp trên, thái độ kiểm điểm nghiêm túc, tự
giác nhận khuyết điểm, vi phạm và tự nhận hình thức kỷ luật tương xứng với vi
phạm, chủ động cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phản ánh đầy đủ, trung
thực về vi phạm, chủ động chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục cơ bản, kịp
thời hậu quả do vi phạm của tổ chức mình gây ra trước và trong quá trình kiểm
tra, giám sát,…; đối với đảng viên, chủ động báo cáo vi phạm của mình với tổ
chức đảng, tự giác nhận trách nhiệm cá nhân về khuyết điểm, vi phạm và tự nhận
hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức độ vi phạm trước và
trong quá trình kiểm tra, giám sát thì sẽ được xem xét giảm nhẹ mức kỷ luật.
Ngược lại, Quy định số 69-QĐ/TW cũng quy định các trường hợp đảng viên sẽ bị
tăng nặng mức kỷ luật, như đảng viên đã được tổ chức đảng yêu cầu kiểm điểm,
nhưng không thực hiện, không sửa chữa khuyết điểm, vi phạm; không tự giác nhận
khuyết điểm, vi phạm, hình thức kỷ luật tương xứng với nội dung, tính chất, mức
độ vi phạm; gây thiệt hại về vật chất phải bồi hoàn nhưng không bồi hoàn, không
khắc phục hậu quả hoặc khắc phục không đúng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền,
không tự giác nộp lại tiền, tài sản do vi phạm mà có; đối phó, quanh co, cản
trở quá trình kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán…; bao che cho người vi
phạm; đe dọa, trù dập, trả thù người đấu tranh, tố cáo, người làm chứng, người
cung cấp tài liệu, chứng cứ vi phạm…
Đặc biệt, Quy
định số 69-QĐ/TW khuyến khích đảng viên đổi mới, sáng tạo. Đảng viên thực hiện
đề xuất đổi mới, sáng tạo nhưng xảy ra thiệt hại và nguyên nhân để xảy ra thiệt
hại là do khách quan, thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi
ích chung thì miễn kỷ luật đảng. Đảng viên do chấp hành quyết định sai trái của
cấp trên hoặc bị ép buộc, nhưng đã chủ động, kịp thời báo bằng văn bản về ý
kiến, đề xuất của mình trước khi thực hiện thì cũng được miễn kỷ luật đảng.
Bên cạnh đó,
Thông báo Kết luận số 20-TB/TW, ngày 8-9-2022, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương
bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau
khi bị kỷ luật”, cho thấy sự quyết liệt, nhưng cũng rất nhân văn trong công tác
cán bộ của Đảng. Thông báo Kết luận của Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ
luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút thì cần tự
nguyện xin từ chức; đồng thời, nhấn mạnh đến việc tạo điều kiện cho cán bộ bị
kỷ luật có cơ hội sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, để tiếp tục phấn đấu, tu
dưỡng, rèn luyện.
Thứ năm, Quy
định số 80-QĐ/TW của Bộ Chính trị là sự cụ thể hóa chủ trương của Đại hội XIII,
làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, người đứng đầu trong công tác cán bộ
và quản lý cán bộ.
Đại hội XIII
xác định: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo công tác cán bộ, cải cách
thủ tục hành chính và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ. Kiểm
soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ, nhất là đối với
người đứng đầu cấp ủy đồng thời là thủ trưởng cơ quan, đơn vị”. Đây là định
hướng chỉ đạo quan trọng, tạo nền tảng cho Quy định số 80-QĐ/TW, ngày
18-8-2022, của Bộ Chính trị, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới
thiệu cán bộ ứng cử”. Quy định số 80-QĐ/TW, thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW,
ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị, “Về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm,
giới thiệu cán bộ ứng cử”; làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, người đứng
đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; đồng thời, bảo đảm sự đồng bộ,
thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của cả hệ thống chính
trị; đánh giá khách quan, công tâm, lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ.
So với Quy
định số 105-QĐ/TW, Quy định số 80-QĐ/TW đưa ra nội dung bao quát, toàn diện hơn
về quản lý cán bộ; trong đó, bổ sung việc bổ nhiệm lại, tái cử, chỉ định,
phong, thăng, giáng, tước quân hàm, cho thôi chức vụ, tạm đình chỉ, đình chỉ
chức vụ, cho từ chức, cách chức cán bộ và giải quyết khiếu nại, tổ cáo trong
công tác cán bộ và cán bộ. Về nguyên tắc bổ nhiệm cán bộ, Quy định số 80-QĐ/TW
bổ sung thêm tiêu chí “uy tín của cán bộ” khi xem xét bổ nhiệm cán bộ và không
bổ nhiệm đối với cán bộ, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật. Những điểm
mới này thể hiện sự minh bạch, khách quan, nghiêm minh trong công tác cán bộ
của Đảng, là đòi hỏi cấp thiết đặt trong bối cảnh “một bộ phận cán bộ, đảng
viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn
còn diễn biến phức tạp”.
Về điều kiện
bổ nhiệm cán bộ, Quy định số 80-QĐ/TW bổ sung quy định về việc cán bộ phải có
thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm hoặc chức vụ tương đương ít nhất là 2 năm.
Đây là điểm mới của Quy định số 80-QĐ/TW so với quy định trước đây về điều kiện
bổ nhiệm cán bộ. Bên cạnh đó, Quy định số 80-QĐ/TW cũng đã thay đổi điều kiện
về bổ nhiệm cán bộ đối với trường hợp kỷ luật như sau: 1- Cán bộ bị kỷ luật
khiển trách sẽ không được bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 12 tháng (tính từ
ngày ký quyết định kỷ luật); 2- Cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo sẽ không được bổ
nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 30 tháng; 3- Cán bộ bị kỷ luật cách chức sẽ
không được bổ nhiệm chức vụ cao hơn trong vòng 60 tháng. Như vậy, thời gian
không được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn đã được quy định cụ thể hơn so với quy
định trước đây.
Thời gian tới,
để xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Một là, trên
cơ sở đánh giá, tổng kết các quy định, kết luận đã có, cần tiếp tục ban hành
những quy định mới nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc trong công tác cán
bộ. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu,
mặc dù đã có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn không ít trường hợp chưa phản ánh đúng
thực chất. Việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử có nơi chưa bảo đảm tiêu
chuẩn, điều kiện, quy trình, cá biệt có nơi bố trí người nhà, người thân chưa
đủ uy tín. Chính sách cán bộ chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn
ý với công việc”. Do đó, cần có những quy định nhằm tiếp tục cụ thể hóa tiêu
chí, quy trình, phương pháp đánh giá, xếp loại cán bộ, xử lý cán bộ sau đánh
giá; bổ sung, hoàn thiện chính sách, cơ chế, quy định công tác cán bộ toàn
diện, bảo đảm tính khoa học và tính khả thi đối với tất cả các khâu, các bước,
các nội dung, công việc của công tác cán bộ.
Hai là, gắn
dân chủ với tăng cường kỷ luật đảng, tạo môi trường đổi mới, sáng tạo trong
công tác cán bộ. Trong bối cảnh sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn diễn
biến phức tạp, thì công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng cần phải được
tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, bài bản, để kịp thời đưa ra khỏi
Đảng những cán bộ, đảng viên suy thoái, không xứng đáng, có năng lực, uy tín
thấp, đồng thời tạo sức răn đe, cảnh tỉnh lớn hơn. Xử lý đúng người, đúng tính
chất sai phạm còn góp phần bảo đảm dân chủ, tạo động lực để cán bộ yên tâm công
tác, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Ở khía cạnh này, tăng cường kỷ luật
đảng không những không làm cán bộ nhụt chí vì an toàn, mà còn là một cơ chế bảo
vệ và khuyến khích cán bộ dám đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bên cạnh đó,
Kết luận số 14-KL/TW của Bộ Chính trị cần được thể chế hóa thành pháp luật của
Nhà nước, cụ thể hóa bằng những chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức đảng
các cấp để cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám
làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung có thể nhanh chóng đi vào thực tiễn
cuộc sống, là việc làm thường xuyên của Đảng và của cả hệ thống chính trị.
Ba là, tăng
cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ. Vấn đề kiểm soát quyền lực
trong công tác cán bộ được đưa ra trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội, là một nội dung
quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là nhiệm kỳ Đại
hội XII và Đại hội XIII của Đảng. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh:
“Tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ, gắn với kiểm soát quyền lực,
chống chạy chức, chạy quyền”. (Điều này thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng
nhằm xây dựng một cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả đối với công tác cán bộ,
trong đó có cả kiểm soát chặt chẽ người làm công tác cán bộ. Thời gian tới, các
cấp ủy, tổ chức đảng cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định chặt
chẽ, đồng bộ ở tất cả các khâu trong công tác cán bộ; gắn kiểm tra, giám sát,
kiểm soát quyền lực với đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và
đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhằm quy rõ trách nhiệm của từng cán bộ, từng
khâu trong công tác cán bộ; bảo đảm tính đồng bộ, lô-gíc, khoa học, chặt chẽ cả
về nguyên tắc, đối tượng và hình thức kiểm soát trong công tác cán bộ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét