Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

CẢNH GIÁC VỚI “CHIÊU TRÒ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM” CỦA VIỆT TÂN

 


Vn đề đảm bo vic làm cho người trong độ tui lao động là ch đề nóng bng, luôn được c xã hi quan tâm. Đối vi Vit Nam, là quc gia đang phát trin vi lượng người trong độ tui lao động cao; Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, thc hin nhiu gii pháp thiết thc t đào to ngh, to thun li cho th trường lao động và bo đảm quyn li hp pháp cho người lao động.

Tuy nhiên, trên Trang Facebook Vit Tân ngày 16 tháng 4 năm 2024 có đăng 1 video dài 8 phút 57 giây vi ta đề “Thc trng người lao động tr ti Vit Nam và gii pháp. Video “phóng s” trình bày v thc trng s người trong độ tui lao động Vit Nam năm 2023 và đưa ra phương hướng giải quyết.

Phi khng định, “phóng sđược dng rt bài bn, tuy nhiên ni dung đưa thông tin mang tính định hướng lch lc; đồng thi tim n nhng mc đích mang tính phn động. Điu này được vch trn bi vic nhn thc đầy đủ thông tin chính xác và tìm hiu bn cht ni dung trong video.

S tht thông tin đưa ra trong video đúng không? Đúng rt ít mt s ni dung không quan trng nhưng sai phn ln nhng ni dung trng đim nhm “dt mũi” người xem và hoàn toàn mang tính ba đặt, nhm hù do người xem. Chúng cố tình đổ li cho Đảng, Nhà nước là không quan tâm, quan liêu đối vi quá trình giáo dc, đào to ngh cho đối tượng thanh, thiếu niên. Trong khi đó, ch trương “to động lc cho thanh niên xung kích trong hc tp, lao động, sáng to, khi nghip, làm ch các kiến thc khoa hc, công ngh hin đại, phát huy vai trò trong s nghip xây dng và bo v T quc” đã được khng định trong Ngh quyết Đại hi Đảng ln th XIII. Chính ph cũng đã phê duyt các chương trình ln vđào to, đào to li nâng cao k năng ngun nhân lc đáp ng yêu cu ca cuc cách mng công nghip 4.0” và “chuyn đổi s và dy hc trc tiếp trong giáo dc ngh nghip”. Thy được, Đảng và Nhà nước đang tiến hành đồng b, toàn din và quyết lit đối vi giáo dc ngh nghip, nhm nâng cao trình độ, tay ngh đối vi người lao động. Điu này là hoàn toàn trái ngược vi ni dung phân tích được trình bày trong “phóng s” ca Vit Tân.

Cũng trong phóng sự này, 3 gii pháp được nên lên li tim n nhng him ho, h lu trc tiếp tác động sai lch đến nhn thc ca gii tr Vit Nam và to cơ hi cho các hot động phn động ca các phn t cơ hi chính tr. Chúng đòi hi yêu sách dng các “nhóm giúp đỡ phi chính ph”, xây dng “cơ s đào to ngh” không có s qun lý ca cơ quan chc năng và thành lp các đoàn th xã hi, không có ràng buc ca công nhân... Dù được miêu t bng t ng m miu như “t giúp đỡ ln nhau”, “t đào to”, “t bo v quyn li”... nhưng thc cht là đang c tìm cách hp thc hoá cho vic to ra hi nhóm để xúi gic, lôi kéo thanh thiếu niên phn đối, chng li s qun lý ca Nhà nước, to s chia r trong xã hi t đó thun li cho các mưu đồ chính tr ln hơn ca nhng phn t phn động.

Do đó, mi người khi xem các video tương t như trên cần phi kim chng bng nhiu ngun thông tin; tránh chia s nhng thông tin sai lch, tiếp tay cho nhng k mưu đồ phá hoi Đất nước./.

KHI ĐÁM TRẺ CHƯA NẾM MÙI CHIẾN TRANH ĐI CHỈ TRÍCH NHỮNG NGƯỜI TỪNG VÀO SINH RA TỬ

 



Cựu chiến binh Phạm Đức Cư, một người lính cao xạ chiến đấu tại Điện Biên Phủ đại diện cho các chiến sĩ Điện Biên có phát biểu tưởng nhớ đến trận đánh hào hùng năm xưa… Bác Cư có nhắc đến chuyện những chiến sĩ cao xạ đã phối hợp đánh tan các máy bay địch, trong đó có “pháo đài bay B-24”. Và một Tiktoker nào đó đã cắt đoạn này lên, dắt mũi và khiến cho một số cư dân mạng chỉ trích cụ bằng những ngôn từ rất là nặng nề. Họ đánh giá rằng bác Cư đã sai kiến thức lịch sử, vì già thành ra nhầm lẫn, "cựu chiến binh fake", đáng nhẽ phải là “pháo đài bay B-52” (?)

Loại máy bay là bác Cư nhắc đến là B-24 Privateer, loại máy bay từng tham chiến trong Chiến tranh Triều Tiên và được quân địch sử dụng để ném bom, tiếp tế hàng hóa trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Hồi chiến dịch Điện Biên Phủ thì B-52 còn chưa được cất cánh chính thức. Tới tận năm 1965, chiếc B-52 đầu tiên mới xuất hiện tại Việt Nam.

Hậu quả của việc không được học lịch sử một cách đầy đủ, đúng mực quả thực rất là nghiêm trọng. Mà đã không biết thì chớ, lại đi chỉ trích những người đã từng vào sinh ra tử vì Tổ Quốc. Những con người này quả thực đáng trách.

MẠNG XÃ HỘI: CẦN SỰ “LẮNG NGHE” CƠ THỂ

 Xã hội ngày càng phát triển và mạng xã hội cũng vậy. Xuất phát từ nhu cầu chính đáng và rất thực tế của hàng tỷ cư dân toàn thế giới, mạng xã hội chắc chắn sẽ còn nhiều đất để “diễn” với những bất ngờ nằm ngoài sức tưởng tượng.

Mạng xã hội có thể hiểu là một trang web hay nền tảng trực tuyến với rất nhiều dạng thức và tính năng khác nhau, giúp mọi người dễ dàng kết nối từ bất cứ đâu, từ nhiều phương tiện, thiết bị như máy tính (để bàn, xách tay), điện thoại thông minh...

Chỉ bằng vài thao tác đơn giản, dễ hiểu (định danh qua số điện thoại, email…), một người bình thường đã có thể sở hữu hơn một tài khoản trên mạng xã hội, từ đó thỏa sức đắm mình vào thế giới ảo mà thật, thật mà ảo của những dòng cảm xúc, video clip, hình ảnh, đủ sắc thái, góc độ và dĩ nhiên là đi kèm bình luận, tương tác. Miễn là bạn có thời gian và chấp nhận chi phí kết nối dữ liệu.

Xã hội quá đa dạng và mỗi nhân tố trong đó đều chứa đựng những giá trị riêng biệt. Với nhiều người dân Việt Nam, những cái tên như Yahoo, Youtube, Facebook, Zalo… trong nhiều năm qua đã làm mưa làm gió trên thị trường thông tin đại chúng.

Chúng ta có thể hưởng lợi những gì từ mạng xã hội: nắm bắt được rất nhiều thông tin (cả xây dựng và phản biện); thể hiện bản lĩnh, chính kiến trước một sự việc, tình huống cụ thể; kiếm tiền, thậm chí rất nhiều tiền; và quan trọng nhất là kết nối những thành viên với nhau (không phân biệt giới tính, tuổi, địa vị, địa lý sinh sống, trình độ học vấn…) để từ đó xây dựng nên một cộng đồng có giá trị thực chất, vận hành vì sự phát triển tích cực chung của thế giới.

Tuy nhiên, không tránh khỏi việc không ít thành viên đang sử dụng mạng xã hội sai cách làm ảnh hưởng xấu đến bản thân như mất ngủ, giảm sức khoẻ, suy nghĩ tiêu cực; khiến xã hội nhiều phen chao đảo sau mỗi dòng cảm nghĩ, suy nghĩ, cảm xúc tức thời…

Câu hỏi đặt ra hiện nay là mạng xã hội có bất ổn (không ổn định, chưa thực sự tốt) hay không? Tự thấy nó cần thiết cho mình thì chủ động tham gia vào chứ có ai ép buộc đâu, và một khi dám chơi thì cũng dám đương đầu với những miếng phô mai thơm ngậy ẩn mình trong đại dương thông tin này.

Là không gian mở, không biên giới, không bó hẹp trong phạm vi một quốc gia/vùng lãnh thổ nào, rõ ràng là quá nhiều thách thức, khó khăn đã và đang đặt ra cho cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ chuyên trách, nhà sáng tạo nội dung số, và hơn hết chính là những thành viên tích cực và chưa tích cực, chính danh và ẩn danh… đang ngày đêm sống hết mình với mạng xã hội.

Bất kỳ ai nếu cảm thấy sức khỏe không đảm bảo (tâm lực, thể lực, trí lực…), khả năng đề kháng bị suy giảm và có nguy cơ bị “nhiễm bệnh, tụt hậu” thì nên cân nhắc dừng cuộc chơi, tạm ẩn mình, tránh những hệ quả không lường đang chờ đợi phía trước.

Ít nhất tại thời điểm này, yêu cầu sự trong sạch tuyệt đối của môi trường mạng xã hội là không thể. Vậy nên mỗi thành viên hãy cố gắng tự chăm sóc, lắng nghe cơ thể mình, khỏe thì tham gia, không thì nhất định thôi nhé.

Rõ là nhìn thấy, cảm nhận được bằng da bằng thịt ngoài đời còn chưa chắc đã là thật nữa là trên mạng ảo. An ninh mạng, an toàn mạng vẫn luôn là bạn./.

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TIẾP TỤC SOI SÁNG CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

V.I.Lênin nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào cộng sản toàn thế giới đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do cho các dân tộc, vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại. Những di sản mà Lênin để lại cho toàn thể nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn trên cả phương diện lý luận và từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin không chỉ là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng mà vẫn đang tiếp tục chỉ dẫn cho mỗi bước đi trong chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.

Hòng thực hiện âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, một trong những mục tiêu các thế lực thù địch tập trung thực hiện chính là đòi xóa bỏ sự lãnh đạo duy nhất, trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam.

Ðể thực hiện mục tiêu này, các đối tượng tuyên truyền luận điệu: Ðảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng mà theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì chính trị nảy sinh trên cơ sở kinh tế, phản ánh kinh tế và chính trị do kinh tế quyết định. Bởi vậy theo họ, ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đang thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu cho nên theo quy luật kinh tế quyết định chính trị thì Việt Nam phải tiến hành đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chỉ có thực hiện đa nguyên, đa đảng đại diện cho lợi ích của các giai cấp, lực lượng khác nhau trong xã hội thì mới thật sự bảo đảm dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Ðây là sự xuyên tạc vô căn cứ và cũng không đúng với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.

Xuất phát từ lập trường duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định, trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đúng là chính trị là sự phản ánh kinh tế, kinh tế quyết định chính trị, sự biến đổi của đời sống chính trị suy cho cùng bắt nguồn từ sự biến đổi của đời sống kinh tế.

Tuy nhiên, về vấn đề này V.I.Lênin khẳng định: “Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế”; “chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại”.

Ở đây, V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng: chính trị phản ánh kinh tế và xét đến cùng do kinh tế quyết định nhưng chính trị không phải là tấm gương soi của kinh tế theo nghĩa kinh tế có gì thì chính trị phải có cái đó. Nghĩa là chính trị không phản ánh tất cả những quan hệ vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp của kinh tế mà chỉ phản ánh những quan hệ đặc trưng cốt lõi nhất của kinh tế, đó chính là quan hệ sản xuất mà trung tâm nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Do đó, khi nhìn vào bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào thì căn cứ vào quan hệ sản xuất thống trị và quan hệ sở hữu thống trị, chi phối trong kinh tế, chúng ta có thể nhận diện rõ bản chất chế độ chính trị của quốc gia đó là như thế nào. Theo đó, một nền kinh tế do chế độ sở hữu tư nhân thống trị và chi phối (thiểu số giai cấp thống trị nắm trong tay những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu trong xã hội) thì tất yếu không thể có một nền chính trị thật sự dân chủ dành cho mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội mà đó chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số giai cấp thống trị. Ngược lại chỉ khi nào chế độ công hữu giữ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế (mọi giai tầng cùng nhau sở hữu những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu) thì mới có cơ sở để xây dựng một chế độ chính trị thật sự dân chủ cho tất cả mọi giai cấp, tầng lớp, mọi người dân trong xã hội.

Từ đây, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã luận chứng cho việc muốn có một nền dân chủ thật sự tiến bộ dành cho tất cả mọi giai tầng trong xã hội thì nhất định phải dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chừng nào chưa làm được điều này thì sẽ không làm thay đổi bản chất của chế độ chính trị dù nó có tồn tại dưới hình thức nào đi chăng nữa.

Từ luận điểm của V.I.Lênin soi chiếu vào thực tiễn Việt Nam thời kỳ đổi mới có thể thấy: bước sang thời kỳ đổi mới Ðảng ta chủ trương khôi phục lại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu và coi đây là đặc trưng xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ðiều này được khẳng định ngay từ Ðại hội VI (1986) – Ðại hội đánh dấu đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của Ðảng: “coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”.

Tuy nhiên, điểm cần lưu ý ở đây là các thành phần kinh tế Việt Nam không phát triển tự do mà phát triển theo định hướng chung định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước. Chủ trương này được thể hiện nhất quán ngay từ những nhiệm kỳ Ðại hội đầu của thời kỳ đổi mới: Ðại hội VII: “thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; Ðại hội VIII: “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Và ngay tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Ðảng ta thông qua tại Ðại hội VII năm 1991 cũng chỉ rõ một trong 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng đó là: “Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”.

Do đó, mô hình kinh tế tổng quát mà Việt Nam lựa chọn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản: gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển, bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phải phục vụ cho lợi ích của toàn thể nhân dân vì những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ðiều này được Ðảng khẳng định rõ trong Văn kiện Ðại hội XIII tổng kết sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ðó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”.

Như vậy, với một nền kinh tế chung phát triển thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước thì việc có một Ðảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, cách mạng và xã hội – Ðảng Cộng sản Việt Nam “Ðội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc” tất yếu vẫn đi theo quy luật kinh tế quyết định bản chất của chế độ chính trị như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra và cũng hoàn toàn đúng với quan điểm của V.I.Lênin.

Ðồng thời cần phải nhận thức sâu sắc một sự thật rằng, đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ và nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền không đồng nhất với phản dân chủ như những gì mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Dân chủ hay không, dân chủ đến đâu và nền dân chủ đó dành cho ai, cho một giai cấp hay toàn thể xã hội xét đến cùng vẫn phụ thuộc vào chính bản chất của chế độ kinh tế nhất là chế độ sở hữu như V.I.Lênin đã chỉ rõ.

TIN TƯỞNG TUYỆT ĐỐI VÀO “CUỘC CHIẾN KHÔNG NGỪNG NGHỈ” CỦA ĐẢNG

 

Cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta, trực tiếp là Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lãnh đạo, chỉ đạo đã đạt những kết quả to lớn, làm nức lòng nhân dân.

Dù vậy, các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm cách hạ thấp, bóp méo, xuyên tạc cho rằng, Đảng không thể đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực.

1. Luận điệu thường được các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị sử dụng nhất, đó là đánh đồng chế độ ta và Đảng Cộng sản Việt Nam giữa vai trò là đảng cầm quyền duy nhất, với tình trạng tham nhũng, tiêu cực. Chúng cho rằng tham nhũng, tiêu cực là “không có thuốc chữa” ở Việt Nam. Nếu chúng nói rõ ràng ý tứ như trên thì có lẽ chẳng cần phải mất công phản bác, bởi thực tiễn cuộc sống hằng ngày trên thế giới và ở nước ta đã quá rõ để cho thấy đây là điều hoàn toàn vô lý. Tuy nhiên, ngày nay, trong bối cảnh mạng xã hội tràn vào đời sống, tin giả, video, hình ảnh giả được dàn dựng y như thật, thì luận điệu này được đan cài rất tinh vi, dễ “ngấm” vào những người thiếu cảnh giác, non kém về nhận thức chính trị. Cho nên rất cần thiết chỉ ra những vấn đề căn bản để trau dồi thêm nhận thức, niềm tin về ý chí quyết tâm của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Trước tiên, không thể đánh đồng tham nhũng, tiêu cực với chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hay đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Việt Nam giữa vai trò cầm quyền duy nhất mà làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Vì tham nhũng, tiêu cực là vấn đề nan giải xuất hiện ở mọi thể chế có giai cấp; là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực nhà nước, là sự tha hóa quyền lực của người có chức có quyền bất kể là ở đâu hay chế độ chính trị nào.

Chính vì tham nhũng, tiêu cực là tệ nạn chung, nên tháng 12-2003, đại diện hơn 120 nước trên thế giới đã họp tại Mexico để thông qua Công ước chống tham nhũng của Liên hiệp quốc. Đến nay, hơn 110 nước, trong đó có Việt Nam, đã ký Công ước này. Liên hợp quốc còn thống nhất lấy ngày 9-12 hằng năm làm Ngày Quốc tế chống tham nhũng. Chưa hết, từ năm 1995 đến nay, Tổ chức Minh bạch quốc tế - một tổ chức phi chính phủ hằng năm đã tiến hành thu thập thông tin, dữ liệu thực tiễn ở các nước trên thế giới để đưa ra chỉ số nhận thức tham nhũng (Corruption Perceptions Index – CPI) chấm điểm từ 0 đến 100 để phản ánh mức độ tham nhũng ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong những bản công bố mới nhất, có khoảng 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá. Việt Nam chỉ là một trong số đó.

Tham nhũng, tiêu cực không chỉ tồn tại phổ biến trên thế giới mà còn là “cơn đau đầu kinh niên”, nỗi nhức nhối của chính phủ và người dân các nước. Từ kết quả đánh giá chỉ số CPI suốt những năm qua, Tổ chức Minh bạch quốc tế chỉ ra rằng, mức độ tham nhũng đã không cải thiện hoặc xấu đi ở hơn 86% quốc gia (trong khoảng 10 năm từ 2012-2022), trong 5 năm từ 2018 đến 2022, ngay cả những quốc gia có thứ hạng cao như Áo, Luxembourg và Vương quốc Anh cũng tụt hạng nghiêm trọng (trong khi Việt Nam là 1 trong 5 nước có những cải thiện tích cực mạnh mẽ nhất).

Nói vậy để thấy rõ rằng, tham nhũng, tiêu cực không phải tệ nạn riêng của nước nào hay đặc thù của chế độ chính trị nào và đương nhiên là khó có thể xóa bỏ tận gốc. Mức độ tham nhũng, tiêu cực ở mỗi nước cao hay thấp phụ thuộc vào nỗ lực và hiệu quả của các biện pháp đấu tranh ở đó.

2. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về tệ nạn tham nhũng và nguy cơ, coi tham nhũng là một trong những “kẻ thù hung ác”, là “nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”, từ đó sớm đề ra các chủ trương, đường lối nhằm huy động cả hệ thống chính trị từ trung ương xuống cơ sở vào cuộc, quyết tâm từng bước đẩy lùi tệ nạn này.

Ngày 1-2-2013, Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, lãng phí (nay là Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực) đã chính thức được thành lập và bắt đầu triển khai các hoạt động. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là Trưởng ban Chỉ đạo. Hơn 10 năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược. “Lò đốt” tham nhũng luôn rực lửa. Tâm lý trước đây cho rằng, phòng, chống tham nhũng mới chỉ “tắm từ vai trở xuống”, không đụng đến cán bộ lãnh đạo cấp cao dần mất đi.

Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương, phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào” đã được thực hiện nghiêm, có kết quả quá rõ qua hàng loạt đại án tham nhũng được điều tra, khởi tố và xét xử.

Với việc triển khai đồng bộ trong cả hệ thống chính trị, nhất là sau khi thành lập Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh ở 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do đồng chí Bí thư cấp ủy cấp tỉnh làm Trưởng ban Chỉ đạo, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực còn khắc phục được tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”; giờ đây trên nóng, dưới cũng đã nóng dần lên.

Những con số thống kê dưới đây là minh chứng xác đáng cho những nhận định. Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức Đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang đã bị kỷ luật. Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, Trung ương cũng đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện quản lý, trong đó có 8 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng.

Nhờ quyết liệt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên tinh thần “trị bệnh cứu người”, Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của đất nước trong gần 40 năm đổi mới, nhất là trong những năm gần đây trong khi thế giới đầy biến động khó lường, Việt Nam vẫn là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế và phát triển toàn diện. Quy mô nền kinh tế Việt Nam đến nay đã đạt hơn 430 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người tương đương với 4.300 USD/năm; là đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD.

3. Tham nhũng, tiêu cực còn rất phức tạp, nhưng có thể khẳng định đã được đẩy lùi một bước đáng ghi nhận. Tinh thần thượng tôn pháp luật ngày càng được củng cố vững chắc trong xã hội. Khái niệm “hạ cánh an toàn” trước gần như mặc định đối với những cán bộ về hưu, nhưng nay, chỉ có những người thực sự trong sạch mới có thể “kê cao gối ngủ”.

Cuộc chiến phòng, chống “giặc nội xâm” tham nhũng, tiêu cực ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng sẽ ngày càng đi vào chiều sâu; đã quyết liệt càng quyết liệt hơn, không ngừng, không nghỉ như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo trung ương về Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã khẳng định. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai đồng bộ, thống nhất với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Các biện pháp kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” sẽ tiếp tục được triển khai một cách toàn diện, từng bước hướng tới mục tiêu để cán bộ không thể, không dám và không muốn tham nhũng.

Trong bối cảnh đó, sự ủng hộ, tin tưởng của cán bộ, đảng viên đối với quyết tâm chính trị của Đảng là vô cùng quan trọng. Niềm tin, sự ủng hộ đó cần được thể hiện một cách thiết thực bằng cách chủ động phát hiện, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị về cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng lãnh đạo. Đồng thời, mỗi người trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên cần tự trang bị cho mình một bản lĩnh chính trị vững vàng, một tinh thần chiến đấu mạnh mẽ để vượt qua mọi cám dỗ, bởi tham nhũng, tiêu cực là “giặc ở trong lòng” như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, nếu tự thân không tu dưỡng đạo đức cá nhân thật tốt thì bất kỳ ai cũng có thể phạm vào tham nhũng, tiêu cực./.

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH – SỰ PHÁT TRIỂN MỚI VỀ TƯ DUY NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU, NHIỆM VỤ THỜI KỲ MỚI

 

Thành tố đầu tiên của chủ đề Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”. Quan điểm chỉ đạo thứ năm về công tác xây dựng Đảng nêu rõ phải: “xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”.

Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chính thức khẳng định một quan điểm, một chủ trương mới của Đảng là phải gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị, nói cách khác, xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị là một chỉnh thể đặc điểm liền với nhau.

Đây chính là thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng về vị trí, mối quan hệ, nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Sự phát triển mới về nhận thức của Đảng xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận

- Do vai trò, nhiệm vụ của Đảng cộng sản cầm quyền và hệ thống chính trị

Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý Nhà nước; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vận động thành viên, hội viên, đoàn viên thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Tất cả hợp thành một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, không thể có Đảng trong sạch, vững mạnh khi các tổ chức khác trong hệ thống chính trị không trong sạch, vững mạnh. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống thực chất cũng là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng.

- Do bản chất của xây dựng hệ thống chính trị

Bản chất hệ thống chính trị XHCN của nước ta là công cụ thực hiện sự thống trị của giai cấp công nhân, do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thiết lập nên. Một mặt nó phục vụ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mặt khác, về tổ chức, nó là những tổ chức của Đảng và một bộ phận lớn thành viên của hệ thống chính trị chính là đảng viên của Đảng. Bởi vậy, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh cũng chính là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Do đặc điểm của Đảng và xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, một bộ phận lớn đảng viên của Đảng trở thành cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị XHCN; một phần lớn hệ thống tổ chức của Đảng được thiết lập bên trong và tương ứng với hệ thống tổ chức của các tổ chức trong hệ thống chính trị, do đó, giữa xây dựng Đảng và xây dựnghệ thống chính trị XHCN có mối quan hệ chặt chẽ tự nhiên với nhau, nó vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện cho nhau. Muốn xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh thì phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; ngược lại, muốn xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì cần phải xây dựng trong sạch, vững mạnh.

+ Thứ hai, về mặt thực tiễn

Thực tế công tácxây dựng Đảng đã luôn có yêu cầu gắn liền, đi đôi với xây dựnghệ thống chính trị và ngược lại. Ở đâu, khi nào có sự gắn liền này thì thành công và tách rời, xem nhẹ mặt nào đó sẽ không thể có kết quả tốt đẹp. Thực trạng vừa qua đã có không ít cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật do coi thường các nguyên tắc xây dựng Đảng là minh chứng cho yêu cầu phải gắn xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị và ngược lại.

Từ kinh nghiệm thực tiễn đó và yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ công cuộc đổi mới trong giai đoạn hiện nay đang đòi hỏi phải gắn liền và đòi hỏi đồng thời làm tốt xây dựng Đảng và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Do đó, để thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ đang đặt ra, cần thực hiện tốt các nôi dung sau:

Một là, tuyên truyền quán triệt tốt chủ trương mới này của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để nâng cao, thống nhất nhận thức, trách nhiệm trong toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị về việc gắn liền xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Cần lưu ý chữ “và” hàm nghĩa là xây dựng Đảngphải đồng thời, phải đi liền với xây dựnghệ thống chính trị và phải coi trọng cả 2 công tác này.

Hai là, trong hoạt động xây dựng Đảng phải luôn tính đến xây dựng hệ thống chính trị tương ứng, phải bảo đảm xây dựng Đảng luôn gắn với xây dựnghệ thống chính trị; các nhiệm vụ, giải pháp phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ giữa xây dựng Đảng và xây dựnghệ thống chính trị.

Ba là, mặt khác, trong xây dựng hệ thống chính trị nói chung, xây dựng mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị nói riêng phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; phải gắn với xây dựng Đảng, không được tách rời, biệt lập việc xây dựng tổ chức của mình, đưa ra những biện pháp, những quy định trái với đường lối, chủ trương, quy định của Đảng.

Bốn là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, “đầu tư" cho xây dựng Đảng thế nào thì cũng phải quan tâm cho xây dựng hệ thống chính trị tương ứng./.

NGĂN NGỪA SUY THOÁI TỪ LỐI SỐNG SÍNH NGOẠI, BÀI NỘI

 

Sự việc một trường quốc tế ở phía Nam cho học sinh đọc tài liệu tham khảo bằng truyện khiêu dâm đã gây xôn xao dư luận những ngày qua. Hồi chuông báo động về tình trạng lệch chuẩn trong giáo dục có yếu tố quốc tế lại tiếp tục được gióng lên. Trên thực tế, tư duy và lối sống kiểu sính ngoại, bài nội đã gây ra nhiều hệ lụy, nhưng không phải ai cũng nhận ra...

Xin kể chuyện này...

17 năm trước, khi vừa chuyển công tác từ Cần Thơ về TP Hồ Chí Minh, tôi được một người anh trong nghề mời đến nhà chơi. Lúc bấy giờ, gia đình anh là một mẫu hình lý tưởng đối với chúng tôi. Anh chị có địa vị xã hội, kinh tế vững, hai con đều học trường quốc tế. Trong bữa cơm gia đình, anh chị khuyên chúng tôi nên cho con đi học trường quốc tế để các cháu có tương lai tươi sáng. “Ở đó họ dạy toàn bằng tiếng Anh, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.

Học sinh bước vào cổng trường là không được nói tiếng Việt. Em nào vi phạm sẽ bị thầy cô giáo nhắc nhở, kiểm điểm ngay. Nhờ đó mà kỹ năng tiếng Anh của các cháu phát triển rất nhanh. Về nhà, anh chị cũng khuyến khích các cháu giao tiếp bằng tiếng Anh. Mình học theo con nên kỹ năng sử dụng tiếng Anh của anh vào loại tốt nhất ở cơ quan đấy” - anh nói, đầy tự hào và hãnh diện!

Hai con của anh chị khi lớn lên lại tiếp tục được đầu tư cho đi du học, rồi ở lại nước ngoài làm việc, định cư, lấy vợ Tây, chồng Tây. Đến nay, anh chị đã có 4 cháu, cả nội lẫn ngoại. Mới đây, anh bị bệnh phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Chúng tôi vào thăm, anh chị buồn bã dốc bầu tâm sự rằng, đến bây giờ anh chị mới thấm thía và trả giá đắt cho lối suy nghĩ sính ngoại, bài nội của mình. Tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, anh chị phải tự lo cho nhau.

Thuê người giúp việc thì cũng chỉ đỡ được phần nào. Con cháu định cư ở nước ngoài, vài ba năm mới lần lượt về quê thăm cha mẹ, ông bà được một lần. Mỗi lần về, chúng đều ở khách sạn. Tiếp cận với môi trường giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ, nếp nghĩ và lối sống của các con, các cháu của anh chị đã “quốc tế hóa” hoàn toàn. Chúng xa lạ với phong tục, nền nếp gia phong, thậm chí 4 đứa cháu dù đã lớn nhưng không đứa nào nói được tiếng Việt.

Ông bà ngồi bên cháu mà như hai thế giới xa lạ, từ hình dáng bề ngoài đến bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Tình cảm máu mủ ruột rà, vì thế, thật khó để gắn kết thân mật. Cái sự “mất gốc” của văn hóa do sính ngoại, bài nội đến từ rất sớm và hệ lụy của nó cứ âm ỉ, kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến lúc nhận ra thì đã quá muộn, không còn cơ hội cứu vãn được nữa. “Tiền nhiều để làm gì? Con cái thành đạt để làm gì? Bây giờ tôi chỉ ước ao có được những khoảnh khắc bình yên, ấm áp bên con cháu, sum vầy không khí gia đình. Nhưng ước ao ấy giờ là xa xỉ rồi. Chú cứ lấy câu chuyện của nhà tôi ra mà viết, để giúp những người còn có tư tưởng sính ngoại, bài nội sớm tỉnh ngộ. Chú đừng bêu tên anh chị lên mặt báo là được!”. Lời tâm sự đẫm nước mắt của người ở tuổi ngấp nghé “cổ lai hy” khiến chúng tôi bùi ngùi...

Giáo dục “khai phóng” và bài học từ gia đình, nhà trường đến xã hội

Chuyện sính ngoại dẫn đến “mất gốc” nền nếp gia phong, truyền thống tiên tổ xảy ra không hiếm trong thời đại ngày nay. Nhưng vì nó thuộc yếu tố cảm tính nên một bộ phận không nhỏ trong đời sống xã hội cứ coi đó là chuyện của mỗi nhà. Sự chia sẻ, nếu có, cũng chỉ mang tính riêng tư. Tuy nhiên, trong mối quan hệ gia đình - nhà trường - xã hội, bất cứ một biểu hiện lệch chuẩn nào cũng đều có tác động qua lại lẫn nhau.

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã nhấn mạnh, cảnh báo về tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, người làm công tác văn hóa chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc. Nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc... Đó cũng chính là những biểu hiện của lối sống sính ngoại, bài nội. Nó xuất phát từ chiếc nôi gia đình, ảnh hưởng từ môi trường giáo dục (đặc biệt là giáo dục ngoài công lập, hợp tác giáo dục có yếu tố nước ngoài).

Với việc hô hào những thứ được xưng tụng, khoa trương như là những “triết lý giáo dục”, kiểu: “Khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... không ít đơn vị giáo dục quốc tế đã tuyệt đối hóa yếu tố quốc tế, coi nhẹ, sao nhãng, thậm chí là bỏ qua các tiêu chí, nội dung giáo dục quốc nội. Đơn cử như lễ khai giảng, tổng kết, bế giảng... nhiều trường không tổ chức cho giáo viên, học sinh hát Quốc ca; trang trí khánh tiết không có Quốc kỳ, tượng Bác Hồ; thay vào đó là những hình ảnh, biểu trưng của cái gọi là “khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... theo văn hóa phương Tây.

Khi con em của chúng ta được giáo dục ngay trên chính quê hương mình mà lại khước từ tinh túy, tinh hoa của văn hóa truyền thống, thì hệ lụy đối với tương lai là rất khó lường. Nó không chỉ khiến cha mẹ “mất” con, gia đình mất nền nếp gia phong, mà vốn quý của đất nước, bản sắc văn hóa của dân tộc... cũng bị phai nhạt. Như vậy, sính ngoại, bài nội cũng là một dạng biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, cứ để nó “mưa dầm thấm lâu” thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hại cho Đảng, cho đất nước.

Thời gian gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội lan truyền video clip của một người trẻ tự xưng là du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Trong video clip này, cô gái tự nhận mình là người đã được “mở mang” đầu óc, tầm nhìn khi ra nước ngoài du học, nghiên cứu. Bên cạnh ca ngợi hết lời cái hay, cái đẹp nơi xứ người, cô quay sang chỉ trích người Việt, chê bai văn hóa Việt, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước; phủ nhận công lao của thế hệ ông cha trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước...

Những gì cô gái nói đều là những luận điệu xuyên tạc cũ rích của các thế lực thù địch ở hải ngoại. Tuy nhiên, khi được thốt ra từ miệng của một người trẻ đi du học, tính chất của nó đã khác đi nhiều. Nhận thức chính trị mơ hồ, yếu bản lĩnh, dễ dao động, ngả nghiêng... là những biểu hiện của suy thoái trong một bộ phận người trẻ. Nó xuất phát từ kiểu sính ngoại, bài nội trong công tác giáo dục và tự giáo dục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội...

Ngăn ngừa bằng cách nào?

Ở đâu, môi trường nào dễ xuất hiện mầm mống suy thoái thì phải có các hình thức, giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay ở nơi đó. Trước hết, cần phải khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác giáo dục, trong đó có mô hình các trường quốc tế, là một tất yếu trong xu thế hội nhập. Giáo dục quốc tế không có lỗi. Lỗi là ở những hạn chế, bất cập trong phương thức quản lý, điều hành.

Câu chuyện ở một trường quốc tế cấp cho học sinh tài liệu tham khảo là truyện khiêu dâm khiến dư luận xôn xao, phụ huynh bất bình vừa qua là một ví dụ. Nó thể hiện những “khoảng trắng”, “khoảng trống” trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và tư duy giáo dục của hội đồng quản trị, ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên của đơn vị giáo dục đó. Nếu chúng ta tiếp tục coi nhẹ, buông lỏng trong quản lý, giám sát, chấn chỉnh... thì cái “sảy” sẽ nảy cái “ung”. Mầm mống suy thoái trong môi trường giáo dục sẽ nảy nở, phát sinh từ những “việc nhỏ”, tích tụ dần thành hệ lụy khó lường.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo là: Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Như vậy, cho dù là giáo dục công lập hay ngoài công lập, các nhà quản lý và các đơn vị giáo dục đều phải có trách nhiệm, bổn phận thấm nhuần phương châm, định hướng giáo dục.

Đặc biệt, cái gốc của vấn đề vẫn là từ gia đình. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu chỉ đạo hội nghị đã nhấn mạnh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải giữ lấy “nếp nhà”, giữ lấy “chân quê”! Đó là cách tu từ để nói về tầm quan trọng của việc giữ gìn nền nếp gia phong, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Khi một bộ phận phụ huynh, nhất là những gia đình có điều kiện về kinh tế vẫn cứ sính ngoại, bài nội trong định hướng, giáo dục con cái, thì những câu chuyện buồn như trên vẫn còn phổ biến. Mầm mống suy thoái cũng từ đó mà ra./.