Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là yêu cầu khách quan, vấn đề hệ trọng, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là nền tảng duy trì, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển phồn vinh, thịnh vượng càng trở nên đặc biệt quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội dung bao trùm, cốt lõi trong hệ thống quan điểm, đường lối quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, được hình thành trên cơ sở kế thừa, phát triển truyền thống “dựng nước đi đôi với giữ nước”, kinh nghiệm, bài học quý báu về tinh thần “cả nước đồng lòng, toàn dân đánh giặc”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” của dân tộc Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nền quốc phòng chúng ta xây dựng là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và ngày càng hiện đại, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước, do nhân dân làm chủ; được xây dựng trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ đất nước, bảo đảm đất nước có đủ sức mạnh cần thiết để ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, xung đột, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược ở mọi loại hình, quy mô, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Những năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy tốt vai trò nòng cốt, tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, pháp luật về quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Vì vậy, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn và cả nước, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu. Xây dựng phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ các cấp tiếp tục đạt kết quả tích cực. Toàn quân luôn sẵn sàng chiến đấu cao nhằm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng xử lý kịp thời, hiệu quả tình huống quốc phòng, an ninh, không để bị động, bất ngờ về chiến lược; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thành tựu đạt được trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, nỗ lực và quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta; tạo nên thế và lực mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng để đất nước đạt được những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(1).

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, rất phức tạp. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đứng trước nhiều thách thức gay gắt hơn. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm, cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện; chạy đua vũ trang, liên kết quân sự, xung đột cục bộ, chiến tranh ủy nhiệm gia tăng. Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là thành tựu khoa học - công nghệ quân sự, ứng dụng trí tuệ nhân tạo... tiếp tục tác động sâu sắc đến tất cả lĩnh vực, với sự xuất hiện của nhiều hình thái chiến tranh, phương thức, thủ đoạn tác chiến mới cả trong lĩnh vực truyền thống và phi truyền thống, đe dọa hòa bình, ổn định và an ninh toàn cầu. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có vị trí ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn.

Đối với nước ta, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để tiếp tục xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn”(2); các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng sự việc, vấn đề nhạy cảm để chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc…

Bối cảnh, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới; đòi hỏi không ngừng gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và những thành tựu đã đạt được, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn. Theo đó, cần thực hiện tốt một số vấn đề chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và toàn dân đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

Đây là nội dung đặc biệt quan trọng, nhằm thống nhất về nhận thức, hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp trong tổ chức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; đồng thời, là biện pháp trực tiếp xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần của nền quốc phòng toàn dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Theo đó, các ban, bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động nhân dân, giáo dục quốc phòng và an ninh, để toàn dân, trước hết là cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc; nhận thức đúng đắn quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng, chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng, cùng khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đặt ra. Về nhận thức, phải thấu suốt quan điểm: xây dựng nền quốc phòng toàn dân là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu khách quan, vừa mang tính cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài; là nền tảng, phương thức tối ưu để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đây là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt.

Trong bối cảnh hiện nay, công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục cần được tích cực đổi mới về hình thức, phương pháp và nâng cao chất lượng nội dung. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giáo dục, phổ biến để các đối tượng liên quan nhận thức sâu sắc, đầy đủ về tình hình thế giới, khu vực, quan điểm, đường lối, nhiệm vụ của cách mạng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; về vấn đề phức tạp, nhạy cảm; về đối tác, đối tượng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt, kịp thời thông tin làm rõ thời cơ, vận hội, thách thức trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đẩy mạnh quán triệt, tuyên truyền tư tưởng chỉ đạo, định hướng, quyết sách lớn, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước để khơi dậy niềm tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo xung lực mới, khí thế mới, tinh thần phấn khởi, đoàn kết, đồng thuận xã hội cao…, huy động sức mạnh tổng hợp trong thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động của mọi tầng lớp nhân dân, tạo đột phá xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ. Đồng thời, chủ động phát hiện, kiên quyết đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá đường lối quốc phòng toàn dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; các biểu hiện hình thức, thỏa mãn dừng lại, lơ là chủ quan, mất cảnh giác trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân; tư tưởng phiến diện, tuyệt đối hóa kinh tế, xem nhẹ quốc phòng, an ninh, cho rằng quốc phòng, an ninh là công việc, nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 14/11/2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030… và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, quân sự, an ninh, và vận dụng vào thực tiễn từng bộ, ngành, địa phương. Trong đó, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm quan điểm, đường lối, mục tiêu, yêu cầu, nội dung, giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Đảng; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo bước đột phá trong xây dựng khu vực phòng thủ, nhất là xây dựng cơ sở chính trị - pháp lý, tiềm lực kinh tế, thế trận quân sự trên địa bàn chiến lược, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, khu kinh tế trọng điểm.

Hiện nay, Đảng, Nhà nước đang quyết liệt chỉ đạo thực hiện đột phá xây dựng, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ nút thắt, điểm nghẽn, tạo động lực cho đất nước phát triển trong kỷ nguyên vươn mình với rất nhiều đổi mới. Đây vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu, thách thức đặt ra, đòi hỏi tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Theo đó, các bộ, ngành, trước hết là Bộ Quốc phòng cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xây dựng nền quốc phòng toàn dân, làm cơ sở tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với sự nghiệp quốc phòng. Chú trọng thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ quan điểm, đường lối của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hoàn thiện cơ chế, chính sách,  nhằm tăng cường tiềm lực quốc phòng, nhất là các cơ chế, chính sách đặc biệt để xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Thực hiện hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại.

 Ba là, tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Đây là nội dung rất quan trọng, không chỉ bảo đảm giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, mà còn phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo đảm thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Sắp xếp tinh gọn và bảo đảm cho bộ máy trong hệ thống chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn của đất nước, cũng là yêu cầu khách quan của xu thế thời đại. Đây là một cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tạo động lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Các ban, bộ, ngành, địa phương cần quán triệt sâu sắc tinh thần đó, triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt chủ trương, định hướng, mục tiêu, yêu cầu sắp xếp của Trung ương, Bộ Chính trị đã đề ra. Trong quá trình thực hiện, cần chú trọng gắn sắp xếp bộ máy với kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng; quan tâm cơ cấu, sắp xếp, kiện toàn tổ chức cơ quan quân sự ở ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; đặc biệt, cần chủ động làm tốt việc lựa chọn nguồn cán bộ lực lượng vũ trang để tham gia cấp ủy và kiện toàn cấp ủy quân sự các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh.

Cùng với thực hiện hiệu quả cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, cần tiếp tục củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, trọng tâm là đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/11/2023, của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, “Về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” và các nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo, chương trình, mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội để “không ai bị bỏ lại phía sau”Qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là trên địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, đối ngoại gắn với củng cố, tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững gắn với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ thông tin, chuyển đổi số của nền quốc phòng toàn dân ngay từ trong quy hoạch, kế hoạch phát triển ở các cấp, ngành, lĩnh vực, bảo đảm “mỗi bước tăng trưởng về kinh tế - xã hội là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh”. Quán triệt sâu sắc, thực hiện đồng bộ, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024, của Bộ Chính trị, “Về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”. Chủ động rà soát, điều chỉnh phân vùng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng, hậu phương chiến lược, quy hoạch thế trận quân sự khu vực phòng thủ..., kiên quyết không phát triển kinh tế bằng mọi giá.

Xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành một mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại để bảo vệ đất nước; tham gia tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân trong bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội trên các hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, biên giới, biển, đảo, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh từ nơi “phên giậu” Tổ quốc. Tiếp tục thực hiện Kết luận số 64-KL/TW, ngày 30/10/2019, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới; Chỉ thị số 07-CT/TW, ngày 3/10/2011, của Ban Bí thư và Nghị định số 21/2019/NĐ-CP, ngày 22/2/2019, của Chính phủ, Về khu vực phòng thủ; chủ động cân đối, phân bổ hợp lý nguồn lực bảo đảm xây dựng tiềm lực, thế trận khu vực phòng thủ, phòng thủ dân sự ngày càng vững chắc, sẵn sàng cho tình huống quốc phòng, an ninh.

Cùng với đó, tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội trên trường quốc tế, chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Năm là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; trong bất cứ hoàn cảnh nào, Quân đội phải luôn giữ vững định hướng chính trị, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/1/2022, của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 2/4/2022, của Quân ủy Trung ương, Về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; định hướng của Ban Chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII, “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”.

Tiếp tục đột phá đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, diễn tập, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luậtxây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Tăng cường thu hút, trọng dụng nhân tài, bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học quân sự, thành tựu của khoa học, công nghệ và thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào phát triển lý luận về quốc phòng, nghệ thuật quân sự Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là ở tầm chiến lược, thường xuyên nêu cao cảnh giác, duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn cả nước; thực hiện hiệu quả Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 5/9/2019, của Chính phủ, về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng; kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chiến lược, sách lược linh hoạt, đúng đắn, phù hợp, chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, xử lý kịp thời, thắng lợi mọi tình huống quân sự, quốc phòng, không để bị động, bất ngờ. Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc trên từng địa bàn và cả nước. Tích cực thực hiện công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới.

Quán triệt sâu sắc chủ trương chiến lược của Đảng về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đề cao trách nhiệm, phát huy kết quả, kinh nghiệm đã đạt được, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo nền tảng để xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

 

 

 

Phản bác luận điệu xuyên tạc công cuộc cải cách, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị

 Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực.

Đặc biệt, với quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, của Bộ Chính trị đã tạo thống nhất trong nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này.

Những chiêu trò “bẻ lái”, xuyên tạc

Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp.

Một số đối tượng bịa đặt rằng, việc sáp nhập các đơn vị, hợp nhất bộ máy chỉ nhằm mục đích chia ghế và “chạy chọt”, gây tốn kém ngân sách. Thậm chí, các thế lực thù địch xuyên tạc tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, nhằm cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực. Từ đó họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận, tạo cớ chỉ trích, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế - quan điểm chỉ đạo xuyên suốt

Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI) đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngày 25/11 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp xem xét, cho ý kiến về một số nội dung quan trọng, trong đó có nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cần thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cơ bản thống nhất nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, tiến độ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung gợi ý, định hướng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Ngày 5/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, nêu rõ: Qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác cải cách bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như tháng 4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm được 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong vấn đề này. Đó là nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng "Bộ trong bộ". Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.

Thống nhất trong nhận thức và hành động

Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Để giảm thiểu tình trạng lãng phí, việc tinh giản bộ máy đã và đang là một trong những giải pháp quan trọng, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.

Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy còn là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và cải thiện công tác quản lý nhà nước. Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Rõ ràng, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động. Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”.Trong những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, đạt nhiều kết quả tích cực.

Đặc biệt, với quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, của Bộ Chính trị đã tạo thống nhất trong nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống thống chính trị và toàn xã hội. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tình hình để xuyên tạc, phủ nhận chủ trương cũng như kết quả của công cuộc cải cách này.

Những chiêu trò “bẻ lái”, xuyên tạc

Mặc dù chủ trương tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy được Đảng và Nhà nước ta triển khai với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, dành nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân nhưng một số đối tượng chống đối vẫn tiếp tục xuyên tạc, bóp méo sự thật, lợi dụng sự thay đổi này để tung tin bịa đặt, thổi phồng khuyết điểm hòng đánh tráo mục tiêu, gây hoang mang dư luận. Các đối tượng bịa đặt rằng, việc tinh giản biên chế ở Việt Nam “chỉ là hình thức, mị dân”, không đem lại hiệu quả thực tế mà chỉ là gây tốn kém tiền bạc, ngân sách. Họ cho rằng, cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp.

Một số đối tượng bịa đặt rằng, việc sáp nhập các đơn vị, hợp nhất bộ máy chỉ nhằm mục đích chia ghế và “chạy chọt”, gây tốn kém ngân sách. Thậm chí, các thế lực thù địch xuyên tạc tinh giản biên chế là “đấu đá quyền lực, phe nhóm”, nhằm cắt giảm quyền lực của người này để tăng quyền lực cho người kia, là cách để “hạ bệ” hoặc “gia cố” quyền lực. Từ đó họ nguỵ biện rằng, Việt Nam không có tinh giản biên chế, không có tinh gọn bộ máy mà đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật nhằm làm nhiễu thông tin, “tung hoả mù” gây hoang mang dư luận, tạo cớ chỉ trích, miệt thị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế - quan điểm chỉ đạo xuyên suốt

Từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới (Đại hội VI) đến nay, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ngày 25/11 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp xem xét, cho ý kiến về một số nội dung quan trọng, trong đó có nội dung tổng kết thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xem đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, ví như cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, cần thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị. Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã cơ bản thống nhất nguyên tắc, mục tiêu, yêu cầu, tiến độ tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW và một số nội dung gợi ý, định hướng để các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Trung ương nghiên cứu, đề xuất sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Ngày 5/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết “Tinh-gọn-mạnh-hiệu năng-hiệu lực-hiệu quả”, nêu rõ: Qua nhiều kỳ đại hội, nhất là trong các đại hội gần đây, trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, XII, XIII đều nhấn mạnh các nhiệm vụ cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy hoặc nghiên cứu xây dựng mô hình tổng thể tổ chức bộ máy hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn tổ chức bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Những đổi mới về thể chế, trọng tâm là đổi mới công tác tổ chức bộ máy hệ thống chính trị là một trong những điều kiện cơ bản, quyết định đạt được những thành tựu vĩ đại sau 40 năm đổi mới đất nước.

Cải cách bộ máy hành chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan nhà nước, đồng thời giảm thiểu các chi phí hành chính không cần thiết. Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác cải cách bộ máy hành chính. Đặc biệt, việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối hành chính đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Cụ thể như tháng 4/2015, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức với mục tiêu đến năm 2021 tinh giản tối thiểu 10% biên chế. Kết quả, chúng ta đã tinh giản được 11,67% biên chế trong giai đoạn này, vượt chỉ tiêu đề ra. Trình bày Báo cáo của Chính phủ về công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2023 tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV (tháng 5/2024), Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Hồ Đức Phớc cho biết, Chính phủ đã ban hành 27 Nghị định về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; các bộ, ngành đã giảm được 17 tổng cục và tương đương; giảm 10 cục và 144 vụ/ban thuộc tổng cục và thuộc bộ; giảm 108 phòng trong vụ/ban thuộc bộ, ngành; giảm 22 đơn vị sự nghiệp công lập. Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ, trong năm 2023, Thủ tướng đã phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 144 quy định kinh doanh. Tổng số quy định kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa từ năm 2021 đến nay là 2.770 quy định. Có 147 thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư được thực hiện đơn giản hóa đạt 49,26%. Về quản lý và tinh giản biên chế, thực hiện các nghị định của Chính phủ, từ năm 2015 đến ngày 15/12/2023, cả nước tinh giản biên chế 84.140 người.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong vấn đề này. Đó là nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt, việc sắp xếp tổ chức bộ máy chưa đồng bộ, tổng thể, chưa gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại... Một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chính vì vậy, cho đến nay tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, quan hệ công tác giữa nhiều cơ quan, bộ phận chưa thật rõ ràng, còn trùng lắp, chồng chéo; phân định trách nhiệm, phân cấp, phân quyền chưa đồng bộ, hợp lý, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót hoặc không đầu tư thích đáng… Tổ chức bộ máy của một số cấp, ngành đến nay cơ bản vẫn giữ nguyên về số lượng, việc sắp xếp chưa gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả, xác định vị trí việc làm, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Bộ máy trong bộ, cơ quan ngang bộ còn nhiều tầng nấc, có cấp không rõ địa vị pháp lý; đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân tăng, gia tăng tình trạng "Bộ trong bộ". Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Những tồn tại, hạn chế, sự chậm chạp, thiếu quyết liệt trong thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.

Thống nhất trong nhận thức và hành động

Bộ máy cồng kềnh gây lãng phí và kìm hãm sự phát triển là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng chậm đi vào thực tiễn cuộc sống hoặc một số chủ trương không được triển khai hoặc triển khai hình thức trên thực tế. Một trong những lý do chính để tiến hành cải cách bộ máy hành chính là giảm bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Theo số liệu từ Bộ Tài chính, chi cho bộ máy hành chính chiếm khoảng 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước. Để giảm thiểu tình trạng lãng phí, việc tinh giản bộ máy đã và đang là một trong những giải pháp quan trọng, giúp tiết kiệm ngân sách và tái phân bổ các nguồn lực cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội.

Ngoài ra, việc tinh giản bộ máy còn là một yếu tố then chốt trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và cải thiện công tác quản lý nhà nước. Một bộ máy hành chính tinh gọn và chuyên nghiệp sẽ giúp các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác phòng, chống tham nhũng, xử lý các vi phạm pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân và doanh nghiệp. Cũng nhờ vào sự cải cách này, quy trình cung cấp dịch vụ công đã được đơn giản hóa, rút ngắn thời gian chờ đợi, giúp người dân và doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận các dịch vụ của Nhà nước.

Rõ ràng, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng, Nhà nước ta, với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao. Cần thấy rằng, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, không đơn giản, không phải làm một sớm, một chiều, làm một lần là xong do liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó đòi hỏi sự chặt chẽ, khoa học, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất trong nhận thức và hành động. Để cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bảo đảm thắng lợi, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Thời điểm 100 năm đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và 100 năm thành lập nước không còn xa, để đạt được các mục tiêu chiến lược, không chỉ đòi hỏi những nỗ lực phi thường, những cố gắng vượt bậc, mà còn không cho phép chúng ta chậm trễ, lơi lỏng, thiếu chính xác, thiếu đồng bộ, thiếu nhịp nhàng trên từng bước đi”.

Kẻ phá hoại mang tên "nặc danh"

 

Chuyện tán phát đơn thư nặc danh nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của tổ chức, cá nhân, gây tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ, nhất là trước thềm đại hội đảng các cấp vốn không có gì xa lạ. Gần đây, hành vi tiêu cực, phá hoại, đáng lên án này có xu hướng diễn biến phức tạp, khó dự báo.

Nặc danh là thoái hóa

Hành vi tố cáo nặc danh là trò "ném đá giấu tay", vốn là hành vi của những kẻ xấu xa, đáng buồn là trong số đó có cả cán bộ, đảng viên.

Theo Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, tình hình khiếu nại, tố cáo trên địa bàn vẫn tiềm ẩn phức tạp, còn tình trạng công dân gửi đơn đến nhiều nơi, vượt cấp, có nhiều đơn trùng, đơn khuyết danh, mạo danh hoặc hết thời hiệu xử lý; một số vụ việc đã được các cấp, các ngành giải quyết hết thẩm quyền, có lý, có tình, nhưng công dân vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Còn tại Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, từ năm 2020 đến nay, Ban Nội chính Tỉnh ủy đã tiếp nhận và xử lý tổng số 54 đơn tố cáo nặc danh. 

Xét về bản chất, tố cáo nặc danh là hành vi xấu xí của những người không có ý thức xây dựng tập thể; thiếu tinh thần trung thực, thẳng thắn; thiếu “chí công vô tư” đối với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, tình trạng tố cáo nặc danh ngày càng trở nên phức tạp và khó lường. Không chỉ đơn thư nặc danh mà còn có những biến tướng như: Cuộc gọi, tin nhắn thoại, tin nhắn văn bản, thư điện tử, đáng chú ý là hiện tượng sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thu âm giọng nói giả, dàn dựng, cắt ghép video clip, nhất là video clip “nóng” để đe dọa, tống tiền...

Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2024, triển khai nhiệm vụ năm 2025, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nhấn mạnh: Cần giải quyết dứt điểm, đúng quy định đơn, thư tố cáo, khiếu nại, trước hết là đối với những tổ chức đảng, đảng viên có liên quan trực tiếp đến nhân sự đại hội; kiên quyết xử lý đối tượng lợi dụng dịp tổ chức đại hội để tố cáo sai sự thật, gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng đến nhân sự đại hội.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi nặc danh nhưng về cơ bản là xuất phát từ tư tưởng vị kỷ, hẹp hòi, lòng hận thù, sự ganh ghét, đố kỵ, nhất là những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, quyền lợi, địa vị...

Tình trạng này không chỉ tồn tại ở riêng một cơ quan, đơn vị nào mà diễn ra ở nhiều tổ chức, đoàn thể, địa phương. Đối tượng tiến hành cũng rất đa dạng, bao gồm những người có mâu thuẫn trực tiếp và cả thành phần bị xúi giục, cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc...

Thông qua đó nhằm thực hiện mục đích tống tiền hoặc bôi xấu, làm giảm sút niềm tin của tập thể đối với cá nhân, tiến tới “hạ bệ” đối phương. Nếu không chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý, ngăn chặn kịp thời sẽ trở thành mầm mống nguy hiểm dẫn đến tư tưởng hoài nghi, mất đoàn kết nội bộ; làm vướng bận lãnh đạo, chỉ huy; gây phương hại cho tập thể, cá nhân; nguy hiểm hơn là tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ cương

Đơn thư nặc danh là hành vi không có giá trị, bởi lẽ: “Khi nhận được thông tin có nội dung tố cáo nhưng không rõ họ tên, địa chỉ của người tố cáo hoặc qua kiểm tra, xác minh không xác định được người tố cáo hoặc người tố cáo sử dụng họ tên của người khác để tố cáo hoặc thông tin có nội dung tố cáo được phản ánh không theo hình thức quy định tại Điều 22 của Luật này thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không xử lý theo quy định của Luật này”(1).

Trong Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cũng đã chỉ rõ, đảng viên không được: “Tố cáo có nội dung mang tính bịa đặt; cùng người khác viết, ký tên trong đơn tố cáo; viết đơn tố cáo giấu tên, mạo tên. Gửi hoặc tán phát đơn khiếu nại, tố cáo dưới mọi hình thức đến nơi không có thẩm quyền giải quyết”.

Để khắc phục tình trạng nêu trên, cần tăng cường phát huy dân chủ đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Bởi lẽ, phát huy rộng rãi dân chủ sẽ góp phần khơi dậy, động viên trí tuệ, sáng tạo của tập thể; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân; củng cố, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng và toàn xã hội; đồng thời, là biện pháp quan trọng để ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện tiêu cực.

Mặt khác, siết chặt kỷ luật, kỷ cương sẽ góp phần tạo sức răn đe để mỗi cán bộ, đảng viên luôn nâng cao tinh thần “thượng tôn pháp luật”; khắc phục tình trạng “dân chủ” quá trớn, “dân chủ” vô nguyên tắc mà nặc danh chính là một biểu hiện cụ thể.

Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần thường xuyên học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước, đặc biệt là Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Hướng dẫn số 02-HD/TW ngày 9-12-2021 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung Quy định số 22-QĐ/TW; Luật Tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành...; đồng thời, xác định đây là bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của bản thân.

Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị cần tăng cường các biện pháp quản lý, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời giải quyết thỏa đáng tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các đối tượng thuộc quyền; triển khai chặt chẽ, thận trọng, đúng quy trình ở từng khâu, từng bước các mặt công tác, nhất là những vấn đề hệ trọng, nhạy cảm như: Công tác nhân sự cán bộ, công tác thi đua-khen thưởng, công tác chính sách... không để xảy ra tình trạng quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, gây bức xúc dẫn đến tố cáo sai quy định, tố cáo vượt cấp hoặc tố cáo nặc danh...

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ, đảng viên khi tham gia sinh hoạt thì “nhất ngồi lỳ, nhì đồng ý” nhưng sau khi có quyết nghị của tập thể lại cố tình thực hiện hành vi phá hoại.

 

Minh chứng phản bác luận điệu xuyên tạc về chính sách của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài.

 Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đã ban hành, triển khai nhiều chủ trương, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài, khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; là nguồn lực quan trọng đóng góp cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 4 và Diễn đàn Trí thức, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2024 . Ảnh: dangcongsan.vn
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chụp ảnh lưu niệm cùng các đại biểu về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 4 và Diễn đàn Trí thức, chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2024 . Ảnh: dangcongsan.vn

Dù ở bất cứ nơi đâu, đồng bào ta luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó máu thịt với cội nguồn dân tộc. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài; kích động chống phá, gây chia rẽ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.

Các thế lực thù địch, phản động, các phần tử chống đối lập nhiều trang web, tài khoản Facebook, YouTube, Twitter, TikTok, Zalo… tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham vọng định hướng chính trị”; cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại hải ngoại… Đây là những luận điệu xuyên tạc xuất phát từ tư tưởng thù địch nhằm bóp méo bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.

Năm 2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1334/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” (Quyết định 1334). Đây là đề án quan trọng, qua đó tiếp tục khẳng định đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài. Đề án đã đem lại hiệu quả tích cực, được kiều bào ta đón nhận và ủng hộ nhiệt thành. Thế nhưng với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch, phản động đăng tải nhiều bài viết có nội dung xuyên tạc Quyết định 1334.

Có thể kể đến như loạt bài kêu gọi “Vô hiệu hóa Quyết định 1334: Cần hành động có sách lược và có phối hợp”; “Đối phó Quyết định 1334, cần hành động thiết thực và hiệu quả”; “Cộng đồng người Việt ở nước ngoài hãy đề cao cảnh giác với chiêu trò của Đảng Cộng sản Việt Nam”; “Bản lên tiếng về chủ trương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm khai thác người Việt tại hải ngoại”… Các hội nhóm phản động hải ngoại còn giở trò tổ chức hội thảo, hội luận nhằm tạo cớ chống phá, rêu rao “vô hiệu hóa Quyết định 1334 của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam”, “hội luận chính trị chống Quyết định 1334 của cộng sản Việt Nam”…

Những luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhằm mục đích xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách về người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực trong việc phát huy vai trò, củng cố sức mạnh, tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; chống phá những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Mục đích của chúng là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, hạ thấp uy tín của Đảng, cản trở, tiến tới xoá bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta qua các thời kỳ đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Tiếp nối truyền thống dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò và những đóng góp tích cực của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Đảng và Nhà nước ta khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Sau năm 1975, khi đất nước thống nhất và đối mặt với những thách thức to lớn, Ban Việt kiều Trung ương đã thực hiện những thay đổi quan trọng về cơ cấu tổ chức, từ một hội đồng liên ngành chuyển thành cơ quan chuyên trách với những nhiệm vụ cụ thể hơn. Trong bối cảnh kiều bào ngày càng đa dạng về thành phần, quan điểm chính trị, Ban đã kiên trì thực hiện các chính sách tập hợp, đoàn kết và bảo vệ cộng đồng.

Năm 1995, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài chính thức trực thuộc Bộ Ngoại giao theo Nghị định số 77/CP, khẳng định vị trí chiến lược của công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong ngành Ngoại giao. Đặc biệt, sự ra đời của Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị với chủ trương nhất quán: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt. Tại Chương 1, Điều 3, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 ghi rõ: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.

Trên cơ sở đó, Ủy ban đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, xây dựng, bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật, đề xuất chủ trương, chính sách mới bảo đảm quyền lợi của kiều bào thiết thực và hiệu quả. Các quy định pháp luật liên quan đến quốc tịch, xuất nhập cảnh, cư trú; các Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Nhà ở được sửa đổi với nội dung thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho đồng bào ta ở nước ngoài hưởng những quyền lợi và nghĩa vụ gần với người trong nước, khuyến khích bà con đầu tư, kinh doanh trong nước.

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã nêu các định hướng phát triển của đất nước, không chỉ trong giai đoạn 2021-2025 mà cho cả những thập niên tới, đề ra mục tiêu chiến lược Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Trong đó, đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài, Đại hội nêu rõ nhiệm vụ “triển khai toàn diện và mạnh mẽ hơn”. Ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Kết luận số 12/KL-TW của Bộ Chính trị khẳng định vị thế và vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp xây dựng đất nước ngày càng được củng cố và nâng cao.

Trong những năm qua, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục lớn mạnh cả về lượng và chất khi số người Việt Nam ở nước ngoài ngày một tăng, vai trò, vị thế và uy tín của kiều bào ta trong xã hội nước sở tại ngày càng được nâng cao. Ðại bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài đều ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng vào xã hội nước sở tại trong tất cả lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội, có tiềm lực đáng kể về trình độ khoa học, kỹ thuật, tiếp tục đóng góp tích cực, là cầu nối quan trọng gắn kết Việt Nam với thế giới.

Theo thống kê, hiện nay, có khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, sinh sống tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là ở các nước phát triển. Kiều bào tiếp tục có nhiều hoạt động hướng về quê hương, góp phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo và xây dựng đất nước. Hằng năm, có khoảng 500 lượt chuyên gia, trí thức kiều bào về nước tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ…Theo thống kê sơ bộ, hiện có khoảng 200 cơ sở dạy và học tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong khoảng 3 thập kỷ qua, lượng kiều hối mà kiều bào gửi về trong nước đạt trên 206 tỷ đô la, tương đương với lượng vốn FDI được giải ngân trong cùng thời kỳ. Lượng kiều hối này đã góp phần không nhỏ đối với phát triển kinh tế xã hội của đất nước, thúc đẩy hoạt động thương mại, dịch vụ, sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ và duy trì an sinh xã hội... Bên cạnh đó, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các ban, bộ, ngành, địa phương tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa như chương trình Xuân Quê hương, đoàn kiều bào dự Giỗ Tổ Hùng vương, thăm quân dân huyện đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1, trại hè Việt Nam, ngày Tôn vinh tiếng Việt… đưa các thế hệ người Việt xa quê trở về Tổ quốc, góp phần vun đắp tình cảm với quê hương, từ đó thổi bùng khát khao được cống hiến và chung tay góp sức cho sự phát triển của đất nước. Hiện nay, với hơn 421 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký 1,72 tỷ USD tại 42 trong 63 tỉnh thành, cùng nguồn kiều hối dự báo đạt khoảng 16 tỷ USD trong năm 2024 là những nguồn lực rất quan trọng cho sự phát triển của đất nước.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài còn có đóng góp rất quan trọng đối với những thành công của hoạt động ngoại giao nhân dân trong công cuộc đổi mới. Thông qua các hoạt động giao lưu văn hóa, tôn giáo, bà con kiều bào ta đã và đang góp phần giữ gìn bản sắc và quảng bá những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp, mến khách, thúc đẩy và giành được sự yêu mến của bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng khẳng định vai trò, vị thế trong xã hội nước sở tại; nhiều tấm gương trong lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh... đã góp phần làm rạng danh đất nước, dân tộc Việt Nam khắp năm châu bốn bể.

Ngày 23/8/2024, tại Phủ Chủ tịch, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư) đã tiếp đoàn đại biểu kiều bào tiêu biểu nhân dịp về nước dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ 4, dự Diễn đàn Trí thức và Chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2024. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước luôn chào đón, tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài về nước thăm thân, du lịch, đầu tư sản xuất, kinh doanh; hết sức cầu thị, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, tiếp thu ý kiến đóng góp, hiến kế xây dựng đất nước của bà con. Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các chủ trương, chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, phát huy tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực quý báu của kiều bào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đẩy mạnh hợp tác với các nước để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn, hội nhập và phát triển mạnh trong đời sống xã hội nước sở tại.

Dù sống ở nước ngoài, nhưng hàng triệu trái tim, khối óc và dòng máu Lạc Hồng của người Việt Nam luôn hướng về Tổ quốc. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng gắn bó và hướng về quê hương, thật sự trở thành một bộ phận không tách rời và một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đóng góp tích cực cho quá trình xây dựng, bảo vệ, phát triển và hội nhập của đất nước. Góp phần làm gắn kết hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như bác bỏ những luận điệu xuyên tạc khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Những hành động xuyên tạc của các thế lực xấu rõ ràng rất lạc lõng, bị chính cộng đồng người Việt tại các nước lên án, tẩy chay.

Lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

 


Trong tác phẩm “Phê phán Cương lĩnh Gôta” viết năm 1875, C.Mác quan niệm hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa có hai giai đoạn: giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản; trong giai đoạn thấp đó bao hàm cả thời kỳ quá độ, đó là “thời kỳ thai nghén” để ra đời một xã hội mới - xã hội cộng sản chủ.

Phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, V.I.Lênin cho rằng trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa bao gồm thời kỳ quá độ, giai đoạn thấp là chủ nghĩa xã hội và giai đoạn phát triển cao là chủ nghĩa cộng sản.

Sau khi giành được chính quyền, V.I.Lênin khẩn trương soạn thảo kế hoạch bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những quan điểm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã được V.I.Lênin tiếp tục trình bày trong các tác phẩm Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”, tác phẩm “Về cuộc cách mạng của chúng ta” viết tháng 01 năm 1923 và nhiều tác phẩm khác. Ở đó, Người đã luận chứng về những nhiệm vụ cơ bản và những điều kiện của bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin chỉ ra rằng bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có thể có những hình thức khác nhau. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành cách mạng theo cách riêng của mình dưới những hình thức quy định bởi sự so sánh lực lượng giai cấp trong nội bộ mỗi nước, bởi phong cách dân tộc và hoàn cảnh đối ngoại. Chủ nghĩa xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở những nguyên tắc chung của lý luận cách mạng được biến đổi một cách đúng đắn, phù hợp với những sự khác biệt về dân tộc và quốc gia dân tộc. V.I.Lênin viết: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định”[1].

Đặc biệt, V.I.Lênin còn chỉ rõ trong tiến trình phát triển của lịch sử, nhân loại có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế xã hội để xây dựng một hình thái kinh tế xã hội mới phù hợp với những điều kiện lịch sử cho phép. Theo V.I.Lênin, tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó. Trong thực tế lịch sử phát triển của xã hội loài người, đã từng có những quốc gia bỏ qua một vài giai đoạn phát triển như vậy. Do đó, trong thời đại ngày nay, vấn đề bỏ qua sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội ở các nước chậm phát triển là vấn đề hợp quy luật phát triển của lịch sử. V.I.Lênin viết: “Việc tổ chức các hình thức hợp tác của tiểu nông, coi như những hình thức quá độ từ tiểu nông nghiệp hàng hóa tiến lên nông nghiệp cộng sản chủ nghĩa thì cũng thế, chỉ vừa mới bắt đầu”[2].

Mặt khác, V.I.Lênin cũng chỉ rõ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp diễn. Tính chất của cuộc đấu tranh ấy không kém phần gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Cuộc đấu tranh ấy diễn ra trong điều kiện mới, dưới hình thức mới, trong mọi điều kiện của đời sống xã hội. Người khẳng định: “Bước quá độ này tất nhiên là rất dài. Dùng những biện pháp lập pháp hay hành chính hấp tấp và không thận trọng, thì chỉ làm cho bước quá độ đó kéo dài thêm và chỉ thêm khó khăn cho nó mà thôi”[3]. Do đó, cần phải chống mọi biểu hiện nôn nóng, chủ quan, duy tâm, duy ý chí hoặc bi quan, dao động mất phương hướng trong thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộ


[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 39, Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” (1919), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.309

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 39, Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” (1919), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.312

[3] V.I.Lênin toàn tập, Tập 39, Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản” (1919), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.316

Sắp xếp lại tổ chức bộ máy: Địa phương “vừa chạy vừa xếp hàng”

 

Tiếp sau hành động quyết liệt trong tinh gọn tổ chức bộ máy ở cấp Trung ương, các địa phương đang đẩy mạnh tiến trình sắp xếp lại tổ chức, tinh gọn bộ máy theo gương Trung ương với tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”

Nhiều địa phương hoàn thành sắp xếp

Ngay sau khi Trung ương hoàn thành việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đặc biệt là sau khi Chính phủ được tổ chức lại chỉ còn 17 bộ và cơ quan ngang bộ, các địa phương trên cả nước cũng đẩy mạnh tiến trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy theo mô hình tương ứng.

Cụ thể, Hà Nội đã tiến hành hợp nhất Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính thành Sở Tài chính; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường thành Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ thành sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành Sở Nội vụ; Sở Xây dựng và Sở Giao thông vận tải thành Sở Xây dựng.

Cùng với đó, Ban Quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội được hợp nhất thành Ban Quản lý Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp, được tổ chức theo mô hình tổ chức hành chính; Sở Ngoại vụ được sáp nhập vào Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố.

Đồng thời, Hà Nội cũng thành lập Sở Dân tộc và Tôn giáo trên cơ sở Ban Dân tộc và tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo từ Sở Nội vụ.

Sau khi sắp xếp lại, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội có 25 đơn vị đầu mối, giảm 12 đơn vị, tỷ lệ giảm là 32%; Sở Khoa học và Công nghệ còn 12 đầu mối, giảm 9 đầu mối, tỷ lệ giảm là 42,86%; Sở Nội vụ còn 22 đầu mối, giảm 7 đầu mối, tỷ lệ giảm là 24%; Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố còn 13 đầu mối, giảm 4 đầu mối, tỷ lệ giảm đạt 23,5%; Sở Xây dựng còn 23 đầu mối, giảm 7 đầu mối, tỷ lệ giảm là 23,3%; Sở Dân tộc và Tôn giáo có 4 đầu mối, giảm 3 đầu mối, tỷ lệ giảm là 43%; Ban Quản lý Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp có 11 đầu mối.

Như vậy, trước khi sắp xếp, Hà Nội có 21 cơ quan chuyên môn, 2 tổ chức hành chính. Sau khi sắp xếp, Hà Nội còn 15 cơ quan chuyên môn, 1 tổ chức hành chính, giảm 6 sở (tỷ lệ giảm là 29%) và giảm 1 tổ chức hành chính (tỷ lệ giảm là 50%).

Tương tự như vậy, thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn thành việc sắp xếp lại bộ máy hành chính, giảm còn 16 sở so với 21 sở như trước (tỷ lệ giảm là 23,8%). Việc sắp xếp lại tổ chức bộ máy cũng đã được thực hiện ở nhiều tỉnh, thành phố khác.

Để quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy được thuận lợi, rất nhiều cán bộ, công chức, viên chức đã tự nguyện xin nghỉ hưu trước tuổi. Chẳng hạn, Hải Phòng có 34 cán bộ lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng quản lý xin nghỉ hưu trước tuổi từ ngày 1-3 để tạo thuận lợi cho thành phố trong sắp xếp, bố trí cán bộ, trong đó có 2 người là ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, 1 Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng… Quảng Trị có 11 cán bộ giữ chức danh lãnh đạo chủ chốt thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý xin nghỉ hưu trước tuổi để đáp ứng yêu cầu sắp xếp, tinh gọn bộ máy.

Quy định mới về cơ quan chuyên môn hành chính cấp tỉnh

Trên cơ sở kết quả sắp xếp tổ chức bộ máy ở Chính phủ và thực tiễn sắp xếp tổ chức bộ máy ở các địa phương, ngày 28-2, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 45/2025/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ủy ban nhân dân cấp huyện.

Theo đó, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tổ chức thống nhất 12 sở, gồm: Sở Nội vụ; Sở Tư pháp; Sở Tài chính; Sở Công Thương; Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Xây dựng; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng Ủy ban nhân dân. Có 4 sở đặc thù được tổ chức ở một số địa phương, gồm: Sở Ngoại vụ; Sở Dân tộc và Tôn giáo; Sở Du lịch; Sở Quy hoạch - Kiến trúc được thành lập ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Nghị định 45/2025/NĐ-CP cũng quy định rõ mỗi tỉnh được tổ chức không quá 14 sở, riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức không quá 15 sở. Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được quyết định việc thành lập, tổ chức lại, thay đổi tên gọi, giải thể sở, bảo đảm phù hợp với đặc thù của địa phương, quy định của Luật Thủ đô và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Cơ cấu tổ chức của sở gồm các phòng chuyên môn, nghiệp vụ; thanh tra sở (nếu có), văn phòng sở (nếu có), chi cục và tổ chức tương đương (nếu có), đơn vị sự nghiệp công lập (nếu có).

Phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc sở được thành lập để tham mưu về quản lý nhà nước với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của sở; yêu cầu về khối lượng công việc phải bố trí tối thiểu 7 biên chế công chức với phòng thuộc sở của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tối thiểu 6 biên chế công chức với phòng thuộc sở cấp tỉnh loại I, 5 biên chế công chức đối với phòng thuộc sở cấp tỉnh loại II và loại III.

Văn phòng sở được thành lập theo tiêu chí về khối lượng công việc tương tự phòng thuộc sở. Trường hợp không thành lập văn phòng thuộc sở thì nhiệm vụ của văn phòng được giao cho một phòng chuyên môn thực hiện.

Tiêu chí thành lập chi cục và tổ chức tương đương thuộc sở là có đối tượng quản lý về chuyên ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của sở theo quy định của pháp luật chuyên ngành; được phân cấp, ủy quyền để quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quản lý nhà nước về chuyên ngành, lĩnh vực; khối lượng công việc yêu cầu phải bố trí tối thiểu 12 biên chế công chức…

Những vấn đề đặt ra trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy

Tương tự như đợt sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019-2021, các vấn đề đặt ra trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy hành chính đang nảy sinh một số vấn đề cần giải quyết.

Một là tình trạng cấp phó và cán bộ, công chức, viên chức dôi dư. Nhiều cơ quan có số lượng cấp phó nhiều hơn so với quy định. Để giải quyết vấn đề này, các địa phương đang thực hiện khuyến khích cán bộ đủ điều kiện thì nghỉ hưu trước tuổi, đồng thời thực hiện bước đệm, chấp nhận có số lượng cấp phó nhiều hơn quy định trong một khoảng thời gian nhất định để dồn dịch, sắp xếp, đưa số lượng cấp phó trở về đúng quy định. Giải quyết số lượng biên chế dôi dư cũng được thực hiện theo cách thức tương tự.

Hai là có nhiều trụ sở làm việc dôi dư cần xử lý để tránh lãng phí nguồn lực. Chẳng hạn, sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 44 cơ sở nhà, đất của 31 đơn vị dôi dư, gồm trụ sở làm việc và tài sản kết cấu hạ tầng. Đây cũng là vấn đề không đơn giản để giải quyết, bởi quy định về xử lý tài sản công dôi dư rất chặt chẽ và nhiều thủ tục, đòi hỏi nhiều thời gian để xử lý. Để hướng dẫn các địa phương giải quyết vấn đề này, Chính đã ban hành Nghị định số 50/2025/NĐ-CP ngày 28-2-2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

Ba là những tác động khách quan trong quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, bộ phận chuyên môn, nhất là trong quá trình di chuyển trụ sở làm việc. Các địa phương cần đề ra một lộ trình, thời hạn cụ thể cho việc di chuyển trụ sở, ổn định nơi làm việc để bảo đảm việc phục vụ người dân, doanh nghiệp được thông suốt.

Bốn là tác động về mặt tâm tư, tình cảm với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đây là nội dung rất cần sự quan tâm sát sao và có giải pháp thích hợp từ cán bộ lãnh đạo địa phương, từng cơ quan, sở ngành để sớm ổn định tình hình, đưa mọi việc trở lại với nhịp hoạt động bình thường.

 

Trò “chọc gậy” lỗi thời và thiển cận

 

Trong quá trình tiếp tục triển khai chính sách, đường lối đối ngoại và gặt hái thêm nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, chúng ta cần tiếp tục cảnh giác và chủ động đập tan mọi chiêu trò nhằm phá bĩnh quan hệ giữa Việt Nam với các nước cũng như các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Lâu nay, các thế lực phản động vẫn “chọc ngoáy” quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ bằng các luận điệu tràn lan trên mạng xã hội đại loại như: Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề dân chủ, nhân quyền. Thế nhưng, khi chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã không còn phát huy tác dụng, họ chuyển sang chống phá bằng cách khai thác và xuyên tạc những chuyển động trong quan hệ hai nước. Nhìn thấy quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển tốt đẹp lên thì họ cố nặn ra những bài viết tỏ rõ sự hậm hực, còn khi mối quan hệ ấy nảy sinh vướng mắc thì họ hả hê, tha hồ tung ra những phân tích, đánh giá mang tính chủ quan và hết sức vô căn cứ.

Chẳng hạn, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ấy vậy mà một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân. Tổ chức này rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.

Trước hết, phải khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy...” được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”.

Việc Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện hồi tháng 9-2023 đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng như: Chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, giao lưu nhân dân, văn hóa, năng lượng, môi trường, y tế... Trong đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam.

Rõ ràng, nếu như Việt Nam không ổn định về chính trị-xã hội, nếu mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.

Đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như nhân quyền, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Các hoạt động này nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, bởi góp phần giúp hai nước chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác.

Cũng chính vì vậy mà mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại 3 quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.

Hơn thế nữa, chính quyền Hoa Kỳ thực tế chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đồng thời, đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để “chĩa mũi dùi” vào quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thực chất chỉ là một chiêu trò chống phá lỗi thời và thiển cận.

Năm 2025 chứng kiến thêm một dấu mốc mới trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ khi hai nước kỷ niệm 30 năm bình thường hóa quan hệ. Sẽ ý nghĩa hơn nhiều khi trong thời điểm quan trọng này, giới lãnh đạo, người dân hai nước tiếp tục thể hiện sự ủng hộ và nỗ lực duy trì, thúc đẩy những lĩnh vực hợp tác vốn được coi là “xương sống” của quan hệ song phương. Cùng với đó, dư luận hai nước cần nhận thức đúng về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và kịp thời phản bác lại những luận điệu, hành động “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển và còn nhiều tiềm năng phát triển này.

 

Cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I.Lênin


Sau khi đập tan bọn phản cách mạng và bọn can thiệp, đất nước bước vào giai đoạn của công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội mà V.I.Lênin là người động viên và tổ chức. Trong giai đoạn này các tác phẩm lý luận và các bài phát biểu của V.I.Lênin đã khái quát về mặt lý luận và thực tiễn công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế, kinh nghiệm của quần chúng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống mới. Những khái quát đó đã được V.I.Lênin nêu thành những luận điểm khoa học trong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga, bao gồm nhiều nội dung quan trọng.

Ngay đầu năm 1920, V.I.Lênin đã nêu ra tư tưởng xây dựng kế hoạch kinh tế quốc dân dài hạn. Điểm mấu chốt trong chính sách kinh tế của V.I.Lênin nêu lên trong thời kỳ này trước hết là vấn đề tư liệu sản xuất. V.I.Lênin cho rằng: cần phải xã hội hóa những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Tiến hành xã hội hóa tư liệu sản xuất bằng cách tước đoạt triệt để tư liệu sản xuất của giai cấp bóc lột như nhà máy, xí nghiệp, ruộng đất. Người viết: Có toàn quyền tức là phải có quyền đối với toàn bộ ruộng đất, tất cả các ngân hàng, tất cả các nhà máy. Một người dù ít biết rõ kinh nghiệm lịch sử và các tài liệu khoa học về mối liên hệ giữa chính trị và kinh tế đi nữa, cũng không thể quên cái chi tiết” “nho nhỏ đó được[1].

Mặt khác, trong các biện pháp phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế. Sử dụng các chuyên gia tư sản trong phát triển một số ngành kinh tế của đất nước. Tô nhượng, một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng được V.I.Lênin chú trọng sử dụng.

Trong chính sách kinh tế, V.I.Lênin chủ trương phát triển cả kinh tế nông nghiệp và kinh tế công nghiệp. Sự phối hợp và hỗ trợ nhau, hợp tác với nhau của hai lĩnh vực sản xuất này sẽ tạo điều kiện để cả công nghiệp và nông nghiệp cùng phát triển.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, chủ trương của V.I.Lênin là cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền sản xuất nông nghiệp. Tư liệu sản xuất chủ yếu như đất đai phải được xã hội hóa. Tổ chức cho nông dân vào làm ăn trong các nông trang tập thể. Trong bài báo “Bàn về chế độ hợp tác xã” viết tháng 01 năm 1923, V.I.Lênin chỉ rõ những luận điểm để xây dựng hợp tác xã theo con đường xã hội chủ nghĩa, đó là phải xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết, nâng cao trình độ văn hóa, nhận thức cho nông dân; tổ chức các hình thức hợp tác xã phù hợp theo nguyên tắc tự nguyện; giai cấp công nhân cần tham gia tích cực giúp đỡ nông dân trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn…

Trong kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội, một vấn đề được V.I.Lênin quan tâm sâu sắc là vấn đề phát triển, xây dựng một nền công nghiệp hiện đại mà nội dung cốt lõi của nó là xây dựng đại công nghiệp cơ khí và điện khí hóa toàn quốc, coi đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Những nội dung trên được trình bày trong: “Sơ thảo kế hoạch công tác khoa học và kỹ thuật” viết tháng 4 năm 1918. Theo đó, V.I.Lênin đặc biệt coi trọng và đánh giá cao vai trò của điện khí hóa, người cho rằng đó là cương lĩnh thứ hai của đảng cộng sản, là một kế hoạch xây dựng kinh tế vĩ đại nhất. Muốn có một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển cả về công nghiệp và nông nghiệp, điều trước tiên phải làm là điện khí hóa. V.I.Lênin nhấn mạnh: chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa toàn quốc. Từ cuối năm 1920, tư tưởng điện khí hóa của V.I.Lênin bắt đầu được thực hiện và từng bước thu được những thắng lợi quan trọng.

Trong kế hoạch xây dựng kinh tế, V.I.Lênin chú trọng đến việc phải áp dụng triệt để những thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, vấn đề tổ chức, quản lý lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra năng suất lao động cao của chủ nghĩa xã hội. Theo V.I.Lênin chủ nghĩa xã hội chỉ có thể chiến thắng chủ nghĩa tư bản khi đưa ra một kiểu tổ chức sản xuất xã hội có năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản.

Đến cuối năm 1920, tuy nước Nga đã hoàn toàn chiến thắng cuộc cấm vận, bao vây của chủ nghĩa đế quốc và cuộc nội chiến ác liệt , nhưng lại rơi vào một hoàn cảnh mới không kém phần gay go, phức tạp. Mùa màng thất bát, đói kém, thiếu nguyên liệu, nhiên liệu cho công nghiệp, công nhân không có việc làm, thất nghiệp nhiều và ở một số nơi, bọn Culắc nổi loạn… Trong hoàn cảnh đó, V.I.Lênin đã đưa ra “chính sách kinh tế mới” với nội dung chủ yếu là thay việc trưng thu lương thực thừa bằng thuế lương thực. Mặt khác, chính sách của V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, khôi phục lại các hợp tác xã, các nông trang…

Khi phân tích bất cứ vấn đề xã hội nào, phải đặt trong bối cảnh lịch sử nhất định, vì chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, người ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước khác. V.I.Lênin viết: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”[2].

Như vậy, cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I.Lênin, cả trong thời kỳ “chính sách kinh tế mới” là sự thống nhất và phát triển những tư tưởng về xây dựng kinh tế của chủ nghĩa xã hội được người vạch ra từ mùa xuân năm 1918. Những tư tưởng ấy góp phần làm phong phú và sâu sắc thêm những tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.



[1] V.I.Lênin toàn tập, Tập 34, Những người bôn‐sê‐vích sẽ giữ được chính quyền hay không?” (1918), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.418

[2] V.I.Lênin toàn tập, Tập 30, Về một sự biếm họa chủ nghĩa Mác” (1924), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.160