Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN CỦA VIỆT NAM

 

Gần đây, trang Daploisongnui.org đăng tải bài viết: “Sự khác nhau giữa đối tác kiếm ăn và đồng minh ý thức hệ cộng sản”, xuyên tạc rằng: “Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 8 quốc gia, thì có 6 quốc gia dân chủ tư bản phát triển; Việt Nam vẫn là một quốc gia tụt hậu, hay không muốn nói là nghèo khổ so với các lân bang, chứ chưa cần với quốc gia phát triển; Việt Nam ký kết hợp tác chiến lược toàn diện, nó không giúp ích gì cho sự phát triển của quốc gia; mô hình chính trị của Việt Nam hoàn toàn khác biệt so với các quốc gia dân chủ; chế độ của chúng ta thiếu tôn trọng nhân quyền, không dặt con người là trung tâm của sự phát triển”...

1. Thực chất đây là những quan điểm sai trái, thù địch của một số người tự xưng là “người yêu nước”, “nhà dân chủ”, “học giả” thù địch; thường xuyên tung hỏa mù, “chọc gậy bánh xe”, vừa cố tình vu cáo, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta, vừa phá hoại đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vai trò của Việt Nam với tư cách là thành viên của Liên hợp quốc. Lợi dụng các bài viết dưới mác “phân tích cơ sở khoa học” nhằm phủ định nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; cố tình suy diễn, xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại, quốc phòng, an ninh, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tác động vào niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng còn cho rằng, Việt Nam đang có sự điều chỉnh trong quan hệ đối ngoại nhằm tìm kiếm đối tác chiến lược toàn diện, thiết lập liên minh mới để đối phó với những quốc gia đang gây áp lực với mình... Lại có kẻ còn trắng trợn nói rằng, Việt Nam đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia...bằng nhiều chiêu trò, chúng mưu toan đẩy mạnh tuyên truyền, phát tán những thông tin sai lệch, bịa đặt, nhằm mục đích tiếp tục chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, đi ngược lại lợi ích quốc gia-dân tộc, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước đối tác, nhất là các nước lớn, các nước láng giềng, phá hoại môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước của nhân dân Việt Nam. Dù có giở chiêu trò gì đi chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể phủ nhận được những thành tựu trong công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong những năm qua, đó là: Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trong công tác đối ngoại. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

2. Chuyến công tác, làm việc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hoa Kỳ càng có ý nghĩa quan trọng khi diễn ra vào thời điểm tròn một năm Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững, cũng như trước thềm kỷ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao. Đây là dịp để hai bên cùng nhìn lại chặng đường đã qua, đúc rút, chia sẻ và lan toả những bài học, kinh nghiệm hay về quan hệ giữa các quốc gia, đồng thời tôn vinh và tri ân những thế hệ bạn bè đã và đang tích cực đóng góp cho quan hệ hai nước. Bên cạnh mở rộng, tăng cường hợp tác quốc tế theo tinh thần Việt Nam là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, Đảng, Nhà nước ta luôn phát huy cao độ tinh thần đại đoàn kết toàn dân, chủ động tự lực, tự cường nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Như vậy, thực tế sự phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ hay giữa Việt Nam với quốc gia nào trên thế giới đều là tất yếu khách quan, phù hợp xu thế chung của thời đại.

Điều đó chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, thể hiện nét đặc sắc “ngoại giao cây tre” vì lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố tình xuyên tạc, bịa đặt. Nếu ai đó nói rằng Việt Nam dựa vào nước này để chống nước kia thì đó là hành động cố tình xuyên tạc, bịa đặt nhằm mưu đồ xấu, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, hòng làm cho tình hình thêm phức tạp, gây hoài nghi, mất ổn định, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việt Nam cũng đã tích cực tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế lớn và nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển của khu vực và thế giới; xây dựng mối quan hệ tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau.

3. Quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Việt Nam là rất rõ ràng, Việt Nam luôn kiên trì phương châm là bạn với tất cả các nước, đa phương hóa, đa dạng hóa trên cơ sở độc lập tự chủ và nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

Mục đích của Việt Nam là tạo được lợi ích chung với các nước - đó là duy trì hòa bình, ổn định. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ. Việt Nam không bao giờ liên minh, liên kết với một nước khác để chống lại nước thứ ba, không đi với nước này để chống nước kia. Trong giải quyết những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định là phải trên cơ sở quán triệt và thực hiện tốt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ, bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế... Chủ trương và cách giải quyết đó của Đảng, Nhà nước ta đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân cũng như toàn xã hội, được dư luận quốc tế đồng tình ủng hộ. Trong đối ngoại của Việt Nam, Đảng ta luôn xác định, đối tác chiến lược toàn diện là một dạng thức quan hệ có tầm quan trọng lớn và có tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế và là một hình thức của quan hệ đối tác chiến lược bên cạnh các hình thức khác như đối tác chiến lược, đối tác chiến lược lựa chọn theo từng lĩnh vực, đối thoại chiến lược. Hiện nay đối tác chiến lược toàn diện là cấp cao nhất trong hệ thống thứ bậc đối tác ngoại giao ở Việt Nam. Với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, các bên xác định gắn bó lợi ích lâu dài, hỗ trợ lẫn nhau và thúc đẩy sự hợp tác sâu rộng và toàn diện trên mọi lĩnh vực mà các bên cùng có lợi và hướng tới lòng tin chiến lược. Việt Nam hiện đã có 8 quốc gia là đối tác chiến lược toàn diện gồm Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia và Pháp; đồng thời ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)... Tính đến tháng 9/2024, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Quốc hội Việt Nam có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 nước. Các tổ chức hữu nghị nhân dân có quan hệ với 1.200 tổ chức nhân dân và phi chính phủ nước ngoài. Việt Nam cũng là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng.

Đó là những vấn đề thực tế không thể chối cãi được, nó chứng minh đường lối, chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng ta, thể hiện nét đặc sắc “ngoại giao cây tre” vì lợi ích của mỗi quốc gia - dân tộc, đóng góp vào hòa bình, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới, hoàn toàn không có chuyện “theo bên này, chống bên kia” như luận điệu những kẻ xấu, cố tình xuyên tạc, bịa đặt. Đó là minh chứng khách quan, sinh động, phản bác những luận điệu bôi nhọ, chống phá, những hành động trơ trẽn và lạc lõng của các thế lực thù địch./.

 

GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

 

KHÔNG LẠM DỤNG LÀM BIẾN TƯỚNG TỪ “QUỐC DÂN”

Để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng.

Từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng

Quốc dân vốn có nghĩa là “người trong một nước”, “nhân dân trong một quốc gia”. Đây là một từ ngữ mang ý nghĩa chính trị, thể hiện tính trang nghiêm, trang trọng và thường gắn liền với những sự kiện, hoạt động gắn với đời sống chính trị của quốc gia.

Một trong những sự kiện chính trị quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam gắn liền với từ “quốc dân”, đó là ngày 16/8/1945, tại đình Tân Trào (Tuyên Quang), dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng bộ Việt Minh (Việt Nam độc lập Đồng minh hội) đã tổ chức khai mạc Đại hội đại biểu quốc dân (còn gọi là Quốc dân Đại hội Tân Trào). Tham dự Đại hội có hơn 60 đại biểu đại diện cho cả 3 miền Bắc-Trung-Nam, đại diện cho các ngành, các giới, các dân tộc, các đảng phái chính trị, các đoàn thể cứu quốc và một số Việt kiều ở Thái Lan và Lào để bàn kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính quyền về nhân dân. Quốc dân Đại hội Tân Trào là tiền thân của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân và thể hiện sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Trong nhiều bài viết, bài nói ở những thời điểm quan trọng của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh có lúc dùng từ “quốc dân”, hay “quốc dân đồng bào” với hàm ý đề cao vị trí, vai trò, sức mạnh to lớn của các tầng lớp nhân dân trong nước, qua đó khích lệ đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước thương nòi và phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đánh đuổi thực dân đế quốc, quyết giành độc lập, tự do cho dân tộc. Người từng khẳng định: “Chúng ta nhất định thắng lợi vì chúng ta có lực lượng đoàn kết của cả quốc dân”.

Với ý nghĩa đó, có thể nói rằng, khi nói đến từ “quốc dân” là nói đến những vấn đề mang tính quốc gia đại sự, những việc làm, hành động gắn với quy mô, tầm vóc lớn lao nên có sức tác động, ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống chính trị, xã hội.

Đến lạm dụng từ “quốc dân” tràn lan, biến tướng

Tuy vậy, thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đại chúng và truyền thông xã hội xuất hiện khá nhiều từ “quốc dân” gắn vào đối tượng cụ thể, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thể thao... gặt hái được một số thành tựu nào đó trong nghề nghiệp và thu hút sự quan tâm của công chúng. Ví như: “Mẹ chồng quốc dân” nói về vai diễn ấn tượng của một nữ diễn viên đóng vai mẹ chồng trong một bộ phim truyền hình dài tập. “Ông bố quốc dân” nói về một nam diễn viên đã có những cử chỉ chăm lo hết mực dành cho đứa con trai kém may mắn. “MC quốc dân” nói về một người dẫn chương trình thường “chiếm sóng” ở nhiều gameshow truyền hình. “Cầu thủ quốc dân” nói về một cầu thủ bóng đá mới nổi trong làng túc cầu Việt Nam. “Hoa hậu quốc dân” nói về một cô hoa hậu là người dân tộc thiểu số hay xuất hiện ở nhiều sự kiện văn hóa, giải trí...

Bên cạnh đó, từ “quốc dân” cũng được gán với những người có hành vi, cử chỉ, ngoại hình ít nhiều tạo sức ảnh hưởng trong cộng đồng, dù đôi khi đó chỉ là hiện tượng nhất thời, ví như: “thầy giáo quốc dân”, “bà vợ quốc dân”, “ông chồng quốc dân”, “bạn trai quốc dân”, “em gái quốc dân”...

Khách quan mà nói, việc dùng từ “quốc dân” gắn với những con người có cử chỉ, hành động, việc làm tích cực, nhân văn, lan tỏa những điều tốt đẹp cho cộng đồng, đất nước cũng không ngoài mục đích nhân lên những giá trị tiến bộ trong cuộc sống, xã hội. Tuy nhiên, sự lạm dụng từ “quốc dân” một cách thái quá, hay gán ghép không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng sẽ khiến cho không ít người được tung hô rất dễ tự ảo tưởng về bản thân và đó là “mảnh đất màu mỡ” dung túng cho “bệnh ngôi sao” như một “vết dầu loang” làm vẩn đục môi trường văn hóa xã hội và đời sống nghệ thuật, giải trí. Đấy là chưa kể một số người nào đó có những những hành vi tiêu cực, sai trái, nhố nhăng, phản cảm được nhiều người biết đến cũng được báo chí, truyền thông ghép với từ “quốc dân”, ví như: “tên trộm quốc dân”, “gã nghiện rượu quốc dân”, “cô ả hung dữ quốc dân”, “tay ăn chơi quốc dân”... Sự gán ghép này vừa gượng gạo, ngô nghê, vừa làm “ô nhiễm” sự trong sáng của tiếng Việt.

Trên thực tế, không hẳn ai cũng thoải mái với việc được gán ghép với từ “quốc dân”. Mới đây, một hoa hậu khá tên tuổi từng lên tiếng đề nghị báo chí, truyền thông không gọi cô là “hoa hậu quốc dân”. Bởi cô thẳng thắn bày tỏ, từ “quốc dân” mang ý nghĩa lớn lao, trang trọng, nên cô không dám nhận mình là “hoa hậu quốc dân”, mà ngược lại chỉ muốn tự nhận mình là “hoa hậu bình dân” cho thân mật, dân giã, phù hợp với tính cách mộc mạc, giản dị vốn có của cô.

Khi nói đến từ có yếu tố “quốc” (Tổ quốc, quốc gia, quốc dân, quốc kỳ, quốc khánh, quốc thể, quốc lễ...) đều là những từ mang ý nghĩa chính danh, trang trọng, chuẩn mực. Vì vậy, để góp phần giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt, với vai trò là cầu nối thông tin văn hóa với công chúng, báo chí truyền thông cần có trách nhiệm hiểu đúng, dùng đúng từ “quốc dân”, không nên sử dụng từ này một cách tràn lan, ghán ghép một cách khiên cưỡng./.

 

GIẢI TRÌNH SỬA ĐỔI LUẬT SỸ QUAN QĐND VIỆT NAM

 

Đại tướng Phan Văn Giang trình Quốc hội sửa Luật Sĩ quan: Tăng tuổi nghỉ hưu, bổ sung quy định chức vụ cơ bản của sĩ quan

Chiều 28-10, tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ tám, Quốc hội họp phiên toàn thể tại hội trường, nghe Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình bày Tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Báo cáo tại phiên họp, Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh đến sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo đó, từ khi Luật Sĩ quan năm 1999 có hiệu lực thi hành (ngày 1-4-2000), đã có nhiều chính sách, pháp luật của Nhà nước được ban hành, như: Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024,... nên cần phải sửa đổi, bổ sung Luật Sĩ quan để bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với tính chất, nhiệm vụ của Quân đội “là ngành lao động đặc biệt”.Sửa luật để khắc phục bất cập về quy định chức vụ cơ bản, hạn tuổi phục vụ tại ngũ của sĩ quan

Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết, Luật Sĩ quan hiện hành (Điều 11) chỉ quy định 11 chức vụ cơ bản của sĩ quan là cấp trưởng, không quy định chức vụ cơ bản là cấp phó, nên chưa cụ thể hóa các chức danh, chức vụ theo quy định của Bộ Chính trị; chưa quy định đầy đủ các chức danh, chức vụ có thẩm quyền chỉ huy, quản lý trong Quân đội nên chưa khẳng định được vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của chức vụ có thẩm quyền và phân định quyền hạn cấp trên, cấp dưới trong chỉ huy, điều hành, chấp hành điều lệnh, điều lệ, kỷ luật Quân đội.

Bên cạnh đó, Điều 13 Luật Sĩ quan quy định hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của sĩ quan (cấp úy 46; Thiếu tá 48; Trung tá 51; Thượng tá 54; Đại tá nam 57, nữ 55 và cấp tướng nam 60, nữ 55) chưa tận dụng được nguồn nhân lực có bản lĩnh, năng lực, kinh nghiệm, sức khỏe; chưa bảo đảm chế độ, chính sách cho một bộ phận sĩ quan khi nghỉ hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Ngoài ra, khoản 1 Điều 15 Luật Sĩ quan quy định cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh của sĩ quan là cấp tướng; tuy nhiên, một số đơn vị đã có sự điều chỉnh, phát triển về quy mô tổ chức, biên chế, bổ sung chức năng, nhiệm vụ và được điều chỉnh chức danh, chức vụ nhưng chưa được quy định cụ thể trong luật.

“Một số đơn vị không thay đổi về tên gọi nhưng có sự điều chỉnh, phát triển về quy mô tổ chức, biên chế và bổ sung chức năng, nhiệm vụ đã gặp vướng mắc trong đề nghị cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh sĩ quan là cấp tướng, do chưa có sự thống nhất cách hiểu để các đơn vị này được xem là “đơn vị thành lập mới”, nên không thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định tại khoản 4 Điều 15 Luật Sĩ quan”, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết thêm.

Cùng đó, một số nội dung của luật về tiêu chí, tiêu chuẩn được xét thăng quân hàm vượt bậc và thăng quân hàm, nâng lương sĩ quan trước thời hạn, phong quân hàm sĩ quan dự bị; chế độ nghỉ của sĩ quan và một số chính sách về bảo hiểm xã hội, nhà ở, đất ở, chăm sóc sức khỏe, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương…quy định chưa cụ thể nên hiệu quả triển khai thực hiện luật chưa cao.

Từ những vấn đề trên, Bộ trưởng Phan Văn Giang nhấn mạnh việc xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐND Việt Nam là cần thiết.Những nội dung sửa đổi, bổ sung của dự thảo luật

Việc sửa luật, theo Bộ trưởng Phan Văn Giang, nhằm bảo đảm QĐND Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, thống lĩnh của Chủ tịch nước, quản lý của Chính phủ và chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phù hợp với thực tiễn xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, hiện đại; chỉ sửa đổi những nội dung vướng mắc, bất cập; không quy định những vấn đề cụ thể về tổ chức bộ máy và quân hàm cấp Trung tướng trở xuống để bảo đảm linh hoạt, phù hợp với tính chất nhiệm vụ của Quân đội.

Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết một số nội dung sửa đổi, bổ sung của dự thảo luật gồm: (1) Chức vụ cơ bản và chức vụ, chức danh tương đương của sĩ quan; (2) Hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất của sĩ quan; (3) Cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh của sĩ quan là cấp tướng; (4) Quy định cụ thể một số nội dung về tiêu chí, tiêu chuẩn được xét thăng quân hàm vượt bậc và thăng quân hàm, nâng lương sĩ quan trước thời hạn, phong quân hàm sĩ quan dự bị, chế độ, chính sách của sĩ quan về bảo hiểm xã hội, nhà ở, đất ở, chăm sóc sức khỏe... để bảo đảm chặt chẽ, có tính khả thi cao.

Về nội dung cơ bản của dự thảo luật, Bộ trưởng Phan Văn Giang cho biết: Dự thảo luật gồm 2 điều, sửa đổi, bổ sung về: Quy định chức vụ cơ bản và chức vụ, chức danh tương đương của sĩ quan tại Điều 11 Luật Sĩ quan; quy định tuổi phục vụ của sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị tại Điều 13 và Điều 38 Luật Sĩ quan; quy định về cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ của sĩ quan là cấp tướng, cấp tá, cấp úy tại Điều 15 Luật Sĩ quan; giao Chính phủ quy định cụ thể vị trí có bậc quân hàm cao nhất là Trung tướng, Phó đô đốc Hải quân, Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân và cấp bậc quân hàm cao nhất đối với chức vụ, chức danh của sĩ quan là cấp tướng của đơn vị thành lập mới, đơn vị được tổ chức lại để thực hiện kết luận của Bộ Chính trị.

Đối với một số nội dung liên quan đến chế độ, chính sách của sĩ quan, dự thảo luật sửa đổi, bổ sung theo hướng cụ thể hơn về: Tuổi của sĩ quan tại ngũ xét thăng quân hàm từ cấp bậc Đại tá lên Thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân và cấp có thẩm quyền quy định tiêu chí, tiêu chuẩn xét thăng quân hàm sĩ quan vượt bậc; thăng quân hàm, nâng lương sĩ quan trước thời hạn; thanh toán cho những ngày không nghỉ phép; chăm sóc sức khỏe đối với sĩ quan và thân nhân sĩ quan tại ngũ; bổ sung quy định về điều kiện nghỉ hưu đối với đối tượng hết tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất; chế độ an điều dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sĩ quan nghỉ hưu; phong quân hàm sĩ quan dự bị; trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và bổ sung thẩm quyền của Chính phủ “Ban hành cơ chế, chính sách đặc biệt để thu hút, trọng dụng nhân tài đối với Quân đội” theo kết luận của Bộ Chính trị.

CHỦ NGHĨA QUỐC TẾ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ HIỆN NAY

 

Kể từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay, bối cảnh chính trị quốc tế đã có những thay đổi nhanh chóng và sâu sắc, đặt ra những thách thức lớn và phức tạp đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, cũng như đối với các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới trong việc nhận thức và thực hành chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong thời đại mới.

Một là, nhận thức và hành động trên tinh thần chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân diễn ra trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực, phong trào cộng sản và chủ nghĩa quốc tế rơi vào thoái trào, phân liệt, khủng hoảng sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu - thành trì của chủ nghĩa xã hội, trung tâm đoàn kết, tập hợp lực lượng và phối hợp hành động của cách mạng thế giới, đồng thời là chỗ dựa tinh thần và vật chất to lớn của phong trào cộng sản và chủ nghĩa quốc tế cũng như phong trào giải phóng dân tộc, bảo vệ độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội thế giới đã sụp đổ. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, phong trào cộng sản và chủ nghĩa quốc tế, phong trào tiến bộ trên thế giới đã mất đi điểm tựa chính trị và tinh thần, cũng như mất đi sự trợ giúp vật chất to lớn, trực tiếp và hiệu quả. Bi kịch này dẫn tới những khó khăn và thách thức nghiêm trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Phong trào cộng sản nói chung cũng như của nhận thức luận và hành động theo tinh thần của chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân nói riêng.

Hai là, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào một thời kỳ mới với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế lớn trong đời sống chính trị quốc tế. Sự chia rẽ, phân cực, phân tuyến, thậm chí đối đầu giữa các quốc gia như trong thời kỳ chiến tranh lạnh không còn và không phù hợp với bối cảnh mới, biểu hiện bề ngoài của đấu tranh giai cấp không còn rõ ràng mà đã bị lu mờ. Yếu tố ý thức hệ, tư tưởng và thể chế chính trị không còn là nhân tố then chốt chi phối quyết định việc tập hợp lực lượng và xây dựng đối tác trong quan hệ quốc tế, mà thay vào đó sự tương đồng, gắn kết và chia sẻ về lợi ích trở thành cơ sở quan trọng nhất để lựa chọn và xây dựng các mối quan hệ song phương cũng như đa phương. Hơn nữa, thế giới ngày nay xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu không một quốc gia, dân tộc nào có thể tự mình giải quyết được mà đòi hỏi sự chung tay phối hợp, hợp tác của tất cả các nước, của toàn thể cộng đồng quốc tế. Theo đó, xu thế lớn của quan hệ quốc tế ngày nay là các quốc gia không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, giàu nghèo, lớn nhỏ vừa hợp tác vừa cạnh tranh và cùng tồn tại hòa bình. Điều này đặt ra những khó khăn đối với việc nhận thức và thực hành chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Ba là, tiến trình toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa kinh tế dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra ngày càng sâu rộng, tác động đến mọi quốc gia, dân tộc. Nó tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, khu vực ngày càng chặt chẽ và sâu sắc. Trong thế giới toàn cầu hóa đang diễn ra, cuộc đua sức mạnh kinh tế trở thành một trong những yếu tố quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia và định vị vị thế mỗi quốc gia trong trật tự thế giới mới. Vì vậy, hội nhập quốc tế, tham gia vào hợp tác và cạnh tranh kinh tế trở thành một lựa chọn khách quan, khả dĩ và tất yếu của hầu hết các quốc gia trên con đường tìm kiếm cơ hội phát triển và kiến tạo sự thịnh vượng cho dân tộc. Trong bối cảnh như vậy, lợi ích quốc gia, dân tộc trở thành động lực, mục tiêu và nguyên tắc nổi bật, thậm chí là tối thượng trong hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại của các quốc gia, dân tộc, đồng thời nó cũng chi phối sự vận động và phát triển của các mối quan hệ quốc tế trong thế giới ngày nay. Điều này đặt ra những vấn đề phức tạp, nhạy cảm và khó khăn trong việc xử lý mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc, giữa lợi ích quốc gia với trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế. Hơn nữa, trước sự chi phối của lợi ích quốc gia, dân tộc trong môi trường hợp tác và cạnh tranh ngày càng gay gắt như vậy, tất yếu nảy sinh ngày càng nhiều những khác biệt, va chạm, cọ xát, thậm chí là mâu thuẫn, xung đột về mặt lợi ích cục bộ cũng như lợi ích chiến lược giữa các nước xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản cầm quyền cũng như giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước. Điều này dễ tạo ra xu hướng ly tâm, chia rẽ, biệt phái trong phong trào cộng sản và chủ nghĩa quốc tế, nhất là giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Bối cảnh quốc tế như vậy đã thách thức trực tiếp cả về mặt nhận thức luận cũng như việc thực hành chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Bốn là, sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc của kinh tế - xã hội thế giới dưới tác động của toàn cầu hóa kinh tế, cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức, một mặt đã phần nào làm nhạt nhòa ranh giới giữa các giai cấp, tầng lớp, mặt khác đã làm cho sự phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai cấp và phân tầng xã hội diễn ra sâu sắc. Ngay bản thân giai cấp công nhân cũng phân hóa rất sâu sắc và phức tạp trong mỗi nước cũng như giữa các nước, các khu vực khác nhau. Trong khi công nhân truyền thống có xu hướng ngày càng ít đi ở các nước phát triển thì đội ngũ này nhiều lên ở các nước đang phát triển cùng với tiến trình công nghiệp hóa. Trong bản thân mỗi quốc gia thì đội ngũ công nhân - trí thức, người lao động có kỹ năng, tay nghề cao cũng ngày càng gia tăng so với công nhân trực tiếp sản xuất. Điều này làm cho sự thống nhất lợi ích và đoàn kết hành động của giai cấp công nhân trở nên ngày càng khó khăn hơn.

Trước bối cảnh quốc tế như trên, nhiều người hoài nghi về sự tồn tại của chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, cho rằng nó không còn phù hợp, thậm chí coi đó là một điều xa xỉ trong chính trị và quan hệ quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, lý luận và lịch sử đã cho thấy, nhận thức và thực hành chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân là xu hướng hành động tất yếu, khách quan của các đảng cộng sản và công nhân chân chính trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Tuy vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân có thể và cần phải được thể hiện dưới những hình thức, nội dung và sắc thái mới, phong phú, đa dạng và linh hoạt hơn, đồng thời nó cũng cần được nhận thức lại để phản ánh đúng đắn hơn với tinh thần của chủ nghĩa Mác và để phù hợp hơn, thích ứng hơn với bối cảnh mới./.

“…CHỈ CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA MỘT ĐẢNG BIẾT VẬN DỤNG MỘT CÁCH SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA NƯỚC MÌNH THÌ MỚI CÓ THỂ ĐƯA CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ĐẾN THẮNG LỢI VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN THÀNH CÔNG”

 

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho báo Pravđa (Liên Xô); Báo Nhân dân, đăng số 4952, ngày 01 tháng 11 năm 1967.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng, đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; Đảng phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải luôn cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.

 

"LỜI KÊU GỌI ĐÔNG BÀO NAM BỘ"

 

Đang tải lên: Đã tải 1245184/1245184 byte lên.


 Vào ngày 29 tháng 10 năm 1945, trên Báo Cứu quốc, số 77, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “Lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào Nam Bộ giữ vững tinh thần chiến đấu, quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc; trong đó Người tiếp tục khẳng định: "Trước nạn ngoại xâm, toàn thể quốc dân đã đoàn kết chặt chẽ thành một khối kiên cố, thành một lực lượng thống nhất mà không đội xâm lăng nào đánh tan được".

Ra đời vào thời điểm đầy gian khó của cách mạng Việt Nam, trong cuộc đấu tranh sống còn của dân tộc chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân - phong kiến, Quân đội ta đã được Đảng và Bác Hồ thành lập, tổ chức, giáo dục, rèn luyện; từ 34 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí thô sơ của ngày đầu thành lập. Trải qua hơn 79 năm chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta đã không ngừng phát triển,và lập nên những chiến công chói lọi. Mọi cán bộ, chiến sỹ đã hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, sẵn sàng “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” trong cuộc chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng chống, giảm nhẹ thiên tai...

Với truyền thống vẻ vang và những chiến công vang dội đó, Quân đội ta thật sự là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC MỐI QUAN HỆ HỮU NGHỊ VIỆT NAM - CUBA CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG VIỆT TÂN

 



 Mối quan hệ Việt Nam – Cuba là mối quan hệ hữu nghị thủy chung son sắt. Trải dài theo năm tháng, mối quan hệ đó không ngừng được bồi tụ, vun đắp, trở thành biểu tượng về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới đương đại.

Nhưng bằng những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo, các thế lực thù địch, tổ chức phản động, trong đó có Việt Tân đã tìm mọi cách chia rẽ tình đoàn kết giữa hai dân tộc, phủ nhận vai trò và sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình của nhân dân Cuba trong kháng chiến cứu nước và trong sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân dân Việt Nam; cũng như sự giúp đỡ về vật chất, tinh thần của nhân dân Việt Nam đã dành cho Cuba. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc của các thế lực thù địch. Bởi bất cứ khi nào Việt Nam tiến hành các hoạt động ngoại giao, chúng đều rắp tâm bôi nhọ, bóp méo.

Cùng nhìn lại một số những đóng góp của Cuba đối với cách mạng nước ta: Trong những năm 60 của thế kỷ XX, giữa lúc đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, nhiều bác sĩ, nhân viên y tế Cuba đã sang giúp chữa trị cho các thương binh và người dân bị nạn. Bất chấp sự phong tỏa bằng bom, mìn của đế quốc Mỹ, các tàu Cuba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng cứu trợ của nhân dân Cuba giúp nhân dân Việt Nam. Đồng thời, Cuba cử chuyên gia về cầu đường sang tham gia cùng bộ đội Trường Sơn mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh, giúp đào tạo hơn 1.000 sinh viên Việt Nam ở trình độ đại học và cao học, vận động ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc.

Cuba là nước đầu tiên công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và mời đặt cơ quan đại diện thường trú của mặt trận tại La Habana. Sau đó, Cuba đã cử đại sứ bên cạnh Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại vùng giải phóng. Cuba cũng là nước đầu tiên thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (23-9-1963) do nữ Anh hùng Moncada Melba Hernandez sáng lập. Đây là sự ủng hộ về mặt quốc tế rất cần thiết cho sự nghiệp đấu tranh chống Mỹ của nhân dân miền Nam khi ấy. Bên cạnh đó, hằng năm, Cuba giúp Việt Nam ba vạn tấn đường và nước bạn đã bán số đường đó lấy ngoại tệ để gửi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 2-1-1966, khi nhân dân Việt Nam đang trải qua giai đoạn cam go nhất của cuộc đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ, trong cuộc mít tinh có hơn 1 triệu người Cuba tham dự và khách mời của các nước đến từ ba châu: Á, Phi, Mỹ Latinh, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Thủ tướng Chính phủ Cách mạng nước Cộng hòa Cuba Fidel Castro tuyên bố: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”. Sau đó, hàng nghìn thanh niên Cuba đã viết đơn tình nguyện xin đến Việt Nam để cùng nhân dân Việt Nam đánh Mỹ.

Ngày 15-9-1973, bất chấp sự nguy hiểm, đồng chí Fidel Castro đã đến tận khu giải phóng Quảng Trị. Một lần nữa, đồng chí Fidel Castro đã nhấn mạnh rằng: “Cuba ở một bên Mỹ nhưng đã làm cách mạng thắng Mỹ và Việt Nam cũng thế, nhất định sẽ thắng. Máu của Cuba sẵn sàng đổ cho nhân dân Việt Nam giành thắng lợi”. Cũng trong chuyến thăm lần đầu tiên vào năm 1973 này, đồng chí Fidel Castro và nhân dân Cuba anh em đã tặng Việt Nam 5 công trình kinh tế-xã hội vào loại tầm cỡ lúc bấy giờ với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD, gồm: Khách sạn Thắng Lợi (tại Hồ Tây, Hà Nội); Bệnh viện Việt Nam-Cuba (tại Đồng Hới, Quảng Bình); đường Xuân Mai; Trại bò giống Ba Vì; Xí nghiệp gà Lương Mỹ.

Những đóng góp, giúp đỡ của nhân dân Cuba đối với cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là không thể đong đếm được. Đáp lại tình cảm to lớn của nhân dân Cuba đã dành cho Việt Nam, khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, Cuba đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, trong hoàn cảnh đó, Việt Nam đã dành cho đất nước anh em Cuba sự ủng hộ hết lòng, đã gửi gạo, quần áo, đồ dùng học tập và nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu sang giúp nhân dân Cuba. Từ đó đến nay, Việt Nam tiếp tục viện trợ lương thực, thực phẩm, máy móc và trang thiết bị giúp nước bạn, đồng thời tích cực vận động các quốc gia trên thế giới kêu gọi Mỹ bỏ bao vây cấm vận Cuba.

Với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, Việt Nam đã nhiều lần bày tỏ tình đoàn kết, ủng hộ nhiệt tình đối với nhân dân Cuba anh em, thể hiện qua các phong trào đoàn kết, ủng hộ Cuba và các đợt quyên góp do các tổ chức chính trị - xã hội Việt Nam phát động. Hai nước luôn phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế. Việt Nam luôn bày tỏ lập trường nhất quán ủng hộ Cuba, yêu cầu Mỹ chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế và tài chính chống Cuba.

Trên nền tảng vững chắc của tình hữu nghị sâu sắc và lịch sử lâu đời, quan hệ Việt Nam - Cuba sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển, những lời lẽ xuyên tạc, bóp méo, chống phá của Việt tân về mối quan hệ hữu nghị truyền thống, thủy chung gắn bó Việt Nam - Cuba trở nên lạc lõng. Vì mối quan hệ Việt Nam - Cuba được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước không ngừng bồi tụ, vun đắp ngày càng trở nên bền chặt, gắn bó, không thế lực chống phá nào có thể chia rẽ được.

Vì vậy cần tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Cuba không chỉ là bảo vệ mối quan hệ thủy chung, son sắt - một biểu tượng về tình đoàn kết quốc tế trong lịch sử thế giới đương đại, mà còn là bảo vệ đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh hội nhập quốc tế, góp phần vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 



 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc chăm lo xây dựng Quân đội Nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để Quân đội luôn trưởng thành và lớn mạnh, xứng đáng là đội quân tinh nhuệ, đội quân bách chiến bách thắng, luôn trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú trọng đến xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Người đã quán triệt và vận dụng sâu sắc nguyên tắc xây dựng Quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin vào xây dựng Quân đội cách mạng ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến.

Trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã từng chiến thắng các cuộc chiến tranh xâm lược của những kẻ thù có tiềm lực quân sự mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Bởi ông cha ta biết đoàn kết, thức tỉnh tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, phát động cuộc chiến tranh chính nghĩa chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của kẻ thù.

Quán triệt quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng Quân đội kiểu mới, kế tục tinh thần, truyền thống đánh giặc của cha ông ta, Hồ Chí Minh chỉ rõ phải xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về mọi mặt, trong đó trước hết cần tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, có như vậy Quân đội mới hoàn thành chức năng của một đội quân chiến đấu, đội quân công tác và lao động sản xuất. Để Quân đội trở thành đội quân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thì trước tiên cần chú trọng xây dựng Quân đội về chính trị. Không chăm lo xây dựng về chính trị thì Quân đội dù chính quy, tinh nhuệ, hiện đại bao nhiêu cũng sẽ mất phương hướng, rã đám trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc, bài học về xây dựng Quân đội của các nước XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh. Từ đó, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội về chính trị trong quá trình tổ chức, lãnh đạo và rèn luyện Quân đội, nhằm xây dựng Quân đội có bản lĩnh chính trị, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân trong quá trình tiến lên chính quy, hiện đại. Tư tưởng của Người được bắt nguồn từ quan điểm đấu tranh cách mạng để giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản, nhằm mục tiêu giành độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Điều đó tất yếu đưa Người đến với học thuyết quân sự Mác - Lênin, để từ đó Người vạch ra phương hướng tổ chức, xây dựng Quân đội Nhân dân vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp ở nước ta. Người luôn xác định phải xây dựng Quân đội về chính trị, coi đó là cái gốc - cái nền tảng của Quân đội cách mạng, là vấn đề mang tính chất sống còn của một Quân đội cách mạng. Khẳng định “Chính trị là vận mệnh của quân đội cách mạng”, vì vậy ngay từ năm 1941, sau khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã chỉ ra vấn đề hàng đầu đối với xây dựng lực lượng vũ trang là “phải có con đường chính trị đúng”. Con đường chính trị đúng, chính là con đường cách mạng vô sản đã được Hồ Chí Minh cùng Đảng ta xác định ngay từ Hội nghị thành lập Đảng. Tư tưởng xây dựng Quân đội về chính trị của Người được thể hiện trong “ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Trong đó, Người chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”. Đây là luận điểm hết sức đặc sắc trong tư tưởng của Người về xây dựng Quân đội, bởi theo Người quy luật phát triển của cuộc đấu tranh cách mạng ở nước ta là “phải đi từ hình thức chính trị tiến đến hình thức quân sự”. Theo quy luật đó, “ Muốn có đội vũ trang mạnh, trước hết phải có đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững”. Bởi theo Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của Nhân dân ta là cuộc kháng chiến toàn dân, cần phải huy động lực lượng vũ trang toàn dân, theo phương châm đó, Người chỉ rõ phải dựa vào lực lượng chính trị mạnh mẽ, phải lựa chọn những đội viên hăng hái nhất, kiên quyết nhất để lập ra đội quân đầu tiên cho Quân đội ta. Ngay sau khi thành lập, các đội vũ trang đã nhanh chóng tiến hành vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, lực lượng chính trị, để làm chỗ dựa xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Quân đội vừa là lực lượng chính trị, vừa là lực lượng vũ trang chiến đấu cho lý tưởng của Đảng.

Quá trình xây dựng Quân đội về chính trị, thực chất là quá trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Quân đội cách mạng, là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “ Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân, do Đảng xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Từ đó, Quân đội luôn trung thành tuyệt đối, là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng của Nhà nước và của Nhân dân.

Để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, theo Hồ Chí Minh điều cơ bản, cốt yếu nhất là phải xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho Quân đội, nhằm tăng cường tính Nhân dân, tính dân tộc cho Quân đội. Đồng thời qua đó xây dựng bản chất cách mạng cho Quân đội, thống nhất cơ bản về mặt lợi ích giữa giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đối với Quân đội, chỗ dựa vững chắc nhất chính là lòng dân, vì vậy phải lấy dân làm gốc, dựa vào sức mạnh của dân chúng để đánh giặc. Phải làm cho Quân đội ta thành một Quân đội chân chính của Nhân dân, phải thực hiện “đi dân nhớ, ở dân thương”, mối quan hệ quân dân phải không ngừng củng cố và phát triển, hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ không ngừng được khắc sâu trong tâm chí mỗi người dân. Muốn vậy, Quân đội ta phải không ngừng xây dựng trở thành đội quân trung - hiếu, đây là nội dung nổi bật, xuyên suốt trong tư tưởng xây dựng quân đội về chính trị của Hồ Chí Minh. Ngày 26 tháng 5 năm 1946, đến thăm trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Người dạy: “Trung với nước, hiếu với dân là bổn phận thiêng liêng, một trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là một vinh dự của người chiến sĩ trong đạo quân quốc gia đầu tiên của nước ta”. Quán triệt lời dạy của Bác, trong quá trình xây dựng và trưởng thành, Quân đội ta luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhân dân, luôn sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của Nhân dân./.

ĐẠI DIỆN VIỆN KIỂM SÁT ĐỀ NGHỊ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TUYÊN PHẠT BỊ CÁO NGUYỄN NHÂN CHIẾN, CỰU BÍ THƯ TỈNH ỦY BẮC NINH 4-5 NĂM TÙ VỀ TỘI “NHẬN HỐI LỘ”.

 



 Theo báo Thanh Tra điện tử, Sáng 30/10, TAND tỉnh Bắc Ninh tiếp tục xét xử 13 bị cáo trong vụ án sai phạm về đấu thầu trang thiết bị y tế tại tỉnh Bắc Ninh.

Kết thúc phần xét hỏi, hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận. Đại diện Viện KSND tỉnh Bắc Ninh đã công bố quan điểm luận tội, đề nghị các mức án đối với từng bị cáo.

Đại diện viện kiểm sát cho rằng, bị cáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế AIC (gọi tắt là Công ty AIC), được xác định là chủ mưu cầm đầu. Với hành vi phạm tội đưa hối lộ nhiều lần. Bị cáo còn đang bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Tương tự, bị cáo Nguyễn Hồng Sơn - Phó Tổng Giám đốc Công ty AIC được xác định có vai trò giúp sức tích cực cho bị cáo Nhàn, hiện cũng đang bỏ trốn. Do các bị cáo bỏ trốn nên hậu quả vụ án do bị cáo gây ra cũng chưa được khắc phục. Hai bị cáo này không được hưởng tình tiết giảm nhẹ.

Viện kiểm sát đề nghị mức án 12-13 năm tù về tội “đưa hối lộ” với bị cáo Nhàn, tổng hợp với bản án được tuyên trước đó, bị cáo Nhàn phải chịu tổng mức án chung là 30 năm tù.

Bên cạnh đó, viện kiểm sát đề nghị mức án 10-11 năm tù về tội “vi phạm quy định đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” đối với bị cáo Sơn.

Về tội “mhận hối lộ”, viện kiểm sát cho rằng, bị cáo Nguyễn Nhân Chiến được xác định là người đứng đầu, có tác động đến các bị cáo cấp dưới nên phải chịu trách nhiệm cao nhất.

Mặc dù các bị cáo phạm tội với mục đích trục lợi, tuy nhiên, xét đến hoàn cảnh điều kiện khi phạm tội là từ mong muốn được sớm được triển khai hoàn thành 6 dự án bệnh viện, là nơi khám chữa bệnh cho người dân.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình khắc phục toàn bộ số tiền đã nhận, đồng thời còn nộp khắc phục thêm hậu quả vụ án.

Bên cạnh đó, các bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình công tác, được nhận nhiều huân, huy chương, bằng khen. Quá trình diễn ra xét xử cũng nhận được đơn xin giám án từ các cá nhân, cơ quan các bị cáo từng công tác.

Do đó, đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Nhân Chiến (cựu Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh) đề nghị phạt 48-60 tháng tù.

Cùng về tội "nhận hối lộ", bị cáo Nguyễn Tử Quỳnh (cựu Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh) bị đề nghị phạt 36-42 tháng tù; bị cáo Trần Văn Tuynh (cựu Giám đốc Ban Quản lý các dự án y tế thuộc Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh) bị đề nghị phạt 42-48 tháng tù; Nguyễn Hạnh Chung (cựu Giám đốc Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh) bị đề nghị 24-30 tháng.

Ngoài ra, đại diện viện kiểm sát cũng đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Nhường, cựu Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh mức án 24-30 tháng tù về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Các bị cáo khác tại các đơn vị thẩm định giá, Ban Quản lý dự án các công trình y tế bị đề nghị phạt 18-24 tháng đến 24-30 tháng tù.

Trước đó, trong suốt ngày xét xử đầu tiên, các bị cáo tại công ty thẩm định giá, các chủ đầu tư và các cá nhân tại UBND tỉnh Bắc Ninh đã khai trong phần xét hỏi, thể hiện hành vi sai phạm trong quá trình tổ chức đấu thầu 6 gói thầu thiết bị y tế tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến huyện ở tỉnh Bắc Ninh.

Các bị cáo đã thừa nhận hành vi và thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội. Đặc biệt, các cựu lãnh đạo UBND tỉnh, Tỉnh ủy Bắc Ninh đã thừa nhận các nội dung truy tố, kết quả điều tra là đúng và xin giảm nhẹ hình phạt.

Sức sống trường tồn của lý luận Mác-xít

 


Lịch sử hơn 100 năm từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã hoàn toàn đủ cơ sở cả về lý luận và thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tựu trung, tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh tiếp cận, thấy được ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tiếp thu, có được hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, đưa vào cách mạng Việt Nam, với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo dân tộc thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước. Nhưng đó là một hành trình tiếp thu lý luận, đưa lý luận vào thực tiễn không hề đơn giản, không hề có sẵn. Người chiến sĩ cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc đã phải nếm mật nằm gai, tắm mình trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, tận mắt chứng kiến những đọa đầy đau khổ nhất của kiếp cần lao, tiếp cận được với ánh sáng chân trời từ Chủ nghĩa Mác-Lênin mới đưa lại sự thành công đó. Chính Mác, Ăngghen, Lênin, những chiến sĩ cộng sản của phong trào công nhân quốc tế đã phải lăn lộn, chịu biết bao khổ cực trong phong trào công nhân, trong thảm cảnh bị đàn áp, bóc lột đến tận xương, tận tủy mới đúc rút được hệ tư tưởng lý luận có ý nghĩa vạch thời đại ấy. Nó hoàn toàn không là lý thuyết sách vở, kinh viện mà thấm đẫm hiện thực. Và luận giải như Các Mác, lý luận ấy đã biến thành lực lượng vật chất chứ không chỉ là lý luận đơn thuần. Mác đã rút ra rằng: "Lực lượng vật chất chỉ có thể đánh bại bởi lực lượng vật chất, nhưng một khi lý luận đã được thấm sâu vào quần chúng thì nó sẽ trở thành lực lượng vật chất vô địch".

Đấu tranh phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp.

 


Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại (?!)...

Đấu tranh phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội.


Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc rằng, Hồ Chí Minh có quan điểm sâu sắc về giải phóng dân tộc, nhưng hoàn toàn không có tư tưởng về chủ nghĩa xã hội (?!). Họ xảo biện rằng, toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Hồ Chí Minh lãnh đạo tập trung cho giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Những luận điệu xuyên tạc trên không chỉ bài bác tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn nham hiểm tách biệt tư tưởng Hồ Chí Minh với bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. 

Hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 


Cuộc cách mạng 4.0 với các thành tựu công nghệ mang tính đột phá đã và đang đem lại nhiều tiện ích cho loài người. Bên cạnh những tiện ích to lớn, những thành tựu ứng dụng công nghệ thông tin và các dịch vụ, ứng dụng thông minh trên không gian mạng cũng xuất hiện nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa an ninh quốc gia (ANQG) đối với các quốc gia, dân tộc.

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

                                                 

Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển internet và lượng người truy cập, sử dụng các trang mạng xã hội tương đối cao trên thế giới. Với đặc điểm nổi bật là tốc độ kết nối nhanh, phạm vi chia sẻ rộng, hiệu quả tác động lớn. Đây chính là mảnh đất màu mỡ, là cơ hội để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng nước ta với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp, khó lường. Các quan điểm sai trái trên không gian mạng đã và đang gây ra tác hại nhất định đối với tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của đất nước và tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sỹ ở các cơ quan, đơn vị trong Quân đội.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

           Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị đang ngày càng lợi dung không gian mạng để truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch với mục đích nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chống phá Đảng và Nhà nước ta, làm mất lòng tin của quần chúng Nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Vì vậy, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các luận điệu sai trái thù địch trên không gian mạng vừa là vấn đề cấp bách, vừa là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản của cả hệ thống chính trị và của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt với trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam nhiệm vụ này lại càng trở nên đặc biệt quan trọng.

SỰ KIỆN LỊCH SỬ NGÀY NÀY NĂM XƯA XỨ UỶ NAM KỲ ĐƯỢC LẬP LẠI

 



 Từ năm 1943, phong trào cách mạng ở Nam Kỳ xuất hiện những điều kiện mới, sự khủng bố của địch giảm xuống, nhiều đảng viên vượt ngục hoặc mãn hạn tù trở về các địa phương tham gia hoạt động, các đồng chí tạm lánh cũng quay về. Các đồng chí còn lại bên ngoài đẩy mạnh khôi phục lại tổ chức. Một bộ phận đảng viên ở Nam Kỳ đã bắt được liên lạc với Trung ương. Tuy nhiên, phong trào cách mạng Nam Kỳ vẫn còn nhiều hạn chế nhất là sự thiếu vắng cơ quan lãnh đạo của toàn kỳ.

Nắm bắt được yêu cầu bức xúc đó, sau một thời gian gây dựng cơ sở, tổ chức được một số tỉnh uỷ, phân công người làm bí thư các tỉnh, lập các Liên Tỉnh uỷ miền Tây, miền Trung, miền Đông Nam Kỳ, các đồng chí vượt ngục Tà Lại (đầu năm 1941) cùng các đồng chí khác đã triệu tập Hội nghị vào tháng 10/1943 tại nhà ông hương trưởng Trần Vinh Hoài, xã Tân Thuận Bình (Chợ Gạo, Mỹ Tho) để lập lại Xứ uỷ Nam Kỳ, đánh giá tình hình, đề ra chủ trương hoạt động.

Hội nghị nghiên cứu bài học xương máu năm 1940, Nghị quyết Hội nghị Trung ương (11/1939). Hội nghị chủ trương trong điều kiện chưa liên lạc được với Trung ương thì thực hiện theo Nghị quyết Trung ương 6. Theo đó, nhiệm vụ cấp bách lúc này là giải phóng dân tộc, nhiệm vụ cách mạng điền địa tạm hoãn; cách mạng thành công sẽ lập Chính phủ cộng hoà...

Hội nghị quyết định: mặc dầu bị tổn thất nặng năm 1940, Nam Kỳ không được vắng mặt trong cuộc khởi nghĩa toàn quốc, cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ phải nổ ra trước hết và chủ yếu ở Sài Gòn - đầu não của địch, các tỉnh sẽ khởi nghĩa tiếp theo và đồng thời. Do đó, cần tập trung sức lực vào thành phố và vùng lân cận mà không xem nhẹ các tỉnh ở xa. Hội nghị cho rằng muốn nắm được Sài Gòn phải nắm được công nhân và thanh niên. Lực lượng công nhân có mạnh mới lôi kéo được các tầng lớp khác. Có nắm được thanh niên mới lôi kéo được tầng lớp tư sản, trí thức và tư sản dân tộc. Hội nghị đặt vấn đề “công nhân vận động" vào hàng chủ yếu và cấp bách.

Hội nghị bầu Xứ uỷ Nam Kỳ gồm 11 đồng chí, nhất trí cử Trần Văn Giàu làm Bí thư Xứ uỷ. Xứ uỷ lấy báo Tiền phong làm cơ quan tuyên truyền, chỉ đạo phong trào. Sau khi thành lập, Xứ uỷ Nam Kỳ phân công các uỷ viên và các địa phương công tác, hướng vào các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn.

Sự ra đời của Xứ uỷ Nam Kỳ đánh dấu một bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Nam Kỳ. Nó chứng tỏ Đảng bộ đã hoàn toàn hồi phục để lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành tự do, độc lập của nhân dân trong Xứ.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta

 


Ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhờ vậy, trí tuệ của Đảng và đảng viên được phát huy, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được giữ vững, bảo đảm cho Đảng ta luôn là một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 



 Lâu nay, xuất hiện cơ số kẻ cơ hội chính trị, lộng ngôn đặt câu hỏi rằng: “Tại sao một đất nước mãi lạc hậu, đói nghèo, mà cứ kiên định chủ nghĩa xã hội?”. Việt Tân, VOA, RFA, BBC, Benny Truong, thoibao.de… thường gọi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là “cuộc thí nghiệm vĩ đại”, “Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là học thuyết sai lầm, chế độ xã hội chủ nghĩa là quái thai của lịch sử, cần phải đào sâu, chôn chặt”; “Đảng Cộng sản Việt Nam biết lý thuyết đã thấy sai mà vẫn ứng dụng thì sẽ thảm bại”…

Phải khẳng định ngay rằng, Có thể thấy, tất cả những suy diễn nêu trên là hoàn toàn chủ quan, thiếu căn cứ của kẻ không am hiểu về lịch sử, mù tịt về chủ nghĩa xã hội, cho thấy tâm địa quái thai!

Thứ nhất, nếu ai tìm hiểu kỹ lịch sử xã hội, đều nhận thấy tư tưởng về chủ nghĩa xã hội xuất hiện từ thời cổ đại, tức là từ khi xã hội xuất hiện bất công, phân biệt giàu nghèo, ra đời giai cấp. Từ thực tế đó, loài người ước mơ về một chế độ xã hội không có bất công, đầy tình thương yêu, đùm bọc, chia sẻ với nhau niềm vui nỗi buồn. Ước mơ về xã hội tốt đẹp đó chính là tư tưởng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, ước mơ chỉ dừng lại ở ước mơ cho đến khi Mác, Ănghen xuất hiện thì ước mơ ấy mới từng bước trở thành hiện thực. Sở dĩ các ông đó biến ước mơ thành hiện thực vì đã tìm ra được lực lượng và phương pháp thích hợp biến ước mơ thành hiện thực. Tiếp đó, Lênin, Hồ Chí Minh… bổ sung, phát triển làm cho tư tưởng chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh hơn, hiện hữu, đem lại ích lợi chính đáng cho nhân loại và sự thực là nhân loại đã được hưởng thụ ích lợi đó.

Thứ hai, nghiên cứu từ lịch sử, phân tích quá trình hình thành, ra đời, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta dễ nhận thấy điều tất yếu: 1) Chủ nghĩa xã hội là ước mơ của loài người phấn đấu, cùng xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là như vậy đó. 2) Trước sau, sớm hay muộn thì loài người đều đi đến chủ nghĩa xã hội - chủ nghĩa cộng sản. Vì, đó là văn minh, là mục tiêu cao cả mà ai cũng muốn hướng tới. 3) Công xã Pari thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có điều kiện lịch sử và sự non kinh nghiệm của những người cộng sản. Sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do bản thân nóng vội, duy ý chí, làm không đúng lý thuyết về chủ nghĩa xã hội mà Các Mác - Ăng ghen và Lênin đã vạch ra. Thắng lợi của các nước chủ nghĩa xã hội hiện nay như Việt Nam và Trung Quốc là do làm đúng lý luận và thích ứng với điều kiện thực tiễn, nghĩa là tạo dựng được mô hình chủ nghĩa xã hội thích hợp, nên cứ thế phát triển, chắc chắn không có chuyện sụp đổ. 4) Vẫn phải thừa nhận trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội không tránh khỏi hạn chế, nhược điểm và kể cả sai lầm đáng tiếc. Nhưng đó không phải là bản chất, nên chỉ việc sớm phát hiện, khắc phục, điều chỉnh thì sẽ vượt qua. Vì vậy, chúng ta phải có cái nhìn biện chứng về chủ nghĩa xã hội với một chế độ xã hội tốt đẹp nhưng đang trong quá trình xây dựng, tránh sao hết những hạn chế.

Thứ ba, thực tiễn hơn 80 kể từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam cùng với luận điểm lạc như trên đã cho bức tranh toàn cảnh, phát triển vượt trội, thành công rút ngăn … Những kẻ phủ nhận giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thành tựu mà cách mạng Việt Nam, tự lộ rõ tâm địa chống cộng. Điều đó chứng tỏ kẻ ấy hoặc là sống ở trời Tây, nhưng tầm mắt còn hạn chế bởi định kiến hoặc khung trí tuệ đóng; cũng có thể xa rời Việt Nam lâu ngày chưa trở lại để tận mắt chứng kiến thành tựu của Việt Nam, hoặc cũng ít đọc mạng xã hội để thấy thế giới ca ngợi thành công của Việt Nam; hoặc là kẻ sống ở Việt Nam nhưng đôi mắt bị mù nên không nhận thấy điều gì, chỉ nghe một tai từ kẻ có tâm địa chống cộng như chính bản thân. Mục tiêu của Việt Nam là bất luận trong hoàn cảnh nào vẫn kiên định chủ nghĩa xã hội. Bởi vậy, dù ai cố tình xuyên tạc và chống phá thì chắc chắn cuối cùng đều nhận lại thất bại.

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN LÀ NHIỆM VỤ CƠ BẢN VÀ CẤP BÁCH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY

 


Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên của Đảng cộng sản Việt Nam nhằm đảm bảo cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) đã ra nghị quyết về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Như vậy Đảng ta khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là nhiệm vụ then chốt mà còn là vấn đề cấp bách hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ. Do đó tăng cường hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay:

HÌNH ẢNH ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG THỜI KỲ MỚI

 



 Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng được hình thành và phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta. Nhờ phẩm chất đó, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn tỏa sáng trong lòng Nhân dân, trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam không ngừng lớn mạnh, lập nhiều chiến công hiển hách, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của nền Quốc phòng toàn dân, Chiến tranh Nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay. Điều đặc biệt là, niềm vinh dự lớn lao đó chỉ có thể có được với một quân đội cách mạng "từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu", không quản ngại gian khổ, hy sinh, luôn đi đầu trên trận tuyến chống kẻ thù xâm lược để giành và giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện sâu sắc, cô đúc ngay trong lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội Nhân dân Việt Nam: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".

“Bộ đội Cụ Hồ” - tên gọi bình dị, gần gũi mà cao quý. Danh hiệu đó, phẩm chất đặc biệt đó, được xây đắp nên trước hết từ tinh thần chiến đấu dũng cảm, không quản hy sinh, gian khổ của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ và sự giáo dục, rèn luyện của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng sự thương yêu, đùm bọc của Nhân dân. Đồng thời, được lưu giữ, kế thừa, không ngừng phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc. Nói đến chuẩn mực phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là nói đến những chuẩn mực giá trị về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng. Đó là lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết quân - dân; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh,... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy, phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng và chiến đấu của Quân đội ta.

Hình ảnh Anh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới là sự kế thừa, tiếp nối những truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của thế hệ cha anh trong lịch sử, được không ngừng bổ sung, phát triển và biểu hiện cụ thể, sinh động trong nhận thức, hành động, giao tiếp, ứng xử góp phần tô thắm phẩm chất, truyền thống tốt đẹp cuả quân đội Nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới. Chúng ta có thể kể đến những hình ảnh cụ thể của Anh Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới bao gồm những hình ảnh của những cán bộ chiến sỹ luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền của Tổ quốc; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng Nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới; có lối sống cao đẹp, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm. Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới là hình ảnh hoạt động mang tính tích cực, chủ động của các tổ chức, các lực lượng và chính bản thân mỗi cán bộ, chiến sỹ nhằm giữ gìn, phát triển các phẩm chất truyền thống tốt đẹp của thế hệ đi trước bằng những hành động, việc làm thiết thực, cụ thể, làm cho truyền thống được lan tỏa, phát triển rộng khắp trở thành mục tiêu, động lực cho các thế hệ trẻ phấn đấu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong những năm tháng chiến tranh, hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ biểu hiện ở tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, thì ngày nay hình ảnh đó biểu hiện ở việc sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần. Nhiều tấm gương cán bộ, chiến sỹ quân đội tiêu biểu dũng cảm dầm mình trong bão lũ, bất chấp hiểm nguy cứu giúp đồng bào, đồng đội; những tấm gương sẵn sàng hy sinh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; những tấm gương “Ba cùng” đã lặn lội trên mọi nẻo đường, làng, bản vùng sâu, vùng xa của Tổ quốc trong các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng và cũng có những tấm gương hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.

Trong thời thời kỳ mới hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ gắn liền với kết quả nhiệm vụ làm tốt công tác dân vận, gắn bó mật thiết với Nhân dân, luôn là chỗ dựa trung thành, tin cậy của Nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân, lấy phụng sự Nhân dân làm mục tiêu, lý tưởng. Hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ ngày càng được toả sáng, thể hiện rõ nét, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, năng lực công tác, đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng trong từng thời kỳ. Đã tiếp tục xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm trong chiến đấu, hy sinh bảo vệ chủ quyền, biên giới, biển, đảo; nhiều tập thể, cá nhân không quản ngại khó khăn, gian khổ, gắn bó với vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng để tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các cuộc vận động cách mạng, các phong trào và nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Thông qua công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,… hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ càng được thể hiện và khẳng định, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, tạo công ăn việc làm cho người dân, giúp dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, bao tiêu sản phẩm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng đời sống văn hóa mới, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trên địa bàn đóng quân. Đồng thời tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác cho các tầng lớp Nhân dân, đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn, bảo vệ cấp ủy, chính quyền địa phương, củng cố đoàn kết các dân tộc và tình hữu nghị với các nước láng giềng. Càng trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ càng tỏa sáng, có sức thuyết phục, sống động, góp phần bồi dưỡng nhận thức, tư tưởng, tình cảm, khơi dậy và nhân lên mặt tích cực trong Nhân dân.

Hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ trở thành biểu tượng đẹp và có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với Nhân dân và thanh niên Việt Nam, nhất là những chiến sĩ trẻ, góp phần xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, trước hết là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đặc biệt, trước yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trong đó Quân đội Nhân dân giữ vai trò là lực lượng nòng cốt./.

''...CHI BỘ TỐT THÌ MỌI CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG ĐỀU ĐƯỢC THI HÀNH TỐT, MỌI CÔNG VIỆC ĐỀU TIẾN BỘ KHÔNG NGỪNG''.

 



 Ngày 31-10-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh với bút danh “T.L” đã viết bài: “Những chi bộ tốt và chi bộ chưa tốt” , đăng trên Báo Nhân dân, số 3503.

Đánh giá về bản chất, nguồn gốc sức mạnh của Đảng, vai trò, mối liên hệ mật thiết giữa chi bộ với quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở trong quần chúng. Chi bộ tốt thì mọi chính sách của Đảng đều được thi hành tốt, mọi công việc đều tiến bộ không ngừng”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Người luôn lo lắng làm sao chống lại nguy cơ Đảng xa rời cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa, biến chất. Người nhấn mạnh rằng “đối với công tác xây dựng Đảng, cái gốc là chi bộ”, vai trò của chi bộ luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu bởi công cuộc cách mạng của dân tộc ta đều từ những việc nhỏ, bộ phận nhỏ xây dựng nên, không có những việc nhỏ, những bộ phận nhỏ cộng lại thì không thành việc lớn “giống như cái đồng hồ, nếu thiếu một cái đinh nhỏ cũng sẽ ảnh hưởng đến cả cái đồng hồ.” Trong tác phẩm “Thường thức chính trị”, Bác chỉ rõ chi bộ là “tổ chức gốc rễ của Đảng”, là “đồn lũy của Đảng chiến đấu ở trong quần chúng”, là “sợi dây chuyền để liên hệ Đảng và quần chúng”. Bác còn nói “các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh. Các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh.”

Ghi nhớ lời dạy của Bác, từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi xây dựng chi bộ tốt, đội ngũ đảng viên tốt là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu trong công tác xây dựng Đảng. Do vậy, chất lượng sinh hoạt, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ không ngừng được nâng lên. Đội ngũ đảng viên trong quân đội phát triển cả về số lượng và chất lượng, luôn nêu cao tinh thần tiên phong gương mẫu, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành các nhiệm vụ được giao; phát huy tốt tinh thần chủ động, sáng tạo, tự nguyện, tự giác, dám nghĩ, dám làm. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên trong toàn quân tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng với những việc làm thiết thực, hiệu quả, sát chức trách, nhiệm vụ được giao, theo phương châm “trong trước, ngoài sau, trên trước, dưới sau” tạo sức lan tỏa sâu rộng trong cơ quan, đơn vị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

SỰ KIỆN LỊCH SỬ NGÀY NÀY NĂM XƯA BAN BÍ THƯ TRUNG ƯƠNG ĐẢNG RA CHỈ THỊ VỀ VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH MẬU DỊCH VỚI ĐỊCH

 



 Tháng 11/1952 Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về vấn đề đấu tranh mậu dịch với địch. Đấu tranh mậu dịch với địch là một hoạt động quan trọng trong đấu tranh nhằm phá chính sách bao vây kinh tế của địch; góp phần giữ giá đồng bạc Việt Nam; khai thác lưu thông hàng hoá phục vụ hoạt động thu chi ngân sách cho kháng chiến; tích cực khơi luồng bán lâm thổ sản vào vùng địch; chống hàng lậu của vùng địch bán sang vùng ta.

Để đẩy mạnh thực hiện đấu tranh mậu dịch với địch có hiệu quả, Trung ương Đảng xác định, trong thời gian tới công tác đấu tranh mậu dịch của ta cần tập trung vào hai nhiệm vụ lớn:

- Chống phong tỏa của địch đối với hàng của ta, đồng thời tích cực khơi luồng bán hàng của ta vào vùng địch tạm chiếm. Muốn làm tốt nhiệm vụ trên chúng ta cần có thái độ đúng với thương nhân, tranh thủ, hướng dẫn, giáo dục, tổ chức họ, giúp đỡ để họ yên tâm mang hàng lâm thổ sản của ta bán vào vùng địch. Đồng thời tranh thủ giáo dục, tổ chức nhân dân ở vùng xuất nhập khẩu, nhất là nhân dân ở vùng địch, đồng tình giúp đỡ ta khơi luồng và mua lâm thổ sản qua hàng rào phong tỏa của địch.

- Công tác chống buôn lậu, bảo vệ sản xuất của ta đang trở thành nhiệm vụ cấp bách. Chính phủ sẽ điều chỉnh lại thuế nhập khẩu nhằm mục đích bảo vệ sản xuất ở vùng ta, nhất là đối với loại hàng ta khuyến khích, cần kiểm soát chặt chẽ hàng lậu, giáo dục nhân dân không dùng hàng ngoại, chỉ dùng hàng nội trên tinh thần tự lực cánh sinh, bảo vệ hàng nội hoá.

Chỉ thị đã vạch ra phương châm lớn, giúp cấp ủy và ủy ban kháng chiến nắm vững chính sách, kiện toàn được sự lãnh đạo và chỉ đạo. Chúng ta đã có chính sách đúng đắn về mậu dịch với vùng địch và đem lại kết quả tốt. Góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cả dân tộc chống thực dân, đế quốc.

SỰ KIỆN LỊCH SỬ NGÀY NÀY NĂM XƯA KHÔI PHỤC, XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐẢNG Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG BẮC KỲ

 



 Sau cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp và tay sai tăng cường khủng bố, tổ chức Đảng ở nhiều cấp, nhiều nơi bị địch phá vỡ. Tuy vậy, bất chấp những thủ đoạn khủng bố tàn bạo và lừa bịp thâm độc của địch, Đảng vẫn tồn tại. Trong năm 1932, Đảng đã nỗ lực khôi phục tổ chức và giữ vững vai trò lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

Một số chi bộ Đảng được củng cố và xây dựng ở Cao Bằng, Phúc Yên, Hà Nam, Hà Nội. Các chi bộ tiếp tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh như Chi bộ Lỗi Sơn (Gia Viễn, Ninh Bình) lãnh đạo nông dân đấu tranh đòi tăng công gặt, giảm nợ lãi. Chi bộ ở Hà Nội thành lập được một số tổ chức quần chúng. Ở Cao Bằng, tổ chức Cộng sản Đoàn ra đời, tập hợp thanh niên đấu tranh và làm nhiệm vụ liên lạc giữa các cơ sở Đảng và cấp bộ Đảng trong tỉnh. Ở Thái Bình, tháng 01/1932, thành lập Ban Tỉnh uỷ lâm thời (đến mùa hè 1932 lại bị phá vỡ).

Nhìn chung, trong năm 1932, tuy một vài địa phương khôi phục xây dựng được cơ sớ Đảng, nhưng hệ thống tổ chức Đảng từ cấp xứ đến tỉnh, thành, đặc khu, chi bộ và cán bộ đảng viên bị khủng bố gắt gao, thiệt hại nặng nề. Tuy nhiên, nó biểu hiện sức sống mãnh liệt của Đảng và là dấu hiệu bắt đầu quá trình khôi phục tổ chức Đảng, là sức mạnh cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 



“… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…”. Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đăng Báo Nhân dân, số 5317, ngày 03 tháng 11 năm 1968.

Người cho rằng, dù chúng ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, nhưng chỉ là thắng lợi bước đầu vì Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt, sẽ không từ bỏ âm mưu phá hoại. Đây chính là lúc không được chủ quan, cần phải tập trung cao độ lực lượng, khí thế chiến đấu để làm bàn đạp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Lời kêu gọi thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng không thể lay chuyển ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới và khu vực, xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là chủ đạo, nhưng tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhất là tranh chấp chủ quyền biển, đảo,... diễn ra phức tạp, quyết liệt. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm xuất hiện nhiều loại vũ khí mới; cùng với đó, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao và chiến tranh phi tiếp xúc ngày càng trở nên phổ biến. Các vấn đề an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, tội phạm, thiên tai, dịch bệnh,... ngày càng phức tạp. Trong nước các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” quân đội với âm mưu với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó nhận diện, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Trong đó, xây dựng quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại là chủ trương nhất quán, đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện chủ trương này sẽ bảo đảm cho quân đội ta có đủ sức mạnh, hoàn thành tốt vai trò là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

“…CHỈ CÓ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA MỘT ĐẢNG BIẾT VẬN DỤNG MỘT CÁCH SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀO ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA NƯỚC MÌNH THÌ MỚI CÓ THỂ ĐƯA CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC ĐẾN THẮNG LỢI VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN THÀNH CÔNG”.

 



 Vào ngày 01 tháng 11 năm 1967, trên Báo Nhân dân, số 4952 có đăng bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho báo Pravđa (Liên Xô). Trong bài viết Người khẳng định:“…Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh xem chủ nghĩa Mác - Lênin như kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và Người luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo “cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Bác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng, đó là một trong những bài học có tính nguyên tắc và phổ biến, đảm bảo cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đối với Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác, tích cực nghiên cứu, học tập lý luận chủ nghĩa Mác- Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, Nghị quyết, chỉ thị cấp ủy đảng; đông thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm thực hiện có hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.