Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

80 MÙA XUÂN CỦA BỘ ĐỘI CỤ HỒ, TÊN GỌI THÂN THƯƠNG CỦA ĐỒNG BÀO CẢ NƯỚC

 

Hiếm có dân tộc nào trên thế giới mà cả nước đều là “đồng bào”, gọi Lãnh tụ của mình là Bác, gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh của mình là “người anh Cả” và gọi lực lượng vũ trang của mình là “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó là niềm tự hào, là giá trị độc đáo và biểu tượng thiêng liêng của dân tộc. Tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” do Nhân dân trìu mến gọi hàm  ý biết bao sâu sắc.

Danh xưng đó đã khiến những người lính Cụ Hồ mãi giữ được tuổi thanh xuân. Đó còn là niềm vinh dự cho Tổ quốc Việt Nam đối với toàn thế giới bởi lẽ tên gọi thân thương ấy đã nói đầy đủ được ý nghĩa của một đội quân “Từ nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, hy sinh”. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam khiến không thể lực thù địch nào ngăn cản nổi cũng từ đó mà ra. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng tiết lộ, thời gian trước Cách mạng Tháng Tám, đồng bào ta vẫn gọi các đơn vị vũ trang là “Bộ đội Ông Ké”, "Bộ đội Ông Cụ”. Nhưng sau này khi biết tên Ông Cụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh nên Nhân dân ta đã chuyển cách gọi “Bộ đội Ông Cụ” thành “Bộ đội Cụ Hồ”. Cứ như vậy, tên gọi thân thương đó từ chiến khu Việt Bắc đã lan rộng ra cả ước từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Lý giải về xuất xứ của tên gọi ý nghĩa này, Đại tướng chỉ rõ:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vô cùng kính mến của dân tộc và của Đảng ta. Người là hình ảnh tiêu biểu cho tất cả những giá trị cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Những gì gắn bó với cuộc đời Người, được Người chăm lo đều có ý nghĩa cao quý vô cùng. Vì vậy, Nhân dân ta muốn gọi Quân đội của mình phải là “Bộ đội Cụ Hồ”. 

Thứ hai, đó là sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với quá trình xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Quân đội ta. Người là người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Người đã khai sinh ra Quân đội ta với “Bản Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân”. Người chăm lo từng bước đi lên của Quân đội, giáo dục chiến sĩ, khuyên bảo cán bộ. Thương Bộ đội chiến đấu gian khổ mà Người thức trắng đêm... Mỗi ước trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta đều gắn với sự giáo dục và rèn luyện của Người nên Nhân dân gọi “Bộ đội Cụ Hồ” cũng là điều rất tự nhiên.

Thứ ba, do chính bản thân các chiến sĩ Quân đội ta, ngay từ đầu mới thành lập, cho đến những năm tháng chiến đấu và trưởng thành đã luôn tỏ ra xứng đáng với niềm tin cậy của Đảng, của Nhân dân. Cán bộ và chiến sĩ đã thực hiện tốt những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, yêu thương và quý trọng đồng bào, chiến đấu dũng cảm, gắn bó mật thiết với Nhân dân, nêu cao đạo đức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.

Hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một mẫu hình về con người mới xã hội chủ nghĩa, có lý tưởng cao đẹp, có đạo đức trong sáng. Khắp các nẻo đường của Tổ quốc, hành quân và chiến đấu, đi tới bất cứ đâu Quân đội ta đều được đồng bào tin yêu, đùm bọc và giúp đỡ. Bộ đội ta đã trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, luôn luôn làm theo lời Bác dạy nên được đồng bào trìu mến gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”. Tại cuộc họp mặt đầu tiên  của cán bộ, chiến sỹ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân còn sống và đang cư trú tại Hà Nội năm 1994, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp vẫn được gọi bằng cái tên trìu mến “Anh Văn”, đã nói những lời rất xúc động: “Đến đây, tôi cứ mải nhìn các anh, các chị. Ừ, sao bây giờ chúng mình tuổi đã cao cả mà vẫn cứ là các anh, các chị, không gọi là các cụ ông, cụ bà? Bé Hồng ngày đánh Phay Khắt năm 1944 mới 13 tuổi, nay đã ngoài 60 mà vẫn cứ là Bé Hồng. Đây là cách gọi rất hay, hễ đi làm cách mạng là mọi người giữ được mãi tuổi thanh xuân”.

Những nét đặc trưng cơ bản của “Bộ đội Cụ Hồ” được gói gọn trong lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-1964) là: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân/Sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội/Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Hơn 76 năm qua, Quân đội ta có sự thay đổi về tên gọi từ “Giải phóng quân”, tới “Vệ quốc đoàn” rồi đến “Quân đội quốc gia” và đến giờ vẫn là “Quân đội nhân dân Việt Nam”, thế nhưng những người lính vẫn luôn được nhân dân ta gọi bằng cái tên trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”. Đó thực sự là điều kỳ diệu, có thể nói danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân và đi vào những trang sử hào hùng nhất, là niềm tự hào của mỗi người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA VŨ HOÀNG ANH VỀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mới đây, trên trang Quyenduocbiet Vũ Hoàng Anh viết bài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là gì”, Y cho rằng: “Tư tưởng hcm (Hồ Chí Minh) nếu có thì là những cóp nhặt từ Liên Xô và Trung quốc… là một chủ trương lợi dụng lòng yêu nước của người dân, của dân tộc để phục vụ quyền lợi của hồ nói riêng và đảng cộng sản Việt Nam nói chung”. Đọc toàn bộ bài viết của Y cho thấy sự thiếu hiểu biết, thiếu văn hóa và âm mưu thâm độc của Vũ Hoàng Anh, nhằm từng bước hạ bệ, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam; đây là một luận điệu hết sức sai trái và phản động cần được đấu tranh, bác bỏ.

1. Khi định nghĩa về nhà tư tưởng, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Một người xứng đáng là nhà tư tưởng khi nào biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề chính trị - sách lược, các vấn đề về tổ chức, về những yếu tố vật chất của phong trào không phải một cách tự phát”. Vì vậy, để nhận thức Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, phải hiểu rõ cả những hoạt động lý luận và thực tiễn, phẩm chất cá nhân, sự nghiệp mà Người để lại cho dân tộc Việt Nam và nhân loại. Hồ Chí Minh, từ một người yêu nước chân chính đã trở thành một người cộng sản, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đi theo con đường, lý tưởng mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là một trong những nguồn gốc quan trọng nhất hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, đem lại cho tư tưởng ấy tính cách mạng và khoa học. Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và bằng một trí tuệ sắc sảo, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa của dân tộc và nhân loại để hình thành nên hệ thống tư tưởng của mình và thống nhất, biện chứng với chủ nghĩa Mác - Lênin; giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ sở lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người với những giá trị nhân văn, vì con người, do con người, cho con người, đã thể hiện rõ ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, chứa đựng những khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm một triết lý nhân sinh cao cả.

2. Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập, tự do cho đất nước, làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mở đầu phong trào giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa trên thế giới. Ngay sau khi giành được độc lập, Người đã nêu lên nhiệm vụ và đi đầu trong công việc “chống giặc dốt”, đề ra phong trào xóa nạn mù chữ. Năm 1946, trước họa quân Tưởng đại diện cho đồng minh vào giải giáp quân Nhật, cùng với quân Pháp quay trở lại xâm lược, Hồ Chí Minh đã khéo léo dùng đối thoại đẩy được mấy chục vạn quân Tưởng ra khỏi đất nước để tập trung sức cho chuẩn bị cuộc kháng chiến, kiến quốc lâu dài. Người đã sang Pháp, ròng rã hơn 4 tháng trời, từ 31/5 đến 20/10/1946 tìm mọi cách đối thoại để tránh cuộc chiến tranh xẩy ra. Ngay khi lên làm Chủ tịch nước, dù trước họa xâm lăng, Người luôn lo cho đời sống nhân dân, tập trung “chống giặc đói”, đề ra mục tiêu cho Chính phủ phải “tất cả vì dân”, vì giải phóng dân tộc, độc lập và thống nhất đất nước, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.

Trên cơ sở những giá trị to lớn, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.

3. Thực tiễn công cuộc đổi mới gần 40 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Điều đó chứng minh rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào phong trào cách mạng Việt Nam, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại, kiến tạo nên một thời đại mới cho dân tộc Việt Nam, thời đại Hồ Chí Minh; đó là một chân lý không thể phủ nhận. Hồ Chí Minh là biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết quốc tế, đấu tranh không biết mỏi mệt cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại; hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, đã cống hiến cả cuộc đời mình để đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, mang lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Với những cống hiến vĩ đại cho dân tộc, cho nhân loại và tấm gương đạo đức sáng ngời, Người đã được cả dân tộc Việt Nam, cộng đồng quốc tế và nhân dân tiến bộ trên thế giới tôn vinh, ngưỡng vọng. Người đã được UNESCO vinh danh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”.

Vì vậy, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không thể xuyên tạc, phủ nhận tư tư tưởng Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh.

THỐNG NHẤT TƯ TƯỞNG VÀ NHẬN THỨC, VỮNG BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN MỚI

 

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khẳng định sức mạnh của sự đoàn kết, thống nhất trong ý chí và hành động. Chính từ sự gắn kết đó, đất nước ta đã vượt qua muôn vàn thử thách, bảo vệ độc lập, chủ quyền và từng bước vươn lên mạnh mẽ. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước chuyển mình bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc thống nhất tư tưởng và nhận thức trở thành yếu tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên và nhân dân chung sức xây dựng một Việt Nam hùng cường.

Cán bộ, đảng viên là lực lượng nòng cốt

Thống nhất tư tưởng là nguyên lý vận hành của mọi xã hội thành công. Đối với Việt Nam, trong hành trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tư tưởng chính trị của Đảng là hạt nhân định hướng, ngọn cờ quy tụ sức mạnh toàn dân. Khi tư tưởng và nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng điệu, chúng ta không chỉ tránh được sự phân tâm, chia rẽ mà còn tạo nên sức bật mạnh mẽ để vượt qua mọi trở lực.

Hiện nay, trong thời đại của toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, những thách thức về mặt tư tưởng, nhận thức trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Sự xâm lấn của các tư tưởng trái chiều, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và môi trường quốc tế đòi hỏi sự kiên định, sáng suốt trong định hướng tư tưởng. Trong bối cảnh ấy, thống nhất tư tưởng không chỉ là giữ vững bản sắc dân tộc mà còn là tạo dựng một nền tảng tư duy mới, hiện đại và hội nhập.

Cán bộ, đảng viên là lực lượng nòng cốt trong việc dẫn dắt và định hình tư tưởng xã hội. Nếu coi tư tưởng là dòng nước thì cán bộ, đảng viên chính là những con đê kiên cố dẫn dòng, tránh mọi nguy cơ nhiễu loạn, tiêu cực. Chính vì vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức sâu sắc và hành động nhất quán theo định hướng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chiến lược mà còn là yêu cầu cấp thiết trong thời đại mới.

Người cán bộ phải là tấm gương sáng trong tư tưởng và hành động, giữ vững đạo đức cách mạng, không dao động trước mọi thử thách. Đảng viên, đặc biệt là những người giữ vị trí lãnh đạo, cần làm chủ tri thức, nhạy bén với thời cuộc nhưng không đánh mất bản lĩnh, luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Khi mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng cách mạng, lan tỏa giá trị đó đến quần chúng nhân dân, sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức của toàn dân sẽ được củng cố vững chắc.

Mọi chính sách, chiến lược dù sắc bén đến đâu cũng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được nhân dân đồng thuận và chung tay thực hiện. Sự thống nhất tư tưởng trong nhân dân không phải là một điều hiển nhiên mà là kết quả của quá trình vận động, tuyên truyền bền bỉ. Điều này đòi hỏi Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị cùng mọi cán bộ, đảng viên cần lắng nghe, thấu hiểu nguyện vọng của quần chúng nhân dân, đồng thời truyền tải một cách thuyết phục nhất những giá trị cốt lõi, mục tiêu chiến lược của Đảng, Nhà nước để người dân nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong công cuộc xây dựng đất nước. Tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến của mỗi người dân chính là chất keo gắn kết, tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua mọi thách thức. Khi người dân hiểu rằng mỗi hành động, nỗ lực cá nhân đều góp phần vào thành công chung của đất nước, sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức sẽ trở thành một lực đẩy to lớn.

Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam đang đứng trước những thời cơ vàng để phát triển. Tuy nhiên, thách thức cũng không nhỏ: Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, biến đổi khí hậu và nguy cơ tụt hậu nếu không kịp thời thích ứng với xu thế toàn cầu. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, sự thống nhất tư tưởng và nhận thức trong toàn xã hội là điều kiện tiên quyết. Thống nhất không chỉ là sự đồng lòng mà còn là sự đồng hành giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là sự đồng thuận trong việc xác định con đường phát triển, cách thức hành động và mục tiêu hướng tới.

Thống nhất tư tưởng và nhận thức không chỉ là sức mạnh mềm mà còn là nền tảng vững chắc để dân tộc Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới. Đó là yếu tố bảo đảm cho sự đồng lòng, đồng hành và đồng tâm trong mọi giai đoạn lịch sử. Khi tư tưởng và nhận thức của mỗi cá nhân hòa chung vào dòng chảy lớn của dân tộc, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục vươn mình, khẳng định vị thế trên bản đồ thế giới và hiện thực hóa khát vọng hùng cường.

Kỷ nguyên mới đã mở ra và con đường phía trước đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự vấn, tự rèn để trở thành những nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện, bền vững của đất nước. Sự thống nhất trong tư tưởng và nhận thức chính là ngọn đuốc soi sáng cho hành trình ấy-hành trình vươn tới đỉnh cao của sự phát triển, phồn vinh.

Hội tụ sự sáng tạo, linh hoạt và phù hợp

Trong kỷ nguyên mới, khi Việt Nam đang vươn mình để khẳng định vị thế trên trường quốc tế, việc thống nhất tư tưởng và nhận thức không thể chỉ là một khẩu hiệu hay một hành động máy móc mà là sự hội tụ của sáng tạo, linh hoạt và phù hợp với thực tiễn. Thống nhất tư tưởng không đồng nghĩa với việc triệt tiêu sự đa dạng mà là tạo nên một nền tảng chung vững chắc, nơi các ý kiến khác biệt được dẫn dắt bởi mục tiêu phát triển chung của dân tộc. Đó không phải là sự gò bó trong khuôn khổ cứng nhắc mà là sự đồng thuận được xây dựng trên tinh thần đổi mới, thích nghi với những biến động nhanh chóng của thời đại.

Bản chất của thống nhất tư tưởng nằm ở định hướng rõ ràng và khả năng vận dụng phù hợp với từng bối cảnh lịch sử. Trong hành trình phát triển, tư tưởng chính trị của Đảng là ngọn cờ soi đường, nhưng để tư tưởng ấy thấm sâu vào thực tiễn phải được cụ thể hóa qua các chính sách, chiến lược và hành động gần gũi với đời sống người dân. Định hướng tư tưởng không thể đứng ngoài những vấn đề cấp bách như chuyển đổi số, bảo vệ môi trường hay bảo đảm công bằng xã hội; ngược lại, phải gắn bó mật thiết và trở thành kim chỉ nam cho mọi nỗ lực đổi mới. Sự phù hợp của tư tưởng không chỉ được đo bằng lý tưởng cao đẹp mà còn bằng khả năng giải quyết những thách thức thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tư tưởng và nhận thức phải lấy nhân dân làm trung tâm, bởi dân là gốc, là nền tảng của mọi thành tựu. Một chính sách dù hoàn hảo trên lý thuyết, cũng sẽ thất bại nếu không xuất phát từ thực tế cuộc sống và không thỏa mãn được mong muốn chính đáng của người dân. Chính vì vậy, để bảo đảm sự thống nhất trong tư tưởng, điều cốt lõi là lắng nghe, thấu hiểu và hành động vì lợi ích của dân tộc. Chỉ khi tư tưởng và hành động của Đảng hòa quyện với tiếng nói, nguyện vọng của nhân dân, sự thống nhất mới thực sự trở thành động lực phát triển.

Thống nhất tư tưởng không chỉ là sự kế thừa mà còn phải phát triển để phù hợp với thời đại. Những giá trị truyền thống tốt đẹp như tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường cần được duy trì, nhưng không thể dừng lại ở đó. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chúng ta phải không ngừng đổi mới tư duy, làm giàu thêm hệ giá trị của mình bằng sự sáng tạo và học hỏi. Tinh thần "dân là gốc" không chỉ là kim chỉ nam mà phải được hiện thực hóa bằng những chính sách ưu tiên cho dân sinh, với sự tham gia tích cực của toàn dân trong quá trình hoạch định và thực thi.

Định hướng tư tưởng trong kỷ nguyên mới không chỉ cần sự rõ ràng mà còn phải mang tính mở, vừa giữ vững bản sắc dân tộc vừa đủ linh hoạt để thích nghi với những thách thức chưa từng có. Một xã hội thống nhất về tư tưởng là một xã hội có khả năng tạo ra sự đồng thuận trong sự khác biệt, dung hòa những quan điểm để cùng hướng tới một mục tiêu cao cả: Xây dựng một đất nước phồn vinh, một dân tộc vững mạnh. Đây chính là sức mạnh nội tại đưa Việt Nam vững bước trên hành trình mới, nơi tư tưởng và nhận thức hòa quyện thành động lực to lớn để hiện thực hóa khát vọng hùng cường.

Chuyển hóa thành sức mạnh hành động

Để xây dựng một nền tảng thống nhất tư tưởng và nhận thức vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân trong kỷ nguyên mới, cần hướng đến những nhiệm vụ chiến lược mang tính chất xuyên suốt, vừa giải quyết các vấn đề thực tiễn cấp bách vừa tạo tiền đề lâu dài cho sự phát triển bền vững. Nhiệm vụ này không chỉ đòi hỏi sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự nỗ lực của từng cán bộ, đảng viên mà còn cần sự đồng lòng, tham gia tích cực của mọi tầng lớp nhân dân.

Trước hết, công tác tư tưởng phải tiếp tục khẳng định vai trò định hướng trong mọi lĩnh vực đời sống, từ chính trị, kinh tế, văn hóa đến khoa học, giáo dục. Đảng cần đặt ra những mục tiêu rõ ràng, khả thi, giúp nhân dân hiểu và thấm nhuần lý tưởng phát triển một Việt Nam hùng cường. Để làm được điều đó, công tác tuyên truyền phải đi vào chiều sâu, tránh sự khô cứng hay hình thức. Tư tưởng và nhận thức của nhân dân cần được nuôi dưỡng từ các câu chuyện thực tế, thành tựu đã đạt được và những giá trị sống động của cuộc sống thường ngày, từ đó khơi dậy niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm chung tay xây dựng đất nước.

Đồng thời, giáo dục tư tưởng chính trị cần trở thành một phần cốt lõi trong hệ thống giáo dục quốc gia, không dừng lại ở việc phổ biến kiến thức mà phải hướng đến việc hình thành tư duy độc lập, sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Một nền giáo dục chất lượng cao không chỉ cung cấp tri thức mà còn phải xây dựng lòng yêu nước và khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ. Trong kỷ nguyên mới, khi thông tin và tri thức trở thành vũ khí cạnh tranh toàn cầu, giáo dục tư tưởng phải không ngừng đổi mới, gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, đồng thời mở rộng ra những lĩnh vực mới như chuyển đổi số và công nghệ hiện đại.

Nhiệm vụ quan trọng nữa là bảo đảm sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước. Nhân dân chỉ có thể thống nhất về tư tưởng và nhận thức khi họ tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sự minh bạch trong chính sách, công khai trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, đảng viên chính là chìa khóa để tạo dựng niềm tin ấy. Một khi niềm tin được củng cố, tư tưởng của nhân dân sẽ tự nhiên quy tụ, đồng thuận và chuyển hóa thành sức mạnh hành động.

Mặt khác, cần có những bước đi cụ thể nhằm làm giảm rào cản đang làm suy yếu sự thống nhất tư tưởng, từ những tác động của thông tin sai lệch, mâu thuẫn nội tại trong xã hội đến các tư tưởng trái chiều từ bên ngoài. Đối diện với những thách thức này, Việt Nam cần chủ động trong việc xây dựng không gian tư tưởng tích cực, tạo điều kiện để nhân dân được tiếp cận thông tin chính xác, đầy đủ, đồng thời tăng cường khả năng phản biện trước các luồng tư tưởng xấu độc. Đây không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý thông tin mà còn là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, đặc biệt là các cán bộ, đảng viên, những người đóng vai trò đầu tàu trong việc định hướng và lan tỏa những giá trị đúng đắn.

Quan trọng nhất, mọi nhiệm vụ cần được thực hiện trên nguyên tắc "dân là gốc, dân là trung tâm", nhân dân là nguồn gốc của sức mạnh dân tộc, cũng là chủ thể thụ hưởng thành quả của mọi sự phát triển. Thống nhất tư tưởng không phải là việc áp đặt một chiều mà là sự hài hòa giữa định hướng từ trên xuống và sự tham gia từ dưới lên. Khi người dân được tôn trọng, lắng nghe và tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, sự đồng thuận và thống nhất sẽ trở thành một kết quả tự nhiên.

Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để vươn mình, nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức. Thành công của quốc gia không chỉ phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế hay tiềm lực công nghệ mà còn nằm ở sự thống nhất tư tưởng và nhận thức của toàn dân. Với sự quyết tâm, đồng lòng và những bước đi chiến lược đúng đắn, dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vị thế của mình, trở thành một biểu tượng của sức mạnh đoàn kết và phát triển bền vững trong thời đại mới.

XÂY DỰNG VĂN HÓA THỰC HÀNH TIẾT KIỆM CHỐNG LÃNG PHÍ: KHÔNG THỂ CHẬM TRỄ HƠN

 

Không thể để chậm trễ hơn cần khẩn trương xây dựng văn hóa thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội và các tập đoàn, công ty.

Công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được triển khai đồng bộ và quyết liệt trong thời gian qua. Vì vậy đã giành được nhiều thắng lợi rất quan trọng, là sự cảnh tỉnh nghiêm khắc đối với cán bộ các cấp, các ngành từ trung ương đến các địa phương. Nhưng còn câu chuyện “nhức nhối” là lãng phí thì đâu đó vẫn chưa được coi trọng và triển khai thực hiện đồng bộ và quyết liệt.

Tổng Bí thư Tô Lâm vừa qua đã có bài viết quan trọng đăng tải, phát sóng trên các phương tiện truyền thông về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, nêu ra thực trạng nghiêm trọng của tình trạng lãng phí đã và đang diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương trong cả nước. Bài viết cũng đồng thời chỉ ra nhiệm vụ cấp bách cho các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như đối với toàn bộ hệ thống chính trị phải vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa để chống lãng phí.

Gần đây nhất trong buổi thảo luận ở tổ của Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV đang diễn ra, Tổng Bí thư Tô Lâm lại một lần nữa nêu vấn đề chống lãng phí và dẫn chứng một số vụ việc rất tiêu biểu về lãng phí gây bức xúc trong nhân dân.

Và vấn đề thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cũng đã được Bác Hồ chỉ ra từ rất sớm và ngay trong Di chúc thiêng liêng của Người gửi lại cho toàn Đảng toàn dân, Bác Hồ đã coi việc lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân là có tội.

Không khó để nhân diện ra tình trạng lãng phí đang diễn ra khá phổ biến nghiêm trọng từ rất nhiều năm trước cho đến hiện nay. Có thể thấy rất rõ là mỗi người dân bình thường cũng tận mắt thấy tình trạng lãng phí diễn ra ngay trên địa bàn cư trú và ngay ở địa phương mình. Nhưng thật đáng tiếc và rất đáng lo ngại là nhiều cơ quan Đảng, chính quyền và các cơ quan bảo vệ pháp luật lại chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về nhiệm vụ chống lãng phí và có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng này ở cơ quan đơn vị mình. Không ít cán bộ chủ chốt các cơ quan trung ương, các tỉnh thành phố, các quận huyện... lại không thấy hoặc cố tình không thấy sự nguy hiểm của lãng phí đang tàn phá đất nước cũng nghiêm trọng như tham nhũng tiêu cực và thậm chí có ý kiến còn cho rằng nguy hại hơn.

Có thể kể ra rất nhiều sự lãng phí về thời gian và tiền bạc của Nhà nước và Nhân dân ở nhiều nơi, nhiều ngành, lĩnh vực. Một số liệu thống kê cho thấy cả nước hiện có 3.085 dự án chậm tiến độ hoặc không được thực hiện kéo dài từ 10 năm đến hơn 20 năm. Đã có khoảng hơn 74.000 ha đất bị bỏ hoang không sử dụng gây lãng phí một khoản tiền vô cùng lớn.

Tình trạng lãng phí phổ biến trên rất nhiều lĩnh vực nhưng tập trung ở ba lĩnh vực chủ yếu. Một là lãng phí về tài nguyên đất đai. Hai là lãng phí về đầu tư công và chậm giải ngân đầu tư công. Ba là lãng phí trong xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, giao thông vận tải, thủy lợi, đê điều...

Một số đại biểu quốc hội và các chuyên gia cho rằng lãng phí diễn ra phổ biến ở nhiều cơ quan đơn vị, từ trung ương đến các địa phương. Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có thể coi là hai địa phương lãng phí lớn nhất, trong đó lãng phí lớn nhất là sử dụng đất đai, bởi giá đất đai ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là đắt đỏ nhất cả nước. Hoặc trong giải ngân đầu tư công thì 9 tháng đầu năm 2024 mới giải ngân chưa được 50% trong khi chỉ còn ba tháng nữa thì chắc chắn không thể nào giải ngân hết 50% còn lại.

Nếu kể một số công trình xây dựng dở dang hoặc bỏ hoang hàng chục năm trời thì ai cũng thấy rất xót xa. Tại thành phố Phủ Lý (Hà Nam) có hai bệnh viện lớn là Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 được đầu tư 9.000 tỷ đồng qua 10 năm xây dựng đã giải ngân hơn 5.000 tỷ đồng nhưng đến nay nhiều trang thiết bị đã xuống cấp hoặc hư hỏng và bệnh viện vẫn chưa được đưa vào sử dụng gây bức xúc dư luận.

Thủ đô Hà Nội có 712 dự án đã được phê duyệt nhưng chậm tiến độ hoặc chưa được triển khai. Có rất nhiều dự án ở khắp các quận huyện của thủ đô mà ai cũng thấy những khu đất rộng lớn bị bỏ hoang cây cỏ mọc um tùm.

Tại tổ 14 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, thành phố Hà Nội có khu đất 15.000 mét vuông bỏ hoang hơn 30 năm nay mà chính quyền quận Long Biên không cho 87 hộ dân là cán bộ, sĩ quan, quân đội và công an đưa vào sử dụng với lý do là có dự án công ích nhưng không công khai quy hoạch dự án cho dân biết và cũng không triển khai thực hiện gây bức xúc dư luận xã hội.

Tín hiệu đáng mừng là các vụ án về thất thoát, lãng phí do cán bộ thiếu trách nhiệm hoặc thoái hóa biến chất, nhận hối lộ gây ra đã và đang được xử lý. Mới đây đã truy tố cựu Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Trịnh Văn Chiến và cựu Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đình Xứng về tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát cho ngân sách nhà nước 55,8 tỷ đồng. Hay vụ án Hồ chứa nước bản Mồng ở Nghệ An, cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án và khởi tố các bị can gồm chủ đầu tư, đơn vị trúng thầu được dư luận đồng tình ủng hộ.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, cuộc chiến chống lãng phí thực hành tiết kiệm phải đặt ngang hàng, thậm chí cao hơn cuộc chiến chống tham nhũng tiêu cực, bởi vì gây thất thoát tiền của, tài sản của Nhà nước và nhân dân vô cùng lớn. Không thể để chậm trễ hơn cần khẩn trương xây dựng văn hóa thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội và các tập đoàn, công ty. Mặt khác cũng cần quy rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đơn vị và các cơ quan tham mưu khi quyết định, thẩm định phê duyệt các dự án về mọi lĩnh vực. Đồng thời các cơ quan bảo vệ pháp luật phải đẩy mạnh việc kiểm tra thanh tra giám sát và khi phát hiện vụ việc phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật dù cơ quan, đơn vị hay người gây ra lãng phí cao đến đâu.

Lẽ đương nhiên công cuộc thực hành tiết kiệm chống lãng phí phải đi đôi với cuộc đấu tranh kiên quyết mạnh mẽ không khoan nhượng là tham nhũng, tiêu cực tham ô, thoái hóa biến chất của một số cán bộ, đảng viên. Nhân dân tin tưởng và kỳ vọng vào sự lãnh đạo của Đảng đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm về công cuộc thực hành tiết kiệm chống lãng phí sẽ được triển khai đồng bộ và mạnh mẽ, quyết liệt đem lại hiệu quả thiết thực, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình.

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN BẢN CHẤT, TRUYỀN THỐNG TỐT ĐẸP CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG

  

Xuyên tạc, phủ nhận vai trò, chiến công oanh liệt, bản chất và lịch sử, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam; không muốn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tổ chức chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2024) và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2024) là thái độ thâm thù, hành vi sai trái của các thế lực thù địch, phản động, các phần tử bất mãn và cơ hội chính trị. Những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang đi ngược lại xu hướng phát triển của đất nước, đối lập lợi ích cá nhân của một nhóm người với lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

 Những việc làm sai trái của các thế lực thù địch, phản động là cố tình chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội với nhân dân, giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội nhằm gạt bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; coi Quân đội ta như một công cụ của nhà nước tư sản, chỉ “là lực lượng trung lập”, “tuân theo mệnh lệnh của giai cấp, nhà nước sinh ra và nuôi dưỡng nó”, “không lệ thuộc vào Đảng Cộng sản”, “không cần làm theo nghị quyết của Đảng Cộng sản”...

Chiêu trò này không mới, bởi nó luôn là “điệp khúc” đã tua đi tua lại nhiều lần; thế nhưng, nó lại rộ lên, lan truyền trên mạng xã hội vào đúng lúc toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân thì chính các hoạt động sai trái của các thế lực thù địch, phản động lại là một chiêu thức thâm độc, đầy mưu mô, toan tính xảo quyệt nhằm phá hoại mối quan hệ bản chất, sự gắn bó keo sơn giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội; giữa Quân đội với nhân dân; cố tình cô lập Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Hoạt động sai trái của các thế lực thù địch dù chỉ là sự tuyên tuyền sai trái, kích động sự chống đối trên không gian mạng nhưng về thực chất, nó là những hành động vi hiến, có tội với nước, với dân, với cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, đặc biệt là mắc tội vong ân, bội nghĩa với các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, vì nước, vì dân; đã và đang cản trở Quân đội ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về xây dựng Quân đội nhân dân tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Qua đó, phá hoại sự nghiệp quốc phòng, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta. Không khó nhận ra đích đến cuối cùng của các thế lực thù địch, phản động là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; gây rối, làm giảm niềm vui trong ngày Hội Quốc phòng toàn dân; phủ nhận khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và Quân đội ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Từ lâu, để thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch không từ bỏ một âm mưu, thủ đoạn xấu xa, bỉ ổi nào, từ phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc sự thật về công cuộc đổi mới, xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng và bảo vệ Tổ quốc đến nói xấu, bôi nhọ thanh danh của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; hạ thấp uy tín, danh dự, nhân phẩm, cuộc đời, sự nghiệp và gia đình của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ và các tướng lĩnh Quân đội...

Bản chất của các hoạt động chống phá mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, các phần tử bất mãn chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta là nhằm thực hiện mục tiêu duy nhất: Xóa bỏ vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; đối với Quân đội ta; lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa có lợi cho chúng. Cho nên, chiêu thức “phi chính trị hóa” Quân đội chỉ là một trong các biện pháp đẩy nhanh việc thực hiện mục tiêu đen tối nêu trên.

Tất cả những việc làm sai trái của các thế lực thù địch với nhiều mô thức, kiểu loại khác nhau, song đều nhằm mục đích chĩa “nòng súng” vào chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, trước hết là các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các đồng chí tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội. Bởi các đồng chí ấy đại diện cho niềm tin, ý chí, sức mạnh, sự đoàn kết, nhất trí của quân và dân ta; là tinh hoa chính trị - quân sự, đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Cho nên, thực hiện các chiêu trò thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội, “phi đảng hóa” các tổ chức chính trị - xã hội… những việc làm sai trái đó đều vì mục tiêu tước đi sức mạnh của Đảng và của Quân đội ta, thông qua những việc làm đó để từng bước đánh sập chỗ dựa vững chắc, lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân là Quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó dễ bề thao túng, làm suy yếu Đảng và cuối cùng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng”.

Sự thâm thù và âm mưu nguy hiểm của các thế lực thù địch nằm ở chỗ muốn xóa bỏ bằng được vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Phá được Đảng, triệt tiêu được động lực, mục tiêu chiến đấu của Quân đội, hủy hoại mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta là các thế lực thù địch thành công, là xóa bỏ tất cả thành quả cách mạng đã giành được bằng máu xương suốt 80 năm Quân đội ta đi theo Đảng.

Vấn đề đặt ra là nếu thành quả cách mạng gần 95 năm ở nước ta do Đảng lãnh đạo bị “biến mất”, nhân dân ta lại rơi vào thảm cảnh “nồi da nấu thịt”, lại phải đối mặt với chiến tranh, xung đột vũ trang liên miên, thì nhân dân ta sẽ sống như thế nào? Chúng ta sẽ nói những gì với vong linh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì nước, vì dân?

Kiểm chứng thực tiễn đấu tranh cách mạng và sự hy sinh to lớn trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta hiểu thấu và thêm trân quý giá trị của hòa bình, độc lập, tự do, cuộc sống ấm no, hạnh phúc mà quân và dân ta đang có. Đó là điều thiêng liêng, tuyệt đối không được để mất; tuyệt đối không được để các thế lực thù địch, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “cách mạng màu”, “phi chính trị hóa” Quân đội nhằm phá hủy thành quả cách mạng.

Trong bối cảnh tình hình mới, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân ta; phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là niềm vinh dự, tự hào; đồng thời, là trách nhiệm cao cả của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Lúc này, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, sớm “về đích” tất cả các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra; lập thành tích cao nhất chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân; hướng đến chào mừng kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng và 100 năm Ngày thành lập nước là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.

Đây cũng là tiền đề quan trọng để Đảng ta và Quân ủy Trung ương tiến hành thành công Đại hội XIV của Đảng, Đại hội lần thứ XII của Đảng bộ Quân đội. Đây còn là công việc hệ trọng cùng với Đảng, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Đây cũng là cơ sở, nền tảng vững chắc để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, loại bỏ mọi sự xuyên tạc, nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

NƠI LƯU GIỮ NHỮNG KÝ ỨC HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC ANH HÙNG

  

Tọa lạc tại quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là công trình quan trọng hướng tới chào mừng kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân và 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Bảo tàng không chỉ đơn thuần là công trình trưng bày lịch sử chiến tranh, mà còn tạo không gian chung để khách tham quan tương tác và trải nghiệm về cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc Việt Nam anh hùng, của QĐND Việt Nam anh hùng.

Một công trình hiện đại

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam rộng 386.600m2, được xây dựng tại Km 6+500 bên Đại lộ Thăng Long, thuộc 2 phường Tây Mỗ và Đại Mỗ của quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Bảo tàng được thiết kế hiện đại gồm 4 tầng nổi và tầng bán âm. Đây là dự án cấp đặc biệt do Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam làm chủ đầu tư, được khởi công vào cuối năm 2019 với tổng mức đầu tư hơn 2.500 tỷ đồng.

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam là một trong các bảo tàng quốc gia và đứng đầu trong hệ thống Bảo tàng Quân đội, hiện đang lưu giữ, trưng bày hơn 15 vạn tài liệu, hiện vật, trong đó có nhiều sưu tập độc đáo và 4 Bảo vật Quốc gia, gồm: Máy bay MiG-21 số hiệu 4324, máy bay MiG-21 số hiệu 5121, Bản đồ Quyết tâm Chiến dịch Hồ Chí Minh và xe tăng T-54B số hiệu 843 cùng nhiều hiện vật có giá trị khác. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam được xem là công trình ý nghĩa đối với cả quá khứ và tương lai, tạo điểm nhấn không chỉ cho Quân đội, mà còn cho Thủ đô và cả nước. Công trình sẽ góp phần quảng bá lịch sử, văn hóa, du lịch, phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nội, là điểm nhấn kiến trúc, kết nối hài hòa và bảo tồn kiến trúc, cảnh quan khu vực.

Tại Bảo tàng, công chúng được trải nghiệm, chiêm ngưỡng về các cuộc chiến hào hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng và QĐND Việt Nam anh hùng. Khu vực bên phải bảo tàng là nơi trưng bày những loại vũ khí, trang bị mà quân đội Pháp, Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trong các hiện vật đặc biệt có pháo tự hành M-107 cỡ nòng 175mm được mệnh danh là "vua chiến trường"; nhiều loại máy bay mà quân đội Mỹ bỏ lại sau chiến tranh như máy bay A37, F5E, CH47, C130; hàng chục loại bom mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Phía bên trái bảo tàng là khu vực trưng bày những vũ khí, trang bị mà QĐND Việt Nam sử dụng trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược và sử dụng trong việc huấn luyện sẵn sàng chiến đấu ở thời kỳ xây dựng, bảo vệ đất nước. Các hiện vật tiêu biểu gồm: Pháo 85mm, pháo cao xạ 57mm, xe tăng PT67 số hiệu 555, máy bay MiG-17 số hiệu 2047, máy bay SU22...

Không gian trưng bày bên trong bảo tàng tại tầng 1 được chia làm 6 chủ đề, sắp xếp theo trình tự thời gian và bố cục hợp lý. Cụ thể, chủ đề 1: Buổi đầu dựng nước và giữ nước; chủ đề 2: Bảo vệ nền độc lập từ năm 939 đến năm 1858; chủ đề 3: Chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc năm 1858 đến năm 1945; chủ đề 4: Kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, năm 1945 - 1954; chủ đề 5: Cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1954 đến 1975; chủ đề 6: Xây dựng và bảo vệ đất nước từ năm 1976 đến ngày nay. Các hiện vật đều được chú thích cụ thể, đính kèm với thông tin sự kiện. Loại hình thể hiện rất đa dạng, bao gồm văn bản, màn hình tra cứu thông tin, media tư liệu ảnh, thuyết minh tự động audioguide và mã QR tra cứu thông tin hiện vật, hình ảnh.

Nhiều ứng dụng công nghệ hiện đại được ứng dụng, tạo cảm giác chân thực với người xem như sa bàn 3D mapping, hệ thống màn hình tra cứu, phim tư liệu... Đặc biệt, Bảo tàng đã xây dựng hơn 60 clip, tư liệu bổ trợ cho từng chiến dịch, từng trận đánh để du khách cảm nhận rõ, tiếp cận một cách dễ dàng hơn.

Sống lại ký ức hào hùng

Trung tá Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng phòng Tuyên truyền giáo dục, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cho biết: Bảo tàng mới được mở cửa từ ngày 1/11/2024. Mỗi ngày, trung bình có từ 20.000-30.000 người dân của Thủ đô và nhiều vùng miền khác đến tham quan. Đặc biệt, những ngày cuối tuần, dù thời tiết nắng nóng, hanh khô hay mưa bão, hàng vạn người dân từ khắp nơi vẫn đổ về tham quan Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, khiến giao thông nhiều thời điểm ùn tắc.

Dù phải đi một quãng đường xa để đến tham quan, cựu chiến binh Trần Hòa Nam, năm nay hơn 80 tuổi, quê ở Nghệ An, là một trong những nhân chứng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 xúc động cho biết: “Vào tham quan tại Bảo tàng, tôi như được sống lại những năm tháng chiến tranh đầy oanh liệt nhưng cũng rất hào hùng của dân tộc. Ngày ấy, đất nước ta tuy gian khó, vất vả, nhưng quân dân đồng lòng, chung sức bảo vệ đất nước. Đặc biệt, thời khắc chúng tôi nghe tin đã bắt được tướng De Castries, toàn bộ chúng tôi như nổ tung, òa lên hò reo với nhau, nước mắt trào dâng, xúc động không sao tả xiết. Nhiều năm đã qua, chúng tôi vẫn nhớ Bác Hồ kính yêu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những quyết định vô cùng sáng suốt mới đi tới thắng lợi huy hoàng ngày đó”.

Cùng chung cảm xúc, cựu chiến binh Nguyễn Văn Hùng, trú tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội là một nhân chứng lịch sử đã từng tham gia Chiến dịch “Mùa hè đỏ lửa” tại thành cổ Quảng Trị năm 1972, bồi hồi kể: “Cứ nhìn những tấm ảnh này, tôi lại nhớ về những người đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường...”.

Có thể nói, tham quan, chiêm ngắm những hiện vật sống động tại Bảo tàng cũng chính là cơ hội để thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất nước hiểu rõ hơn về lịch sử, sự hy sinh của thế hệ cha ông đi trước và phát huy truyền thống quý giá của dân tộc. Không quản đường sá xa xôi, cô gái trẻ Nguyễn Mai Linh, sinh năm 1995, đến từ thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Mình có ông nội từng tham gia kháng chiến nên mình rất muốn có một lần được nhìn thấy những hiện vật của chiến tranh. Thông qua chuyến đi này, chúng mình đã hiểu thêm rất nhiều về lịch sử dân tộc, khiến mình cảm thấy tự hào và càng biết ơn sâu sắc những thế hệ cha anh đi trước”.

Không chỉ hấp dẫn với người dân trong nước, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn thu hút đông đảo khách du lịch nước ngoài đến tham quan, tìm hiểu. Anh Michel Thomson, 35 tuổi, du khách người Anh, vô cùng thích thú khi thấy những hiện vật được tái hiện rất chân thực tại Bảo tàng. “Tôi yêu thích lịch sử Việt Nam, thậm chí, tôi đã lựa chọn môn học về lịch sử của Việt Nam khi tham gia học đại học. Đến Việt Nam 3 năm, tôi đã có thể đọc sách bằng tiếng Việt để nghiên cứu về những chiến tích oai hùng của đất nước này” - anh Michel Thomson chia sẻ./.

 

NGÔI TRƯỜNG MƠ ƯỚC GIÚP BAO THẾ HỆ THANH NIÊN TRƯỞNG THÀNH

 

Trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nên những trang sử hào hùng. Cùng với sự lớn mạnh của Quân đội, hàng triệu thanh thiếu niên Việt Nam đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của toàn dân tộc. Trải nghiệm trong môi trường quân ngũ, thanh niên được tôi luyện, trau dồi về tư tưởng, khí phách, được hun đúc hoài bão lớn. Có thể khẳng định, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn là “trường học lớn” của thanh niên Việt Nam.

Quân đội là trường học về chính trị, rèn luyện bản lĩnh. Trong môi trường Quân đội, công tác chính trị là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Công tác giáo dục chính trị được tiến hành thường xuyên, thấm nhuần trong tư tưởng của mọi quân nhân, đặc biệt chú trọng giáo dục thanh niên mới nhập ngũ. Thông qua các chuyên đề giáo dục chính trị, pháp luật, tiếp cận với các phương tiện truyền thông hiện đại, thanh niên được giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nhận định rõ tình hình trong nước và trên thế giới. Thanh niên đã qua Quân đội đa số được rèn luyện phẩm chất chính trị, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, có ý thức chính trị sâu sắc, hiểu thấu đáo trách nhiệm của thanh niên đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiều thanh niên vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay trong thời gian tại ngũ, điều đó không chỉ giúp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội mà còn góp phần tạo nguồn đảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ chất lượng cho các địa phương sau khi bộ đội xuất ngũ. Quân đội là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị sắt son, lòng kiên định và trung thành với chế độ, luôn ngời sáng một tinh thần lạc quan và niềm tin tất thắng.

Quân đội là trường học về chuyên môn. Người thanh niên đã qua quân ngũ trước hết có kiến thức về quân sự, quốc phòng. Tùy theo quân binh chủng, bậc học khác nhau, có thể có các kiến thức ở các chuyên ngành khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội nhân văn với trình độ khác nhau để phục vụ công tác và yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Được học nghề và tạo việc làm khi rời quân ngũ để tiếp tục đóng góp tốt hơn cho gia đình và xã hội.

Quân đội là trường học rèn kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Được cụ thể hóa bằng các chế độ sinh hoạt, học tập, công tác hàng ngày, hàng tuần và được quản lý chặt chẽ thông qua hệ thống các tổ chức thống nhất từ trên xuống dưới. Trong môi trường đó tất cả các quân nhân đều bình đẳng tu dưỡng, học tập, rèn luyện và cống hiến. Trong suốt quá trình đó, mọi ưu điểm, thành tích, chiến công, cũng như những khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót và vi phạm của mỗi quân nhân đều được các tổ chức đánh giá ghi nhận, phân tích chỉ rõ và quản lý chặt chẽ theo phân cấp; chính việc rèn luyện kỷ luật đã tạo thành phẩm chất đạo đức riêng có của mỗi quân nhân.

Quân đội là trường học rèn thể lực, thể chất. Thông qua các hoạt động huấn luyện kỹ, chiến thuật, các nội dung huấn luyện thể lực, hành quân, rèn luyện, diễn tập tổng hợp, luyện tập thể dục thể thao một cách đều đặn đã giúp cho thanh niên Quân đội nâng cao sức khỏe, sự dẻo dai, bền bỉ, tăng cường khả năng chịu đựng trước sự khắc nghiệt của thời tiết cũng như yêu cầu cao của nhiệm vụ chiến đấu.

Quân đội là môi trường trau dồi kỹ năng trong cuộc sống. Trong môi trường tập thể, thanh niên Quân đội có điều kiện chia sẻ những kĩ năng sống, lan tỏa những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, tránh được những sai lầm, vượt qua được những thử thách khó khăn; thắp sáng tinh thần đoàn kết, đồng tâm, đồng lòng; tương thân, tương ái, quan tâm giúp đỡ mọi người, chung tay vì cộng đồng xã hội. Qua các hoạt động thực tiễn, tuổi trẻ Quân đội được trải nghiệm rất nhiều điều ý nghĩa, hiểu được giá trị của cuộc sống, tu dưỡng sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.

Có thể nói, môi trường hoạt động của Quân đội hiện nay là cơ hội để thanh niên học tập, rèn luyện, cống hiến, trưởng thành nhanh và vững chắc về phẩm chất, cường tráng về sức khỏe; chững chạc về phong cách; trưởng thành về nhận thức; nghiêm chỉnh về kỷ luật; thành thạo về nghiệp vụ; giao tiếp ứng xử có văn hóa. Chính những yếu tố đó giúp hàng triệu thanh niên Việt Nam khẳng định được sức trẻ, sự trưởng thành, đáp ứng được yêu cầu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.