Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

Sao còn vấn vương tấm áo lỗi thời?

Ngót nửa thế kỷ từ Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, song những luồng tư tưởng gợi lại tàn tích chiến tranh, kích động hận thù vẫn ẩn hiện đâu đó trong đời sống của các cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Điều đó đòi hỏi thế hệ ngày nay càng phải thể hiện trách nhiệm lớn hơn nữa trong việc phản đối những gì đi ngược lại với chính sách hòa hợp dân tộc mà Đảng, Nhà nước ta đang nỗ lực thực hiện.

Lâu nay, một số cá nhân bất mãn và tổ chức, trong đó có các tổ phản động lưu vong ở nước ngoài, cùng các thế lực thù địch vẫn rắp tâm kích động hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, mà một trong số đó là tổ chức mua bán, sưu tầm và mang mặc các trang phục từ thời ngụy quân, ngụy quyền.

Cùng với đó là ảo vọng muốn thông qua trang phục, âm nhạc hay các hoạt động nghệ thuật để làm sống lại những giá trị đã lỗi thời và đã bị đào thải của chính quyền tay sai bán nước ở Sài Gòn trước năm 1975. Suy cho cùng, đó không đơn thuần là những hành vi mà thoạt nhìn đã thấy lố bịch, phản cảm.

Nhưng cũng không loại trừ khả năng họ chính là nạn nhân xúi giục của những kẻ luôn mang trong mình lòng hận thù, tư tưởng bất mãn, hoặc các tổ chức phản động lưu vong có tư tưởng thù địch với Việt Nam, muốn dựa vào những tàn tích quá khứ để bóp méo lịch sử, kích động hận thù, phá hoại chủ trương “hòa hợp dân tộc”, “khép lại quá khứ, mở ra tương lai” và chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Thời gian gần đây, việc mang mặc những trang phục như vậy thường bị dư luận nhận diện và phản đối một cách hết sức nhanh chóng, quyết liệt. Mừng vì điều đó càng chứng tỏ người Việt Nam ta ở trong nước cũng như nước ngoài giờ đây đều có chung quan điểm, đó là không thể cổ xúy những gì đã trở thành vô giá trị, những gì gợi lại quá khứ đau thương của dân tộc. Vẫn biết hòa hợp dân tộc là một quá trình lâu dài, bền bỉ, nhưng sẽ khó đi đến đích nếu chưa thoát khỏi chiếc áo nhuốm máu đồng bào, nhuốm màu thù hận, mặc cảm và định kiến.

Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều người trong số những kiều bào trẻ đang đóng vai trò nòng cốt, có sức ảnh hưởng lớn trong việc tập hợp, đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, đất nước, đồng thời là những nhân tố quan trọng trong triển khai chính sách hòa hợp dân tộc và tác động lớn đến nhận thức, thái độ của cộng đồng nơi họ đang sinh sống.

Qua đó cho thấy, trong quá trình triển khai chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đặt niềm tin vào thế hệ trẻ, nhất là người trẻ ở hải ngoại. Chính họ cũng là những người có tiếng nói trọng lượng nhất để phản bác quan điểm đòi “phục dựng” một chế độ đã “cáo chung” từ nhiều năm trước, từ đó tiếp tục hàn gắn vết thương chiến tranh và giúp cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài toàn tâm toàn ý đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước./.

Sưu tầm

Sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Bức tranh tái hiện chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”Ngay khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn (23-9-1945), mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn một cuộc chiến tranh xảy ra. Song mọi cố gắng, nỗ lực của phía Việt Nam đã bị dã tâm xâm lược của thực dân Pháp chối bỏ. Trước tình thế đó, ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Bản chỉ thị nêu rõ: Mục đích cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc; tính chất: Trường kỳ kháng chiến, toàn diện kháng chiến; các chính sách của cuộc kháng chiến là đoàn kết toàn dân, xây dựng thực lực về mọi mặt để chống thực dân Pháp. Tiếp đó, nhằm chống lại những hành động xâm lược trắng trợn của thực dân Pháp, ngày 19-12-1946, thay mặt Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến với quyết tâm sắt đá: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

 

Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc còn được huy động ở mức cao nhất trong phối hợp tiến công trên các hướng chiến lược để căng kéo quân địch, buộc chúng phải phân tán ra các chiến trường theo ý định của ta. Quân và dân ta ở khắp các địa phương trong cả nước, từ Tây Bắc, Liên khu III, Tả ngạn, đến Bình - Trị - Thiên, Liên khu V, Bắc Tây Nguyên, Sài Gòn - Gia Định, Nam Bộ đều đẩy mạnh các hoạt động phối hợp, liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai và nhân dân, buộc thực dân Pháp phải phân tán lực lượng khắp nơi để đối phó. Tại Liên khu III, ta tăng cường tiến công tập kích Đường 5 - tuyến đường vận tải chiến lược của địch từ Hải Phòng về Hà Nội; đồng thời, liên tiếp tập kích các sân bay Gia Lâm và Cát Bi để phá tuyến vận tải đường không của địch chi viện cho Điện Biên Phủ. Ở chiến trường Nam Bộ, theo chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Cục miền Nam đã chỉ đạo dốc toàn lực đẩy nhanh nhịp độ tiến công để phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Các đơn vị chủ lực của các khu và các tỉnh đã kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công vào vùng địch hậu các tỉnh: Thủ Biên, Long Châu Sa, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu. Bằng nhiều hình thức, như phục kích, tập kích, công đồn, các lực lượng vũ trang Nam Bộ đã diệt nhiều sinh lực địch, phá nhiều đồn bốt. Trong cả nước, nhân dân từ Nam chí Bắc, từ thành thị đến nông thôn liên tiếp mở nhiều cuộc đấu tranh, vùng lên diệt ác, phá tề, giành quyền làm chủ. Các lực lượng thanh niên, phụ nữ từ thành thị đến nông thôn, từ vùng núi đến đồng bằng tích cực tham gia đấu tranh chính trị, phá tề trừ gian. Qua đó, ta đã phân tán một bộ phận quan trọng lực lượng địch, buộc chúng phải căng sức đối phó, bị giam chân ở nhiều chiến trường. Đây là những hoạt động phối hợp kịp thời của cả nước có tác động tích cực tới chiến trường Điện Biên Phủ.

Theo phương hướng đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, hệ thống chính trị và nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của việc phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện chủ trương, chính sách về đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước; xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh; tăng cường đoàn kết trong Đảng, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng cũng như nâng cao vai trò, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trong phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tiềm năng và sức sáng tạo của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước; tổ chức các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả.

 

Trong tình hình mới hiện nay, chúng ta tin tưởng rằng, một dân tộc đã đoàn kết một lòng, đứng lên đem hết “tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để giữ vững nền độc lập và “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng” để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa - “một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử” trong thế kỷ XX, sẽ tiếp tục phát huy cao độ tinh thần Điện Biên Phủ, “nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực tự cường, không cam chịu nghèo nàn và lạc hậu, quyết tâm vượt qua thách thức, phát huy trí thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm, làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong sự nghiệp đổi mới”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đưa đất nước vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa./.

Sưu tầm

Vận dụng kinh nghiệm, bài học từ tầm nhìn, hành động của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vào đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ trong giai đoạn hiện nay

 Quan điểm, chỉ dẫn về đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cán bộ trẻ cho từng thời kỳ lịch sử là bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong Di chúc, Người thiết tha căn dặn, nhiệm vụ “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(9); như vậy, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị trong mọi thời kỳ. Thấm nhuần quan điểm ấy, Đảng ta không ngừng nghiên cứu, ban hành chủ trương, chính sách nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, tạo nguồn bổ sung cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới(10). Thời gian tới, để hoàn thành hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cần chú trọng thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Thứ nhất, phải luôn đánh giá cao vai trò, vị trí của cán bộ trẻ trong tiến trình cách mạng của Đảng và dân tộc.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định rõ tầm quan trọng của công tác cán bộ, Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”(11), theo đó “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”(12). Như vậy, “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”(13). Người cũng đặc biệt đánh giá cao tiềm năng trí tuệ của đội ngũ cán bộ trẻ trên nguyên tắc “phải khéo kết hợp cán bộ già với cán bộ trẻ. Không nên coi thường cán bộ trẻ”(14).

Theo đó, người đứng đầu các cấp, chính quyền ở địa phương, cơ quan, đơn vị phải có nhận thức đúng đắn và quyết tâm cao trong việc sử dụng cán bộ trẻ, quan tâm đào tạo và luôn mạnh dạn tin tưởng giao việc, thử thách, sử dụng họ phù hợp. Cần nghiên cứu, ban hành quy định về trách nhiệm của lãnh đạo và cấp ủy viên các cấp trong việc tiến cử người có đức, có tài hay trong đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình. Mặt khác, cần xây dựng cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào các vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp; tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển cán bộ.

Thứ hai, luôn coi trọng việc chăm sóc, bồi dưỡng cán bộ trẻ.

Xây dựng thế hệ tương lai của đất nước là nhiệm vụ chiến lược, mang tính quyết định, do đó Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cho cán bộ trẻ, đào tạo họ thành người có phẩm chất vừa “hồng”, vừa “chuyên” thông qua một số nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, chú trọng bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ trẻ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nhiệm vụ bồi dưỡng thế hệ trẻ, việc xây dựng đạo đức cách mạng, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa và gột rửa chủ nghĩa cá nhân là yếu tố then chốt. Đạo đức cách mạng không phải là cái có sẵn, mà là kết quả của sự đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày của mỗi người, bởi vậy, thế hệ trẻ phải luôn nỗ lực rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; có lối sống trong sạch, có chí tiến thủ và đoàn kết, không kiêu ngạo; tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân; phê phán thói hư, tật xấu; thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình,... để giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Mặt khác, nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu nên cùng với việc học tập lý luận cách mạng, thế hệ trẻ phải tích cực trau dồi, ứng dụng kiến thức về lịch sử, văn hóa, khoa học - kỹ thuật,... nhằm xây dựng xã hội mới. Bản thân người cán bộ trẻ được tin tưởng phải chứng minh năng lực, phẩm chất, bản lĩnh chính trị của mình; không ngừng tự nâng cao nhận thức, trau dồi, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong sạch, tôn trọng, gìn giữ truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Hai là, chú trọng phương thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ trẻ(15)Muốn đạt được hiệu quả trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, nhất định phải có phương thức, phương pháp phù hợp dựa trên nội dung, yêu cầu của sự nghiệp đào tạo các thế hệ cách mạng cho đời sau; mặt khác, phải biết vận dụng phù hợp với đặc điểm tâm lý, tính cách của từng lứa tuổi. Theo đó, lãnh đạo các tổ chức đảng, cơ quan, chính quyền, địa phương, tổ chức chính trị - xã hội phải có chiều sâu hiểu biết về đặc điểm tính cách, khát vọng của cán bộ trẻ; tạo môi trường thực tiễn tốt để đưa cán bộ trẻ vào rèn luyện; là tấm gương sáng để cán bộ trẻ noi theo. Bên cạnh đó, phải đề cao quá trình tự giáo dục, rèn luyện của thanh niên, coi đó là một phương pháp đào tạo hằng ngày của mỗi cá nhân.

Ba là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ trẻ phong cách làm việc khoa học và tư duy độc lập, tự chủ sáng tạo. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể để bồi dưỡng phong cách tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo, bám sát yêu cầu của thực tiễn trong định hướng suy nghĩ, hành động của đội ngũ cán bộ trẻ. Bên cạnh đó, cần chú trọng rèn luyện cán bộ trẻ kỹ năng nắm bắt tình hình, nghiên cứu, phân tích toàn diện vấn đề, đồng thời phải tôn trọng quy luật khách quan trong các quyết định công việc, như Người chỉ dẫn: “Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới(16)

Thứ ba, đẩy mạnh kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ.

Trong quá trình sử dụng cán bộ trẻ ở những vị trí chủ chốt tại các đơn vị, địa phương, phải thường xuyên quan tâm đánh giá cán bộ, đi liền với  phát huy vai trò của các cơ quan kiểm tra, giám sát trong công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền theo hướng “quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó”; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm hành vi vi phạm; đặc biệt, nghiêm túc thực hiện các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương về nhiệm vụ kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nhất là Quy định số 114-QĐ/TW, ngày 11-7-2023, của Bộ Chính trị, “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”. Bên cạnh đó, xây dựng bổ sung, sửa đổi và ban hành nhiều quy định mới về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; không ngừng đổi mới quy trình công tác cán bộ.

Các đảng viên mới tuyên thệ tại lễ kết nạp đảng_Ảnh: vietnamplus.vn

Thứ tư, thường xuyên bồi dưỡng phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cán bộ trẻ.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(17). Tuy nhiên, Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ, “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(18). Theo đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu(19)

Bên cạnh đó, thường xuyên định hướng đội ngũ cán bộ trẻ rèn luyện phong cách sinh hoạt giản dị, thanh cao trong cuộc sống, công việc, học tập; trong cả suy nghĩ và hành động; trong quan hệ với đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân. Mặt khác, luôn đề cao tinh thần cầu tiến, ham học hỏichống thói chây lười, bệnh “ngại” học tập lý luận trong đội ngũ cán bộ trẻ; biết lắng nghe, tiếp thu kinh nghiệm, tri thức, tránh tâm lý ta đây, biết tuốt trên tinh thần “không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chí già có kinh nghiệm”(20)

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người, rằng “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(21). Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất trong lịch sử loài người, đồng thời cũng là một cuộc cách mạng cam go, phức tạp và khó khăn nhất; mỗi người dân Việt Nam phải chuẩn bị tư tưởng và nghị lực để vượt qua mọi thử thách và hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng này. Trong đó, đội ngũ cán bộ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước, là chiến sĩ tiên phong quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; theo đó, những bài học mà Bác để lại về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ vẫn mãi vẹn nguyên giá trị./.

LHQ-ST

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ nhằm chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng vô sản ở Việt Nam

 Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiếp cận nội dung “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin, tìm ra đường lối cách mạng trong công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam; sau đó, Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nước, chuẩn bị cho sự ra đời của một chính đảng vô sản, tiến tới chấm dứt khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Trong thời gian làm việc ở Ban Phương Đông - Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc nhiều lần đề nghị được trở về phương Đông gặp gỡ nhiều thanh niên yêu nước đang hoạt động ở thành phố Quảng Châu (Trung Quốc) để thực hiện ý nguyện “thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(3).

Là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm theo dõi và chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước châu Á. Tháng 9-1924, Quốc tế Cộng sản điều động Nguyễn Ái Quốc đi Quảng Châu nhằm tổ chức việc tập hợp thanh niên trong nước, huấn luyện họ làm cách mạng rồi đưa về nước hoạt động, giác ngộ đồng bào, gây dựng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Ở Quảng Châu, với bí danh Lý Thụy, Người trực tiếp đến gặp gỡ, trao đổi với những người Việt Nam yêu nước đang sinh sống, học tập, làm việc tại đây, trong đó có các nhân sĩ yêu nước nổi tiếng, như Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong,... và trao đổi thư từ với nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Người chủ trương mở lớp huấn luyện, làm cơ sở thành lập một tổ chức có tính quần chúng rộng rãi hơn nhằm tập hợp đầy đủ tất cả thanh niên yêu nước(4). Hệ thống bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách Đường Kách mệnh - một văn kiện lý luận quan trọng xác lập cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam về sau.

Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc chính thức thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, lấy tổ chức “Cộng sản đoàn” làm nòng cốt, tập trung việc đào tạo cán bộ cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin về Việt Nam. Hội là một tổ chức chính trị theo khuynh hướng Mác-xít; có mục đích thực hiện cuộc cách mạng dân tộc (đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập), sau đó, làm cuộc cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc, xây dựng chủ nghĩa cộng sản).

Để thực hiện mục đích này, Người dành hầu hết thì giờ cho các lớp huấn luyện, trong đó các đồng chí Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn là phụ giảng. Trong Báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Quốc tế Cộng sản ngày 3-6-1926, Người chủ trương tổ chức một trường tuyên truyền, sau một tháng rưỡi học tập họ trở về nước; khóa thứ nhất được 10 học viên, khóa thứ hai sẽ mở vào tháng 7 và có khoảng 30 người(5) nhằm gấp rút tổ chức các lớp đào tạo cán bộ, làm nòng cốt cho phong trào. Tham gia lớp huấn luyện, các học viên không những được trang bị về kiến thức lý luận, mà còn được trau dồi kỹ năng thực hành các công việc cách mạng, như kỹ năng làm báo, diễn thuyết; được tiếp thu nhiều chương trình học tập phong phú, bao gồm các vấn đề về cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam, phương pháp vận động quần chúng đấu tranh cách mạng, hệ thống lý thuyết chủ nghĩa (Tam dân, Cộng sản),...

Kết thúc các khóa học, có học viên được giữ lại ở nước ngoài để công tác hoặc được cử đi học tiếp ở Trường Đại học Phương Đông (Liên Xô)(6), có người tiếp tục học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc); phần đông khác được cử về nước hoạt động, gây dựng và phát triển tổ chức Hội. Những thanh niên được Người bố trí về nước thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: Xây dựng một hệ thống tổ chức cách mạng từ chi bộ lên kỳ bộ trên toàn quốc và lựa chọn thanh niên trí thức yêu nước sang Quảng Châu tham dự các lớp huấn luyện chính trị. Với những hoạt động giá trị của các chiến sĩ tiên phong, nhịp độ và số lượng thanh niên bí mật sang Quảng Châu ngày một tăng (tháng 4-1927, cả nước có khoảng từ 250 - 300 người xuất dương sang dự lớp huấn luyện). Đồng thời, Người sáng lập “Báo Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của nước ta, số ra đầu tiên vào ngày 21-6-1925, đến tháng 4-1927 (thời kỳ có sự lãnh đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc), báo Thanh niên đã ra được 88 số; tính chung thời kỳ tồn tại của Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Báo xuất bản được 200 số(7). Bên cạnh việc hoàn thành nhiệm vụ tuyên truyền, tổ chức cho thanh niên trong nước bí mật sang Quảng Châu, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc còn triển khai trong cộng đồng người Việt Nam ở Xiêm (tức Thái Lan ngày nay). Nhờ tầm nhìn chiến lược và hành động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đến đầu năm 1927, hệ thống tổ chức của Hội được phủ rộng khắp đất nước, không một tổ chức chính trị cùng thời nào (như Hưng Nam, Tân Việt, Việt Nam Quốc dân Đảng...) có được mạng lưới rộng lớn như vậy.

Thực tế, bài học xương máu từ thất bại của các phong trào yêu nước trước đó cho thấy, để tiến tới lật đổ bộ máy thống trị thực dân - phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân thì nhất định phải thực hiện bạo lực vũ trang, vì thế Nguyễn Ái Quốc từ sớm đã chuẩn bị kỹ càng cho cách mạng đội ngũ cán bộ yêu nước, tài năng; gửi nhiều thanh niên Việt Nam, như Lê Hồng Phong, Trương Văn Lĩnh, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn theo học Trường Quân sự Hoàng Phố của Tôn Trung Sơn dưới sự huấn luyện của các chuyên gia quân sự Xô-viết,... Giai đoạn 1924 - 1927, tuy chỉ mở được 3 lớp huấn luyện với 75 học viên, nhưng ở buổi đầu mới hình thành với nhiều khó khăn, thử thách về trường lớp, tài liệu, quản lý, tuyển chọn và tài chính, thì đó vẫn là con số đầy ý nghĩa. Sau này, đây chính là lực lượng giữ vai trò quyết định trong việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào quần chúng nhân dân lao động ở trong nước, chuyển hóa con đường cách mạng Việt Nam những năm cuối thập niên 20 của thế kỷ XX sang quỹ đạo cách mạng vô sản.

Có thể khẳng định, Nguyễn Ái Quốc đã đào tạo được thế hệ đội ngũ cán bộ, đảng viên đầu tiên cho cách mạng Việt Nam và từ họ, lớp lớp thanh niên cách mạng kế tiếp xuất hiện trên toàn đất nước. Nhờ những hoạt động không mệt mỏi của Người và đóng góp lớn lao của các bậc cán bộ cách mạng tiền bối mà các điều kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng chín muồi. Từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc đã diễn ra hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, quyết định thành lập một chính Đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam(8), đánh dấu mốc quan trọng trong bước phát triển về chất của cách mạng Việt Nam (được đặt dưới sự lãnh đạo của một chính đảng thống nhất), là yếu tố quyết định những thắng lợi vang dội của cách mạng Việt Nam về sau này.

LHQ-ST

Khái quát quá trình hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn đầu ra đi tìm đường cứu nước

 Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, mà sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu sinh ra trong bối cảnh đất nước bị đặt dưới ách nô lệ, xiềng xích của thực dân Pháp. Tận mắt chứng kiến cảnh đất nước lầm than, loạn lạc, trong khi các phong trào đấu tranh của nhân dân lần lượt bị nhấn chìm trong bể máu, Người đã sớm nung nấu ý chí tìm kiếm con đường cứu nước thực tế, phù hợp hơn con đường mà các bậc tiền bối đáng kính đã thực hiện.

Ngày 5-6-1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời bến cảng Nhà Rồng (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) với tên mới là Văn Ba, làm việc trên chiếc tàu vận tải hàng hải của nước Pháp mang tên tàu Đô đốc La-tút-sơ Tơ-rê-vin. Người hướng đến nước Pháp và phương Tây để “xem người ta làm thế nào”, từ đó nghiên cứu, nắm bắt tình hình thực tế của nước Pháp - nước đang đô hộ Việt Nam, nhằm tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc.

Giai đoạn 1911 - 1917, Người đã lần lượt đến các nước tư bản, đế quốc và cả những nước thuộc địa ở nhiều châu lục; làm nhiều công việc vất vả để kiếm sống, như rửa bát, quét tuyết, rửa ảnh, phụ bếp, viết báo, phục vụ trong các khách sạn,...; có điều kiện sống, làm việc gần gũi với người lao động ở nhiều quốc gia. Từ đó, Người thấu hiểu hoàn cảnh và nguyện vọng phần lớn nhân dân lao động trên thế giới, đó là cơ sở đầu tiên để Người nhận thức đúng đắn về tinh thần đoàn kết quốc tế. Đặc biệt, năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ, rung chuyển toàn thế giới kéo theo sự thức tỉnh của các dân tộc bị áp bức, trong đó có Việt Nam. Vào thời điểm này, Người sống ở Pa-ri (Pháp) và dành toàn bộ tâm trí hướng về đất nước Liên Xô anh hùng của lãnh tụ V.I. Lê-nin vĩ đại.

Năm 1919, chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận tổ chức Hội nghị Véc-xây, Người gửi đến Hội nghị Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, ký tên Nguyễn Ái Quốc (tên gọi Nguyễn Ái Quốc được xuất hiện từ đây). Ngày 16 và 17-7-1920, trên báo Nhân đạo của Đảng Xã hội Pháp đăng bài viết “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I. Lê-nin, tác phẩm này có tác động mạnh mẽ, khiến Người cảm động, sáng tỏ niềm tin về một con đường giải phóng dân tộc đầy hy vọng. Tại Đại hội Tua được triệu tập vào ngày 25-12-1920, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III, tán thành cách mạng vô sản, tham gia thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản, từ đây, Người trở thành người cộng sản và là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

Như vậy, xuất phát là một người Việt Nam yêu nước chân chính cùng ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường giải phóng Tổ quốc và trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam. Sau này, khi nhìn lại sự kiện trên, Người bày tỏ: “Riêng về cá nhân tôi, từ lúc đầu nhờ được học tập truyền thống cách mạng oanh liệt và được rèn luyện trong thực tế đấu tranh anh dũng của công nhân và của Đảng Cộng sản Pháp, mà tôi đã tìm thấy chân lý chủ nghĩa Mác - Lênin, đã từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”(1); Người cũng đi đến kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

LHQ-ST

Quan điểm của Đảng về người cao tuổi Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng

 Phát huy truyền thống “Diên Hồng”, vai trò người cao tuổi trong tiến trình lịch sử dân tộc trong 94 năm qua, Đảng, Nhà nước luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn, nhất quán, nhằm tôn vinh người cao tuổi, bảo vệ, chăm sóc, phát huy vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngay trong các văn kiện đầu tiên, Đảng luôn đặt người cao tuổi vào vị trí quan trọng, là một bộ phận đặc biệt trong tập hợp lực lượng cách mạng đi theo Đảng.

Sau khi nước nhà được độc lập, đồng bào được tự do, Đảng, Nhà nước đã quan tâm từng bước cải thiện đời sống, bảo đảm an sinh xã hội cho người cao tuổi. Trong 2 cuộc kháng chiến vệ quốc kéo dài 30 năm, tiếp đến là 2 cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ quốc, người cao tuổi được Đảng, Nhà nước xác định là một lực lượng tiêu biểu cho tinh thần “tuổi cao chí càng cao”, được huy động tối đa vào sự nghiệp chống ngoại xâm, kiến thiết chế độ mới. Phụ lão được tôn vinh trên các lĩnh vực, cùng con cháu cầm súng đánh giặc, làm giao liên, nuôi giấu cán bộ kháng chiến trong vùng địch hậu…

Bước vào thời kỳ đổi mới, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 59-CT/TW, ngày 27-9-1995, “Về chăm sóc người cao tuổi”. Ngày 23-11-2009, Quốc hội khóa XII thông qua Luật Người cao tuổi với 6 chương, 31 điều. Luật quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi, chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân đối với người cao tuổi, quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi, quy định rõ hành vi bị cấm thực hiện đối với người cao tuổi. Ngày 24-9-1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 523/QĐ-TTg, “Về việc cho phép thành lập Hội Người cao tuổi Việt Nam”. Ngày 25-4-2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 544/QĐ-TTg, “Tháng hành động vì người cao tuổi Việt Nam”. Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25-10-2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Về công tác dân số trong tình hình mới” đưa ra mục tiêu: “Bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội; xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi. Tích cực, chủ động xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi”(2). Ngày 23-6-2023, Ban Bí thư đã ban hành Kết luận số 58-KL/TW “Về công tác người cao tuổi và hội người cao tuổi trong tình hình mới”, trong đó nhấn mạnh cần tăng cường sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các tổ chức, đoàn thể và sự chia sẻ của toàn xã hội đối với người cao tuổi. Tới đây, sẽ tổng kết Chỉ thị số 59-CT/TW của Ban Bí thư về chăm sóc người cao tuổi; Quốc hội sẽ xem xét việc sửa Luật Người cao tuổi; Chính phủ sẽ xây dựng và ban hành Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2030, tầm nhìn 2045…, là cơ sở quan trọng để tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách phù hợp, thích ứng bối cảnh già hóa dân số, tạo điều kiện, nguồn lực cho người cao tuổi được thụ hưởng và cống hiến nhiều hơn nữa. Ngày nay, trước bối cảnh mới, yêu cầu mới của cách mạng, rất cần khơi dậy ý chí tự lực, tự cường của toàn dân; muốn làm được điều ý nghĩa đó, không thể không tính đến vị trí, vai trò người cao tuổi. Để cơ đồ dân tộc Việt Nam ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, người cao tuổi Việt Nam cần tự tôn vinh và lan tỏa truyền thống “Diên Hồng” vào cuộc sống đương đại, tiếp tục là điểm tựa tinh thần dân tộc, rường cột quốc gia, đem vốn kinh nghiệm và nhiệt huyết của mình truyền lại cho thế hệ sau, cổ vũ, động viên con cháu và toàn xã hội quyết chí, đồng lòng đưa dân tộc ta từng bước sánh vai với các cường quốc năm châu.

Công tác người cao tuổi là hoạt động xã hội có tính đặc thù, được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; do người cao tuổi đảm trách, trong đó nòng cốt là tổ chức hội người cao tuổi các cấp nhằm chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi trước mọi biến động khách quan, chủ quan, giúp cho người cao tuổi Việt Nam sống thật khỏe, thật vui, thật hạnh phúc, đồng thời phát huy tối đa vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của người cao tuổi vừa tiếp nối truyền thống văn hóa dân tộc, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, trọng trí, trọng đức đối với phụ lão, vừa góp phần bồi đắp và định hướng giá trị nhân bản, nhân văn cho văn hóa và con người Việt Nam thời hiện đại.

Bối cảnh tình hình thế giới hiện nay đang có những diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường, tác động sâu rộng tới hòa bình, ổn định chung; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; các yếu tố an ninh truyền thống và phi truyền thống; biến đổi khí hậu theo xu hướng tiêu cực đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết đối với an ninh toàn cầu và từng quốc gia, đòi hỏi con người luôn thích ứng để tồn tại và phát triển, do đó cần có sự chuẩn bị tâm lý và bổ sung kiến thức, hướng dẫn kỹ năng sống cho người cao tuổi.

Bên cạnh đó, tác động của già hóa dân số trên phạm vi thế giới và ở Việt Nam đã và đang đòi hỏi các cấp có thẩm quyền dự báo sát xu hướng, làm cơ sở điều chỉnh chính sách phù hợp với tình hình cụ thể của đất nước, địa phương. Có như vậy, mới bảo vệ lợi ích chính đáng của người cao tuổi, chăm sóc tốt hơn người cao tuổi, phát huy tối ưu vai trò người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay là nhờ một phần công lao to lớn của người cao tuổi qua các thế hệ; đây là niềm vinh dự, tự hào để người cao tuổi nước ta tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò rường cột quốc gia. Trên lộ trình đi tới tương lai, đất nước ta cần vượt qua những thách thức lớn: Đổi mới, không bảo thủ, trì trệ, nhưng phải giữ vững nguyên tắc; giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại; giữ được các giá trị văn hóa truyền thống và chắt lọc được tinh hoa văn hóa nhân loại. Trong bối cảnh đó, đối với công tác người cao tuổi, một số vấn đề cần lưu ý như sau:

Một là, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền địa phương về công tác người cao tuổi chưa cao, trong lãnh đạo, chỉ đạo chưa thực sự sâu sắc, chưa quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ cho hoạt động của Hội; vì thế, hoạt động người cao tuổi ở một số địa phương gặp khó khăn, nhất là về nguồn lực, chưa thể phát huy tối ưu vai trò người cao tuổi đối với quê hương, đất nước, chưa bảo vệ đầy đủ lợi ích chính đáng của người cao tuổi, chưa chăm sóc sức khỏe tốt cho người cao tuổi.

Hai là, chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi chưa bảo đảm điều kiện tối thiểu cho cuộc sống tuổi già, trong khi phần nhiều người cao tuổi ở nước ta chưa chuẩn bị một số điều kiện cần thiết cho bản thân để lúc về già ít bị lệ thuộc con cháu, nên đời sống còn bấp bênh.

Ba là, người cao tuổi đang đứng trước áp lực cả về vật chất và tinh thần; trong xã hội, còn một bộ phận có biểu hiện coi người cao tuổi là gánh nặng của gia đình và xã hội; một bộ phận người cao tuổi sống thọ, nhưng chưa khỏe, chưa vui, chưa hạnh phúc.

Bốn là, một số biểu hiện chưa đúng với thuần phong, mỹ tục, thậm chí lệch lạc, đứt gãy từ trong gia đình, cộng đồng, trong đó có sự ứng xử phi văn hóa, phi đạo đức với người cao tuổi, tạo tâm lý không tốt cho người cao tuổi, gây nhức nhối trong dư luận xã hội.

Vì vậy, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cần coi người cao tuổi là lực lượng quan trọng, là nguồn lực phát triển, là nhóm ưu tiên của công tác an sinh xã hội. Trong nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp và trong toàn xã hội cần thể hiện rõ hơn nữa tư duy giàu tính nhân văn, đậm tính văn hóa, thay vì coi người cao tuổi là gánh nặng xã hội, cần đề cao, trân trọng, coi là “hồng phúc dân tộc”.

Cán bộ, hội viên người cao tuổi tự giác, gương mẫu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cống hiến vì nghĩa lớn, không ngừng đổi mới, sáng tạo, kết nối sức mạnh tổng hợp với các lực lượng trong hệ thống chính trị và xã hội, mở rộng giao lưu quốc tế, khái quát lý luận, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, xây dựng Hội Người cao tuổi trở thành nòng cốt các phong trào thi đua yêu nước, tô đậm truyền thống vẻ vang của Hội.

Già hóa dân số là xu hướng toàn cầu và đang diễn ra với tốc độ rất nhanh ở Việt Nam, có sự đan xen thời cơ và thách thức đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò người cao tuổi. Nâng cao chất lượng sống, phát huy tối đa vai trò người cao tuổi trong bối cảnh già hóa dân số nhanh cần được đặt trong tầm nhìn chiến lược phát triển bền vững đất nước, trong đó, Hội Người cao tuổi có vai trò quan trọng, nòng cốt. Công tác người cao tuổi, hoạt động của Hội Người cao tuổi vừa tự chủ, sáng tạo, nỗ lực vượt khó phấn đấu cho quyền lợi chính đáng của mình, vừa kết nối lực lượng xã hội tham gia tích cực vào giải quyết những vấn đề căn cốt của công tác người cao tuổi, đổi mới hoạt động của Hội, nâng cao vị thế, uy tín người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong thời gian tới, Hội tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, tạo chuyển biến mới về nhận thức và hành động trong toàn xã hội đối với việc bảo đảm an sinh xã hội đối với người cao tuổi. Theo đó, Hội Người cao tuổi chủ động phối hợp tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp cụ thể hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người cao tuổi; tổ chức các hoạt động thiết thực, hiệu quả thực hiện toàn diện, đồng bộ các nội dung cốt lõi trong ba trụ cột bảo vệ người cao tuổi, hạn chế tối đa tác động, ảnh hưởng tiêu cực từ già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, xung đột sắc tộc…

Thứ hai, nâng cao chất lượng sống cho người cao tuổi, giúp người cao tuổi được sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc. Theo đó, Hội Người cao tuổi Việt Nam tích cực, chủ động phối hợp tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp cụ thể hóa quan điểm của Đảng về chăm sóc người cao tuổi cả về thể chất và tinh thần; tổ chức các hoạt động thiết thực, hiệu quả thành lập các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, thực hiện chính sách chăm sóc y tế cho người cao tuổi, bảo đảm mức trợ cấp tương xứng với mức sống tối thiểu cho người cao tuổi.

LHQ-ST

Tư tưởng Hồ Chí Minh về sứ mệnh lịch sử của người cao tuổi trong tiến trình cách mạng

 Thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống “Diên Hồng” càng tỏa sáng trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do, vì khát vọng dân tộc hùng cường. Các giá trị tinh thần dân tộc ấy được tiếp nối và thăng hoa trong thời đại Hồ Chí Minh, tạo nên sức mạnh nội sinh, tiêu biểu cho khí phách Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xây dựng chế độ mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Các bậc tiền bối cách mạng, lãnh đạo Đảng qua các thời kỳ luôn tỏ rõ khí phách anh hùng, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng cách mạng, tiếp tục dõi theo, cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân. Tấm gương của các bậc tiền bối được lưu truyền, phát huy trong mọi thời kỳ lịch sử. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người cao tuổi cũng một lòng một dạ theo Đảng, Bác Hồ làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Người cao tuổi luôn hưởng ứng nhiệt huyết các phong trào thi đua ái quốc, sản xuất giỏi, chiến đấu kiên cường, động viên con cháu xả thân vì nước. Qua gần 40 năm đổi mới, người cao tuổi là một trong những lực lượng đi đầu và luôn ủng hộ đường lối đổi mới của Đảng, kiên định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, xây dựng cơ đồ dân tộc ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Với tầm tư duy sâu rộng, sự nhạy cảm chính trị, sự am tường văn hóa phương Đông và phương Tây, lịch sử văn hóa dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã để lại cho hậu thế nhiều giá trị cốt lõi về sứ mệnh lịch sử của người cao tuổi, gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, với cách mạng Việt Nam. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc đã có thêm sự tích lũy về sức mạnh đại đoàn kết lực lượng cách mạng quốc tế và trong nước. Ngay sau khi trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, nhân danh người đứng đầu Mặt trận Việt Minh - mái nhà chung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có Thư gửi các Phụ lão toàn quốc (ngày 6-6-1941), trong đó khẳng định: “Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ lão góp sức. Nước bị mất, phụ lão cứu. Nước suy sụp, phụ lão phù trì. Nước nhà hưng suy, tồn vong, phụ lão đều gánh vác, trách nhiệm rất nặng nề...”(1). Lời hiệu triệu của Người là dấu mốc mở đầu truyền thống người cao tuổi Việt Nam, tiếp nối truyền thống “Diên Hồng”. Quốc dân Đại hội Tân Trào, với sự tham gia của nhiều thân sĩ, trí thức, trong đó người cao tuổi là một thành phần quan trọng, thực sự là “Hội nghị Diên Hồng” trước thềm bước ngoặt lịch sử Việt Nam thời hiện đại, nhờ đó đã khích lệ được chí khí người cao tuổi, làm rường cột tập hợp, giác ngộ đông đảo quần chúng đi theo Đảng, tạo nên sức mạnh long trời lở đất tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân tháng Tám năm 1945. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời nhiều bậc trí thức cao niên tham gia vào chính phủ cách mạng, khích lệ phụ lão phát huy tinh thần yêu nước, hăng hái tham gia kháng chiến vệ quốc và kiến thiết nước nhà, giúp nước nhà vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, cổ vũ con cháu tham gia kháng chiến và xây dựng chế độ mới.

Không chỉ là người hướng đạo tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng với nòng cốt là người cao tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là tấm gương sáng về tài năng, đức độ cách mạng. Từ thời trai trẻ đến tuổi “xưa nay hiếm”, dù ở cương vị nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Người luôn hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong mối quan tâm chung tới mọi giai tầng xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành mối quan tâm, ân cần đặc biệt tới người cao tuổi. Người tặng quà, nói chuyện động viên, căn dặn người cao tuổi phải làm chỗ dựa tinh thần cho con cháu, gửi thư khích lệ tinh thần “tuổi cao chí càng cao” của người cao tuổi trong chiến đấu và sản xuất. Trong Di chúc thiêng liêng, Người dành muôn vàn tình yêu thương cho trẻ thơ và phụ lão. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người cao tuổi là một biểu tượng cao đẹp tô đậm truyền thống yêu nước thương nòi, góp phần quan trọng làm nên sức mạnh dân tộc thời hiện đại, là vốn quý đưa nước nhà tới giàu đẹp, phồn vinh, hạnh phúc.

LHQ-ST

Giải pháp hoàn thiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và thực hiện hội nhập quốc tế ở Việt Nam thời gian tới

 Một là, quán triệt và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vai trò, tầm quan trọng của chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Chủ trương của Đảng ta khẳng định, không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi CSXH phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Chính vì vậy, cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ quan điểm của Đảng về CSXH, thực hiện CSXH bảo đảm, bảo vệ quyền con người. Bảo đảm mối quan hệ không thể tách rời giữa con người với tư cách là cá nhân với con người trong cộng đồng, nhóm, tập thể: Mỗi cá nhân con người phải được bảo đảm tốt nhất các quyền và lợi ích của họ; phải coi mỗi cá nhân, công dân là chủ thể, là động lực trung tâm của CSXH. Thực hiện mục tiêu tổng quát được đặt ra trong Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24-11-2023, Hội nghị Trung ương 8 khóa VIII, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”, theo đó, “Xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; tạo cơ hội cho Nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin. Phát triển thị trường lao động linh hoạt, hiệu quả, hội nhập quốc tế gắn với việc làm bền vững; nâng cao chất lượng quản lý phát triển xã hội gắn với bảo đảm quyền con người, quyền công dân”(2).

Bác sĩ hướng dẫn chăm sóc trẻ sơ sinh tại nhà cho đồng bào dân tộc ở xã Hố Quáng Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang_Ảnh: TTXVN

Hai là, vận dụng tiếp cận quyền con người trong hoàn thiện thể chế, chính sách xã hội thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

Vận dụng tiếp cận quyền con người với quan điểm phát triển bao trùm trong xây dựng và thực hiện CSXH chính là để bảo đảm tính thống nhất, liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của các quyền con người, để người dân được thụ hưởng các quyền của mình trong quá trình phát triển. Đồng thời khẳng định, người dân là chủ thể của quyền con người, được quyền hưởng thành quả của quá trình phát triển do chính họ tạo ra. Từ cách tiếp cận này, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu(3). Thực hiện quan điểm này, quá trình hoạch định CSXH phải hướng trọng tâm, lấy quyền và lợi ích chính đáng của chủ thể hưởng quyền - đó là người dân, trong đó cần chú trọng chủ thể hưởng quyền ở các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người làm cơ sở.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hệ thống CSXH theo hướng hiệu quả, bao trùm, toàn diện, bền vững. Cụ thể, cần nghiên cứu, sửa đổi Luật Việc làm, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội, Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Đồng thời, Chính phủ cần tiếp tục ban hành và thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch hành động quốc gia gắn với từng nhóm đối tượng xã hội cụ thể.

Ba là, gắn kết bảo đảm các quyền dân sinh, dân chủ của người dân trong công cuộc đổi mới, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.                                     

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện cách tiếp cận quyền con người. Từng chủ trương, chính sách, pháp luật cần: 1- Xuất phát và hướng đến đúng thành phần thụ hưởng; 2- Phân rõ chủ thể được bảo đảm quyền lợi và chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền lợi; 3- Lôi cuốn và huy động được sự tham gia chủ động, tích cực, đông đảo của người dân vào thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật đó; 4- Bảo đảm sự công khai, minh bạch trong triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật.

Thứ hai, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; lấy phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất khi thiết kế nền hành chính nhà nước. Cán bộ, công chức, viên chức phải thấm nhuần tinh thần nền hành chính phục vụ nhân dân, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân làm trung tâm, xóa bỏ quan hệ “lợi ích nhóm” và tính bao cấp,  tư tưởng ban phát, ban ơn.

Thứ ba, tiếp tục thể chế hóa việc mở rộng cơ chế bảo đảm dân chủ. Tuyên truyền, quán triệt các cấp, các ngành và mọi người dân về tầm quan trọng của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; nghiên cứu xây dựng dự luật minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động công vụ.

Thứ tư, bảo đảm quyền ASXH gắn với an ninh con người, an ninh quốc gia. Kinh nghiệm từ xử lý khủng hoảng trong đại dịch COVID-19 vừa qua cho thấy, phải tăng cường triển khai, thực thi trên thực tế các giải pháp quan trọng về bảo đảm, bảo vệ các quyền con người, trước tiên là các quyền về sức khỏe, việc làm, thu nhập, BHXH, giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững...

Thứ năm, bảo đảm quyền con người gắn với phát triển bao trùm. Về nhận thức: phát triển bao trùm “để không ai bị bỏ lại ở phía sau” cần được quán triệt trong tất cả hoạt động từ khâu sản xuất, dịch vụ, phân phối, tiêu dùng; trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các thành phần, khu vực kinh tế khác nhau; trong hoạt động của Nhà nước; gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân với phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và bảo vệ môi trường; giữa các khía cạnh liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau của các quyền con người; bảo đảm tốt các quyền về dân sự, chính trị là cơ sở thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa, và ngược lại... Về triển khai thực hiện: kịp thời phát hiện và giải quyết thỏa đáng những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển nhanh, bền vững gắn với phát triển theo chuỗi, phát triển bao trùm, với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư... Thời gian tới, chú trọng tìm kiếm cách thức bảo đảm, bảo vệ quyền con người, nhất là quyền của các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư..., như vấn đề quyền con người và trí tuệ nhân tạo; quyền con người và chuyển đổi số, quyền con người và quyền làm việc...

Thứ sáu, ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai thực hiện CSXH. Cần triển khai thực hiện hiệu quả Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết chính sách an sinh xã hội đến năm 2020 và định hướng phát triển đến năm 2030; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, đổi mới về tổ chức và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực ASXH, góp phần phát triển Chính phủ điện tử; đẩy nhanh hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu hộ gia đình, mã số cá nhân và bộ chỉ số ASXH để nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách ASXH. Cần quan tâm đến các đối tượng đang ở khoảng giữa của BHXH và trợ cấp xã hội (những người có mức sống dưới trung bình, không có BHXH, song chưa được xếp vào diện nghèo nên không được nhận trợ cấp xã hội); người lao động khu vực phi chính thức, đối tượng dễ bị tổn thương...

Thứ bảy, thực hiện nhất quán CSXH gắn với chính sách tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam là vì con người, lấy con người là trung tâm; tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, tiếp tục triển khai và thực hiện đồng bộ, hiệu quả các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Cần xây dựng kế hoạch, chương trình hành động quốc gia về quyền con người; đánh giá tác động đối với đối tượng bị tác động trực tiếp của dự luật trước khi thông qua; đưa nội dung cách tiếp cận quyền con người vào quản lý phát triển xã hội; việc hoạch định và thực thi các chính sách, chương trình, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phải sử dụng hiệu quả cách tiếp cận quyền con người; bảo đảm thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia./.

LHQ-ST

Thực tiễn thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

 Thành tựu thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Thứ nhất, thể chế CSXH trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người ngày càng được hoàn thiện với việc xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách về an sinh xã hội (ASXH) mang tính kịp thời, đồng bộ và khả thi cao. Trong hoạt động lập pháp, việc ban hành Hiến pháp năm 2013 và các bộ luật, luật, như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH), Luật Bảo hiểm y tế, Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi, Luật Giáo dục, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Việc làm... có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc giúp cụ thể hóa các quyền ASXH, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Trong hoạt động lập quỹ, trọng tâm được đặt vào việc bảo đảm ASXH cho người dân, trợ giúp kịp thời và hiệu quả các nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, chịu nhiều thiệt thòi, qua đó thực thi nhất quán chủ trương “không để ai bị bỏ lại phía sau” của Đảng và Nhà nước. Các chính sách cụ thể, như bảo trợ xã hội, giảm nghèo đa chiều, phát triển bền vững, bao trùm, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt..., đã từng bước góp phần nâng cao phúc lợi cho các đối tượng CSXH có liên quan, bảo đảm và đáp ứng tốt các nhu cầu tối thiểu của họ, giúp phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro, mang lại cơ hội bình đẳng thực chất cho các nhóm yếu thế để giúp họ vươn lên, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước.

Đặc biệt, trong đại dịch COVID-19 vừa qua, Chính phủ đã ban hành những chính sách chưa có tiền lệ để thực hiện CSXH(1). Đây là những quyết sách quan trọng, kịp thời hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trong đại dịch bằng những gói phúc lợi hàng chục nghìn tỷ đồng, bảo đảm các quyền con người cơ bản, đồng thời gia tăng năng lực hoạt động cho hệ thống ASXH để ứng phó hiệu quả với những thách thức mang tính toàn cầu cũng như thiết lập những bảo đảm cần thiết cho sự phát triển bền vững với tầm nhìn trung hạn và dài hạn.

Thứ hai, hệ thống ASXH đã được phát triển thành lưới ASXH, không ngừng mở rộng diện bao phủ các đối tượng và ngày càng đáp ứng tốt nhu cầu của các đối tượng ASXH. Điều này phản ánh rõ nét qua những chuyển biến tích cực trên các phương diện: 1- Hệ thống BHXH được thiết kế, tổ chức và hoạt động đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, là “phao cứu sinh” cho người dân khi đối mặt với những rủi ro khó lường (như ốm đau, thiên tai, dịch bệnh, mất việc làm do tai nạn lao động...), giúp họ bảo đảm nguồn thu nhập, bảo đảm sinh kế và ổn định cuộc sống; 2- Hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm đã và đang góp phần tạo việc làm đa dạng, đáp ứng nhu cầu của phần lớn lực lượng lao động; góp phần đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; giúp kết nối người thất nghiệp với doanh nghiệp; giúp người lao động cải thiện thu nhập, bảo đảm quyền có việc làm của người dân, qua đó góp phần giảm nghèo hiệu quả; 3- Hệ thống trợ giúp xã hội giúp người dân khắc phục rủi ro, biến cố thông qua các khoản trợ cấp trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật với kinh phí trích từ ngân sách nhà nước; 4- Hệ thống chính sách ưu đãi người có công, các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, chịu nhiều thiệt thòi đã và đang mang lại những lợi ích đáng kể cho các nhóm đối tượng này, góp phần thực hiện công bằng xã hội hiệu quả trên phạm vi cả nước; 5- Hệ thống bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (như giáo dục, y tế, nhà ở, thông tin, nước sạch...,) ngày càng được cải thiện về chất lượng cũng như quy mô dịch vụ, đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của đại bộ phận người dân, đặc biệt là nhóm dân cư vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, địa bàn đặc biệt khó khăn.

Thứ ba, đời sống của đại bộ phận người dân ngày càng được cải thiện trên các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Có thể thấy rõ điều này trong sự liên tục cải thiện các chỉ số quan trọng liên quan đến con người, như chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số bình đẳng giới (GEI), tuổi thọ bình quân đầu người, thu nhập bình quân đầu người... Đây là những thành tựu quan trọng, nhất là trong bối cảnh các chỉ số này của nhiều quốc gia trên thế giới có xu hướng chững lại, thậm chí bị đảo ngược do những khó khăn về kinh tế, bất ổn chính trị, do những thách thức của an ninh phi truyền thống... Việt Nam cũng là một trong những quốc gia hoàn thành sớm Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, đây là tiền đề giúp Việt Nam hướng đến thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc (SDGs). Theo xếp hạng của Liên hợp quốc năm 2020 về thực hiện SDGs, Việt Nam xếp thứ 51/193 quốc gia thành viên của Liên hợp quốc, đạt thành tích cao hơn so với nhiều nước trong khu vực.

Một số hạn chế trong thực hiện chính sách xã hội trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Bên cạnh những kết quả nói trên, thực hiện CSXH trong bảo đảm, bảo vệ quyền con người vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, một số chính sách ASXH được triển khai, nhưng chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Chính sách BHXH được triển khai mạnh mẽ, nhưng diện bao phủ còn hẹp, tỷ lệ người lao động tham gia BHXH, nhất là trong khu vực kinh tế phi chính thức vẫn còn thấp. Chính sách giảm nghèo đã giúp Việt Nam đạt được thành tích giảm nghèo đa chiều ấn tượng, song tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo lại có xu hướng tăng lên. Trong khi đó, mức hỗ trợ an sinh xã hội cho các đối tượng liên quan vẫn còn thấp, chưa bảo đảm mức sống tối thiểu của một bộ phận dân cư, kể cả tại các thành phố lớn cũng như các địa phương ở vùng sâu, vùng xa...

Bên cạnh đó, vấn đề an ninh con người, mặc dù đã được đề cập nhiều trong Văn kiện Đại hội XII và XIII của Đảng, nhưng đến nay, việc thể chế hóa và thực thi các giải pháp chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập.

Thứ hai, chưa thực sự thu hút sự tham gia tích cực của chủ thể quyền vào quá trình xây dựng pháp luật, nhất là CSXH có liên quan đến quyền con người. Tính công khai, minh bạch trong hoạt động cung ứng dịch vụ công của một số cơ quan nhà nước; việc một bộ phận cán bộ lợi dụng chức quyền, “che giấu” thông tin chính sách vì động cơ cá nhân hoặc lợi ích nhóm đã ít nhiều cản trở quyền lợi chính đáng của người dân, khiến cho các đối tượng ASXH gặp không ít trở ngại trong việc tiếp cận các nguồn hỗ trợ của Nhà nước, từ đó làm giảm hiệu quả của chính sách ASXH và thậm chí, làm giảm niềm tin của người dân vào hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ, công chức tham gia triển khai các chính sách ASXH còn yếu, thiếu kỹ năng chuyên môn và quản lý, tính chuyên nghiệp chưa cao, chưa ứng dụng hiệu quả công nghệ số vào hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, nhận thức chưa đúng mức về thực hiện quyền con người... Trong khi đó, một bộ phận đối tượng thụ hưởng ASXH lại có tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước. Hơn nữa, chất lượng của các dịch vụ ASXH cũng chưa cao, các loại hình dịch vụ chưa đa dạng, thiếu sáng tạo, đổi mới mà nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ sự hạn chế nguồn lực vật chất, kỹ thuật trong bối cảnh trình độ khoa học - kỹ thuật, công nghệ còn nhiều hạn chế. Điều này khiến cho việc thực thi chính sách ASXH gặp nhiều khó khăn, thách thức, làm giảm diện bao phủ của chính sách ASXH, giảm hiệu quả bảo đảm quyền con người nói chung, quyền ASXH nói riêng của người dân. 

Thứ tư, việc vận dụng tiếp cận quyền con người trong hoạch định CSXH chưa được như mong muốn. Trên thực tế, trong quá trình hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở cả Trung ương cũng như địa phương hầu như chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa bảo đảm các quyền của người dân.

LHQ-ST