Thứ Tư, 29 tháng 5, 2024

 NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được ra đời và kết tinh trong suốt quá Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và hiện đang vẫn là “kim chỉ nam” cho nước ta trên con đường đổi mới và phát triển. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire từng nhận định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”(1). Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(2). Đó những ghi nhận rất khách quan của dư luận quốc tế về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người không chỉ là hệ thống những vấn đề mang tính lý luận mà có sự thống nhất giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng với đạo đức và phong cách. Với Người, lý luận và thực tiễn, nói và làm luôn đi liền với nhau. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Do đó, không thể cho rằng học tập làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là “vô bổ”, “hình thức”, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác vạch sẵn. Đó là sự cố tình xuyên tạc, quy chụp nhằm tạo ra sự lệch lạc về nhận thức trong quần chúng nhân dân. Đây không chỉ là chiêu bài “hạ bệ thần tượng” mà còn nhằm mục đích chống phá, xuyên tạc một cuộc vận động rất có ý nghĩa, được tổ chức sâu rộng, thường xuyên, liên tục trong thời gian dài.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; trở thành phong trào, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thực tiễn, đã có những câu chuyện cảm động về những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là người giáo viên đã 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những cô giáo còn rất trẻ nhưng đã dành cả tuổi thanh xuân của mình dũng cảm ngày ngày chèo đò qua sông đưa học trò tới lớp. Đó là người bác sĩ sẵn sàng từ bỏ những bệnh viện lớn của thành phố, rời xa cuộc sống phồn hoa đô thị để chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng cao với mong muốn mang đến nụ cười cho trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đến với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, không quản khó khăn, nguy hiểm vì sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân…

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác tuy có những cách thể hiện khác nhau song đều có một điểm chung, đó là đều học Bác tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Điều đó chứng tỏ việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải kiểu “hô hào khẩu hiệu”, “mang tính hình thức” như luận điệu mà các thế lực thù địch thường rêu rao. Điều đó đã thật sự ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam; thực sự khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của mình cho đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, góp phần tạo nên “rừng hoa đẹp” cho đất nước. Do đó, không thể quy chụp một cách phiến diện rằng việc “đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là “vô bổ”, “kém hiệu quả”!

Có thể khẳng định, thời gian qua việc “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tuyên truyền, lan tỏa; tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực trên đây đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài

 

Không thể phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc _Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967

Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc _Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam nên tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người chính là tài sản tinh thần quý giá của cả dân tộc ta. Do vậy, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu chống phá thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh mà còn xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá về chủ trương này tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin và khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”! Để lý giải điều này, các thế lực thù địch viện dẫn rằng chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những năm 40, 50 của thế kỷ XIX dựa trên tiền đề kinh tế - xã hội của các nước châu Âu khác xa so với Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam là “không phù hợp”. Có ý kiến còn cáo buộc rằng sở dĩ Việt Nam trong suốt gần hết thế kỷ XX rơi vào cảnh “nồi da nấu thịt” là do Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì thế, việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là “một sự phi lý”!

Hai là, có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện nay, thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không còn phù hợp, từ đó cho rằng việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là “sai lầm”, “sẽ không có kết quả”. Ở góc độ này, một số phần tử cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đề cao sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn lãnh đạo đất nước tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại bài xích việc Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Họ cho rằng “đó là sự phi lý về mặt lịch sử”, “trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”!

Ba là, với chiêu bài “hạ bệ thần tượng”, có thế lực thù địch còn cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là một con người hoàn thiện” vì “chỉ biết sống vì dân tộc”, “xem nhẹ gia đình”. Có kẻ còn cố tình bóp méo, xuyên tạc khi đánh đồng hai khái niệm “học tập ” và “ bắt chước ”. Họ cho rằng, học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Có kẻ còn cáo buộc, vu khống rằng “Càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng” hay “Học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là vô bổ, tốn ngân sách, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân”!

Có thể nhận thấy, những luận điệu trên lộ rõ ý đồ chống phá, không chỉ với mục tiêu xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Do đó, cần hết sức cảnh giác trước luận điệu chống phá này.

Ảnh: Tư liệu

 Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là làm rõ giá trị lịch sử và giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, là một trong những nguồn gốc lý luận của Đảng, góp phần hình thành nên đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong mỗi thời kỳ lịch sử. Để hiểu rõ và bảo vệ được nền tảng tư tưởng của Đảng thì phải hiểu rõ giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cả hai điều này đều phải được xem xét một cách khách quan, khoa học trong bối cảnh lịch sử cụ thể của xã hội. Chân lý là cụ thể, không trừu tượng, thoát ly bối cảnh thời đại với những mâu thuẫn, vấn đề của thời đại và trình độ phát triển nhận thức của loài người.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là thành quả lý luận được xây dựng trên nền tảng tri thức hiện đại nhất của nhiều khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội), đặc biệt trên nền tảng tổng kết một cách khoa học thực tiễn đấu tranh chính trị - xã hội của loài người cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Lý luận triết học, kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội của C.Mác, V.I.Lênin đáp ứng nhu cầu đấu tranh cho tiến bộ lâu dài của xã hội loài người và giải đáp đòi hỏi thực tiễn của phong trào công nhân, phong trào XHCN những năm đầu thế kỷ XX.

Từ sau sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên thế giới đã có thêm hàng chục, hàng trăm thứ lý luận về kinh tế, xã hội, chính trị, pháp lý, đạo đức… tất cả đều nhằm mục tiêu chính trị là thuyết minh sức sống trường tồn của chế độ tư bản chủ nghĩa, hoặc cố gắng tìm cách khắc phục khuyết tật của nó và tấn công phủ nhận lý luận Mác - Lênin, tiêu diệt CNXH.

Đấu tranh lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin là: một mặt làm sáng tỏ giá trị lịch sử, nghĩa là những điều đúng đắn trong một giai đoạn lịch sử đã qua, mặt khác làm rõ giá trị thời đại, nghĩa là những điều còn phù hợp cho ngày nay. Cần phải biết sàng lọc trong những nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin những điều gì đã đúng trong lịch sử mà nay vẫn còn đúng và sẽ còn tiếp tục đúng trong tương lai, những điều gì đúng trong lịch sử nhưng nay không còn phù hợp với thời đại mới. Không có lý luận nào, kể cả chủ nghĩa Mác - Lênin, mà mọi vấn đề của nó đều đúng mãi với thời gian.

Dù trung thành, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin thì với tinh thần khoa học, phải thừa nhận rằng có những điều, nhất là trong lý luận chính trị, kinh tế của các nhà kinh điển mácxít không còn phù hợp thời đại hiện nay. Ví dụ trong điều kiện thế giới và đất nước hiện nay vấn đề chuyên chính vô sản như là một nội dung cơ bản của thời kỳ quá độ đi lên CNXH cần phải được nhìn nhận lại. Cũng như vậy, lý luận về nhà nước XHCN của V.I.Lênin cần phải được đặt trong bối cảnh sau Cách mạng Tháng Mười, nó đúng với bối cảnh đấu tranh giai cấp ở nước Nga những năm sau Cách mạng, nhưng không nên coi đó là lý luận bất biến để tổ chức bộ máy nhà nước định hướng XHCN trong thời đại hiện nay. Do đó, nếu không có tinh thần khoa học, thực tiễn thì rất có thể sự bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin lại trở thành giáo điều, bảo thủ và trở nên phản tác dụng với xã hội, với chính những người cộng sản.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự tiếp thu tinh hoa khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa chính trị Việt Nam trong điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc Việt Nam đầu và giữa thế kỷ XX. Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa có giá trị lý luận, vừa có giá trị thực tiễn, không chỉ với 70 năm trước mà với cả ngày nay. Trong xu hướng phát triển của thế giới hướng tới hòa bình, bao dung, tư tưởng của Hồ Chí Minh lại càng tỏ ra phù hợp hơn bao giờ hết. Nó khiến cho Hồ Chí Minh được nhắc tới không chỉ là một người yêu nước nhiệt thành, suốt đời hy sinh, cống hiến vì độc lập dân tộc, mà còn là người cộng sản chân chính luôn phấn đấu cho hòa bình, tiến bộ xã hội, sự hòa hợp, bao dung giữa người với người, giữa các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giữa các dân tộc, các quốc gia dù có khác biệt. Trên thế giới, hiếm có một người cách mạng toàn vẹn, trong sáng như Hồ Chí Minh, do đó Người thực sự là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

Đã có không ít những nhà nghiên cứu lịch sử, với phương pháp nghiên cứu lịch sử hiện đại, với điều kiện nghiên cứu ưu việt, có ý định tìm ra những “góc khuất”, “điểm mờ” trong cuộc đời, sự nghiệp của Người. Nhưng ngoài một vài điểm phát hiện mới so với tư liệu chúng ta có được, hầu như không có điều gì có thể đi ngược với sự thật. Thế mà đây đó, một số người Việt Nam tự coi mình là nhà nghiên cứu hoặc hiểu biết lịch sử cố tình cắt xén, chắp ghép những sự kiện rồi gieo rắc trong dư luận, cộng đồng mạng hòng hạ thấp tầm vóc Hồ Chí Minh, nhất là về đời tư của Người. Theo một cách khác, họ khoét sâu sự khác biệt giữa Hồ Chí Minh với các lãnh tụ khác của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ đề cao quan điểm độc đáo, sáng tạo của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, về đoàn kết để hạ thấp đường lối cách mạng của Đảng, nhất là trong thời kỳ cải tạo XHCN và xây dựng CNXH ở miền Bắc.

Tất cả những thủ đoạn đó đều nhằm hạ thấp Hồ Chí Minh. Để chống lại những ý đồ xấu đó, những người làm công tác giáo dục lý luận chính trị cần phải trau dồi hơn nữa kiến thức lịch sử (lịch sử thế giới, lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lịch sử dân tộc và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) và coi việc bảo vệ hình ảnh trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của người Việt Nam chân chính.

 Đấu tranh về lý luận là nhiệm vụ chính trị, song cần khoa học và văn hóa

Ở các nước đa nguyên, đa đảng, đấu tranh giữa các đảng chính trị về đường lối, chính sách và cả lý luận là công việc thường ngày, diễn ra trên từng mặt báo, trang sách, trên các kênh truyền hình, đài phát thanh, trên các giảng đường của trường đại học. Các đảng cộng sản, đảng XHCN, đảng cánh tả tồn tại được một phần quan trọng là nhờ đấu tranh lý luận, và qua đó phát triển lý luận của mình, thu hút quần chúng. Là thành viên của đảng, mỗi đảng viên đều có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ đảng tùy theo chức năng, tính chất công việc, vị trí việc làm của mình, đáp ứng yêu cầu của đảng ở mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể. Điều này cũng đúng với Đảng ta, với mỗi đảng viên của Đảng.  

Người làm công tác giáo dục lý luận chính trị bảo vệ Đảng phù hợp với tính chất công việc cụ thể của mình là nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo hay phổ biến, tuyên truyền lý luận. Yêu cầu của việc bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay gắn với nhiệm vụ bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ thể chế, giữ vững an ninh chính trị, môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Lý luận của Đảng bao hàm nhiều mặt: xét theo các bộ phận truyền thống của chủ nghĩa Mác - Lênin thì đó là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học; xét một cách cụ thể thì đó là lý luận về chính trị, lý luận về kinh tế, lý luận về văn hóa - xã hội, về an ninh, quốc phòng, ngoại giao… Tinh túy của các lý luận đó đã được thể hiện tập trung trong các văn kiện, hợp thành đường lối của Đảng, chứa đựng các quan điểm cơ bản của các chính sách của Nhà nước trên mọi mặt. Lý luận ấy được hình thành trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự tổng kết, đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo thực tiễn và đường lối của Đảng ở các giai đoạn đã qua, phù hợp với tầm nhìn và mục tiêu thực tiễn trước mắt và lâu dài.

Đấu tranh về lý luận trước hết để bảo vệ những lý luận đã được hình thành qua hơn 35 năm đổi mới và là nền tảng cho đường lối và chính sách hiện nay của Đảng. Đấu tranh về lý luận còn để bảo vệ nền tảng tư tưởng đã tạo nên lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nói cách khác, bảo vệ nền tảng tư tưởng là một bộ phận của đấu tranh lý luận hiện nay và phải đặt trong một tổng thể các mặt của đấu tranh lý luận nói chung, bao hàm cả mặt phản bác, bảo vệ, cả mặt chủ động tấn công trở lại các quan điểm lý luận phi mácxít đang thịnh hành, nhất là các lý luận mang tính phản động, đi ngược lại xu thế hòa bình, dân chủ, tiến bộ của nhân loại.

Mặc dù là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, có lúc cấp bách, nhưng đấu tranh lý luận luôn đòi hỏi một tinh thần khoa học, khách quan. Chỉ có như thế mới giúp cho lý luận phát triển. Như đã nói ở trên, đấu tranh lý luận có nhiều mức độ. Ở mức độ cao là phủ định, bác bỏ; ở mức độ thấp có thể chỉ nêu rõ sự khác biệt, vạch ra ranh giới giữa lý luận này và lý luận kia, giữa quan điểm của người này và người kia, thậm chí có thể bao hàm sự thừa nhận, chấp nhận sự hợp lý nào đó. Suy cho cùng mọi lý luận đều có mặt hợp lý nào đó, phản ánh hiện thực theo một góc nhìn nào đó của con người.

Xét về mặt thực tiễn thì có thể khác nhau, có lý luận giúp con người hành động phù hợp với xu thế khách quan, phục vụ cho số đông, có lý luận thì không, nhưng xét về mặt phát triển tinh thần của con người thì các lý luận, kể cả sai lầm đều có giá trị nhất định vì nó làm bộc lộ một phương diện, một khía cạnh có khi đen tối của đời sống tinh thần, trí tuệ của con người, qua đó lại giúp cho con người biết mà tránh lặp lại.

Đấu tranh lý luận là lĩnh vực cọ xát tinh thần để tìm ra chân lý hoặc khẳng định chân lý. Song,là chân lý hay không là chân lý không phải ngay lập tức có thể  phân định được, hơn nữa có thể dễ dàng phân định bằng lý lẽ mà rốt cuộc phải bằng thực tiễn. Thực tiễn mới là tiêu chuẩn và thước đo chân lý. Vì thế đấu tranh lý luận cần phải gắn với thực tiễn, bằng thực tiễn quá khứ và thực tiễn hiện tại. Nhưng ngay cả điều này cũng không phải dễ dàng vì không nhà lý luận nào không có bằng chứng thực tiễn của riêng mình, nghĩa là cùng một sự thật có thể có những bức ảnh khác nhau tùy theo từng góc độ của người chụp. Vì vậy, phải là bằng chứng khoa học, phải có khoa học thì lý luận mới thuyết phục được lý trí con người.

Mặt khác, đấu tranh lý luận không thể không xét đến hoàn cảnh cá nhân tạo nên lý luận. Có người chỉ vì hạn hẹp về điều kiện sống mà nhận thức cũng hạn hẹp, lý luận trở nên thiển cận, phiến diện. Có người chỉ vì bất mãn cá nhân mà trở nên thù hằn, chống đối phi lý. Do vậy, trong đấu tranh lý luận, cần phân biệt các hoàn cảnh, động cơ, mục đích chính trị với động cơ, mục đích khác để có thái độ thích hợp. Cần phải tôn trọng niềm tin, danh dự, thậm chí sự kiêu hãnh trí tuệ của các cá nhân. Lời văn trong đấu tranh lý luận nên tương xứng với các mức độ khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức, không nên đánh đồng mọi quan điểm, mọi lý luận khác đều là thù địch, mọi đối tượng đều là kẻ thù. Tóm lại, nếu không có khoa học thì không thuyết phục được lý trí, nhưng phải có văn hóa thì đấu tranh lý luận mới cảm hóa được lòng người.

 Đấu tranh lý luận là một phương thức phát triển lý luận, là công việc thường xuyên, gắn bó với nghiên cứu, phát triển lý luận

Sự phát triển tư tưởng nhân loại từ thời cổ đại đến nay đã chứng minh điều này. Sự hình thành, phát triển tư tưởng của một vĩ nhân nào đó đều là sản phẩm của sự tiếp thu, phê phán tư tưởng của người đi trước, sau đó là phê phán với những tư tưởng đương thời trái hoặc khác biệt với mình. Ngay cả những người tưởng chừng chỉ coi thực tại bên ngoài là đối tượng duy nhất của tư duy và dành cả đời để chiêm nghiệm và ngộ ra chân lý thì thực tế (như Đức Thích Ca Mâu Ni) cũng không tránh khỏi mối dây liên hệ nhận thức với thế hệ trước mình, với niềm tin đã được đúc kết, truyền lại và đang thịnh hành. Điều khiến cho một số người trở thành nhà tư tưởng là bởi vì họ biết nhận thức một cách chọn lọc, có phê phán, có so sánh, đối chiếu, khẳng định sự khác biệt và tiến bộ không chỉ với tư tưởng trước đó mà với cả những tư tưởng cùng thời.

Sự ra đời, phát triển lý luận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là như vậy. Nếu không có đấu tranh lý luận với các nhà triết học đủ loại từ duy tâm khách quan, tới duy tâm chủ quan, từ duy vật siêu hình đến duy vật tầm thường thì không có tư tưởng triết học Mác - Lênin. Không có đấu tranh với các lý luận gia tư sản và các lý luận gia trong phong trào công nhân và phong trào XHCN cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX thì không có lý luận về chủ nghĩa xã hội của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của các nhà kinh điển đã được ra đời trong hoàn cảnh đấu tranh nhằm phản bác lại sự chỉ trích, tấn công của các lý luận gia tư sản này, hoặc có thể là trong tư thế chủ động tấn công, phê phán các nhà lý luận tư sản nào đó.

Ở chiều ngược lại, sự ra đời, phát triển của lý luận Mác - Lênin đối với các trường phái lý luận khác lại là một lý do, một đối tượng dẫn đến sự cọ sát, đấu tranh và làm nảy sinh biết bao tư tưởng, trường phái lý luận của thế kỷ XX, nhất là trong bối cảnh thế giới sau Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của chế độ XHCN ở một số nước Đông Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự phát triển và đấu tranh lẫn nhau của các chủ nghĩa, các lý luận đã dẫn đường và tạo nên bộ mặt đa dạng của thế giới ngày nay. Đến lượt nó, thực tiễn thế giới lại là nguyên nhân, nguồn gốc cho sự đấu tranh và phát triển của nhiều lý luận, học thuyết mới, trong đó có chủ nghĩa Mác - Lênin.

Theo quy luật đó, sự phát triển lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay bao gồm: một mặt bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn để nâng lên thành lý luận, mặt khác nghiên cứu vận dụng sáng tạo các lý luận, đặc biệt là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn đất nước. Đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, một mặt là học tập để hiểu biết sâu sắc bản chất, tính chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mặt khác đấu tranh với các quan điểm thù địch, xuyên tạc, bóp méo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Qua đấu tranh mà mài sắc lập luận, làm vững chắc và phong phú các luận cứ, làm mềm dẻo, tinh tế các luận chứng, để tiếp cận gần hơn tới chân lý, phục vụ thiết thực hơn sự phát triển của đất nước và dân tộc Việt Nam.

Với những người đã tự gắn mình vào sự nghiệp giáo dục, tuyên truyền lý luận mácxít, tuyên truyền CNXH, cần phải ý thức rõ sự gắn bó giữa hai mặt: phát triển và đấu tranh, đấu tranh và phát triển như một công việc thường xuyên của nghề nghiệp, hơn nữa là một sứ mệnh. Phải luôn ý thức rằng, đi đôi với sáng tạo, tìm tòi cái mới phải biết so sánh, đối chiếu, phân biệt cái tương đồng, cái đối lập giữa mình với người khác; vừa biết thừa nhận, kế thừa cái hợp lý, cái tiến bộ, vừa biết phản bác, phủ định cái lạc hậu, phi lý của các thứ lý luận liên quan. Đó là các mức độ khác nhau của đấu tranh lý luận cần được áp dụng tùy từng đối tượng, từng trường hợp cụ thể./.

 

Cần tỉnh táo nhìn nhận trước thông tin sai trái, kích động chống phá sau vụ cháy ở Hà Nội

Những ngày qua, vụ hỏa hoạn xảy ra tại nhà trọ tại địa chỉ số 1, hẻm 31, ngách 98, ngõ 43, phố Trung Kính, Hà Nội gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản, thu hút sự quan tâm lớn từ dư luận.

Tuy nhiên, sau khi vụ hỏa hoạn xảy ra, trên mạng xã hội đã lan truyền nhiều thông tin không chính xác gây hoang mang và nhiễu loạn thông tin, sai lệch bản chất vụ việc. Đặc biệt, các đối tượng xấu lợi dụng vụ việc để xuyên tạc, kích động chống phá hòng gây mất ổn định chính trị, xã hội.

Vào 0h46 đêm 24/5/2024, tổng đài 114 - Trung tâm Thông tin chỉ huy Công an TP Hà Nội nhận được tin báo cháy nhà dân tại địa chỉ số 1, hẻm 31, ngách 98, ngõ 43, phố Trung Kính. Các lực lượng chức năng đã nhanh chóng tiếp cận hiện trường để dập lửa và cứu nạn cứu hộ. Đến 1h26 cùng ngày, đám cháy được dập tắt. Qua tìm kiếm, lực lượng chức năng phát hiện 14 người tử vong, 6 người bị thương.

Bên cạnh các hoạt động tích cực, khẩn trương của cơ quan chức năng trong việc cứu nạn, cứu hộ, điều tra, khắc phục hậu quả và cứu chữa các nạn nhân thì trên không gian mạng đã xuất hiện nhiều thông tin, bài viết, cả video xuyên tạc sự thật, hướng lái dư luận, lợi dụng vụ việc để tiến hành câu like, câu view gây hoang mang dư luận. Các đối tượng tung ra luận điệu sai lệch như: “chính quyền bỏ mặc người dân nên mới để xảy ra vụ hoả hoạn thương tâm”; “lực lượng chức năng ở đâu khi người dân phải tự cứu mình”; “đau đớn từ những cái chết được báo trước”… Các đối tượng còn vu cáo chính quyền bỏ mặc, không quan tâm, không đầu tư các trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn dẫn đến hậu quả đau lòng.

Có đối tượng còn gài các sự kiện khác không liên quan vào vụ cháy để gây hiểu nhầm như: “Hà Nội còn đang mê mải với dự án mua cờ tặng cho hàng triệu hộ gia đình, để mặc dân chết cháy”; “quan lo “ăn dự án”, mặc dân chết trong lửa”… Có bài viết so sánh vụ việc này với sai phạm của một số tổ chức, cá nhân trong các vụ án tham nhũng đang được điều tra, xét xử hiện nay rồi quy kết “lỗi do chế độ, cán bộ tham lam, dân mãi kiếp lầm than”! Từ đó suy diễn, vu cáo nhằm mục đích kích động chống phá, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Đến thời điểm hiện nay, bất chấp những nỗ lực của chính quyền, cơ quan chức năng và người dân chung tay trong xử lý, khắc phục hậu quả vụ hỏa hoạn thì những thông tin sai trái trên mạng xã hội tiếp tục chỉ trích, xuyên tạc vụ việc và gây nhiễu loạn thông tin. Nhiều đối tượng lợi dụng sự việc để “té nước theo mưa”, lấy cớ xuyên tạc Đảng, Nhà nước, chính quyền “lo vơ vét, bỏ mặc dân”, quy nguyên nhân để xảy ra những vụ cháy nghiêm trọng là do “bản chất chế độ”, “dân mãi chịu cảnh chết cháy”, kích động người dân, nhất là số trẻ “đứng lên đòi quyền lợi”…

Thực tế cho thấy, trái ngược hoàn toàn với những thông tin xuyên tạc, nhiễu loạn trên không gian mạng. Liên quan đến vụ hỏa hoạn, các đồng chí lãnh đạo và ban, ngành chức năng đã rốt ráo vào cuộc. Sáng 24/5/2024, ngay sau khi vụ hoả hoạn xảy ra, các đồng chí: Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng, Thứ trưởng điều hành Bộ Công an Trần Quốc Tỏ, Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Long, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Sỹ Thanh cùng nhiều đồng chí lãnh đạo các bộ, ban, ngành và Hà Nội đã đến hiện trường vụ cháy để kiểm tra và chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả.

Ngay trước phiên thảo luận của Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định gửi lời chia buồn sâu sắc đến các gia đình các nạn nhân vụ cháy. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị Bộ Công an, UBND TP Hà Nội và các lực lượng nhanh chóng khắc phục hậu quả, dành mọi ưu tiên cứu chữa người bị thương, kịp thời giúp đỡ gia đình người bị nạn sớm ổn định tình hình, bảo đảm cuộc sống. Phó Chủ tịch Quốc hội thông tin, đầu giờ sáng 24/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cử đoàn công tác do Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương dẫn đầu đến hiện trường và bệnh viện để thăm hỏi, động viên các gia đình bị nạn, đội ngũ bác sĩ và lực lượng cứu hộ cứu nạn tại cơ sở.

Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công điện số 52/CĐ-TTg chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung khắc phục hậu quả, khẩn trương điều tra nguyên nhân vụ cháy, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan; xử lý nghiêm vi phạm (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Ngay sau vụ việc xảy ra, Bộ Công an, UBND TP Hà Nội chỉ đạo Công an thành phố phối hợp các đơn vị liên quan khẩn trương điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân vụ cháy để giải quyết, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật, đồng thời chỉ đạo các sở, ngành liên quan phối hợp UBND quận Cầu Giấy tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình nạn nhân, khắc phục hậu quả sau vụ cháy. Thành phố Hà Nội đã cắt cử các cán bộ chuyên trách phối hợp với gia đình các nạn nhân lo hậu sự, tang lễ cho 14 nạn nhân tại Hà Nội hoặc tại quê nhà, đảm bảo chu đáo.

Còn tại Bệnh viện Bạch Mai, các y, bác sĩ tích cực cứu chữa, điều trị các bệnh nhân của vụ cháy. Bệnh nhân nặng nhất đang nằm điều trị tại viện là mẹ của chủ nhà trọ, năm nay 84 tuổi. 2 bệnh nhân còn lại được chỉ định điều trị bằng oxy cao áp để dự phòng biến chứng về tâm thần... Hiện nay, sức khỏe các bệnh nhân đã dần ổn định.

UBND quận Cầu Giấy cho biết, lãnh đạo quận Cầu Giấy và các đoàn thể chính trị - xã hội của quận và phường Trung Hòa đã đến thăm hỏi động viên, chia sẻ, hỗ trợ người bị nạn. Bước đầu quận trích ngân sách hỗ trợ các gia đình có người bị nạn với mức hỗ trợ 55 triệu đồng/người tử vong, 33 triệu đồng/người bị thương. Trong ngày 25/5/2024, UBND quận Cầu Giấy tổ chức khen thưởng đột xuất 4 công dân dũng cảm tham gia đập tường cứu các nạn nhân bị mắc kẹt trong đám cháy tại phố Trung Kính.

Ngày 26/5, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã gửi thư khen hành động dũng cảm của anh Phạm Quốc Luật (quê Hà Tĩnh), anh Nguyễn Kim Long (Hà Nội), anh Hoàng Anh Tuấn và Đồng Văn Tuấn (cùng ở Nam Định) đã tích cực tham gia cứu nạn nhân mắc kẹt trong đám cháy. Thủ tướng đánh giá, 4 người đàn ông đã dũng cảm, không ngại nguy hiểm khi leo lên tầng cao, dùng búa tạ đập tường cứu nạn nhân trong vụ cháy. “Đây là tấm gương sáng điển hình về tinh thần quả cảm, nghĩa hiệp, yêu thương của người Việt Nam. Hành động của các thanh niên này còn thể hiện nghĩa cử cao đẹp, truyền thống nhân ái như câu ca dao“Dẫu xây chín bậc phù đồ, chẳng bằng làm phúc cứu cho một người” - Thư khen nêu rõ.

Đến thời điểm hiện tại, dưới sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Bộ Công an, Thành ủy, UBND TP Hà Nội cùng sự đồng hành của người dân, công tác cứu chữa nạn nhân bị thương, lo tang gia cho người bị mất trong vụ cháy, khắc phục hậu quả vụ hỏa hoạn đã được triển khai hết sức khẩn trương, thể hiện sự chung sức, đồng lòng, trách nhiệm, tình cảm sâu sắc. Ngoài ra, còn rất nhiều các tổ chức, cá nhân đã đồng hành cùng các cấp chính quyền trong việc hỗ trợ các nạn nhân vụ hỏa hoạn, góp phần sớm ổn định cuộc sống cho người bị nạn và thân nhân.

Hỏa hoạn gây thiệt hại nặng nề về người và của là vấn đề đã được cảnh báo và đã xảy ra nhiều vụ việc đau lòng. Dù cơ quan chức năng đã áp dụng nhiều biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn cũng như xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức vi phạm nhưng thực tế, ý thức người dân cùng những nguyên nhân khách quan, chủ quan khiến vẫn xảy ra những vụ việc khó lường. Qua mỗi vụ việc, đòi hỏi cơ quan chức năng và người dân càng phải nâng cao ý thức, trách nhiệm, đề cao nguyên tắc phòng hơn chữa, hạn chế thấp nhất những nguyên nhân gây cháy và thiệt hại do cháy. Trước mỗi thông tin, hình ảnh có nội dung xuyên tạc, nhiễu loạn về vụ hỏa hoạn lan truyền trên không gian mạng, người dân cần tỉnh táo, xem những tin tức, hình ảnh đó khởi nguồn thế nào, ai phát ra, liệu có đủ khả năng tin cậy?

Nếu những tin tức đó mang đến suy nghĩ tiêu cực, cần phải suy xét thận trọng, tránh việc ấn like hay chia sẻ, bình luận tạo hiệu ứng lan truyền tin giả, độc hại. Phải cẩn trọng khi tiếp nhận thông tin trên không gian mạng, nhất là thông tin được chia sẻ bởi mạng xã hội, chủ thể không rõ nguồn gốc, không xác thực. Đặc biệt, không chia sẻ nguồn tin phát ra từ trang mạng của những cá nhân, tổ chức thường xuyên đưa tin có nội dung tiêu cực, sai trái gây hoang mang cho quần chúng nhân dân.

 

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.

Di sản Hồ Chí Minh mang tính phổ quát, bền vững, vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự. Chính vì thế, các thế lực thù địch luôn xem di dản của Người là một mục tiêu, trọng tâm chống phá. Việc nhận diện bản chất, bóc trần các âm mưu, thủ đoạn, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội có vai trò quan trọng.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Số tổ chức, cá nhân chống phá thường khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội”, thậm chí họ mượn danh nghĩa “nhà nghiên cứu lý luận” hay núp bóng “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền” để ngụy biện tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh. Họ chống phá di sản Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách, thân thế, sự nghiệp cách mạng của Người. Về tư tưởng, họ coi những luận điểm về chính trị, cách mạng của Người chỉ là bản sao của chủ nghĩa Mác - Lênin, vay mượn, cộng gộp các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Về đạo đức, số đối tượng xấu coi đạo đức của Người chỉ là “chủ nghĩa khổ hạnh” không thể học tập, làm theo. Về phong cách, họ phớt lờ tác phong, lề lối, phương pháp cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh.                      

Họ ra sức phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng để hạ thấp di sản của Người. Một số đối tượng chống phá lại giả vờ “tôn vinh”, “tuyệt đối hóa” di sản văn hóa Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Từ đó, đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực chất đây chính là thủ đoạn vờ “đề cao” bên này để “hạ bệ” bên kia nhằm đả kích, chống phá bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ đạo làm nên bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn cố tình cắt xén những câu nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi bối cảnh lịch sử để làm sai lệch tư tưởng của Người. Họ đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phần tử chống phá cũng phủ nhận sự cần thiết, tính hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn đưa ra yêu sách vô lý, trắng trợn đòi từ bỏ việc bảo tồn di tích, bảo tàng có liên quan đến Người.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt của Internet, mạng xã hội với tốc độ chia sẻ nhanh, độ tương tác rộng hay sử dụng hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài biến thành công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ chống phá. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn chống phá ở chỗ: các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “thao túng tâm lý”; tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi về lãnh tụ của cách mạng Việt Nam hòng gây hoang mang, dao động, làm lung lay niềm tin, giảm sút tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm cách triệt tiêu động lực, khí thế, quyết tâm của hệ thống chính trị, toàn xã hội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Từ khi Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cũng là lúc các thế lực thù địch tập trung chống phá di sản văn hóa Hồ Chí Minh quyết liệt. Thấy rõ di sản văn hóa Hồ Chí Minh là linh hồn, là tài sản vô giá của Đảng, của dân tộc và nhân dân Việt Nam nên các các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn phá hủy tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ biểu tượng Hồ Chí Minh trong trái tim, khối óc của nhân dân Việt Nam. Nhưng dù có dùng mọi chiêu trò chống phá vẫn không thể phủ nhận giá trị to lớn, sức sống trường tồn của di sản Hồ Chí Minh.

Thực tế thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sự nghiệp đổi mới hiện nay là minh chứng sống động, rõ nét cho thấy những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về mặt thực tiễn và tư tưởng lý luận. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho dân tộc, như Người từng chia sẻ: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đời sau, Người đã tâm sự: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong suốt cuộc đời tận hiến cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và cũng chính Người đã nâng tầm văn hóa dân tộc, đóng góp quan trọng vào dòng chảy lịch sử văn hóa thế giới. Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu cực thâm nhập, đồng thời phát huy được những giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc mình, đó là bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sâu sắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử, văn hóa nhân loại. Người đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa xóa đi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do vậy, di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Không phải đến bây giờ mà cách cách đây hơn 100 năm, nhà báo người Nga Osip Emilyevich Mandelstam đã viết bài mang tên “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đã đăng trên báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ) của Liên Xô xuất bản ngày 23/12/1923. Bài báo có đoạn: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Tuy hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng nhận định sâu sắc này của O. Mandelstam vẫn vẹn nguyên giá trị, dự báo “Hồ Chí Minh là nền văn hóa tương lai” xuất phát từ việc nhà báo người Nga đã cảm nhận được trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cả tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, cả giá trị truyền thống và giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại thời hiện đại.

Trong quá trình tiếp xúc cũng như nghiên cứu về Hồ Chí Minh, rất nhiều chính khách, học giả quốc tế bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Trong đó, Chủ tịch Phiđen Caxtơrô - lãnh tụ đất nước Cuba viết: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được mến yêu không chỉ bởi nhân dân Việt Nam mà còn bởi tất cả các dân tộc khác trên thế giới”.

Ông Miyamôtô Kêngi, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nhật Bản đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ lỗi lạc của nhân dân Việt Nam mà còn là một chiến sĩ lỗi lạc, một nhà hoạt động tài năng của phong trào cộng sản quốc tế”.

Tiến sĩ M. Atmét, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”. Những nhận xét trên hết sức khách quan, công tâm, dựa trên những đóng góp thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời cách mạng vĩ đại, vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn, xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Do đó, tháng 11/1987, trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm (vào năm 1990) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Nhà văn hoá kiệt xuất”; đồng thời, vinh danh Người là một trong những nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại. Việc UNESCO ra nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất là sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự trân trọng, đánh giá khách quan của nhân loại tiến bộ đối với di sản Hồ Chí Minh; qua đó càng thấy rõ hơn tầm vóc, giá trị di sản của Người, mọi quan điểm sai trái, thù địch vì thế mà lạc lõng, vô nghĩa.

Di sản Hồ Chí Minh đã vượt qua thử thách của thời gian, trở thành biểu tượng, mạch sống của dân tộc Việt Nam. Di sản ấy là một tài nguyên văn hóa mà càng nghiên cứu, càng khai thác, càng mang lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân những giá trị bổ ích, mới mẻ. Sứ mệnh đặt ra cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng là kiên định, bảo vệ, vận dụng, phát triển di sản Hồ Chí Minh; đồng thời, lan tỏa, phát huy giá trị để di sản đặc biệt này trở thành một trong những động lực tư tưởng - tinh thần vô giá, giúp nâng tầm vị thế văn hóa, con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

 

Thực tiễn phản bác luận điệu bôi lem quyền tiếp cận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số

Nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân, nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng và ban hành nhiều chính sách, quy định pháp luật đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tiễn, nhu cầu của người dân, trong đó chú trọng quyền tiếp cận thông tin đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Vậy nhưng với mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề này.

Nằm trong âm mưu chống phá về vấn đề dân tộc, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vu cáo rằng, ở Việt Nam, quyền của người DTTS không được bảo đảm, trong đó có quyền tiếp cận thông tin, từ đó họ xuyên tạc người DTTS “bị phân biệt đối xử”, “bị bịt tai, bịt mắt”, “không có phản biện xã hội”, “chìm trong tăm tối”…

Một số bài viết vu cáo rằng, bà con vùng DTTS đã khổ về vật chất, lại bị Đảng “bỏ rơi” về văn hoá, tinh thần, thực hiện “chính sách ngu dân” để dễ dàng áp đặt, “cai trị”… Họ tìm những bức ảnh chụp cảnh trẻ em vùng DTTS ăn mặc rách rưới rồi lắp ghép, chế tác thành “điển hình đời sống người DTTS”, lấy cớ miệt thị, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta, nhất là vấn đề văn hoá, giáo dục, tiếp cận thông tin.

Đây là những chiêu trò thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch, mục đích nhằm làm suy giảm niềm tin của đồng bào DTTS đối với Đảng, Nhà nước; gây chia rẽ đồng bào với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ giữa đồng bào DTTS với người Kinh, giữa DTTS này với DTTS khác.

Từ đó kích động chống đối trong nhân dân, dung dưỡng những thành phần bất hảo, chống phá, gắn với việc truyền bá tà đạo, truyền bá mê tín dị đoan, tạo các điểm nóng tập hợp lực lượng gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, kích động tư tưởng ly khai, tự trị ở vùng DTTS.

Thực tế, cùng với việc chăm lo đời sống vật chất thì đời sống tinh thần của bà con DTTS cũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, trong đó có việc tiếp cận thông tin. Thấy rõ những khó khăn nên Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách pháp luật nhằm tăng cường, thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin của đồng bào. Theo đó, quyền tiếp cận thông tin là một trong các quyền cơ bản, quan trọng của con người, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam là thành viên và được quy định tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Cụ thể hóa Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc công khai thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Để cụ thể hóa Luật tiếp cận thông tin, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018, quy định chi tiết các biện pháp thi hành của luật, trong đó đề ra các biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội (KT-XH) đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Nghị định cũng quy định việc cung cấp thông tin được thực hiện bằng nhiều hình thức phù hợp như: thông qua cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan Nhà nước; qua hệ thống phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, đặc biệt là các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc và các phương tiện thông tin đại chúng khác; xây dựng tài liệu chuyên đề, tờ rơi, ấn phẩm, trong trường hợp cần thiết và khả thi thì có thể được chuyển tải bằng ngôn ngữ dân tộc; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt cộng đồng để chia sẻ thông tin…

Ngày 25/4/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 467/QĐ-TTg về tích hợp các chính sách hỗ trợ thông tin, tuyên truyền cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Quyết định này chỉ ra các chính sách cụ thể như: Hỗ trợ đào tạo kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông tại cơ sở; Hỗ trợ phương tiện nghe, xem (radio, ti vi, đầu thu truyền hình kỹ thuật số) cho hộ nghèo, hộ cận nghèo; thí điểm cấp rađio cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới.

Phổ biến, giáo dục pháp luật và truyền thông về trợ giúp pháp lý cho đồng bào DTTS; cấp miễn phí một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn;thiết lập, duy trì trang thông tin điện tử tổng hợp song ngữ Việt - Khmer, Việt - Hoa để phục vụ độc giả trong và ngoài nước. Cung cấp các sản phẩm thông tin có tính chất chuyên biệt, có đối tượng phục vụ tập trung là nhân dân các DTTS như: Hệ phát thanh Tiếng Dân tộc (VOV4) của Đài Tiếng nói Việt Nam, Kênh truyền hình Tiếng Dân tộc (VTV5) của Đài Truyền hình Việt Nam; hỗ trợ tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động thông tin cơ sở; chính sách hỗ trợ dịch vụ bưu chính và phát hành báo chí đến khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...

Ngoài ra, để tăng cường khả năng tiếp cận thông tin cho đồng bào, nhiều chương trình, đề án, dự án có liên quan đã và đang được triển khai tại vùng DTTS và miền núi. Thông qua những chương trình này cho thấy Đảng, Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác thông tin, truyền thông, giúp nâng cao nhận thức cho đồng bào, góp phần phát triển bền vững và thực hiện có hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của người dân vùng DTTS.

Hiện nay có 26 thứ tiếng (bao gồm cả tiếng Kinh) đang phát sóng trên kênh VTV5 Đài Truyền hình Việt Nam trên các nền tảng khác nhau (qua ứng dụng VTVgo, website VTV5, kênh YouTube, trên Facebook...). Cùng với đó, Đài Tiếng nói Việt Nam cũng phát sóng 13 thứ tiếng trên hệ Phát thanh Tiếng Dân tộc. Đài Tiếng nói Việt Nam thường xuyên cập nhật, tuyên truyền về công tác dân tộc trên cả 4 loại hình báo chí của đài là phát thanh, truyền hình, báo in, báo điện tử. Đặc biệt, trên hệ thống kênh sóng VOV4 của Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng hàng ngày với 13 thứ tiếng DTTS với thời lượng gần 30h/ngày, tại 6 khu vực trong cả nước (Đông Bắc, Tây Bắc, Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ).

Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở đến nay đã đầu tư, nâng cấp cho 682 đài truyền thanh xã, 67 đài truyền thanh, truyền hình huyện và trạm phát lại phát thanh, truyền hình; cung cấp 66 bộ phương tiện tác nghiệp phục vụ hoạt động thông tin và truyền thông cơ sở; cung cấp 370 bộ thiết bị thu tín hiệu, thiết bị nghe xem và thiết bị phụ trợ cho các điểm sinh hoạt dân cư cộng đồng và các đồn biên phòng; thiết lập 10 cụm thông tin đối ngoại tại khu vực cửa khẩu quốc tế, khu vực biên giới. Chương trình truyền thanh, truyền hình của Trung ương và từng địa phương đã trở thành những người bạn đồng hành, không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của đồng bào. Trên cơ sở các chính sách được ban hành, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban Dân tộc phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, định hướng các cơ quan báo chí xuất bản ấn phẩm báo chí (có ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng DTTS) để cấp kịp thời cho đồng bào DTTS. Giai đoạn từ năm 2016 đến 2021, đã chuyển phát 18 loại báo, tạp chí với số lượng 51,2 triệu tờ.

Các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương đã chủ động mở các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề, tăng cường tin, bài, ảnh trên báo in, báo điện tử để tuyên truyền về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc, chính sách dân tộc và truyền thống lịch sử, bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng DTTS và miền núi.

Đối với thông tin liên lạc, hiện nay tỉ lệ xã có điểm liên lạc điện thoại công cộng đạt trên 98%, có hơn 3.000 điểm truy cập viễn thông công cộng cho người dân. Mạng điện thoại di động đã phủ sóng khắp vùng DTTS, riêng tỉ lệ phủ sóng điện thoại di động băng rộng 4G của Việt Nam hiện nay đã lên đến 99,8% xét trên dân số, tại nhiều tỉnh miền núi, cơ sở hạ tầng viễn thông di động và Internet băng rộng đã phủ đến hầu hết các thôn, bản; có hơn 16 nghìn điểm giao dịch bưu chính viễn thông, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống. Trong lĩnh vực xuất bản, đã xuất bản trên 1.200 đầu sách với khoảng 11,3 triệu bản phục vụ cho đồng bào DTTS, hoạt động của tủ sách công cộng duy trì thường xuyên.

Hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội diễn ra sôi nổi, trong đó Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng đã xuất bản bộ sách nói bằng tiếng DTTS gồm 7 câu chuyện về Bác Hồ với phụ nữ, Bác Hồ với đồng bào DTTS và được dịch, thu âm từ tiếng phổ thông sang 6 ngôn ngữ DTTS: Tày, Mông, Thái, Mường, Ê-đê, Khmer. Công tác xuất bản phim được quan tâm, đầu tư. Tổ chức sản xuất về phim tài liệu, chuyên đề về phong tục tập quán, lễ hội, những bản sắc đặc trưng của các dân tộc góp phần phổ biến, giới thiệu bản sắc văn hoá độc đáo của các dân tộc, sự phát triển đi lên của các dân tộc trên nguyên tắc các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

Hoạt động chiếu phim lưu động kết hợp với tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở vùng DTTS đã phát huy hiệu quả tích cực. Qua đó, góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho đồng bào và hỗ trợ tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao nhận thức của đồng bào. Việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng trong lĩnh vực công nghệ thông tin liên lạc được đẩy mạnh. Hiện nay, đường truyền dẫn cáp quang, dịch vụ thông tin di động đã đến 100% xã trong toàn quốc.

Đương nhiên, do điều kiện địa hình, địa lý khó khăn, phức tạp, các yếu tố bất lợi về khí hậu, thiên tai, cùng với đó là một số tập tục trong lối sống của bà con khiến việc thúc đẩy phát triển KT-XH, trong đó có tiếp cận thông tin với bà con DTTS còn những thách thức. Dù vậy, những khó khăn, thách thức đó là khách quan và không thể so sánh với vùng đồng bằng, thành thị để tạo ra “bức tranh khác biệt”, lấy cớ chỉ trích Đảng, Nhà nước. So sánh với chính đời sống của bà con DTTS hiện nay với trước đây để thấy sự thay đổi từng ngày và hãy để họ tự lên tiếng, phản ánh chứ không phải là bôi đen hiện thực để miệt thị, chống phá.

  

 

Cảnh giác thủ đoạn dụ dỗ, lừa bịp đưa người vượt biên sang Thái Lan

Đầu tháng 4/2024 ở làng Bê Tel, xã Ia Rong, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, chúng tôi gặp anh Rơ Châm Ty (SN 1981), người đã may mắn được trở về quê hương từ cuối tháng 3 vừa qua, sau hơn một năm cơ cực ở huyện Bang Yang, tỉnh Nonthaburi - một tỉnh miền Trung của Thái Lan, giáp Thủ đô Bangkok.

Do là lao động "chui", cũng như nhiều bà con ở đây, công việc của anh Ty không ổn định, chủ yếu lao động chân tay như quét rác, nhặt ve chai, phụ hồ... với đồng tiền công rẻ mạt (khoảng 200-300 bath, tương đương 140-210 nghìn đồng/ngày). Trong khi đó, tiền thuê trọ mỗi tháng trung bình đã mất hơn 2 triệu đồng cho một căn phòng chật chội chỉ khoảng 20m2. Nên khi được trở về làng, anh Ty vô cùng biết ơn lực lượng Công an, chính quyền địa phương đã cưu mang, giúp đỡ.

Nói về nỗi khổ của mình, anh Ty căm phẫn đối tượng Rơ Mah Thuyn - kẻ lừa đảo vượt biên trái phép. Thuyn quê ở xã H'Bông, huyện Chư Sê (Gia Lai), hiện đang ở Thái Lan và sống bằng thủ đoạn bất nhân, lừa đảo bà con dân tộc thiểu số vượt biên trái phép sang nước ngoài để lấy tiền chênh lệch. Điều đáng nói, đằng sau Thuyn còn có sự hậu thuẫn của FULRO lưu vong luôn tìm mọi thủ đoạn để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Chỉ vì tin lời dối trá của Thuyn, anh Ty đã phải trả cái giá quá đắt. Anh Ty kể: "Tôi bị Thuyn lừa, nói là qua Thái làm mỗi ngày được 1-2 triệu đồng. Vậy mà qua đến đó bị bỏ rơi, điện thoại không liên lạc được, facebook thì nó chặn. Một mình tôi lang thang, đi làm phụ hồ, lượm ve chai kiếm sống qua ngày. Tôi căm giận Thuyn lắm, tôi muốn kêu gọi bà con đừng bao giờ bị mắc lừa như tôi, và cũng mong những ai lỡ bị lừa sang bên Thái Lan rồi thì hãy quay về Việt Nam đoàn tụ gia đình, bà con, chính quyền luôn bên cạnh giúp đỡ, động viên mình chứ không ai bắt mình cả".

Anh Ty nhắn nhủ như thế vì khi còn ở Thái Lan, FULRO lưu vong thường xuyên tuyên truyền những người dân tộc thiểu số trên đất Thái không được hồi hương vì sẽ bị chính quyền bắt bớ, bỏ tù. Luận điệu của những kẻ độc ác, tráo trở đã khiến nhiều người ngậm đắng nuốt cay chật vật sinh tồn nơi đất lạ quê người. Thế nhưng anh Ty quyết tâm tìm cách trở về quê vì anh tin rằng mọi thứ không như bọn phản động xuyên tạc.

Ông Nay Ky - Trưởng thôn Bê Tel, xã Ia Rong, huyện Chư Pưh cho biết: "Những người đi vượt biên từ Thái Lan về như anh Ty thường sẽ rất khó khăn về kinh tế và tinh thần. Vì vậy, hệ thống chính trị thôn và lực lượng Công an hỗ trợ họ làm thủ tục vay vốn Ngân hàng Chính sách để ổn định cuộc sống…". 

Trường hợp của anh Kpuih Blong (SN 2002, làng Hra, xã Ia Hla, huyện Chư Pưh, Gia Lai), 1/2023, vượt biên trái phép cùng người anh và 4 cháu nhỏ sang Thái Lan. Những ngày tháng sống thực tế ở Bang Yai đã làm Blong vỡ mộng. Có lần, vì Cảnh sát Thái Lan truy quét, cả 6 người nhà Blong phải bỏ trốn ra tận cánh đồng lúa cách phòng trọ 2 cây số, 2 ngày sau mới dám về phòng… Không chịu nổi cuộc sống bí bách, lúc nào cũng bất an, lo sợ đó, ngày 18/3/2024, Blong hồi hương.

Kpuih Blong kể: "Em phải ở suốt trong phòng trọ trông cháu cho anh đi làm phụ hồ kiếm tiền, thỉnh thoảng đổi lại anh ở nhà, em đi làm thay anh. Em không dám ra ngoài, sợ Cảnh sát Thái Lan bắt bỏ tù, sống không thoải mái chút nào. Lúc nào cũng sợ hãi, lại không có tiền, nhớ gia đình nên em về thôi, hơn 1 năm là quá đủ rồi". 

 

Trung tá Bùi Mạnh Tuấn - Phó Trưởng Công an huyện Chư Pưh cho biết, từ đầu năm 2024 đến nay, trên địa bàn huyện có 6 trường hợp tự nguyện hồi hương từ Thái Lan trở về. Phần lớn họ bị lừa đưa qua Thái Lan bằng đường bộ, vượt biên qua đường tiểu ngạch giữa Việt Nam, Thái Lan với chi phí từ 7-9 triệu đồng/người. Lực lượng Công an đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương thường xuyên tuyên truyền, động viên họ an tâm tư tưởng. Bằng những gì đã trải qua, họ tuyên truyền bà con ở làng không vượt biên trái phép.

Đồng thời, cơ quan Công an đang khẩn trương tổ chức các biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện, bóc gỡ, xử lý đường dây tổ chức đưa người vượt biên trái phép trên địa bàn. Đề nghị bà con cần tỉnh táo nhận diện, cảnh giác với thủ đoạn hoạt động của FULRO lưu vong và những đối tượng cò mồi, buôn người ở bên kia biên giới.           

 

Rũ bỏ ảo vọng, trở về sinh hoạt tôn giáo đúng pháp luật

Một số người dân tộc thiểu số nhẹ dạ, cả tin đã nghe theo lời lừa phỉnh, xúi giục của bọn phản động FULRO lưu vong, tham gia sinh hoạt cái gọi là "Tin lành Degar".

Được cấp ủy, chính quyền, lực lượng Công an tỉnh Gia Lai, hệ thống chính trị cơ sở khuyên giải, thức tỉnh, những người lầm lỡ đã nhận thức được bản chất của bọn phản động FULRO, thấy được việc làm sai trái, xóa bỏ mặc cảm, tự ti, quay trở về sinh hoạt tôn giáo chính thống được pháp luật công nhận, được chính quyền tạo điều kiện để họ ổn định cuộc sống và lao động chân chính ngay trên mảnh đất quê hương.

Nghe lời FULRO lưu vong về giấc mộng hão huyền thành lập "Nhà nước Degar tự trị", anh Kpă Bih (47 tuổi, trú làng Pang, xã Ia Glai, huyện Chư Sê) tỉnh Gia Lai từng thi hành án phạt tù 14 năm về tội phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc. Anh hối tiếc khi nhớ lại quá khứ lầm lỗi của mình: "Suốt thời gian ở tù và ngay cả khi trở về, bọn chúng chưa một lần hỏi thăm tôi. Sau hơn chục năm trời, tôi không có gì trong tay, vợ và các con phải tự bươn chải kiếm sống".

Trở về, được sự quan tâm, hỗ trợ của lực lượng Công an và chính quyền, anh Bih đã đoạn tuyệt với FULRO, "Tin lành Degar", trở thành người có uy tín trong thôn làng, đồng hành cùng lực lượng Công an vận động những người lầm lỡ quay về sinh hoạt tôn giáo chân chính được Nhà nước công nhận. Anh còn được dân làng tin tưởng, trở thành Chấp sự trưởng của một điểm nhóm sinh hoạt Tin lành miền Nam Việt Nam với sự tham gia của hơn 200 tín đồ.

"Những người chưa về chắc chắn sẽ quay về thôi, vì đó là con đường đúng đắn. Tôi được chính quyền địa phương, Công an quan tâm động viên, khi khó khăn đều được giúp đỡ. Vừa rồi tôi được đưa lên là người uy tín, được nhận giấy khen của huyện, bằng khen của tỉnh. Tôi cảm ơn Đảng và Nhà nước rất nhiều" - Anh Kpă Bih chia sẻ.

Tương tự, anh Siu Bat (44 tuổi, ở cùng làng với anh Kpă Bih) trước đây từng theo "Tin lành Degar", được anh Bih và lực lượng Công an tuyên truyền, anh đã từ bỏ "Tin lành Degar", trở về sinh hoạt Tin lành miền Nam Việt Nam tại điểm nhóm do anh Kpa Bih làm Chấp sự trưởng.

"Hiện tại, tôi rất vui mừng vì tìm lại được bình yên trong tâm trí. Giờ tôi đã bỏ "Tin lành Degar", về với Tin lành miền Nam Việt Nam. Hôm nay, chúng tôi cùng làm việc để gây quỹ cho một số hoạt động của điểm nhóm" - anh Siu Bat tâm sự.

Luôn quan tâm hỗ trợ những người lầm lỡ  

Đến nay, huyện Đak Đoa đã vận động được hơn 50 trường hợp theo "Tin lành Degar" quay về sinh hoạt tôn giáo được pháp luật công nhận, ổn định cuộc sống.

Bà Trương Thị Thanh Hòa - Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Ia Pết chia sẻ: "Hội Phụ nữ xã đã vận động các chị có chồng, con, em hoặc bản thân trước kia tham gia "Tin lành Degar"; quan tâm đến đời sống, hỗ trợ heo giống để phát triển kinh tế; quan tâm thăm hỏi vào các ngày lễ như Tết Nguyên đán, Giáng sinh. Hội cũng phối hợp với Chi hội Phụ nữ của 2 nhóm Liên hiệp truyền giáo Việt Nam và Tin lành miền Nam Việt Nam của thôn Bia Bre để tác động đến chị em. Từ đó, một số chị em đã quay về".

 

Gia đình ông Jrơt (thôn Bia Bre, xã Ia Pết, huyện Đak Đoa) trước cũng theo "Tin lành Degar". Có lần ông còn định đưa cả gia đình vượt biên nhưng được chính quyền kịp thời phát hiện, động viên quay trở lại.  Ông Jrơt chia sẻ: "Được Nhà nước giúp đỡ ổn định cuộc sống, chúng tôi vui lắm. Bây giờ già rồi, chỉ nghỉ nghỉ ngơi giữ sức khỏe, khuyên răn con cháu sống và làm việc theo quy định của địa phương, pháp luật".

Công an huyện Đak Đoa đã phối hợp với chính quyền địa phương giới thiệu việc làm cho hơn 28 trường hợp được lao động ở những công ty, doanh nghiệp trên địa bàn. Anh Thưu (22 tuổi, trú làng Bia Bre, xã Ia Pết) được gửi gắm làm công việc kiểm kê sản phẩm thu hoạch tại Công ty Nông nghiệp công nghệ cao Hưng Sơn có trụ sở tại làng, thu nhập tương đối tốt. Thưu trở thành chỗ dựa vững chắc cho mẹ và hai em nhỏ. Anh Binh (cùng làng) cho biết: "Trước đây, tôi có tham gia sinh hoạt "Tin lành Degar". Sau khi cơ quan Công an, chính quyền địa phương thuyết phục vận động, tôi nhận ra tham gia cùng họ không mang lại lợi ích gì cho bản thân mình".

 Lời giải cho bài toán khó

Những câu chuyện kể trên và cuộc sống bình yên, bền vững hiện tại của họ là kết quả của nỗ lực bền bỉ không mỏi của cả hệ thống chính trị tại cơ sở được biết đến với tên gọi mô hình "Trở về đức tin, giữ bình yên thôn làng", bắt đầu triển khai thí điểm từ năm 2022 tại huyện Phú Thiện rồi nhân rộng tại Ia Grai, Chư Sê và Đak Đoa. Lực lượng Công an đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể và hệ thống chính trị ở cơ sở triển khai hiệu quả các biện pháp vận động, thuyết phục, cảm hóa, giáo dục, hỗ trợ, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng yên tâm lao động, sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, hòa nhập với cộng đồng.

Đại tá Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai nhấn mạnh: "Mô hình "Trở về đức tin, giữ bình yên thôn làng" đã giải quyết tốt 3 vấn đề lớn: phát huy được vai trò của lực lượng cốt cán ở cơ sở trong vận động, giáo dục, tuyên truyền, cảm hóa quần chúng nhân dân trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; giải quyết niềm tin tôn giáo nhu cầu tín ngưỡng của bà con và từng bước làm mất đi các điều kiện mà các thế lực thù địch, bọn phản động FULRO có thể lợi dụng câu móc, lôi kéo hoạt động".

 

Những quan điểm sai trái, chống phá việc công nhận quy chế kinh tế thị trường ở Việt Nam

Xem xét đề xuất chính thức của Việt Nam, ngày 8/5 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ đã tổ chức phiên điều trần rất quan trọng để đánh giá, công nhận quy chế kinh tế thị trường (KTTT) đối với Việt Nam trong thời gian tới. Lợi dụng vào sự kiện này, một số chính khách, học giả thiếu thiện chí và không ít phần tử cơ hội, chống đối, phản động đã tung ra nhận định, đánh giá thiếu khách quan, thậm chí lôi kéo, xuyên tạc vấn đề này để chống phá Việt Nam và quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.

Những ngày qua, một số chính khách, học giả Hoa Kỳ thiếu thiện chí đã có đánh giá không đúng về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Phát biểu trên các trung tâm truyền thông phương Tây, hạ nghị sĩ Hoa Kỳ Chris Smith phản đối cấp quy chế KTTT đối với Việt Nam. Ông này cho rằng, Việt Nam hiện không đáp ứng được với những tiêu chuẩn căn bản về quyền của người lao động. Nghị sĩ này cũng viện dẫn tiêu chuẩn của tổ chức Lao động quốc tế về công nhận quyền của người lao động, vu cáo “kinh tế của Việt Nam không phải là KTTT, nó bị Đảng Cộng sản Việt Nam bóp méo và nếu Mỹ công nhận KTTT thì sẽ rất lố bịch; Việt Nam có thành tích thất bại và đó là vì sao Mỹ cần đứng về phía người dân hay vì Nhà nước”. Từ đó, ông này kêu gọi chính quyền không cấp quy chế KTTT đối với Việt Nam. Trước sự kiện này, các thế lực thù địch, phản động tập trung tung ra những luận điệu xuyên tạc, sai trái đối với nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam.

Các đối tượng này cho rằng Việt Nam đang phụ thuộc nhiều vào đầu tư và nhập khẩu của Trung Quốc và nhiều nước khác, từ đó miệt thị kinh tế Việt Nam “ốm yếu, đứng không vững”! . Bên cạnh đó, họ còn chỉ trích đề nghị Mỹ và các nước không công nhận KTTT ở Việt Nam vì “không thể có nền KTTT định hướng XHCN mà Việt Nam đang thực hiện”!

Các quan điểm, đánh giá về KTTT của Việt Nam nêu trên là những nhận định không có cơ sở khoa học, thực tiễn và không có tính xây dựng. Các chính khách, học giả này vì động cơ nào đó hoặc do không có thông tin đầy đủ, tiếp cận thông tin từ các báo cáo sai lệch của nhiều cá nhân, tổ chức phi chính phủ vốn có cái nhìn phiến diện, chống phá Việt Nam như tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá quốc tế (AI), Freedom House (FH)… mà đánh giá không đúng thực tiễn nền KTTT ở Việt Nam.

Ngay sau sự kiện này, nhiều trung tâm truyền thông phương Tây như BBC, RFA, VOA... đã khai thác, tổ chức nhiều tuyến bài, chương trình dưới dạng hội luận, tập hợp nhiều thành phần là thành viên của các tổ chức phản động, học giả, luật sư chống đối để xuyên tạc về nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, tung video, bài viết sai trái lên Internet. Với mục đích nhắm vào nền tảng tư tưởng, xuyên tạc sai trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về KTTT, họ vu khống bản chất, xuyên tạc làm méo mó nền kinh tế, hình ảnh, đất nước, con người, thể chế chính trị, nền kinh tế Việt Nam trên trường quốc tế. Từ đó lấy cớ gây sức ép để Mỹ và các nước không công nhận nền KTTT ở Việt Nam, tác động nhằm kìm hãm sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. 

Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 9/5, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Chúng tôi hoan nghênh Bộ Thương mại Mỹ đã tổ chức phiên điều trần ngày 8/5 vừa qua. Đây là một bước quan trọng trong quá trình xem xét hồ sơ công nhận quy chế KTTT của Việt Nam”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết, tại phiên điều trần, phía Việt Nam đã nêu rõ các lập luận, thông tin, số liệu khẳng định nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn đáp ứng các tiêu chí của quy chế KTTT, đồng thời nhấn mạnh việc nền kinh tế Việt Nam thậm chí còn làm tốt hơn so với nhiều nền kinh tế đã được công nhận quy chế KTTT.

“Việc Mỹ sớm công nhận quy chế KTTT của Việt Nam sẽ góp phần cụ thể hóa cam kết của lãnh đạo cấp cao 2 nước, tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Mỹ, qua đó thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước” - Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh.

Thực tiễn quá trình đổi mới gần 40 năm qua cho thấy, nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã hội đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế. Đó là: Đa dạng các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, tự do sản xuất, kinh doanh, lưu thông những hàng hóa mà pháp luật không cấm, các chủ thể kinh tế cạnh tranh bình đẳng, hệ thống các loại thị trường phát triển ngày càng đồng bộ; vai trò của nhà nước về quản lý kinh tế đã được đổi mới, quản lý bằng luật pháp, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng nguồn lực kinh tế của nhà nước, không can thiệp vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế, khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường.

Trong điều kiện đó, các quy luật của KTTT được vận hành đồng bộ. Những vấn đề cơ bản của KTTT như sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào, các chủ thể kinh tế cạnh tranh, tồn tại và phát triển; giá cả hàng hóa cơ bản do thị trường quyết định. Thị trường đóng vai trò trực tiếp điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi, lưu thông, tiêu dùng, giá cả, tiền tệ, cung – cầu, điều tiết hoạt động của các chủ thể kinh tế, huy động và phân bổ các nguồn lực của nền kinh tế.

Các yếu tố bảo đảm định hướng XHCN của nền KTTT gắn với vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo để hạn chế, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, ổn định xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, phát triển nhanh, bền vững. Từ thực tiễn đó, tại phiên điều trần vừa qua, phía Việt Nam nêu rõ các lập luận, thông tin, số liệu khẳng định nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn đáp ứng tốt các tiêu chí của quy chế KTTT. Việc xem xét, công nhận Việt Nam là nền KTTT là yếu tố quan trọng tiếp tục thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn.

Đánh giá về nền KTTT Việt Nam, luật sư Eric Emerson từ Công ty luật Steptoe LLP có trụ sở tại Washington (Mỹ) khẳng định, Việt Nam đã đáp ứng đủ 6 tiêu chí mà Bộ Thương mại Mỹ sử dụng để công nhận một nền KTTT. Việt Nam đã chứng minh hiệu quả hoạt động của mình trên các yếu tố theo luật định tốt hoặc thường tốt hơn các nền kinh tế đã được áp dụng quy chế KTTT. Là chính khách, học giả có nhiều năm gắn bó với Việt Nam, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius - Chủ tịch Hội đồng Kinh doanh Mỹ-ASEAN đánh giá: “Việt Nam đã là nền KTTT rồi. Việt Nam đáp ứng tốt các tiêu chí quan trọng như khả năng chuyển đổi của tiền tệ và sẵn sàng để được công nhận một cách chính xác. Doanh nghiệp Mỹ đầu tư mạnh tay vào Việt Nam vì nhận thấy tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế này”.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế hiện đại, cho tới nay, đã có 72 nước công nhận Việt Nam có nền KTTT, trong đó có các nền kinh tế lớn, hiện đại như Anh, Canada, Australia, Nhật Bản… Việt Nam tham gia 16 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và nhiều định chế kinh tế đa phương lớn như WTO, CTPPP... với hơn 60 đối tác trải rộng khắp toàn cầu.

Vì mục tiêu con người, tiến bộ xã hội sâu sắc

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là một nội dung trọng tâm, được khẳng định một cách nhất quán, xuyên suốt, rõ ràng về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng, vận hành. Đây là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT có sự quản lý của nhà nước pháp quyền do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của KTTT vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc cơ bản và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt là sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Phát triển KTTT định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt nam, là thành quả lý luận, thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.

Đảm bảo quyền con người, vì mục tiêu phát triển con người, tất cả vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” là đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong KTTT ở Việt Nam; gắn kinh tế với xã hội, đảm bảo sự phát triển của xã hội, vì mục tiêu phát triển con người. Điều đó thể hiện bản chất tốt đẹp, tính nhân văn của chế độ xã hội; thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Không hy sinh tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “nền kinh tế, trong đó sự phát triển là thực sự vì con người chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người; cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội”.

Mỗi chính sách kinh tế được xây dựng, thực hiện đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội, mỗi chính sách xã hội nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn, yếu thế.

Bệnh phô trương thành tích làm đẹp báo cáo

 Mặc dù chẳng có đóng góp hoặc không đáng kể nhưng vẫn “nhận vơ” thành tích về mình, thậm chí phô trương thành tích để làm đẹp báo cáo, đánh bóng tổ chức và bản thân; nhưng hễ có sai lầm, khuyết điểm gì thì lại lo sợ trách nhiệm và tìm mọi cách để chối bay, chối biến, đùn đẩy, không dám nhận. Đó là biểu hiện của sự sa sút về tư tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống; một biểu hiện cụ thể, rất đáng báo động của chủ nghĩa cá nhân. Để điều trị căn bệnh này, cần thiết phải mổ xẻ mầm mống, “nội soi” nguyên nhân gây ra. Đó là chủ nghĩa cá nhân; lấy bình phong che khuyết điểm...

Dạng thức mới của căn bệnh trầm kha

 

Nhận diện những dạng thức mới của căn bệnh trầm kha
“Nhận vơ” thành tích nhưng khi tập thể, cá nhân có khuyết điểm thì lại đùn đẩy, lo sợ trách nhiệm. Đây là căn bệnh nguy hại bởi nó là giặc “nội xâm”, một loại “giặc từ bên trong”, gây chia rẽ đoàn kết, kìm hãm sự phát triển, làm giảm sút sức sống, uy tín, ngăn cản bước tiến sự nghiệp cách mạng của Đảng ta. Nguy hại là căn bệnh này đang lây lan trong phong cách làm việc của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trị bệnh “nhận vơ” thành tích, đùn đẩy, lo sợ trách nhiệm vừa là công việc cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài của Đảng hiện nay.