Thứ Ba, 3 tháng 12, 2024

 

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, các thế lực thù địch và đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là khi Đảng chủ trương đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người.

Sự xuyên tạc, bịa đặt thâm độc 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch là nhằm “hạ bệ thần tượng”,  thay đổi tình cảm của dân tộc với lãnh tụ Hồ Chí Minh; tạo tâm lý hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào tư tưởng Hồ Chí Minh; sâu xa là nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng để thực hiện “chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”. 

Mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận
Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Hà Giang, tháng 3-1961. Ảnh tư liệu 

Các đối tượng khi xuyên tạc, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh thường tập trung vào: Thứ nhất, chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ hai, xuyên tạc những tư tưởng cụ thể trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, chẳng hạn như: Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, hoặc có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội nhưng chỉ là những lý thuyết giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “tư biện, lý thuyết, ảo tưởng, phi thực tế”... Thứ ba, xuyên tạc về bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, như: Tư tưởng Hồ Chí Minh là “sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước”; tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời, lạc hậu”, đề nghị Đảng, Nhà nước Việt Nam cần thay đổi bằng hệ tư tưởng mới...

Để xuyên tạc, xóa bỏ tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, xảo quyệt. Chúng thường lập luận dựa trên những nguồn thông tin không rõ nguồn gốc, những hình ảnh đã photoshop hoặc cắt xén. Hoang đường hơn, chúng còn dựng lên những câu chuyện hoàn toàn bịa đặt, những nhân chứng giả, bằng chứng giả và đưa ra những quy kết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đầy tính tư biện.

Các thế lực thù địch thường sử dụng các diễn đàn công khai như tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, phỏng vấn... Đặc biệt, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của truyền thông, chúng triệt để lợi dụng vùng “lãnh thổ đặc biệt” là không gian mạng với hàng nghìn trang mạng xã hội, trong đó có nhiều trang giả mạo các cá nhân, tổ chức có uy tín, núp dưới danh nghĩa tôn giáo, bảo vệ môi trường, dân sinh để thu hút người đọc, qua đó lan truyền những nội dung chống phá....

Sự thật là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta kỷ nguyên rực rỡ trong lịch sử vinh quang của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt thời gian qua, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng giành được những thắng lợi vẻ vang.

Tình cảm mà nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước dành cho Người là điều không thể phủ nhận. Không những vậy, những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được ghi nhận bởi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), của các chính khách, giới nghiên cứu quốc tế, từ các nước xã hội chủ nghĩa cho đến tư bản chủ nghĩa... Do vậy, mọi sự xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh đều trở nên lạc lõng, không thể chấp nhận.

Bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay

Nhận thức về vị trí, vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người ở vị trí quan trọng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ đó, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn, chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh; nhận thức toàn diện về nội dung, bản chất và giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần củng cố niềm tin, trau dồi bản lĩnh chính trị, cung cấp cơ sở luận cứ đấu tranh mạnh mẽ, hiệu quả và sắc bén nhằm làm thất bại những chiêu bài xuyên tạc, bóp méo sự thật về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trái lại, nhận thức chưa đúng đắn, toàn diện có thể dẫn tới việc đấu tranh trở nên mơ hồ, thiếu căn cứ, kém hiệu quả. Do vậy, chúng ta cần tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh với những phương pháp, cách thức sáng tạo và phù hợp hơn.

Đổi mới cách thức tổ chức các hội thảo và tọa đàm khoa học về Chủ tịch Hồ Chí Minh theo hướng chú trọng đến trao đổi, thảo luận có định hướng, gắn với những vấn đề thực tiễn trong nước và thế giới. Bên cạnh những sản phẩm có tính “hàn lâm”, nghiên cứu chuyên sâu, cần nhiều sản phẩm có tính “thường thức” với cách thể hiện giản dị, ngắn gọn, sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ hiểu, nhất là đối với lớp trẻ. 

Giảng dạy về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được coi trọng ở tất cả các cấp. Trường học, các cơ sở đào tạo, nhất là hệ thống trường Đảng cần tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy, khắc phục tư tưởng ngại học, lười học, học mà không vận dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cần đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực chất hơn nữa; cần có chế độ kiểm tra, giám sát việc học tập, thưởng-phạt công minh, đưa vào tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của cán bộ, đảng viên...

Hai là, đẩy mạnh và triển khai các hướng nghiên cứu mới về Chủ tịch Hồ Chí Minh: Nghiên cứu làm sáng rõ những vấn đề về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là góp phần bảo vệ và phát triển tư tưởng của Người, nhất là khi các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng một số "khoảng trống" trong tư tưởng và tiểu sử Hồ Chí Minh để tuyên truyền xuyên tạc và bịa đặt. Hơn nữa, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng giống như Chủ nghĩa Mác, là một học thuyết mở. Sức sống của một tư tưởng mở nằm ở những chỉ dẫn có tính nguyên lý. Do vậy, trong việc học tập, chúng ta phải bảo đảm nguyên tắc vận dụng sáng tạo và phát triển, bổ sung tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn trong nước và thế giới hiện nay.

Để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, một số hướng nghiên cứu cần được thực hiện, đó là: Tiếp tục hướng nghiên cứu cơ bản nhằm làm rõ những quan điểm, tư tưởng có giá trị bền vững, phản ánh quy luật vận động của xã hội, tiếp tục “soi đường” cho cách mạng Việt Nam; những quan điểm, tư tưởng trước kia đúng đắn nhưng hiện nay đã bị thực tiễn vượt qua, cần được thay đổi hoặc bổ sung, phát triển; những quan điểm, tư tưởng đúng đắn, phù hợp nhưng chưa được hiểu đúng và đủ, hoặc vận dụng chưa đúng, chưa phù hợp dẫn đến chưa hiệu quả... 

Đẩy mạnh hướng nghiên cứu vận dụng nhằm định hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra gắn với các ngành, các lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Tiếp tục hướng nghiên cứu nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, nhất là những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh với thế giới...

Ba là, nâng cao hiệu quả và kiên quyết đấu tranh phản bác sự xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, cần nhận diện một cách chính xác sự xuyên tạc (âm mưu, thủ đoạn, nội dung, động cơ, hình thức) và mức độ tác động đến xã hội của từng loại xuyên tạc để có phương pháp đấu tranh phù hợp và xử lý một cách kiên quyết. Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, đảng viên-lực lượng nòng cốt trong cuộc đấu tranh tư tưởng này; duy trì và phát huy tác dụng của các nhóm chuyên gia, các đội xung kích tại các cơ quan, đơn vị, nhất là những cơ quan nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh.

Xây dựng hệ thống luận cứ, luận điểm đấu tranh vững chắc, cung cấp cứ liệu và tư liệu đầy đủ, lập luận một cách chặt chẽ, logic, bẻ gãy từ gốc sự bịa đặt, sai trái, thù địch, phản động. Đa dạng hóa các hình thức đấu tranh; tích cực kiểm soát có hiệu quả các trang mạng độc hại, chấn chỉnh những phát ngôn thiếu trách nhiệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Kiên quyết và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bốn là, kết hợp đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh với công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Cần tiếp tục đấu tranh mạnh mẽ, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí hiệu quả hơn nữa.

Cùng với đó là xây dựng được đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tâm, có tầm, có đức, có tài, thực sự tiêu biểu về mọi mặt, luôn tiên phong, gương mẫu trong công tác, góp phần quan trọng vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định: “Thế giới sẽ còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn sống mãi”. Mọi sự xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được kiên quyết đấu tranh loại bỏ. 

CHỐNG LÃNG PHÍ VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM NGAY

 Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: Tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi; tiết kiệm là phải biết cân đối, tính toán các nguồn lực để chi phí bỏ ra nhỏ nhất mà lại đạt được mục tiêu cao nhất; tiết kiệm để phục vụ kháng chiến và kiến quốc, tăng thêm tiền vốn xây dựng đất nước, góp phần nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu.

 

Nguyên nhân của lãng phí là do quan liêu, thiếu trách nhiệm, tính toán không cẩn thận, phô trương hình thức... Lãng phí là không lấy của công đút túi. Song, hậu quả cũng lại rất tai hại cho nhân dân, cho Chính phủ. Có khi còn tai hại hơn tham ô. Để lãng phí như gió vào nhà trống, tham ô có tội, lãng phí cũng có tội, để lãng phí là có tội với dân.

 

Trong bài viết “Chống lãng phí” mới đây, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, hiện nay, một số dạng thức của lãng phí nổi lên gay gắt. Đặc biệt, vừa phải chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; vừa phải quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh phòng, chống lãng phí, phải gắn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phòng, chống lãng phí; xác định phòng, chống lãng phí có vị trí tương đương với phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

 

Lãng phí và phòng chống lãng phí là một vấn đề lớn, hệ trọng hiện nay, lãng phí thường đi liền với tham nhũng, là con đẻ của tệ tham nhũng. Nếu không có những giải pháp đồng bộ phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, lãng phí sẽ trầm trọng hơn, đe dọa đến an nguy của quốc gia, dân tộc và sự tồn vong của chế độ. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần nghiên cứu, chỉ đạo quyết liệt để triển khai ngay các công tác trọng tâm, đột phá về phòng, chống lãng phí, tạo khí thế mới, chuyển biến mạnh mẽ trong công tác này.

 

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong phòng, chống lãng phí; tăng cường tuyên truyền, phổ biến về công tác phòng, chống lãng phí; bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội và những quy định về phòng, chống lãng phí; tiếp tục hoàn thiện thể chế và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống lãng phí. Kiên quyết đưa ra khỏi quy hoạch vào cấp ủy khóa mới những cán bộ, đảng viên có biểu hiện lãng phí, tiêu cực.

 

Cần thúc đẩy việc xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội; tiếp tục tạo chuyển biến tốt trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở địa phương, cơ sở theo phương châm phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải từ cơ sở, từ chi bộ. Khẩn trương sửa đổi, bổ sung chức năng của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh để chỉ đạo cả công tác phòng, chống lãng phí, tạo sự đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ, cải cách hành chính, xử lý hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, “tham nhũng vặt”; khắc phục bệnh “sợ trách nhiệm”, đùn đẩy, né tránh, sợ sai không dám làm; không được lợi dụng phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để cản trở hoạt động phát triển hoặc trục lợi.

 

Với những quyết tâm chính trị cao độ của hệ thống chính trị, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, chắc chắn rằng, công tác phòng, chống lãng phí thời gian tới sẽ tiếp tục được đẩy mạnh theo chiều sâu, đúng với tinh thần kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Đảng lên trên hết; phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Để kịp thời lo cho dân, mọi người dân đều có ăn, có mặc, được học hành, được chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe, có nhà ở, được hưởng quyền làm chủ theo quy định của pháp luật, không để ai bị bỏ lại phía sau./.

 

Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng vội a dua

Tại nhà văn hóa tổ dân phố, Bí thư Chi bộ Hùng và Tổ trưởng dân phố Nam đang sôi nổi bàn luận về những quyết sách của đất nước tại Kỳ họp thứ tám (Quốc hội khóa XV) thì Tân đến chơi thể thao. Không vui vẻ như thường ngày, ném túi vợt cầu lông xuống sân, giọng Tân bức xúc:

- Hai chú thấy không? Cái nghị quyết đường tàu cao tốc Bắc-Nam Quốc hội vừa thông qua mà người ta nói ghê lắm! Nào là tốn tiền, nào là vô ích, chỉ để “làm màu” thôi..!

- Cậu nghe ở đâu nói vậy? - Ông Hùng giọng nhẹ nhàng.

- Trên mạng rất nhiều người phản đối. Họ bảo số tiền đó để xây bệnh viện, trường học, đầu tư những công trình thiết thực khác. Chứ hơn 1,7 triệu tỷ đồng thì tiền lấy đâu ra; rồi lại đội vốn như nhiều công trình khác; không khả thi và không thể thực hiện được...

- Nhưng Tân à, cậu đã nghiên cứu nội dung nghị quyết của Quốc hội chưa? Đã tìm hiểu về dự án này chưa? - Ông Nam hỏi lại.

Phòng, chống diễn biến hòa bình: Đừng vội a dua
 Phối cảnh nhà ga đường sắt tốc độ cao.

- Cháu hơi bận, chưa để ý, nhưng người ta nói nhiều như thế thì chắc đúng thôi! Mạng xã hội đưa nhiều thông tin trái chiều mà.

- Tôi cũng từng lo lắng, nhưng tìm hiểu kỹ tôi biết, dự án được chuẩn bị trong gần hai thập kỷ. Chúng ta cũng đã tham khảo kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển để hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi rồi.

- Nhưng ông Hùng, ông Nam à, số tiền đó quá lớn. Rồi Nhà nước thiếu nợ thì sao?

- Theo nghị quyết của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh kế hoạch đầu tư công trung hạn và vốn ngân sách Trung ương giữa các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; cho phép dự án được áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù; phát hành trái phiếu; huy động các nguồn vốn hỗ trợ khác... - Ông Hùng phân tích.

- Đúng đó! Các công trình lớn đều có người đồng thuận, người phản biện. Chúng ta trước khi đánh giá, có ý kiến cá nhân thì phải tìm hiểu kỹ lưỡng. Người đứng đầu Đảng ta cũng đã khẳng định đây là thời gian chín muồi để triển khai rồi - Ông Nam tiếp lời.

- Nghe hai chú nói cũng có lý... Nhưng nếu thông tin đó sai thì làm sao chống lại những người "bôi xấu" trên mạng?

- Thì mình nói bằng hành động và kết quả cụ thể. Chỉ cần dự án này thành công, dân mình hưởng lợi, tự khắc họ sẽ hiểu. Nhưng trước hết, cháu phải ủng hộ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tìm hiểu ngọn ngành quá trình và kết quả nghiên cứu, triển khai dự án. Đừng để thế lực thù địch lợi dụng kích động.

- Cũng có thể cháu hơi vội vàng. Mai cháu sẽ tìm hiểu kỹ rồi trao đổi cùng hai chú.

Sáng hôm sau, Bí thư Hùng và Tổ trưởng dân phố Nam đang tập thể dục trong sân nhà văn hóa thì Tân đi qua, dừng xe chào: “Cháu xin lỗi hai chú vì chưa tìm hiểu kỹ đã a dua, nói bừa. Cả tối qua cháu đã tìm hiểu cặn kẽ. Đúng như hai chú nói, tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải, tạo động lực quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững. Dự án rất quan trọng và tiền khả thi. Cháu sẽ phản bác những thông tin xuyên tạc kia các chú nhé".

Nói xong, Tân chào hai “cán bộ già” cẩn thận rồi mới lên xe đi. Bí thư Hùng nhìn Tổ trưởng dân phố Nam không nói gì, nhưng trong mắt hai ông ánh lên niềm vui!

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ VIỆC SỬA ĐỔI LUẬT SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV đã xem xét, thông qua 15 luật, trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân cơ hội này các thế lực thù địch, phản động, các phần tử xấu ra sức tuyên truyền xuyên tạc gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, trên trang Rfa, có bài: “Đại biểu quân đội so bì với nghành công an về cấp bậc”, trong đó có nhiều nội dung xấu độc, bôi nhọ kỳ họp thứ 8, quốc hội khóa XV trong việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng cho rằng “Quân đội và Công an đang cạnh tranh quyền lực thượng tầng” bộc lộ rõ ý đồ kích động, chia rẽ sự đoàn kết giữa Quân đội và Công an, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong Quốc hội.

 

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là rất cần thiết. Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 được Quốc hội khóa X thông qua tại Kỳ họp thứ sáu ngày 21/12/1999, có hiệu lực từ ngày 1/4/2000 và đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2008 và 2014. Qua gần 10 năm thực hiện, Luật đã tạo động lực cho đội ngũ sĩ quan phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, Luật Sĩ quan đã xuất hiện những vướng mắc, bất cập như: Chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ tại ngũ; trần quân hàm cấp tướng; thời hạn xét thăng quân hàm cấp úy; chế độ và chính sách đối với sĩ quan. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để khắc phục những bất cập này. Điều này, nhằm bảo đảm tính đồng bộ và thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành.

 

Thứ hai, Quân đội là ngành lao động đặc biệt, cần có những chính sách đặc thù. Ngay trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cũng sẵn sàng chấp nhận những rủi ro nhất định trong huấn luyện, trong tham gia phòng, chống lụt bão, thiên tai. Bất cứ lực lượng nào trong Quân đội cũng đều phải huấn luyện với chương trình nghiêm túc, gian khổ và khi có chiến tranh thì sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân...

 

Thứ ba, việc chất vấn của các đại biểu trong quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam … là thể hiện dân chủ, phát huy trí tuệ của tập thể và sự quan tâm của các đại biểu nhằm xây dựng luật có chất lượng, sát với thực tiễn, đi vào cuộc sống.

 

Trong thảo luận, một đại biểu Quốc hội đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu xem xét cân nhắc quân hàm cấp tướng giữa quân đội và công an ở các tỉnh, thành trọng điểm. "Với chỉ huy trưởng các thành phố lớn, cấp tướng không nói nhưng ở các thành phố còn lại cũng cần xem xét. Giám đốc công an là thiếu tướng thì chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự cũng phải là thiếu tướng. Việc này cần xem xét và không phải so bì nhưng làm sao để tương xứng với nhau, công bằng".

 

Giải trình sau đó về nội dung trên, bộ trưởng Bộ Quốc phòng - cho hay việc này khó thực hiện. Bởi vì, “giám đốc công an tỉnh chỉ có một thiếu tướng nhưng chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại liên quan đến Chính ủy. Cùng với chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh lại còn chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng tỉnh và Chính ủy. Bốn chức danh này giống chức nhau mà lại chọn phong một người thì khó cân. Hôm nay phong cho quân sự, ngày mai phong cho biên phòng sẽ khó. Nên chúng tôi xin thôi, vẫn cứ đại tá. Thêm vào đó, công an nhiệm vụ khác, quân đội nhiệm vụ khác, mặc dù lực lượng vũ trang trong giai đoạn thời bình nơi biên giới, hải đảo, đảo xa vất vả hơn rất nhiều các tỉnh nội địa. Trong khi đó, công an các tỉnh nội địa có khi việc trọng yếu hơn bởi có các việc khác nên giả sử xét cũng rất khó khăn", Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nêu rõ.

 

Nhận diện rõ các luận điệu xuyên tạc về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam để chúng ta thấy được sự thâm độc của các thế lực thù địch, phản động. Chúng lợi dụng vào những vấn đề này để vu khống, dựng chuyện “biến không thành có”, “biến có thành không”, ra sức bóp méo, cho đó là sự tranh giành quyền lực, bè phái cục bộ. Cái đích chúng nhắm đến là chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, gây nên nghi kỵ, hiềm khích trong quan hệ, với mục đích gây mất ổn định trong nội bộ Quân đội và Công an, làm suy giảm, mất động lực, mục tiêu, lý tưởng của các lực lượng vũ trang nhân dân. Do vậy, chúng ta cần nêu cao tình thần cảnh giác cách mạng, không dao động tư tưởng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động./.

CƯƠNG QUYẾT ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI THỦ ĐOẠN THÂM ĐỘC “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

 Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch với cách mạng nước ta ráo riết kêu gọi và sử dụng mọi biện pháp để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội. Chúng tính toán rằng, khi QĐND Việt Nam đã bị mê hoặc bởi khẩu hiệu đó, từng bước xa rời phương hướng chính trị giai cấp, xa rời mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, không còn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước, chúng sẽ ra tay lật đổ Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam theo đúng kịch bản “không đánh mà thắng” như đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu trước đó.

 

Thực tiễn lịch sử của cách mạng Việt Nam chứng minh rõ: QĐND Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo và giáo dục để giành và giữ chính quyền cách mạng; nên bản thân nó đã là một lực lượng chính trị. 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam cũng chứng minh rõ: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về mục tiêu chiến đấu của Quân đội với mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì thế, trái với sự hô hào “phi chính trị hóa” quân đội, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu, thực hiện chiến đấu thắng lợi.

 

Trước các âm mưu thâm độc, nham hiểm ấy, việc đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện và cương quyết đấu tranh, vạch trần thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội là nhiệm vụ quan trọng, mang tính thời sự cấp bách, cần có hệ thống giải pháp đồng bộ, hiệu quả. Đặc biệt, cần giữ vững và không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; tăng cường công tác giáo dục chính trị nhằm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và dân tộc của Quân đội; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội, nhất là cán bộ cấp cao, thực sự trong sạch, tin cậy, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân; có năng lực đặc biệt xuất sắc trong tham mưu và xử lý các tình huống quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, giữ vững hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mọi hoàn cảnh; chủ động, tích cực đấu tranh làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình” và âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học trong âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động./

Sự vận dụng lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

 


Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, đã tạo nên những thắng lợi vĩ đại trong các giai đoạn cách mạng. Ngay từ khi mới ra đời, trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định phải tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[1]. Với đường lối cách mạng đúng đắn, giai cấp công nhân Việt Nam thông qua chính đảng của mình đã lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đánh dấu thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thiết lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á.

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam thực hiện chiến lược vừa kháng chiến vừa kiến quốc, đã lập lên kỳ tích bằng chiến thắng Điện Biên Phủ, chấm dứt gần một trăm năm đô hộ của thực dân Pháp, Miền Bắc hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chuyển lên làm cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, Miền Nam tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thống nhất đất nước.

Sự vận dụng tài tình lý luận cách mạng không ngừng của Đảng ta trong giai đoạn 1954 đến 1975 là lãnh đạo hai miền Nam, Bắc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng, đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc.

Sau thắng lợi năm 1975, đất nước ta được giải phóng hoàn toàn, giang sơn thu về một mối. Đảng ta vẫn kiên định và thể hiện rõ sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, đó là thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hiện nay, bối cảnh trong nước và quốc tế đang đặt ra những thời cơ, thách thức mới, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, giải quyết tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với đường lối cách mạng đúng đắn, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và của nhân dân ta; để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới, quân đội thường xuyên làm tốt công tác giáo dục cho các quân nhân thấy rõ tính đúng đắn, những khó khăn, thuận lợi của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng sai trái phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn. Mỗi quân nhân phải ra sức tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận và hoàn thành cương vị, chức trách được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong mọi tình huống. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nơi đóng quân, giúp đỡ nhân dân địa phương hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra trong từng thời kỳ. Chú trọng xây dựng quân đội theo phương hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 2.

 

Không có chuyện “đu dây”

Sau hàng loạt sự kiện đối ngoại thành công gần đây, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, mở rộng. Công tác đối ngoại và ngoại giao của Việt Nam đã đạt được những kết quả toàn diện, quan trọng, trở thành điểm sáng nổi bật; tạo bước phát triển mới về chất trong cục diện đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trước thành công đó của Việt Nam, một số cá nhân, tổ chức phản động, các thế lực thù địch bày tỏ sự tức tối và càng ra sức chống phá. Chúng lợi dụng internet, thông qua các trang mạng xã hội, một số hãng truyền thông nước ngoài có phiên bản tiếng Việt để xuyên tạc, phủ nhận thành quả đường lối đối ngoại của Việt Nam; trắng trợn bịa đặt rằng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây”; nền ngoại giao của Việt Nam "cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc. 

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch đưa ra lập luận rằng, để “dân chủ” hơn nữa, Việt Nam cần bỏ chính sách quốc phòng “4 không”. Luận điệu xuyên tạc trên vô cùng nguy hại khi nó làm cho số ít người không có thông tin đầy đủ về tình hình Việt Nam thời gian gần đây hoang mang, dao động; thậm chí có thể gây chia rẽ, hiểu sai lệch về quan hệ Việt Nam với các nước, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh trong trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã đưa ra lập luận rõ ràng để phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch.

Không có chuyện “đu dây”
Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh. Ảnh: HOA HUYỀN 

Phóng viên (PV): Đề nghị đồng chí làm rõ sự sai trái trong các khái niệm “đu dây”; "ngoại giao cục bộ", “chọn bên”, bị lệ thuộc, chi phối bởi các cường quốc... mà các thế lực thù địch xuyên tạc về chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Thứ nhất, không biết họ nói những khái niệm đó là gì, nhưng với những nước nhỏ mà không dựa trên lợi ích quốc gia, không dựa trên những đan xen hai bên cùng có lợi, không dựa trên luật pháp quốc tế thì “đu dây" là cực kỳ nguy hiểm. Đu dây theo tôi hiểu, tức là anh đu bên này một tí, anh đu bên kia một tí và anh rất dễ rơi vào thế kẹt giữa sự cạnh tranh của các nước lớn. Việt Nam không phải kiểu đó. Quan điểm rõ ràng của Việt Nam là: Tôi có lợi ích khi hợp tác với anh, anh có lợi ích khi hợp tác với tôi và nếu các bên song trùng lợi ích thì nhân cái hợp tác đó lên.

Thứ hai, tôi chơi với anh A, tôi cũng chơi với anh B trên nguyên tắc chung, khi có khác biệt thì phải giải quyết bằng đối thoại trên tinh thần các bên tôn trọng lợi ích của nhau. Tôi không đi với bên này để chống bên kia. Ví dụ, tôi quan hệ với Trung Quốc là vì lợi ích của tôi, của Trung Quốc và của chung hai bên. Tôi quan hệ với Mỹ cũng vậy, cũng vì lợi ích của Mỹ, lợi ích của Việt Nam, hai bên phải đan xen lợi ích thì mới thiết lập quan hệ ngoại giao.

“Đu dây" là gió chiều nào theo chiều ấy, thiên bên này một tí, thiên bên kia một tí. Việt Nam không có quan điểm như vậy. Trong nhiều năm làm công tác ngoại giao, tôi đôi khi được các bạn quốc tế nhắc rằng, Việt Nam đôi lúc còn "hơi cứng" trong quan hệ, một số trường hợp còn chưa uyển chuyển. Nguyên nhân là vì chúng ta giữ vững nguyên tắc trong thảo luận một số vấn đề thì có động chạm đến lợi ích quốc gia; nguyên tắc của luật pháp quốc tế hay vấn đề về thể chế chính trị.

Phải mất 10 năm cân nhắc để nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ, trong khi đó, ngay từ khi nước ta giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ, thế thì "đu dây" ở chỗ nào? Trong những lần trả lời phỏng vấn trước đây, cá nhân tôi không thích sử dụng khái niệm cân bằng quan hệ với các nước lớn. Không phải là vấn đề cân bằng, mà là tôi quan hệ với tất cả nước lớn, dựa trên lợi ích quốc gia, hai bên cùng có lợi và tất nhiên phải dựa trên luật pháp quốc tế.

Còn nếu hiểu cân bằng theo cách hiểu cơ học, là nếu tôi đi 50 với nước này, thì tôi phải đi 50 với nước kia là không đúng. Lợi ích quốc gia sẽ quyết định không gian hợp tác giữa hai nước. Ví dụ Việt Nam quan hệ với Pháp, chúng ta thấy tiềm năng địa chính trị của Pháp ở châu Âu; còn với Trung Quốc, ngoài quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống thì Trung Quốc là nền kinh tế lớn, với thế mạnh về chuỗi cung ứng hàng hóa, nguyên liệu, hạ tầng... Trong khi đó, với Mỹ thì chắc chắn là khoa học-công nghệ. Mỗi nước có thế mạnh riêng, làm sao có thể xuất sang nước này 50% thì cũng xuất sang nước kia 50% theo cách hiểu thô thiển là cân bằng được.

Và như vậy, câu chuyện "đu dây" hay cân bằng nước lớn, nếu cứng nhắc những nguyên tắc cố định theo kiểu cơ học như vậy sẽ không phản ánh đúng sự độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa.

PV: Như vậy có thể hiểu, ngoại giao với các nước lớn cần có tầm nhìn và chiến lược?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Về đối ngoại hay ngoại giao, có hai thành tố quan trọng: Tầm nhìn chiến lược và thủ thuật. Tầm nhìn chiến lược là gì? Nói đại thể, tại sao từ những năm 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy phải thiết lập quan hệ với các nước lớn, trong đó có Mỹ. Đấy là tầm nhìn chiến lược. Còn chỉ để nhằm ứng xử với những cạnh tranh quyết liệt của các nước lớn thì đó là một phần thủ thuật thôi.

PV: Nếu các nước lớn, các đối tác đặt điều kiện thì mới hợp tác, chúng ta phải làm gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trong quan hệ quốc tế, những câu chuyện đặt điều kiện là chuyện thường xuyên. Bởi vì hai bên có lợi ích song trùng và cả những lợi ích không song trùng.

Ví dụ, việc Việt Nam tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) với những điều khoản có thể chưa thực sự phù hợp, nhưng mình phải chấp nhận khi đạt được lợi ích chung lớn hơn. Đấy là khi điểm cộng có tổng bằng dương cho lợi ích quốc gia, không gây hại và không ảnh hưởng tới vấn đề cốt lõi thì phải tiến hành chứ.

Cho nên, trong quan hệ với các nước, luôn tồn tại câu chuyện khác biệt, nhưng vẫn có song trùng, chúng ta phải có cách tiếp cận để giữ được cái cốt lõi của mình nhưng vẫn tranh thủ được thuận lợi từ đối tác.

PV: Trong gần 40 năm đất nước đổi mới, ấn tượng của đồng chí với công tác ngoại giao là điều gì?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Điều tôi ấn tượng nhất có lẽ là chúng ta tham gia vào môi trường quốc tế một cách tự tin, chúng ta đã vững mạnh hơn rất nhiều. Ngoại giao vừa đóng góp hiệu quả vào việc phát triển đất nước, đồng thời vừa tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho hòa bình và phát triển. Vị thế Việt Nam đã lên rất nhiều.

Có những lúc, có những thời điểm ngoại giao tạo ra động lực mới, thậm chí là dẫn dắt. Ví dụ, việc “phá vây” ngoại giao thành công đã tạo được không gian để phát triển. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, chúng ta đã “phá vây” thành công. Năm 1991 là Hiệp định Paris về Campuchia; chúng ta bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Năm 1994-1995 là giai đoạn vào ASEAN, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế; bình thường hóa, thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ. Có thể khẳng định, khi được sự ủng hộ của quốc tế, đặc biệt là các nước lớn, đã tạo ra bước đột phá.

Như vậy, ngoại giao có vai trò định hướng hội nhập và mang tính dẫn dắt. Có thể lấy ví dụ thời điểm dịch Covid-19 mấy năm vừa rồi. Đó là thời gian khó khăn về dịch bệnh, kinh tế thế giới đứng trước bờ vực suy thoái, cạnh tranh nước lớn quyết liệt, nhiều nước không dám quan hệ với xung quanh. Chính thời điểm khó khăn này lại là những năm đối ngoại Việt Nam đột phá. Tôi nghĩ rằng không phải ngẫu nhiên mà tất cả nước lớn và những nước quan trọng nhất lại cung cấp cho Việt Nam lượng vaccine lớn như vậy để phòng, chống dịch.

Trong bối cảnh đầy cạnh tranh, Việt Nam vẫn sử dụng tốt ưu thế, vị thế của mình, đan xen lợi ích với các đối tác, từ đó thiết lập và nâng cấp quan hệ với những nước mà thậm chí giữa họ đang cạnh tranh với nhau. Ví dụ cụ thể chính là việc giữ được quan hệ tốt đẹp với các nước lớn như Mỹ, Nga và Trung Quốc; tranh thủ được nguồn lực từ các nước này, nhưng Việt Nam vẫn giữ vững quan điểm, đường lối đối ngoại của mình, tạo sự ổn định và môi trường thuận lợi nhất cho phát triển.

Không chỉ với các nước lớn, hiện Việt Nam đang có quan hệ tốt với tất cả những trung tâm quan trọng của thế giới, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mô hình sang phát triển xanh, bền vững, dựa trên đổi mới và sáng tạo. Đối ngoại thể hiện vai trò mở đường, đưa khoa học kỹ thuật mới, công nghệ cao của thế giới về cho đất nước.

PV: Làm tốt công tác đối ngoại chính là góp phần tạo ra sức mạnh mềm. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh mới, đồng chí có thể lý giải sâu hơn về điều này?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Bây giờ Việt Nam đã có sức mạnh mềm và chúng ta phải biết cách nhân lên sức mạnh mềm thì mới tạo ra sức hấp dẫn của chính chúng ta. Không phải chỉ là vấn đề vị thế chung chung, sức mạnh mềm còn có thể tạo ra cơm áo, tiền bạc.

Lấy ví dụ, nếu các khâu liên quan đến thủ tục, thể chế bị trì trệ, chắc chắn các dự án lớn, tập đoàn lớn, nhỏ của các quốc gia sẽ không hài lòng và ta sẽ mất cơ hội. Vì thế, chúng ta phải khắc phục ngay, có môi trường thông thoáng, hạ tầng tốt, con người có trình độ cao, được những người làm công tác ngoại giao quảng bá tốt, nhất định các nhà đầu tư chất lượng cao sẽ tới đầu tư.

PV: Để có thể phản bác kịp thời quan điểm sai trái của các thế lực phản động, là người kinh qua nhiều vị trí công tác trong ngành ngoại giao, đồng chí chia sẻ kinh nghiệm gì với thế hệ cán bộ trẻ?

Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh: Trước hết, phải xác định rất rõ thông tin mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đánh giá đúng các nguy cơ, thường xuyên cảnh giác, làm rõ những vấn đề có tính nguyên tắc, từ đó có biện pháp ngăn chặn. 

Lấy ví dụ, trước đây lo ngại quá trình hội nhập có thể bị hòa tan, nhưng thực tế gần 40 năm đổi mới chứng minh chúng ta tham gia và hội nhập với thế giới mà chúng ta vẫn đứng vững. Chúng ta được lợi rất nhiều, thậm chí là vững hơn, nhận thức tốt hơn.

Thế giới đang chuyển động rất sâu sắc, có cả thuận lợi và tạo động lực nếu chúng ta bắt kịp thì sẽ vươn lên, mà không bắt kịp thì tụt hậu càng xa. Ngoại giao cũng phải thích ứng để đủ sức nhân lên vị thế của Việt Nam. Ngoại giao bây giờ phải biết đặt câu hỏi điều gì tốt cho sự phát triển của đất nước. Nhà ngoại giao cũng phải hiểu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh... cái gì thì tốt cho Việt Nam, liệu có bị lệ thuộc không.

Lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin

 


Khi giai cấp tư sản đang lên và còn giữ vai trò là giai cấp trung tâm của thời đại, quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tư tưởng cách mạng không ngừng là phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa do giai cấp công nhân lãnh đạo vừa mang tính liên tục vừa mang tính giai đoạn và diễn ra không ngừng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất cả những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biến tất cả những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ xã hội đó”1. Ở những nước mà giai cấp công nhân chỉ chiếm số ít trong dân cư thì trước hết cùng với giai cấp tư sản làm cách mạng dân chủ tư sản triệt để, rồi ngay sau đó tiến hành cách mạng vô sản, thực hiện xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.

Điều kiện để giai cấp công nhân thực hiện đường lối cách mạng không ngừng theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen là phải giữ vững tính độc lập về tư tưởng, liên minh chặt chẽ với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác.

Khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, giai cấp tư sản hết vai trò tiến bộ, quan điểm của V.I.Lênin về tư tưởng cách mạng không ngừng trong quá trình cách mạng dân chủ  tư sản: giai cấp công nhân phải nắm lấy quyền lãnh đạo cách mạng dân chủ tư sản (tức cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới) sau đó chuyển lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giữa hai cuộc cách mạng đó không có bức tường nào ngăn cách.

V.I.Lênin đã kế thừa tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong hoàn cảnh lịch sử mới, vào những năm cuối của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc ngày càng bộc lộ bản chất phản động, hiếu chiến, xâm lược những nước lạc hậu, biến thành thuộc địa của chúng. Giai cấp tư sản tỏ ra có tư tưởng thoả hiệp, cấu kết với giai cấp phong kiến, không muốn thúc đẩy mạnh mẽ cuộc cách mạng dân chủ tư sản và tìm mọi cách để ngăn chặn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Trong phong trào công nhân đã xuất hiện tư tưởng cơ hội muốn phủ nhận tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác. V.I.Lênin phân tích sâu sắc tình hình nước Nga trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho thấy, là một nước tư bản trung bình nhưng là một khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc. Sự hội tụ đầy đủ những mâu thuẫn cơ bản trong lòng nước Nga, tạo tiền đề cho một cuộc cách mạng dân chủ tư sản nổ ra trong tương lai không xa.

Điều kiện để thực hiện chuyển biến từ cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, theo V.I.Lênin cần phải thực hiện ba điều kiện cơ bản. Một là, giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai là, phải tăng cường khối liên minh với giai cấp nông dân. Ba là, chuyên chính dân chủ cách mạng của giai cấp công nhân, nông dân phải chuyển sang làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản.

Nội dung thực chất của quy luật cách mạng không ngừng mà C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin đã chỉ ra là tính liên tục, tính giai đoạn trong quá trình thực hiện đến mục tiêu cuối cùng của cách mạng vô sản, mỗi giai đoạn có mục tiêu, phương pháp cách mạng khác nhau.

Cách mạng không ngừng là đặc trưng của cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, vì mục đích cuối cùng của giai cấp công nhân là xoá bỏ giai cấp chứ không phải thay xã hội có giai cấp này bằng xã hội có giai cấp khác. Sau khi giành được chính quyền, nếu giai cấp công nhân không tiến hành đấu tranh cách mạng, cải tạo xã hội đến cùng thì không thể giữ được quyền lãnh đạo chính trị và chính quyền sẽ rơi vào tay giai cấp khác.

Quá trình cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra liên tục nhưng lại được chia ra thành những giai đoạn cụ thể, các giai đoạn đó có mối quan hệ chặt chẽ và tạo ra tiền đề để thực hiện mục tiêu cuối cùng là xoá bỏ giai cấp. Bởi lẽ, mỗi giai đoạn cách mạng giai cấp công nhân phải đấu tranh thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng khác nhau. Cho nên, không nên hiểu cách mạng không ngừng chỉ theo nghĩa bất chấp điều kiện lịch sử cụ thể, cứ tiến thẳng mà không có những khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phản ánh có tính quy luật trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa là vấn đề mang tính chiến lược và sách lược trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân. Lý luận cách mạng không ngừng luôn mang ý nghĩa mới, có những nội dung cụ thể trong những điều kiện lịch sử mới. Cho nên, tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở phương pháp luận để các đảng cộng sản vận dụng vào điều kiện cụ thể nước mình, để mỗi giai đoạn cách mạng định ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn.



1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 126.

Phương pháp sử dụng bạo lực cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đấu tranh giành và giữ chính quyền

 


Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xác định rõ bạo lực cách mạng là bạo lực của quần chúng nhân dân, có tổ chức, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu giành và giữ chính quyền. Người khẳng định: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp, của dân tộc, cần sử dụng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”[1]. Việc chúng ta sử dụng bạo lực cách mạng là một đòi hỏi tất yếu để chống lại bạo lực phản cách mạng, hoàn toàn không phải là đam mê hay là sùng bái bạo lực. Thực tế cho thấy, xuất phát từ phía kẻ thù, do đó mà buộc chúng ta phải “phê phán” chúng bằng vũ khí, để giải phóng và tự khẳng định mình. 

Về hình thức của bạo lực cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tuỳ tình hình cụ thể mà quyết định những hình thức đấu tranh cách mạng thích hợp, sử dụng đúng và khéo kết hợp các hình thức đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị để giành thắng lợi cho cách mạng”[2]. Như vậy, việc sử dụng bạo lực cách mạng không đơn thuần chỉ là sử dụng lực lượng quân sự và đấu tranh quân sự mà phải biết kết hợp nó với lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị của quần chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp mới có thể giành thắng lợi cho cách mạng. Tuy nhiên, tuỳ theo tình hình cụ thể và so sánh lực lượng trong từng giai đoạn, từng địa bàn mà sử dụng lực lượng, hình thức nào là chủ yếu. 

Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về bạo lực cách mạng, xuất phát từ thực tế so sánh lực lượng, cục diện trên chiến trường sau khi Mỹ rút khỏi miền Nam, tháng 7 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị lần thứ 21 đề ra phương châm kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự với ngoại giao và tiếp tục khẳng định: Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Đến tháng 3 năm 1974, Quân uỷ Trung ương họp để quán triệt và bàn việc thực hiện cụ thể về mặt quân sự Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng. Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua đã xác định: Cách mạng Việt Nam có thể trải qua nhiều bước quá độ và chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường bạo lực cách mạng.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đúng đắn của Đảng về bạo lực cách mạng, chúng ta đã huy động được đến mức cao nhất sức mạnh của quần chúng nhân dân và các lực lượng vũ trang để áp đảo kẻ thù. Cùng với việc xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, chúng ta coi trọng việc xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng. Thực tiễn trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho thấy, lực lượng chính trị của quần chúng được tổ chức, xây dựng đã thật sự trở thành một đội quân chính trị, lực lượng tiến công có sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù. Cuộc Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong đó có cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã thể hiện bước phát triển cao nhất sự kết hợp giữa tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực và sự nổi dậy của quần chúng nhân dân địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp đập tan sự phản kháng của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; làm ngời sáng lên giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng bạo lực cách mạng.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 391.