Thứ Năm, 5 tháng 6, 2025

Tác hại khôn lường của những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD

 

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TA

 


Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nền tảng đó vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu sắc. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều lệ Đảng năm 1935 khẳng định: “Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình của Quốc tế Cộng sản”. Điều lệ của Đảng năm 1951 chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ănghen - Lênin - Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) của Đảng xóa bỏ cụm từ "Ănghen, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", Nghị quyết đại hội xác định: “Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991, không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những nguy cơ và thách thức lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh: Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Để xây dựng và phát triển đất nước không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên thực tế con đường này đã khẳng định được sự thành công rõ nét, thể hiện qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của công cuộc đổi mới.

Nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những thời điểm quyết liệt, có tính chất sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém phần cam go, phức tạp, nhưng Đảng ta vẫn đứng vững.  Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị

 Gần đây, lợi dụng việc Đảng ta đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá nguy hiểm. Do đó, cần nhận diện rõ bản chất của những luận điệu đó để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Hiện nay, trên một số trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch đưa ra nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị mà Việt Nam đang tiến hành rất ráo riết. Những luận điệu đó tập trung vào 3 nhóm vấn đề sau:

Một là, có một số luận điệu cho rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam là “ý muốn chủ quan”, “ý muốn cá nhân” của một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Có một số kẻ còn cáo buộc rằng “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”, giải quyết “đấu đá nội bộ” hay đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”... Do đó, chủ trương này được tiến hành rất nhanh chóng.

Hai là, một số luận điệu khác cho rằng việc tinh gọn tổ chức bộ máy của Việt Nam chỉ là trò “đánh trống khua chiêng”, tuy được tiến hành rầm rộ nhưng “không thực chất” bởi “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Do đó, họ cáo buộc rằng “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”...

Ba là, từ thực tế sau khi tinh gọn, sáp nhập, một số đơn vị có số lượng cấp phó tăng lên nhiều hơn so với quy định, có quan điểm cho rằng “Càng tinh gọn lại càng phình ra”... Vì thế, có phần tử cơ hội chính trị còn võ đoán rằng chủ trương tinh gọn này trước sau cũng “chết yểu”, rồi “đâu lại vào đấy” và bộ máy chính trị của Việt Nam luôn có sẵn những “khuyết tật không thể giải quyết”!

Đáng lo ngại hơn cả, không chỉ có những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài mà ngay chính một bộ phận cán bộ, đảng viên do mơ hồ về nhận thức, dao động về lập trường tư tưởng đã tỏ ra hoang mang, tin theo những luận điệu sai trái hoặc có thái độ hoài nghi, mất niềm tin vào chủ trương lớn của Đảng. Đây là những biểu hiện không thể xem thường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, sâu xa hơn là ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Do đó, mỗi cán bộ đảng viên và nhân dân cần tỉnh táo, cảnh giác để không mắc vào bẫy của chúng. Từ đó, xây dựng niềm tin, đồng thuận cao với chủ trương lớn cảu Đảng và dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.

Nhận diện, đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, phá hoại công tác cán bộ của Đảng trên không gian mạng

 

Công tác cán bộ của Đảng là một trong những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, chống đối thường xuyên nhắm đến hòng xuyên tạc, tô vẽ, bịa đặt… nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, nhất là trên không gian mạng và trong những thời điểm đất nước ta diễn ra các sự kiện kinh tế-chính trị-xã hội quan trọng, tần suất thông tin chống đối, xuyên tạc lại càng gia tăng mạnh mẽ…

Thời gian gần đây, lợi dụng việc Đảng ta triển khai công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2025-2030, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV, việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, cho một số cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác, nghỉ hưu hoặc xử lý kỷ luật, khởi tố đối với một số cán bộ có vi phạm đến mức phải xem xét, kỷ luật thì các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội… lại tiếp tục ra sức chống phá, họ tung tin thất thiệt, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phê phán, kích động công tác cán bộ của Đảng, với mưu đồ làm suy giảm niềm tin, kích động tinh thần chống đối của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng, Nhà nước…

Thủ đoạn của họ là tự suy diễn, suy đoán, dựng nên những câu chuyện mập mờ, thiếu rõ ràng, dựng nên chuyện về nhân vật này, nhân vật kia rồi đàm tiếu, suy luận…khẳng định rằng Đảng ta thế này, Đảng ta thế kia với âm mưu thâm hiểm là gây tâm lý nghi ngờ, kích động tư tưởng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; tiến tới hạ thấp uy tín của Đảng đối với nhân dân; phá hoại mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân…

Bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ, kích động… Đảng, Nhà nước, họ đẩy mạnh việc cổ xúy, vuốt ve cho tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; cho rằng công tác nhân sự, công tác cán bộ của Đảng là “không bài bản”, “áp đặt”, “vô nguyên tắc, thiếu minh bạch, mất dân chủ”; “ham sử dụng “cánh hẩu”, “hậu duệ”, ham sử dụng đối tượng “cơ hội” chạy chức, chạy quyền”; “đặt lợi ích nhóm lên trên lợi ích quốc gia - dân tộc”; “không coi trọng sử dụng đúng hiền tài, “nguyên khí” của quốc gia”, từ đó họ kết luận rằng cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo cũng “không xứng đáng là “công bộc”, là “đầy tớ trung thành của nhân dân”…

Những luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn đó không thể phủ nhận rằng trong thực tế rằng công tác cán bộ nói chung, công tác nhân sự phục vụ Đại hội đảng các cấp luôn là vấn đề được Đảng ta hết sức quan tâm, coi trọng, luôn được tiến hành hết sức bài bản, thận trọng, theo đúng các nguyên tắc của Đảng, bảo đảm công tâm, minh bạch, chọn đúng người, bố trí đúng việc… mà những thành tựu trong công tác phát triển kinh tế-xã hội nói chung, trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong suốt thời gian qua đã luôn chứng minh Đảng ta chỉ có một lợi ích đó là lợi ích của nhân dân, lợi ích của dân tộc, để nước ta có được tiềm lực, cơ đồ như ngày hôm nay, những vi phạm của một số cá nhân chỉ là những vi phạm mang tính cá thể, không thể mang tính đại diện và thực tế các vi phạm đã, đang và sẽ bị phát hiện, xử lý kịp thời theo nguyên tắc “Không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Do đó, trước những luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, rất cần được mỗi người, mỗi nhà chủ động nhận diện, tích cực lên án, đấu tranh, bác bỏ, đồng thời tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, góp phần xây dựng Đảng ta, đất nước ta, nhân dân ta ngày càng ấm no, hạnh phúc, giàu mạnh, văn minh và phát triển./.

 

PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẶC SẮC CỦA ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO “CÂY TRE VIỆT NAM” TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY


        Đường lối đối ngoại là một bộ phận trong đường lối chính t rị của Đảng, nhằm xác lập vị thế, vai trò của nước ta trong quan hệ quốc tế. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, đường lối đối ngoại được bổ sung và phát triển phù hợp, nhưng nhìn chung đặc điểm cơ bản nhất của đường lối đối ngoại luôn mang đậm giá trị bản sắc văn hóa Việt Nam, là sự kế thừa, phát huy giá trị truyền thống và tiếp thu tinh hoa nhân loại. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, để giữ vững định hướng phát triển đất nước, góp phần vào sự nghiệp hòa bình và tiến bộ trên thế giới, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại cho phù hợp với thực tiễn.

Bài 1: Giá trị đặc sắc trong đường lối đối ngoại, ngoại giao “Cây tre Việt Nam”

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, công tác đối ngoại, ngoại giao không chỉ góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn trực tiếp tham gia vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, đưa đất nước sánh vai cùng bạn bè quốc tế.

Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác đối ngoại, ngoại giao, ngay từ ngày đầu giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ”. Người luôn nhất quán quan điểm đối ngoại dựa trên 3 trụ cột chính: độc lập, tự chủ, tự cường trong quan hệ với các nước; hoà bình và hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.

Kế thừa, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước qua các thời kỳ, Đảng ta đã đề ra đường lối, chủ trương, quan điểm đối ngoại, ngoại giao đúng đắn, góp phần hiện thực hóa quan điểm của Người. Hiện nay, Việt Nam đã là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, được bạn bè quốc tế tin tưởng, chưa bao giờ đất nước ta có được “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đối ngoại, ngoại giao có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhận thức rõ điều đó, tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 14/12/2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại và mang đậm bản sắc dân tộc - trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”. Đây vừa là sự kế thừa, phát triển quan điểm, tư tưởng ngoại giao của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, đồng thời là định hướng cơ bản cho công tác đối ngoại, ngoại giao của Đảng, góp phần tạo dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, cũng như đóng góp vào hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới.

Hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, hình tượng cây tre đã đi suốt chiều dài lịch sử như một biểu tượng sáng ngời cho cốt cách con người và bản sắc văn hóa Việt Nam. Với những đặc tính: thân mảnh mai, nhưng dẻo dai, bền bỉ; sức sống mãnh liệt cho dù mưa dông hay bão lửa; tre không đơn độc mà lớp trước, lớp sau tạo nên thành lũy; rễ tre luôn bám chặt vào lòng đất, cành lá vươn cao. Chính vì vậy, từ lâu tre đã trở thành biểu tượng cho văn hóa và con người Việt Nam. Đó là nền văn hóa của một dân tộc kiên cường, bất khuất, luôn có tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng, tương thân, tương ái, trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình; cần cù, sáng tạo trong xây dựng cuộc sống, bất khuất, kiên trung trong đấu tranh bảo vệ độc lập.

Có thể thấy, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam cũng tương đồng với hình tượng cây tre Việt Nam, đó là mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái, nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. Trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam là một nước nhỏ, luôn chịu sự nhòm ngó, xâm lăng của các thế lực ngoại bang, nhưng nhờ có đường lối đối ngoại, ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt, ông cha ta không những giữ vững độc lập mà còn có điều kiện mở mang bờ cõi, đưa đất nước ngày càng phát triển.

Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, quốc gia với quốc tế. Ngoại giao là phương tiện để thế giới hiểu biết về mỗi quốc gia và để mỗi quốc gia hiểu về thế giới, từ đó điều chỉnh chính sách hướng đến sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự phát triển chung của quốc tế. Mỗi quốc gia khác nhau, thì đường lối ngoại giao cũng khác. Song bất kỳ nền ngoại giao nào cũng lấy cái gốc là văn hóa, mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Có lẽ điều đó, hình tượng cây tre đã làm nên bản sắc ngoại giao hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Đó là nền ngoại giao với sức mạnh đoàn kết của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nền ngoại giao luôn có sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và linh hoạt uyển chuyển, biết mình, biết người, nhưng khi cần thiết thì luôn kiên quyết, kiên trì để giành thắng lợi.

Lịch sử phát triển của các triều đại phong kiến Việt Nam, từ Triệu, Đinh, Lý, Trần, Lê… ngoại giao luôn thể hiện sâu sắc bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam, đó là truyền thống tự lực tự cường, tìm mọi biện pháp giữ hòa hiếu bang giao để phát triển đất nước, để giành hạnh phúc cho muôn đời cháu con. Nhưng khi đất nước lâm nguy thì kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập; khi kẻ thù bị quy phục thì sẵn sàng mở lượng hiếu sinh... Truyền thống đó luôn được bồi đắp, hội tụ rồi lan tỏa vào trong lòng dân tộc, thể hiện sâu sắc truyền thống của một dân tộc yêu chuộng hòa bình. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, bản sắc ngoại giao đó được soi đường bởi chủ nghĩa Mác - Lênin, được nâng lên tầm cao mới với tư tưởng cốt lõi: “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “ngũ tri”, biết nhu, biết cương, giúp bạn là tự giúp mình, vì hòa bình, hợp tác và sự tiến bộ của nhân loại./.


 

Âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. 

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này.

TỪ LỊCH SỬ NGÀN NĂM DỰNG NƯỚC ĐẾN TRIẾT LÝ “NGOẠI GIAO CÂY TRE”

 

Từ bao đời nay, cây tre luôn gắn bó với cộng đồng dân tộc Việt Nam, mang trong mình cốt cách riêng của nền văn hóa, con người Việt Nam: kiên cường mà mềm dẻo, bản lĩnh mà linh hoạt, dung dị mà sáng tạo... Từ hình tượng và sự gần gũi của cây tre đã hình thành triết lý “Ngoại giao cây tre Việt Nam”. Đó là nền ngoại giao độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế, kiên trì về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược, thủy chung, chính nghĩa, vì hòa bình, hợp tác và tiến bộ của nhân loại.

Từ đời sống bình dị đến triết lý ngoại giao

Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, cây tre là biểu trưng của bản lĩnh quật cường, ý chí bất khuất của con người Việt Nam. Từ thuở hồng hoang, những ý niệm về quốc gia - dân tộc của Việt Nam được hình thành từ sự cố kết cộng đồng trải qua hàng nghìn năm trường kỳ phòng, chống thiên tai và địch họa. Cây tre tạo nên những lũy, thành, giúp cha ông ta bảo vệ làng quê trước thử thách của thiên nhiên và bảo vệ đất nước khỏi giặc ngoại xâm. Thấm đượm bản sắc và văn hóa Việt Nam, hình tượng cây tre và ngoại giao Việt Nam rất gần gũi nhau. Ngoại giao là sự giao thoa của chính trị - an ninh, kinh tế - xã hội và văn hóa, là sợi dây kết nối quá khứ với hiện tại, lịch sử và tương lai, đất nước với thế giới. Ngoại giao lấy cái gốc là văn hóa dân tộc và mang trong mình nội hàm văn hóa dân tộc. Điều đó đã được minh chứng trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc đã minh chứng ngoại giao là một trong số những thế mạnh vượt trội của Việt Nam, góp phần quan trọng giúp chúng ta giữ vững độc lập, chủ quyền, khẳng định vị thế trên trường quốc tế.

Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc, thực hiện phương châm sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Việt Nam đã và đang thực sự “là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đó là khởi điểm của quá trình hình thành, phát triển của nền ngoại giao Việt Nam từ khi Đảng lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, lập nước, hình thành nên trường phái ngoại giao của Việt Nam. Tới nay, “gốc tre” của ngoại giao Việt Nam nói riêng và đất nước nói chung đã bén rễ, vươn cành vững chắc hơn với những thành quả thật đáng tự hào, bất chấp giông tố của thời cuộc. Luôn luôn đề cao mục tiêu độc lập dân tộc, tinh thần hòa hiếu, hữu nghị, dùng ngoại giao để đẩy lùi xung đột, đưa đất nước tới hòa bình, phát triển. Với sự đóng góp của ngành Ngoại giao, chúng ta đã cho nhân dân thế giới thấy một Việt Nam với khát vọng hòa bình, kiên cường, bất khuất đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, phá thế bao vây cấm vận, đưa đất nước phát triển.

Trước năm 1986, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước ngoài hệ thống XHCN; gia nhập Liên hợp quốc và một số tổ chức kinh tế, xã hội khác. Tuy nhiên, giai đoạn này an ninh, chính trị thế giới xảy ra nhiều biến động, các nước XHCN rơi vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội. Trong nước, thiên tai liên tục xảy ra, hai đầu biên giới xảy ra chiến tranh, lại bị các nước thù địch bao vây, cấm vận. Trước tình hình này, tại Đại hội VI (tháng 12/1986), Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới. Trong đó, Đảng đã đánh giá lại cục diện thế giới để xác định đường lối, chính sách đối ngoại trong hoàn cảnh mới. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 07 quốc gia, đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (2023), Nhật Bản (2023) và Australia (2024). 12 nước Đối tác chiến lược và 12 nước Đối tác toàn diện. Việt Nam là tâm điểm của nhiều mạng lưới liên kết kinh tế năng động với hơn 230 đối tác thương mại, 60 hiệp định thương mại tự do sâu rộng với nhiều phương diện hợp tác. Qua đó sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Vậy nên, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khái quát quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc là trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam” đã truyền đi thông điệp mạnh mẽ về một Việt Nam với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.

Triết lý ngoại giao cây tre nâng tầm vị thế đất nước

Bám sát đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết, kết luận, chỉ thị về đối ngoại của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các hoạt động đối ngoại, nhất là đối ngoại cấp cao đã diễn ra sôi động, rộng khắp các châu lục và tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng trong thời gian qua, “ngoại giao cây tre Việt Nam” kiên định về nguyên tắc và mục tiêu song đã uyển chuyển, chủ động và linh hoạt về phương pháp thực hiện. Mục tiêu của chúng ta là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc, thực hiện đúng như lời dạy của Bác Hồ, đó là “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Nguyên tắc của chúng ta là “hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, mọi quốc gia, dù lớn hay nhỏ đều bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, quyền và lợi ích chính đáng của nhau, giải quyết bất đồng trên tinh thần hữu nghị, tuân thủ triệt để Hiến chương Liên hợp quốc và phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chúng ta cũng phản đối mọi hình vi bắt nạt, chính trị cường quyền, bao vây, cấm vận đơn phương; phản đối việc sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam tiếp tục được khẳng định tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng như ASEAN, Liên hợp quốc, Tiểu vùng Mê Công, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hội đồng Liên Nghị viện ASEAN (AIPA), Liên minh Nghị viện thế giới (IPU), Hội nghị của các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lần thứ 28 (Hội nghị COP-28), Diễn đàn cấp cao Vành đai và Con đường… Bên cạnh đó, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công nhiệm kỳ Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 77, thực hiện tốt chức trách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, Ủy ban Luật pháp quốc tế; đồng thời, được cộng đồng quốc tế tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế; tổ chức thành công các hội nghị quốc tế lớn, như Hội nghị Nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9, Hội nghị IPU về an ninh nguồn nước... Chúng ta không chỉ gia nhập WTO mà đã ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư; đàm phán, ký kết và thực thi 19 FTA song phương và đa phương, với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới; trong đó, 16 FTA đã có hiệu lực với hơn 60 đối tác, phủ rộng khắp các châu lục, với tổng GDP chiếm gần 90% GDP toàn cầu; đưa Việt Nam trở thành một trong những nước dẫn đầu khu vực về tham gia các khuôn khổ hợp tác kinh tế song phương và đa phương. Cũng chính nhờ thực thi hiệu quả các FTA thời gian qua đã giúp mở rộng, đa dạng thị trường, chuỗi cung ứng và sản phẩm xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, nhập khẩu tăng trưởng mạnh và cán cân thương mại được cải thiện rõ rệt theo hướng chuyển từ thâm hụt sang thặng dư. Năm 2023 là năm thứ 8 liên tiếp Việt Nam xuất siêu với mức thặng dư cao so với thời trước khi gia nhập WTO.

Trong quá trình thực hiện, “ngoại giao cây tre Việt Nam” linh hoạt, chủ động và uyển chuyển. Chúng ta kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông nhưng chúng ta không cực đoan để xảy ra xung đột. Mục tiêu cao nhất là của chúng ta là bảo vệ và giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, nhưng tránh đối đầu và xung đột vũ trang nếu đó không phải là giải pháp cuối cùng buộc phải làm, đảm bảo môi trường hòa bình và ổn định để phát triển. Trong quan hệ quốc tế luôn có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, đó là điều không thể tránh khỏi và cũng là quy luật sinh tồn. Có thể nói không quá rằng vị trí địa chiến lược của Việt Nam đã tự nó tạo cho Việt Nam luôn là một phần trong câu chuyện về quan hệ quốc tế, hẹp thì ở phạm vi khu vực Đông Nam Á, rộng hơn thì là châu Á-Thái Bình Dương hay Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Trong bối cảnh sự cạnh tranh và xung đột và lợi ích của các nước lớn trên thế giới sự linh hoạt trong “Ngoại giao cây tre Việt Nam” thời gian qua đã thực hiện diễn biến phức tạp bằng sự uyển chuyển, khéo léo và mềm dẻo trong quan hệ với từng nước, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và tiếng nói của tập thể để tạo thành sức mạnh chung. Hơn nữa, chúng ta còn tạo ra được mạng lưới lợi ích đan xen, lồng ghép giữa lợi ích quốc gia với lợi ích tổ chức khu vực và quốc tế, nhờ đó giúp chúng ta bảo vệ được lợi ích quốc gia.

Trên tinh thần bình đẳng, hài hòa lợi ích, chia sẻ khó khăn và tương trợ lẫn nhau, Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp thúc đẩy hợp tác, đóng góp có trách nhiệm vào các vấn đề chung của thế giới, như phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, gìn giữ hòa bình ở châu Phi, cử lực lượng hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ... Có thể nói, chưa bao giờ vị thế, uy tín và hình ảnh đất nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phát triển năng động, là bạn bè thủy chung, chân thành, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế lại nổi bật trên trường quốc tế như hiện nay. Tựu chung lại, “ngoại giao cây tre Việt Nam đã làm tốt được nhiệm vụ bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc là vì chúng ta đã thực hiện nhất quán “đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” trên tinh thần chủ động và tích cực.

Nhìn vào lịch sử dân tộc, trong suốt thời kỳ chiến tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong thời kỳ hoà bình, hoạt động đối ngoại luôn là một mặt trận có vai trò vô cùng quan trọng, góp phần tạo nên những thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; tạo lối, mở đường, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, khơi thông quan hệ với nhiều đối tác, mở ra cục diện mới cho công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện. Để hoàn thành các mục tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, đòi hỏi chúng ta phải kiên định về nguyên tắc và linh hoạt về sách lược trong thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm chủ quyền quốc gia; làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; quyết tâm xây dựng và phát triển một nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam hiện đại, mang đậm bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng.

 

MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TA

 

  

Nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ thống lý luận, là cơ sở khoa học và thực tiễn về xây dựng Đảng, về nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, về định hướng phát triển của Đảng, về mục tiêu đấu tranh cách mạng của Đảng. Nền tảng tư tưởng của Đảng là bộ phận quan trọng, là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nền tảng đó vừa mang tính cách mạng vừa có tính khoa học sâu sắc. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin” làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Điều lệ Đảng năm 1935 khẳng định: “Đảng Cộng sản Đông Dương, đội tiền phong duy nhất của vô sản giai cấp, tranh đấu để thu phục đa số quần chúng vô sản, lãnh đạo nông dân lao động và tất thảy quần chúng lao động khác, chỉ huy họ làm cách mạng phản đế và điền địa (mưu cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập, dân cày được ruộng đất, các dân tộc thiểu số được giải phóng), lập chính quyền Xô viết công nông binh, đặng dự bị điều kiện tranh đấu thực hiện vô sản chuyên chính, kiến thiết xã hội chủ nghĩa là thời kỳ đầu của cộng sản chủ nghĩa theo chương trình của Quốc tế Cộng sản”. Điều lệ của Đảng năm 1951 chỉ rõ: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ănghen - Lênin - Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ III (1960) của Đảng xóa bỏ cụm từ "Ănghen, Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông", Nghị quyết đại hội xác định: “Đảng lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”. Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời, khẳng định: tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, năm 1991, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn về nền tảng tư tưởng của Đảng; thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng trong Cương lĩnh năm 1991, không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những những luận điệu sai trái, thù địch đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, năm 2016, Đảng ta xác định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Trong bối cảnh hiện nay, trước những nguy cơ và thách thức lớn đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã nhấn mạnh: Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Để xây dựng và phát triển đất nước không còn con đường nào khác ngoài con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, trên thực tế con đường này đã khẳng định được sự thành công rõ nét, thể hiện qua các thắng lợi của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và thành tựu của công cuộc đổi mới.

Nền tảng tư tưởng đã được Đảng xác định sẽ tiếp tục soi sáng đường đi tới cho cách mạng Việt Nam. Nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đặt lên hàng đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên trì, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những thời điểm quyết liệt, có tính chất sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém phần cam go, phức tạp, nhưng Đảng ta vẫn đứng vững.  Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn đang diễn ra với những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch và phản động đang ra sức đẩy mạnh chống phá Đảng ta, đặc biệt là trên mặt trận tư tưởng, chính trị; một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, nhận thức không đúng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, càng khiến cho việc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch gặp nhiều khó khăn, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm bảo vệ đường lối, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác phòng ngừa, đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã nhấn mạnh: Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII đã ra Kết luận số 21 về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh những mặt tốt của Đảng, Kết luận cho rằng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật... chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”.

Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, việc tăng cường đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi khách quan, nhiệm vụ cấp bách trước mắt, đồng thời cũng là nhiệm vụ thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị. Hết sức coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng. Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”, “…không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên; thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. “Tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn Việt Nam. Do đó, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng; đồng thời, căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng luôn kiên trì nền tảng tư tưởng đã xác định, bản lĩnh vững vàng để lãnh đạo nhân dân đi tiếp con đường đã lựa chọn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; luôn chủ động phòng ngừa, phê phán nhận thức lệch lạc; kiên quyết đấu tranh với quan điểm sai trái và thù địch. Thực tiễn cho thấy, dù phong trào cách mạng vô sản và công nhân quốc tế luôn có những bước thăng trầm, luôn phải đối mặt với sự chống phá của các thế lực thù địch nhưng Đảng vẫn luôn sáng suốt, kiên trì và kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, thù địch có ý nghĩa quyết định. Trung ương, Bộ Chính trị luôn luôn có định hướng đúng đắn về công tác tư tưởng, định hướng cho thời kỳ dài và phương hướng cụ thể của từng giai đoạn. Đó là cơ sở rất quan trọng để các cấp, các ngành, các cơ quan chuyên môn, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, lý luận kịp thời đề xuất bước đi, giải pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Thường xuyên tuyên truyền đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, huy động sức mạnh tổng hợp của cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng phát huy vai trò, thế mạnh của các phương tiện truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong việc tuyên truyền những đường lối, chủ trương của Đảng; đồng thời có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, chặt chẽ của các tổ chức đảng các cấp. Đảng không ngừng phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là phương thức hữu hiệu để huy động sức mạnh tổng hợp tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”.

Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,...

Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam với cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng hiện nay

Quân đội là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, nhà nước và nhân dân, đồng thời là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Để quân đội ta tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi trước hết phải giữ vững định hướng chính trị - tư tưởng, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tăng cường sức đề kháng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tăng khả năng miễn dịch để ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của những hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, tích cực phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ quân đội.

Trong tình hình hiện nay cần tăng cường hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ Quân ủy Trung ương đến các chi bộ đều có trọng trách lãnh đạo tiến hành công tác đảng, công tác chính trị nhằm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất trí và tin tưởng cao đối với sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm tư tưởng sai trái, cơ hội thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; tích cực phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, chiến sĩ.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay rất khó khăn và phức tạp, nhất là khi các thế lực thù địch ra sức công kích, bài xích những vấn đề cốt lõi làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này đòi hỏi phải có lực lượng hạt nhân thực sự có bản lĩnh vững vàng, có năng lực tư duy lý luận và trải nghiệm thực tiễn giữ vai trò chỉ đạo, định hướng và làm nòng cốt trong tổ chức đấu tranh. Đó là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp và lực lượng chuyên trách. Ngoài ra phải kể đến đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị; khoa học xã hội và nhân văn quân sự; cán bộ hoạt động trên các lĩnh vực xuất bản, văn hóa, nghệ thuật… Chỉ khi nào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp quan tâm sâu sắc, dành nhiều tâm huyết và trí tuệ đối với công tác tư tưởng, lý luận, vừa tăng cường chỉ đạo, vừa trực tiếp làm công tác tư tưởng, lý luận thì tổ chức đấu tranh của quân đội nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới thực sự có hiệu quả. Lãnh đạo, chỉ huy phải nắm vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận, thường xuyên và trực tiếp làm công tác tư tưởng, lý luận trong đơn vị, nhất là ở những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng, khi xử trí các tình huống chính trị - tư tưởng nhạy cảm và phức tạp trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta để phối hợp chặt chẽ đấu tranh của quân đội với đấu tranh của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Trong các chủ trương, giải pháp đấu tranh cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa phương châm: Chủ động tiến công, đoàn kết hiệp đồng, gắn kết chặt chẽ “xây” và “chống”, lấy “xây” là chính, dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn với cái tâm trong sáng để thuyết phục là chủ yếu, thể hiện sâu sắc tính nhân văn của “Bộ đội Cụ Hồ” trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay./.