Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

Miễn học phí là "luồng gió mới" động viên gia đình khó khăn yên tâm cho con em đến trường

 


Sáng 16/6, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân; Nghị quyết của Quốc hội về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi.

 

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN LÀ SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TỪ YÊU CẦU THỰC TIỄN

 

Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc vận dụng sáng tạo các tư tưởng của các nhà kinh điển Mác-Lênin vào thực tiễn của mỗi quốc gia luôn đóng vai trò quan trọng. Tư tưởng của V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước, sau thành công của Cách mạng Tháng Mười, Lênin đã đề xuất “Chính sách Kinh tế Mới” (NEP) nhằm thay thế “Chính sách Cộng sản thời chiến”. Trong chính sách này, ông nhấn mạnh vị trí và vai trò quan trọng của chủ nghĩa tư bản nhà nước như một công cụ chiến lược trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận linh hoạt trong thời kỳ quá độ, đã trở thành một nền tảng lý luận sâu sắc, đặc biệt đối với những quốc gia có nền kinh tế lạc hậu.

Ở Việt Nam, trong bối cảnh đổi mới từ năm 1986, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được lựa chọn là mô hình phát triển kinh tế nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với mục tiêu công bằng xã hội. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều thách thức lý luận và thực tiễn, đặc biệt trong việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và các thành phần kinh tế tư nhân. Việc nghiên cứu tư tưởng của Lênin về chủ nghĩa tư bản nhà nước và sự áp dụng vào mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ giúp hiểu rõ hơn vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các giải pháp phát triển bền vững.

Nghị quyết số 68-NQ/TW là một văn kiện mới và quan trọng của Bộ Chính trị, được Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 4/5/2025, với nội dung trọng tâm là phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết này đánh dấu bước ngoặt lớn trong tư duy và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam trong thời kỳ mới của kỷ nguyên mới đối với dân tộc Việt Nam./.

Chính thức xác lập mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp

 


Sáng 16/6, với 466/466 đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi). Luật gồm 7 chương, 54 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.

Khởi công xây dựng tượng đài “Bác Hồ với chiến sĩ Biên phòng”

 


Sáng 16-6, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ) phối hợp tổ chức Lễ khởi công xây dựng 6 công trình Tượng đài “Bác Hồ với chiến sĩ Biên phòng” tại 5 đồn biên phòng và Hải đội 2 Biên phòng.

Giữ gìn cốt cách của báo chí cách mạng Việt Nam

 


Chất “cách mạng” chính là phẩm chất cốt lõi của báo chí cách mạng Việt Nam, để phân biệt với các nền báo chí khác. Tuy nhiên, hiện nay, với những tác động mặt trái của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình hội nhập khiến độc giả nhận thấy có những cơ quan báo chí không thể hiện được phẩm chất cách mạng trong các tác phẩm báo chí của mình. Việc giữ gìn phẩm chất cách mạng là một yêu cầu tất yếu vì sự tồn tại và phát triển bền vững của báo chí cách mạng Việt Nam.

Quốc hội thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi)

 


Sáng 16-6, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi).

Lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp

 


Sáng 16-6, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Nhà giáo - đạo luật chuyên ngành đầu tiên quy định đầy đủ về vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ và các chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo.

Đại tướng Nguyễn Tân Cương thăm Trung tâm Fidel Castro Ruz tại Cuba

 


Trong khuôn khổ chuyến thăm chính thức Cuba của Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Quân đội nhân dân Việt Nam theo lời mời của Bộ các Lực lượng vũ trang cách mạng Cuba, sáng 15-6 (giờ địa phương), Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cùng đoàn đại biểu đã đến thăm Trung tâm Fidel Castro Ruz tại Thủ đô La Habana.

Sửa đổi, bổ sung 5/120 điều của Hiến pháp năm 2013

 


Sáng 16-6, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2025

100 NĂM BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM: GIỮ VỮNG VÀ PHÁT HUY BẢN CHẤT, TRUYỀN THỐNG CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Với sự ra đời của Báo Thanh niên ngày 21-6-1925 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, đến ngày 21-6-2025, báo chí cách mạng Việt Nam tròn 100 tuổi. Nhìn lại hành trình một thế kỷ, báo chí cách mạng Việt Nam tự hào đã có nhiều đóng góp, cống hiến cho sự nghiệp vẻ vang của Đảng và dân tộc. Nhân sự kiện này, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu bài viết của các chuyên gia về lịch sử, truyền thống của báo chí cách mạng Việt Nam cũng như những vấn đề đặt ra hiện nay để báo chí hoàn thành sứ mệnh, trách nhiệm cao cả của mình trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Tròn một thế kỷ kể từ khi tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam-tờ Thanh niên, do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, ra số đầu tiên ngày 21-6-1925, báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua hành trình lịch sử gắn liền với sứ mệnh thiêng liêng: Đồng hành cùng dân tộc, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. 

Tự hào một thế kỷ đồng hành cùng dân tộc

Giai đoạn 1925-1945 đánh dấu sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của báo chí cách mạng Việt Nam với vai trò là ngọn đuốc dẫn đường, thắp lên ánh sáng cách mạng giữa đêm trường nô lệ, thức tỉnh tinh thần yêu nước và gieo mầm tư tưởng giải phóng dân tộc vào trái tim hàng triệu người Việt. Báo Thanh niên cùng với hàng chục tờ báo ra đời sau đó ở cả trong và ngoài nước với các hình thức hoạt động đa dạng, từ công khai, nửa công khai đến bí mật... đã trở thành trường học cách mạng, truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin và vạch rõ con đường cách mạng cho quần chúng nhân dân. Báo chí giai đoạn này không chỉ tố cáo tội ác của thực dân, phong kiến mà còn thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng, giác ngộ quần chúng đứng lên đấu tranh.

Chính những trang báo in trên chất liệu thô sơ, được chuyền tay trong bí mật thời kỳ gian khó ấy đã góp phần quan trọng chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, định hướng hành động cách mạng, góp phần to lớn vào sự hình thành lực lượng chính trị, dẫn dắt phong trào đấu tranh làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ra đời Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Giai đoạn 1945-1954, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, báo chí cách mạng bước vào một thời kỳ mới với sứ mệnh mới: Bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và khơi dậy ý chí độc lập, tự cường của dân tộc. Các cơ quan báo chí như: Sự thật, Cứu quốc, Quân đội nhân dân, Nhân Dân... không chỉ đưa tin kịp thời từ các mặt trận, phản ánh tinh thần chiến đấu kiên cường của quân và dân ta mà còn cổ vũ phong trào thi đua kháng chiến, tăng gia sản xuất, giữ gìn trật tự xã hội trong vùng tự do. Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, việc tổ chức biên tập và xuất bản Báo Quân đội nhân dân ngay tại mặt trận đã phát huy vai trò của một “báu vật thông tin giữa chiến trường đỏ lửa”, truyền đi quyết tâm chính trị và kịp thời cổ vũ, biểu dương tinh thần chiến đấu dũng cảm của bộ đội ngay trong các chiến hào, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Giai đoạn 1954-1975, sau Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt hai miền, báo chí cách mạng đứng trước nhiệm vụ “hai trong một”: Phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở miền Bắc, báo chí là lực lượng chủ lực trong tuyên truyền đường lối cách mạng, khôi phục và phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, xây dựng hậu phương lớn miền Bắc để chi viện cho chiến trường miền Nam. Các cơ quan báo chí đã góp phần định hướng tư tưởng, giáo dục chủ nghĩa xã hội, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, động viên nhân dân đoàn kết vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của miền Bắc. Bên cạnh đó, báo chí cũng đi tiên phong trong việc đấu tranh chống tư tưởng bảo thủ, lệch lạc, giữ gìn sự trong sạch về chính trị, đạo đức trong Đảng và xã hội. Tại miền Nam, dòng báo chí “giải phóng” như Quân Giải phóng, Văn nghệ Giải phóng, Phụ nữ Giải phóng, Đài Phát thanh Giải phóng... đã phát huy vai trò chủ lực phản ánh khí thế nổi dậy của đồng bào miền Nam anh hùng, là công cụ tuyên truyền, vận động và lãnh đạo phong trào cách mạng. Trên chiến trường ác liệt, các nhà báo là những chiến sĩ thực thụ, lấy ngòi bút làm vũ khí, đã chiến đấu không ngơi nghỉ vì mục tiêu độc lập, tự do. Không ít người đã ngã xuống, nhưng những tác phẩm họ để lại còn sống mãi với những bài ký sự chiến trường, những bức ảnh ghi lại khoảnh khắc lịch sử, những bài xã luận hừng hực khí thế... làm rung động hàng triệu con tim, khơi dậy tinh thần yêu nước và khát khao giải phóng. Đặc biệt, trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, báo chí đã không chỉ là công cụ tuyên truyền, cổ vũ khí thế tiến công thần tốc của quân và dân ta mà còn là vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần tạo nên sự đồng thuận, thống nhất ý chí và niềm tin mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng, góp phần quan trọng làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975-đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất toàn vẹn non sông.

Giai đoạn 1975-1986, đất nước hoàn toàn thống nhất, báo chí cách mạng bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ trọng tâm là góp phần hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và thống nhất tư tưởng, ý chí, hành động giữa hai miền Nam-Bắc. Trong điều kiện đất nước phải đối mặt với nhiều thách thức, báo chí đã đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ quan điểm và đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc; là vũ khí tuyên truyền sắc bén, phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động; bảo đảm thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc của Tổ quốc, qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước và niềm tin vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội.

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay, báo chí là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập. Báo chí cách mạng trong thời kỳ này không chỉ tiếp tục giữ vững vai trò là công cụ tuyên truyền mà còn trở thành kênh thông tin phản biện xã hội và động lực thúc đẩy dân chủ hóa đời sống xã hội. Báo chí đóng vai trò then chốt trong việc truyền tải tư tưởng đổi mới của Đảng, cổ vũ các mô hình phát triển mới, khuyến khích tinh thần năng động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. Thông qua các loạt bài điều tra, phóng sự phản ánh thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội, báo chí đã tiếp thêm động lực cho cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về mọi mặt, ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong thúc đẩy dân chủ, phản biện xã hội và đấu tranh phòng, chống tiêu cực. Nhiều tờ báo, nhà báo đã dũng cảm phản ánh tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, góp phần tích cực vào công cuộc chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Nhiều chuyên mục, tuyến bài điều tra nổi bật của các cơ quan báo chí lớn như Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Thanh niên, Tuổi trẻ, Tiền phong, Lao động, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam... đã thực sự trở thành tiếng nói mạnh mẽ của công luận, tạo áp lực xã hội tích cực nhằm bảo vệ công lý và lợi ích hợp pháp của người dân.

Giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống cách mạng của báo chí Việt Nam

Một thế kỷ là quãng thời gian đủ dài để khẳng định về bản chất tốt đẹp của báo chí cách mạng Việt Nam, đó là phục vụ mục tiêu cách mạng, gắn bó chặt chẽ với lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Báo chí cách mạng không chỉ là tiếng nói của Đảng và nhân dân mà còn là ngọn lửa truyền cảm hứng, là trí tuệ thời đại và là niềm tự hào to lớn của nền văn hóa chính trị Việt Nam. Xuyên suốt 100 năm, báo chí cách mạng luôn giữ vững lập trường chính trị, bám sát đường lối của Đảng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Từ những tờ báo bí mật, sơ khai thời kỳ đầu đóng vai trò là “ngọn đuốc thức tỉnh dân tộc” đến cất lên tiếng nói phản biện xã hội, kiến tạo phát triển trong thời kỳ đổi mới, báo chí đang mạnh mẽ vươn mình, giữ vững bản sắc, bản lĩnh và tính chiến đấu với diện mạo của một nền báo chí cách mạng kiểu mới hiện đại trong thời kỳ chuyển đổi số, Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh-người thầy vĩ đại của nền báo chí cách mạng Việt Nam: “Nhiệm vụ của báo chí là phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, cũng là nhiệm vụ của báo chí ta”, báo chí cách mạng Việt Nam đã, đang và sẽ luôn phát huy vai trò tiên phong, nòng cốt trong tuyên truyền chính trị, định hướng tư tưởng và cổ vũ hành động cách mạng trong toàn dân, góp phần khơi dậy và lan tỏa các phong trào thi đua sản xuất, cổ vũ tinh thần chiến đấu trên mọi mặt trận.

Báo chí cũng là phương tiện hữu hiệu trong giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho các thế hệ con người mới Việt Nam. Trên bình diện đối ngoại, báo chí là “cầu nối thông tin” giữa Việt Nam và thế giới, góp phần vạch trần tội ác của quân xâm lược đối với nhân dân ta, tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế trong bối cảnh chiến tranh và tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong phổ biến kiến thức hội nhập, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra quốc tế trong thời kỳ mới.

Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về lịch sử 100 năm đầy gian khổ nhưng rực rỡ của báo chí cách mạng Việt Nam-một lịch sử trí tuệ được viết bằng mồ hôi, xương máu và cả sinh mệnh của những nhà báo-chiến sĩ. Với truyền thống vẻ vang đó, lớp lớp những người làm báo cách mạng giàu bản lĩnh, tâm huyết và trách nhiệm sẽ tiếp tục hoàn thành xuất sắc sứ mệnh là “nguồn sáng tin cậy”, góp phần định hướng dư luận, củng cố niềm tin xã hội, lan tỏa giá trị chân-thiện-mỹ và chung sức cùng cả nước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.
Ảnh: Cùng với Nhân Dân và Cờ Giải Phóng, Báo Dân Cày - tờ báo yêu nước đầu tiên của tỉnh Nam Định do đồng chí Trường Chinh sáng lập, tổ chức, chỉ đạo.
Môi trường ST.

GIỮ GÌN CỐT CÁCH CỦA BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Chất “cách mạng” chính là phẩm chất cốt lõi của báo chí cách mạng Việt Nam, để phân biệt với các nền báo chí khác. Tuy nhiên, hiện nay, với những tác động mặt trái của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, của quá trình hội nhập khiến độc giả nhận thấy có những cơ quan báo chí không thể hiện được phẩm chất cách mạng trong các tác phẩm báo chí của mình. Việc giữ gìn phẩm chất cách mạng là một yêu cầu tất yếu vì sự tồn tại và phát triển bền vững của báo chí cách mạng Việt Nam.

Khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khai sinh ra tờ báo Thanh niên vào ngày 21-6-1925, có thể hiểu rằng mong muốn của Người là tận dụng tối đa sức mạnh tuyên truyền, giác ngộ của báo chí để đưa cách mạng Việt Nam tới thành công. Vì Người biết báo chí có khả năng làm nên những thay đổi lớn lao, tác động tới nhân dân một cách trực tiếp, có thể biến những từ ngữ bình dị trên mặt báo thành sức mạnh vô song góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Như vậy, mục đích để ra đời báo chí cách mạng là để trở thành một lực lượng của cách mạng, một công cụ của cách mạng.

Có thể nêu ra một vài đặc trưng nổi bật của báo chí cách mạng Việt Nam là: Thứ nhất, báo chí cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền báo chí của nhân dân, vì lợi ích cao cả của nhân dân, vì hạnh phúc của nhân dân mà hoạt động, chịu sự giám sát của nhân dân.

Thứ hai, người làm báo cách mạng chính là người hoạt động cách mạng bằng phương tiện báo chí, thông qua hoạt động báo chí để tuyên truyền, cổ động, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi cương lĩnh, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, mỗi cơ quan báo chí đều được xác định tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ đặc thù của mình. 

Thứ tư, báo chí phải thực sự là diễn đàn của nhân dân, phản ánh được thực chất ý chí, trí tuệ, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thứ năm, báo chí là bộ phận cấu thành của văn hóa, mỗi bài báo là một sản phẩm văn hóa, phải có tính giáo dục, xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, xây dựng con người phát triển toàn diện.

Ra đời trước cả khi có Đảng ta, có Nhà nước ta, những thành tựu mà báo chí cách mạng Việt Nam đạt được trong 100 năm qua đã đóng góp vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đã tạc thành một tượng đài báo chí trong lòng xã hội và nhân dân. Nhiều lãnh tụ, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam là nhà báo, người làm báo, có các tác phẩm báo chí có ảnh hưởng lớn tới công chúng như: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đầu thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã dùng báo chí như một vũ khí sắc bén, là lực lượng tinh nhuệ để đấu tranh với những hạn chế, tiêu cực của xã hội, vận động sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị, toàn thể nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh này. Loạt tác phẩm báo chí “Những việc cần làm ngay” đăng trên Báo Nhân Dân đã thể hiện rõ tinh thần ấy.

Trong suốt thời kỳ đổi mới cho tới nay, báo chí cách mạng Việt Nam không chỉ giúp người dân cập nhật tốt thông tin mà còn góp phần định hướng dư luận xã hội, tăng cường niềm tin; đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; đấu tranh với các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động...

Cùng với mặt tích cực là chủ đạo đó, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, báo chí đã chịu những tác động của mặt trái xã hội thời kinh tế thị trường. Nếu soi chiếu với những đặc trưng, cốt cách của báo chí cách mạng Việt Nam thì có những vấn đề phải được suy tính nghiêm túc về thực trạng báo chí hiện nay, từ đó có giải pháp hữu hiệu.

Đó là, trong một giai đoạn, nhiều cơ quan báo chí, nhiều trang tin điện tử hoạt động như báo chí được sinh ra một cách tràn lan, với tôn chỉ, mục đích không thật vững chắc, cơ quan chủ quản buông lỏng quản lý, nguồn thu không ổn định. Từ đó đã phát sinh không ít hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu của một bộ phận cơ quan báo chí, nhà báo và những cộng tác viên tự xưng là “nhà báo” đối với các cơ quan, bộ, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và nhân dân. Có một thời kỳ, ngay cả trong các phiên họp Chính phủ cũng có những ý kiến phản ảnh những hành vi tiêu cực của một số cơ quan báo chí đã thành cản lực cho quá trình hoạt động của các cơ quan, bộ, ngành.

Rồi xuất hiện cả các nhà báo “đếm tầng”, tờ báo “đếm tầng”, lợi dụng những hạn chế trong việc chấp hành pháp luật trong xã hội để nhũng nhiễu, tống tiền cả các hộ dân khi xây dựng các công trình nhà ở. Đáng buồn thay khi đã có cơ quan báo chí bị rút giấy phép xuất bản, có những nhà báo bị kỷ luật, rút thẻ nhà báo, thậm chí bị xử lý hình sự vì các hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật.    

Cùng với đó, có một hiện tượng báo chí bị mất định hướng chính trị. Có những nhà báo, thậm chí là cán bộ quản lý của cơ quan báo chí cũng không xác định được chính xác vai trò của mình, không hiểu được tính cách mạng, tính đảng của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Họ đem các giá trị của báo chí phương Tây để rập khuôn vào Việt Nam và hiểu nhầm rằng đó mới là những giá trị cốt lõi của báo chí.

Có người thậm chí có suy nghĩ lệch lạc rằng báo chí cần phải giữ thế “khách quan”, “trung lập” trong mối quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là những biểu hiện không thể xem nhẹ, cần được kịp thời nhận biết và có các giải pháp để điều chỉnh. Trong đó, cần phải đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ người làm báo, đặc biệt là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý cơ quan báo chí.   

Ngược lại, cũng có một bộ phận báo chí chưa thực hiện đúng chức năng là diễn đàn của nhân dân, chưa phản ánh được thực chất ý chí, trí tuệ, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, rơi vào trạng thái “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”.

Những tờ báo ấy trở thành một kiểu báo chí phụ họa, báo chí một chiều, một kiểu công báo chứ không phải báo chí đúng nghĩa. Kiểu báo chí ấy sẽ khiến công chúng dần xa lánh, sẽ tự đánh mất vai trò của mình, tự kết liễu mình, sẽ không hoàn thành được trọng trách là cầu nối tin cậy giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Báo chí cách mạng, nhà báo cách mạng dứt khoát phải có dũng khí, phải có sự can trường để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công lý, vì nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Lại có kiểu báo chí hoàn toàn để nhu cầu tầm thường của độc giả dẫn dắt nên trong nội dung toàn những thứ thông tin gây sốc, không phù hợp với văn hóa, khai thác quá mức đời tư của các ngôi sao, người của công chúng... Có thể vì những người làm báo ấy cho rằng như thế mới là nhạy bén, mới hiểu độc giả, phục vụ thị hiếu độc giả. Nhưng thực ra, họ đang đi theo một con đường ngược hướng, lẽ ra phải thực hiện chức năng giáo dục, hướng độc giả đến những thông tin lành mạnh, tạo ra những nhu cầu mới, hữu ích cho độc giả thì kiểu báo chí ấy lại khiến độc giả của mình chìm đắm trong những thông tin có hại.   

Có những người so sánh báo chí và mạng xã hội để nhận xét rằng, báo chí đang tụt lại trong cuộc cạnh tranh thông tin với mạng xã hội, mà thực chất là một cuộc đấu tranh sinh tồn. Nhận xét như thế có hơi vội vàng chăng? Bởi công nghệ sẽ luôn thay đổi, sẽ không có tận cùng. Công nghệ này ra đời ít lâu, sẽ có công nghệ khác mới hơn, vượt trội hơn phủ định. Cho nên tốc độ đưa thông tin, độ phủ của thông tin tuy rất quan trọng nhưng không phải là tất cả. Tính chính xác, khách quan, giá trị nhân văn, nhân bản của thông tin mới là thứ mà công chúng thực sự tìm kiếm.

Công chúng đã và sẽ ngày càng chán ngấy kiểu đưa thông tin hỗn loạn, thiếu chắc chắn, thậm chí lừa bịp, giá trị ảo, vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm của các KOL, người nổi tiếng trên mạng xã hội, để từ đó tìm những nguồn tin đáng tin cậy. Sự tin cậy chính là giá trị giúp báo chí tồn tại và phát triển. Thực hiện đúng phẩm chất, đặc trưng của báo chí cách mạng chính là cơ sở để cơ quan báo chí củng cố vững chắc sự tin cậy của độc giả.

Với 100 năm tuổi, báo chí cách mạng Việt Nam là một chứng nhân hàng đầu của lịch sử cách mạng Việt Nam với bao biến cố, thăng trầm, thành tựu. Những người làm báo chí cách mạng Việt Nam đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, buộc phải thay đổi nhanh để thích ứng với những yêu cầu mới đang đặt ra, nhất là yêu cầu về công nghệ và nhu cầu của độc giả. Thế nhưng những sự thay đổi ấy không thể làm thay đổi bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam.

Báo chí cách mạng Việt Nam sẽ luôn là lực lượng, là động lực quan trọng để thúc đẩy con thuyền cách mạng Việt Nam tới những bến bờ vinh quang./.
Yêu nước ST.

CUỘC CHIẾN TRÊN MẶT TRẬN BÁO CHÍ VÀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ “VŨ KHÍ TƯ TƯỞNG” CỦA ĐẢNG

BÀI 1: ÂM MƯU, HÀNH ĐỘNG THAO TÚNG, BẺ LÁI BÁO CHÍ!
     Tròn một thế kỷ đồng hành với dân tộc, báo chí cách mạng Việt Nam luôn xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những năm gần đây, báo chí cách mạng bị các thế lực thù địch chống phá bằng nhiều âm mưu thâm độc, thủ đoạn tinh vi, đòi hỏi phải nhận diện kịp thời, đấu tranh mạnh mẽ.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và truyền thông số phát triển mạnh mẽ, báo chí cách mạng đang đối mặt với làn sóng tấn công mang tính hệ thống từ các thế lực thù địch. Với mục tiêu xuyên suốt là phá vỡ trận địa tư tưởng của Đảng, chúng tiến hành “vũ khí hóa công nghệ”, dựng truyền thông phản động... hòng bẻ lái, thao túng báo chí cách mạng.

Lấy truyền thông phản động làm phương tiện chống phá

Các thế lực thù địch, phản động luôn xác định báo chí cách mạng là mục tiêu quan trọng để chống phá, bởi chúng hiểu rằng đây là “vũ khí sắc bén” trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo của Bộ tư lệnh 86 cho thấy, những năm qua, lực lượng phản động ở nước ngoài cấu kết với những kẻ cơ hội chính trị trong nước tăng cường tần suất, dung lượng các bài viết chống phá báo chí cách mạng bằng việc lập “hệ sinh thái báo chí, truyền thông” phản động, đăng tải nội dung xuyên tạc báo chí cách mạng, xâm nhập, phá hoại trận địa tư tưởng của Đảng.

Hệ sinh thái của chúng hằng ngày, hằng giờ sản sinh ra thứ virus nguy hiểm có khả năng lây nhiễm, xâm nhập vào tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân-công chúng của báo chí cách mạng. Sau khi sản xuất, chúng triệt để tranh thủ tâm lý đám đông, sự hiếu kỳ để lan truyền tới bạn đọc, nhất là giới trẻ với mưu đồ thâm hiểm là tạo ra đối ứng, lèo lái thông tin, tiến tới thao túng, bẻ lái báo chí cách mạng.

Có thể thấy rõ, hình thức phổ biến của các tờ báo, trang tin điện tử và trên các nền tảng mạng xã hội (MXH), như: BBC tiếng Việt, Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Dân làm báo... cùng những thành phần bất hảo như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài... thường tạo vỏ bọc “báo chí trung lập”, dùng từ ngữ mập mờ, phỏng vấn nhân vật phản động để hợp thức hóa thông tin chống phá; lợi dụng các nền tảng MXH đăng tải video, bài viết xuyên tạc, chỉ trích một chiều, rồi sử dụng “tài khoản vệ tinh” để “bình luận khách quan”, lái dư luận theo chủ đích của chúng.

Chúng còn triệt để lợi dụng thương hiệu, uy tín, giả mạo tên miền báo chí chính thống như “Nhân dân Online”, “Thời sự VTV”, “Bản tin Quân sự”, “Tin nóng 24h-VTV”... để lôi kéo tương tác, lan truyền thông tin sai lệch; hoặc tạo các kênh, website có tên, logo, hình ảnh nhận diện “na ná” các đài truyền hình, báo điện tử uy tín nhằm đánh lừa bạn đọc.

Mục tiêu của các thế lực thù địch, phản động là gây hoang mang trong xã hội, làm mất niềm tin của nhân dân, tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội, phủ nhận, bóp méo thành quả cách mạng. Xa hơn, chúng muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, mà báo chí cách mạng-vũ khí trên mặt trận tư tưởng, văn hóa-được xác định là mục tiêu trọng điểm.

“Vũ khí hóa công nghệ”, tăng cường truyền thông bẩn

Những năm gần đây, MXH, truyền thông số bùng nổ tạo môi trường thuận lợi cho báo chí phát triển. Lợi dụng yếu tố này, các tổ chức, cá nhân phản động, những kẻ cơ hội chính trị với sự hà hơi tiếp sức của một số hãng truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí, đã triệt để sử dụng “vũ khí công nghệ” nhằm sản xuất, lan truyền thông tin chống phá, đánh vào nền báo chí cách mạng và công chúng của nền báo chí cách mạng. 

Từ đầu năm 2024 đến đầu năm 2025, cả nước đã xuất hiện hàng chục nghìn thông tin xấu độc, sai sự thật, có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước trên báo chí phản động và các nền tảng MXH. Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI), các tổ chức, cá nhân phản động đã tạo dựng video, hình ảnh, âm thanh bằng Deepfake, Voice Clone để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; bôi nhọ cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Công ty công nghệ Resemble AI mới công bố một thông tin chấn động, chỉ trong 3 tháng đầu năm 2025, toàn cầu có hơn 200.000 video và âm thanh Deepfake được tải lên các trang MXH, trong đó tại khu vực châu Á chiếm 27% và Việt Nam là một trọng điểm. Đặc biệt nguy hiểm, gần đây, chúng dùng AI tạo ra hàng trăm video lan truyền tin giả một lãnh đạo cấp cao phát biểu về tham nhũng trong Quân đội.

Các thế lực thù địch còn đánh trực diện vào các cơ quan báo chí và đội ngũ những người làm báo cách mạng. Chúng triệt để lợi dụng những sơ suất của cơ quan báo chí và khuyết điểm của nhà báo rồi khuếch đại thành “khủng hoảng truyền thông”, thổi phồng sự việc. Qua đó, chúng gieo rắc nghi ngờ về môi trường làm nghề, xúi giục các nhà báo dao động, chạy theo xu hướng mạng, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Vững bản lĩnh, nâng trình độ trong kỷ nguyên số

Nếu báo chí, truyền thông không giữ được bản lĩnh chính trị, có thể sẽ gây ảnh hưởng đến nền tảng chính trị. Khủng hoảng truyền thông trong bầu cử tại Mỹ và nhiều nước châu Âu bởi MXH những năm gần đây là bài học nhãn tiền khi thông tin không được kiểm soát. Nhìn lại hiệu ứng lan truyền của “mùa xuân Arab” cách đây hơn một thập kỷ khiến hàng chục quốc gia khu vực Trung Ðông và Bắc Phi chìm trong dông bão chính trị cũng từ MXH. Điều đó cho thấy hậu quả khôn lường của truyền thông tự do, thiếu kiểm soát. 

Đó cũng là mục tiêu mà các thế lực thù địch muốn phá vỡ nền tảng báo chí cách mạng Việt Nam-công cụ, vũ khí đấu tranh sắc bén của Đảng trên mặt trận tư tưởng, văn hóa. Vì thế, trước các luận điệu xuyên tạc, chiêu bài chống phá của các thế lực thù địch, báo chí cách mạng đã, đang và sẽ phải là lực lượng nòng cốt trên tuyến đầu trong sự nghiệp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Trong thời đại số, công nghệ phát triển vượt bậc, nhất là AI được ứng dụng rộng rãi, báo chí cách mạng đứng trước cơ hội to lớn để đổi mới nội dung, phương thức thể hiện và cách tiếp cận công chúng. Song, các chuyên gia của Bộ tư lệnh 86 cũng cảnh báo, các tổ chức, cá nhân phản động cũng sẽ triệt để lợi dụng công nghệ chống phá, sản xuất tin giả với số lượng lớn bằng cách sử dụng AI tự động sinh nội dung, video, hình ảnh. 

Do đó, ngoài bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, tuyên truyền kịp thời, đa dạng, đáp ứng nhu cầu công chúng, các chuyên mục đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch của báo chí cách mạng cần được đẩy mạnh và duy trì hiệu quả.

Cùng với nghiên cứu, đổi mới cơ chế lãnh đạo, quản lý, xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại, Đảng, Nhà nước cần quan tâm đầu tư chiều sâu cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ tác chiến thông tin, nhất là về công nghệ, nhân lực và hạ tầng.

Các cơ quan, đơn vị chức năng cần xây dựng kho dữ liệu phân tích đối tượng thù địch, phản động trên không gian mạng, nhận diện mô hình, chiến thuật và xu hướng hoạt động, phương thức chống phá của chúng. Các quy định gắn nhãn video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng AI phải được thực hiện. Việc nghiên cứu, ứng dụng AI trong phân tích các tổ chức, mạng lưới lan truyền tin giả; cảnh báo sớm các chiến dịch tấn công truyền thông hoặc xác định chủ thể tán phát nội dung xuyên tạc phải được tiến hành đồng bộ. Công tác nghiên cứu chuyên sâu về “chiến tranh thông tin”, “chiến tranh nhận thức”, "chiến tranh tâm lý" phải được triển khai bài bản./.
(còn nữa)
Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 5/120 ĐIỀU CỦA HIẾN PHÁP NĂM 2013!

         Sáng 16-6, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.

Với sự điều hành của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với 470/470 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, đạt 100% đại biểu tham gia biểu quyết và đạt 98,33% tổng số đại biểu Quốc hội.

Trước đó, thay mặt Ủy ban Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Phó chủ tịch Ủy ban Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 cho biết, dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 được công bố rộng rãi từ ngày 6-5 để lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp.

280.226.909 lượt ý kiến tham gia về tất cả các nội dung trong dự thảo nghị quyết đã cho thấy sự quan tâm, đồng tình ủng hộ và tinh thần trách nhiệm rất cao của các tầng lớp nhân dân đối với những công việc hệ trọng của đất nước. Việc lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp thực sự trở thành đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý dân chủ, sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị quyết được tiến hành theo nguyên tắc: Tất cả các ý kiến góp ý, dù là đa số hay thiểu số, đều được nghiên cứu, xem xét một cách đầy đủ, khách quan, kỹ lưỡng, không vì là ý kiến của thiểu số mà không được xem xét. Đối với những vấn đề lớn, quan trọng, nổi lên trong quá trình lấy ý kiến nhân dân hoặc trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý, Ủy ban đều kịp thời báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

Ban đầu, Ủy ban đề nghị sửa đổi, bổ sung 8/120 điều, khoản của Hiến pháp năm 2013, nhưng sau khi nghiên cứu những ý kiến góp ý rất xác đáng, hợp tình, hợp lý, lập luận chặt chẽ, thuyết phục của các cơ quan, tổ chức, của nhân dân, các chuyên gia, nhà khoa học và của đại biểu Quốc hội, Ủy ban đã đề nghị tiếp thu, chỉ sửa đổi, bổ sung 5/120 điều, khoản, giữ lại 3 điều tiếp tục thực hiện theo quy định của Hiến pháp hiện hành.

Các nội dung vẫn giữ như hiện nay là quy định về việc lấy ý kiến nhân dân khi thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính (khoản 3, Điều 110); quy định về “chính quyền địa phương” và “cấp chính quyền địa phương” (các điều 111, 112 và 114); về quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 2, Điều 115).

Đồng thời, Ủy ban cũng tiếp thu, chỉnh lý tại tất cả 5/5 điều, khoản được đề nghị sửa đổi, bổ sung trong Hiến pháp và cả điều khoản thi hành, điều khoản chuyển tiếp trong dự thảo nghị quyết, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất cả về nội dung và kỹ thuật thể hiện.

Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua là dấu ấn lịch sử, có ý nghĩa hết sức quan trọng, khởi đầu cho cuộc cải cách sâu sắc về thể chế, thể hiện tư duy đổi mới có tính cách mạng trong tổ chức hệ thống chính trị và quản trị quốc gia, là cơ sở hiến định cho việc thực hiện thắng lợi chủ trương của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tạo nền tảng để kiến tạo một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, người dân hạnh phúc, yên vui./.


Yêu nước ST.

Bài 10: Xây Dựng Thế Trận Quốc Phòng Toàn Dân Gắn Với Thế Trận An Ninh Nhân Dân Trên Không Gian Mạng: Vai Trò Của AI

 


Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, không gian mạng đã trở thành một không gian chiến lược, nơi các thế lực thù địch không ngừng tìm cách chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, đặc biệt là thông qua việc lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát tán tin giả, thông tin xấu độc. Để đối phó hiệu quả với những thách thức này, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng trở thành một yêu cầu khách quan, cấp thiết, trong đó AI đóng vai trò là một công cụ quan trọng, là nhân tố mới thúc đẩy hiệu quả của thế trận này.

Tại Sao Phải Xây Dựng Thế Trận Trên Không Gian Mạng?

Trong các cuộc chiến tranh hiện đại, không gian mạng đã trở thành mặt trận thứ năm, bên cạnh đất liền, trên không, trên biển và vũ trụ. Các cuộc tấn công mạng có thể gây thiệt hại không kém gì vũ khí truyền thống, từ việc làm tê liệt hạ tầng trọng yếu, đánh cắp bí mật quốc gia đến thao túng tâm lý, gây rối loạn xã hội. Đặc biệt, sự xuất hiện của AI giúp các cuộc tấn công này trở nên nhanh hơn, tinh vi hơn và khó nhận diện hơn.

Đảng ta đã xác định rõ trong "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng" rằng: phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, rộng khắp. Điều này có nghĩa là mỗi người dân, mỗi cơ quan, tổ chức đều là một mắt xích trong hệ thống phòng thủ, tấn công trên không gian mạng.

Vai Trò Của AI Trong Thế Trận Mới

AI không chỉ là mối đe dọa mà còn là một công cụ mạnh mẽ để xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng:

1. Nâng cao năng lực nhận diện và phòng vệ của nhân dân:

  • "Bình dân học vụ số" và AI: Phong trào "Bình dân học vụ số" chính là sự cụ thể hóa các giải pháp nhằm phổ cập kiến thức, kỹ năng ứng dụng AI cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Khi mỗi cá nhân hiểu biết về AI, họ sẽ có khả năng nhận diện tin giả, thông tin xấu độc do AI tạo ra.
  • AI hỗ trợ kiểm chứng thông tin: Các ứng dụng AI có thể được phát triển và phổ biến để hỗ trợ người dân, quân nhân trong việc kiểm chứng nguồn gốc thông tin, phát hiện các dấu hiệu giả mạo của hình ảnh, video, âm thanh (deepfake), từ đó giúp họ tự bảo vệ mình khỏi "ma trận" tin giả.

2. Tăng cường khả năng phản ứng và đấu tranh của lực lượng chuyên trách:

  • AI trong tình báo mạng: Các cơ quan chuyên trách có thể sử dụng AI để thu thập, phân tích dữ liệu lớn trên không gian mạng, phát hiện sớm các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đặc biệt là các chiến dịch phát tán tin giả có mục đích chống phá.
  • AI trong tác chiến thông tin: AI hỗ trợ việc tạo ra các chiến dịch truyền thông chính thống một cách nhanh chóng, cá nhân hóa nội dung để phản bác các luận điệu sai trái, lan tỏa thông tin tích cực, định hướng dư luận xã hội.
  • AI trong phòng thủ mạng: AI giúp phát hiện và ngăn chặn các cuộc tấn công mạng tự động, bảo vệ hạ tầng số trọng yếu của quốc gia và quân đội.

3. Xây dựng môi trường mạng lành mạnh:

  • AI giám sát và phân loại nội dung: AI có thể được sử dụng để tự động giám sát các nền tảng mạng xã hội, phát hiện và phân loại các nội dung vi phạm pháp luật, tin giả, thông tin xấu độc để có biện pháp xử lý kịp thời.
  • AI thúc đẩy nội dung tích cực: Khuyến khích các tổ chức, cá nhân ứng dụng AI để tạo ra các sản phẩm truyền thông, giáo dục tích cực, đổi mới hình thức, phương pháp tiếp cận công chúng, góp phần xây dựng một không gian mạng lành mạnh, giàu giá trị văn hóa.

Những Việc Cần Làm Ngay

Để phát huy vai trò của AI trong thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, chúng ta cần:

  • Nâng cao nhận thức và năng lực về AI cho toàn dân: Tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số" để mọi người dân, quân nhân có kiến thức cơ bản về AI, an ninh mạng và kỹ năng nhận diện tin giả.
  • Đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu, phát triển AI quốc phòng: Tập trung nguồn lực để nghiên cứu, phát triển các công nghệ AI chuyên biệt phục vụ cho quốc phòng – an ninh, bao gồm AI trong tác chiến thông tin, tình báo mạng, phòng thủ mạng và phát hiện tin giả.
  • Hoàn thiện hành lang pháp lý: Rà soát, bổ sung các quy định pháp luật về an ninh mạng, xử lý tin giả, và các hành vi lợi dụng AI xâm phạm an ninh quốc gia, quyền lợi công dân, đảm bảo đủ sức răn đe và xử lý nghiêm minh.
  • Đào tạo, thu hút nhân tài AI: Có chính sách đột phá để đào tạo, thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao về AI trong các cơ quan chức năng, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh mạng và tác chiến thông tin quân sự.
  • Tăng cường phối hợp liên ngành: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng chuyên trách (quân đội, công an, an ninh) và các cơ quan thông tin đại chúng, các tổ chức xã hội để tạo thành một khối thống nhất trong việc phát hiện, đấu tranh và loại bỏ tin giả, thông tin xấu độc.
  • Khuyến khích sáng tạo và ứng dụng AI hữu ích: Thống kê, tổng hợp, đánh giá và tôn vinh những tổ chức, cá nhân có mô hình sáng tạo, ứng dụng công nghệ AI hữu ích trong việc xây dựng không gian mạng lành mạnh, góp phần lan tỏa giá trị tích cực.


Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng là một chiến lược then chốt, mang tính sống còn trong kỷ nguyên số. Trong đó, AI đóng vai trò là một công cụ quan trọng, giúp chúng ta chủ động hơn trong việc nhận diện, đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Bằng cách kết hợp sức mạnh công nghệ AI với bản lĩnh, trí tuệ và sự đồng lòng của toàn dân, chúng ta sẽ xây dựng được một "lá chắn thép" vững chắc trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Bài 9: Đầu Tư Hạ Tầng Số và Chính Sách Đãi Ngộ Nhân Tài AI Trong Quân Đội: Yếu Tố Đột Phá

 


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, với trí tuệ nhân tạo (AI) là một trong những động lực chính, việc xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng trên không gian mạng trở thành nhiệm vụ chiến lược. Để có thể “đi tắt, đón đầu” và làm chủ AI, Quân đội nhân dân Việt Nam cần có những chính sách đột phá, đặc biệt là trong việc đầu tư phát triển hạ tầng số hiện đạixây dựng chính sách đãi ngộ xứng đáng để đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về AI. Đây là hai yếu tố then chốt, mang tính quyết định đến khả năng làm chủ công nghệ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên số.

Hạ Tầng Số: Nền Tảng Vật Chất Cho AI Quân Sự

AI hoạt động dựa trên dữ liệu và sức mạnh tính toán. Một hạ tầng số hiện đại, bảo mật và mạnh mẽ là nền tảng không thể thiếu để triển khai các ứng dụng AI trong quân đội:

  • Trung tâm dữ liệu (Data Center) an toàn và hiệu năng cao: Các hệ thống AI quân sự cần xử lý lượng lớn dữ liệu tình báo, tác chiến, hậu cần... đòi hỏi các trung tâm dữ liệu phải có khả năng lưu trữ khổng lồ, tốc độ truy xuất nhanh và đặc biệt là được bảo vệ nghiêm ngặt trước mọi cuộc tấn công mạng.
  • Hạ tầng điện toán đám mây quân sự: Phát triển các nền tảng điện toán đám mây riêng, bảo mật cao để triển khai các ứng dụng AI, giúp tối ưu hóa tài nguyên, tăng cường khả năng mở rộng và linh hoạt trong tác chiến.
  • Mạng truyền dẫn băng thông rộng và bảo mật: Đảm bảo khả năng truyền tải dữ liệu tốc độ cao, ổn định và an toàn giữa các đơn vị, các hệ thống AI phân tán. Việc này đặc biệt quan trọng cho các ứng dụng AI thời gian thực trong tác chiến.
  • Hệ thống siêu máy tính (High-Performance Computing - HPC): Để phát triển và huấn luyện các mô hình AI phức tạp, đặc biệt là trong lĩnh vực nhận dạng hình ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và mô phỏng chiến trường, cần có sự đầu tư vào các hệ thống siêu máy tính với sức mạnh tính toán vượt trội.
  • Bảo mật hạ tầng từ gốc: Mọi thành phần của hạ tầng số phải được thiết kế và triển khai với các tiêu chuẩn bảo mật cao nhất, từ phần cứng, phần mềm đến quy trình vận hành, nhằm ngăn chặn mọi âm mưu tấn công, phá hoại từ đối phương.

Đầu tư vào hạ tầng số không chỉ là việc mua sắm thiết bị mà còn là xây dựng năng lực tự chủ về công nghệ, thiết kế và quản trị.

Chính Sách Đãi Ngộ Nhân Tài AI: Yếu Tố Đột Phá Mang Tính Quyết Định

Dù có hạ tầng hiện đại đến đâu, nếu không có con người đủ trình độ để vận hành, phát triển và làm chủ AI thì mọi sự đầu tư cũng trở nên vô nghĩa. Nhân lực chất lượng cao là yếu tố đột phá, mang tính quyết định:

  • Thực trạng và thách thức: Lĩnh vực AI đòi hỏi kiến thức chuyên sâu về toán học, lập trình, khoa học dữ liệu, và đang đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt về nhân tài từ khu vực dân sự và quốc tế. Việc thu hút và giữ chân các chuyên gia giỏi trong môi trường quân đội là một bài toán khó.
  • Chính sách đãi ngộ xứng đáng: Để thu hút nhân tài, cần có các chính sách đột phá về lương, thưởng, phụ cấp, nhà ở và các chế độ ưu đãi khác tương xứng với trình độ và cống hiến của các chuyên gia AI. Mức độ đãi ngộ phải đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn công nghệ lớn.
  • Môi trường nghiên cứu và phát triển hấp dẫn: Tạo môi trường làm việc cởi mở, khuyến khích sáng tạo, nơi các chuyên gia có thể thực hiện các dự án nghiên cứu tiên tiến, được tiếp cận với công nghệ mới nhất và có cơ hội phát triển nghề nghiệp liên tục. Khuyến khích các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng AI vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của quân đội.
  • Đào tạo chuyên sâu và dài hạn:
    • Mở rộng các chuyên ngành đào tạo về AI, khoa học dữ liệu, an ninh mạng tại các học viện, nhà trường quân đội.
    • Phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, viện nghiên cứu dân sự hàng đầu để tổ chức các khóa đào tạo, huấn luyện chuyên sâu.
    • Cử cán bộ, sĩ quan đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài tại các quốc gia tiên tiến về AI để tiếp thu tri thức và công nghệ.
    • Xây dựng các chương trình đào tạo liên tục, cập nhật kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ chuyên gia hiện có, đảm bảo họ luôn bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của AI.
  • Cơ chế trọng dụng và phát huy: Cần có cơ chế rõ ràng để trọng dụng các chuyên gia AI, trao quyền và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lực, tham gia vào các dự án quan trọng của quân đội, không bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính không cần thiết.


Việc đầu tư phát triển hạ tầng số đồng bộ và xây dựng chính sách đãi ngộ xứng đáng để đào tạo, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về AI là hai yếu tố then chốt, mang tính đột phá để Quân đội nhân dân Việt Nam có thể “đi tắt, đón đầu” trong kỷ nguyên số. Đây là khoản đầu tư chiến lược cho tương lai, là nền tảng vững chắc để chúng ta làm chủ công nghệ, tăng cường tiềm lực quốc phòng, và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên không gian mạng, góp phần đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.

Bài 8: Đổi Mới Hình Thức Tuyên Truyền, Giáo Dục Bằng AI Trong Quân Đội

 


Trong thời đại thông tin bùng nổ và sự chi phối ngày càng tăng của trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc định hình thông tin, công tác tuyên truyền, giáo dục trong quân đội đứng trước cả cơ hội lẫn thách thức lớn. Nếu không đổi mới, chúng ta có thể bị lạc hậu trước các phương thức truyền thông hiện đại và khó tiếp cận hiệu quả với thế hệ quân nhân trẻ vốn quen thuộc với công nghệ số. Việc ứng dụng AI một cách thông minh vào công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục không chỉ giúp đổi mới hình thức, phương pháp tiếp cận công chúng mà còn nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về mọi mặt.

Tại Sao Cần Đổi Mới Bằng AI?

Các phương thức tuyên truyền, giáo dục truyền thống đôi khi chưa đủ sức hấp dẫn và chưa tối ưu để truyền tải thông điệp đến một đối tượng đa dạng như quân nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trong khi đó, AI mang lại nhiều lợi thế:

  • Cá nhân hóa nội dung: AI có thể phân tích sở thích, thói quen tiếp nhận thông tin của từng đối tượng quân nhân để đề xuất nội dung tuyên truyền, giáo dục phù hợp, tăng tính hấp dẫn và hiệu quả.
  • Tạo ra nội dung đa phương tiện chất lượng cao: AI có thể hỗ trợ tạo ra các video, hình ảnh, âm thanh, hoặc thậm chí là các bài giảng tương tác một cách nhanh chóng, tiết kiệm chi phí và với chất lượng cao hơn.
  • Mô phỏng và trải nghiệm thực tế ảo (VR/AR): AI kết hợp với VR/AR có thể tạo ra các môi trường huấn luyện, diễn tập, hoặc tái hiện lịch sử một cách sống động, giúp quân nhân tiếp thu kiến thức một cách trực quan và sâu sắc.
  • Phân tích hiệu quả tuyên truyền: AI có thể thu thập và phân tích dữ liệu về mức độ tiếp nhận, phản hồi của quân nhân đối với các nội dung tuyên truyền, từ đó giúp điều chỉnh và tối ưu hóa chiến lược.
  • Tăng cường khả năng tương tác: Các chatbot AI có thể trả lời các câu hỏi về chính sách, quy định, hoặc cung cấp thông tin kịp thời cho quân nhân, tạo kênh giao tiếp hai chiều hiệu quả.

Ứng Dụng AI Trong Công Tác Tuyên Truyền, Giáo Dục Quân Đội

Để đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục bằng AI, cần tập trung vào các hướng sau:

1. Xây dựng nền tảng nội dung số thông minh:

  • Hệ thống thư viện số tích hợp AI: Xây dựng một thư viện số chứa các tài liệu huấn luyện, bài giảng chính trị, lịch sử quân sự, được tích hợp AI để phân loại, tìm kiếm thông minh và gợi ý nội dung phù hợp với nhu cầu của từng quân nhân.
  • Sử dụng AI tạo nội dung cơ bản: Áp dụng AI để tự động biên soạn các bản tin nội bộ, tóm tắt tài liệu, hoặc tạo ra các infographics, video ngắn dựa trên dữ liệu sẵn có, giúp tiết kiệm thời gian và nhân lực.

2. Phát triển các công cụ giáo dục tương tác và mô phỏng:

  • Nền tảng học tập AI-driven: Phát triển các khóa học trực tuyến có tích hợp AI để theo dõi tiến độ học tập, đưa ra bài kiểm tra cá nhân hóa và cung cấp phản hồi ngay lập tức cho học viên.
  • Mô phỏng huấn luyện bằng AI và VR/AR: Tạo ra các môi trường huấn luyện ảo cho các tình huống tác chiến phức tạp, sơ cứu, hoặc sử dụng trang thiết bị, giúp quân nhân rèn luyện kỹ năng trong môi trường an toàn và hiệu quả hơn.
  • Trải nghiệm lịch sử và truyền thống qua AI: Ứng dụng AI và công nghệ thực tế tăng cường để tái hiện các trận đánh lịch sử, các sự kiện quan trọng của quân đội, giúp quân nhân thấm nhuần truyền thống cách mạng một cách sống động.

3. Cá nhân hóa và tối ưu hóa việc tiếp cận:

  • AI phân tích hành vi người dùng: Sử dụng AI để phân tích dữ liệu về cách quân nhân tiếp nhận thông tin (thích video, đọc bài viết, nghe podcast), từ đó điều chỉnh hình thức và kênh truyền tải nội dung sao cho hiệu quả nhất.
  • Chatbot hỗ trợ thông tin: Triển khai các chatbot AI trên các nền tảng nội bộ để trả lời các câu hỏi thường gặp về chế độ, chính sách, hoặc giải đáp các thắc mắc về kiến thức quốc phòng, giúp quân nhân tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác.

4. Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực:

  • Nâng cao năng lực cho cán bộ tuyên truyền: Huấn luyện cán bộ làm công tác tuyên truyền, giáo dục về cách sử dụng các công cụ AI, cách tạo nội dung số chất lượng cao và cách phân tích dữ liệu để đánh giá hiệu quả.
  • Khuyến khích sáng tạo: Tổ chức các cuộc thi, phong trào về ứng dụng AI trong tuyên truyền, giáo dục để khuyến khích sự sáng tạo và tìm tòi của quân nhân.


Việc đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục bằng AI trong quân đội là một bước đi tất yếu và cần thiết để bắt kịp xu thế thời đại. Bằng cách tận dụng sức mạnh của AI, chúng ta không chỉ làm cho các nội dung chính trị, tư tưởng trở nên hấp dẫn, dễ tiếp thu hơn mà còn nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, góp phần xây dựng một thế hệ quân nhân bản lĩnh, trí tuệ, sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trên mọi mặt trận. Những sản phẩm AI hữu ích, những mô hình sáng tạo cần được thống kê, tổng hợp, đánh giá kịp thời để có hình thức tôn vinh, rút kinh nghiệm, phổ biến và nhân rộng trong môi trường "Bình dân học vụ số", thúc đẩy tinh thần lấy "xây" để "chống", lấy cái đẹp dẹp cái xấu, góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Bài 7: Pháp Lý Quân Sự Trong Kỷ Nguyên AI và An Ninh Mạng: Thách Thức và Hoàn Thiện

 


Sự phát triển vũ bão của trí tuệ nhân tạo (AI) và những diễn biến phức tạp trên không gian mạng đang đặt ra những thách thức chưa từng có đối với hệ thống pháp luật của mọi quốc gia, đặc biệt là trong lĩnh vực quân sự. An ninh mạng và các ứng dụng AI trong quốc phòng không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là vấn đề pháp lý cốt lõi, liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyền con người và trật tự an ninh thế giới. Việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý quân sự đủ mạnh để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến AI và an ninh mạng là yêu cầu cấp bách, nhằm đảm bảo công nghệ phục vụ đúng mục đích, không bị lạm dụng và duy trì trật tự trên không gian mạng.

Những Khoảng Trống Pháp Lý Cần Lấp Đầy

Trong khi AI và không gian mạng phát triển với tốc độ vũ bão, hành lang pháp lý thường chậm hơn, tạo ra những khoảng trống và thách thức:

  • Xác định trách nhiệm pháp lý của AI: Nếu một hệ thống AI quân sự gây ra sai sót hoặc thiệt hại, trách nhiệm sẽ thuộc về ai? Nhà phát triển, người vận hành, hay chính AI? Việc này đặc biệt phức tạp trong các hệ thống vũ khí tự động, nơi AI có thể đưa ra quyết định độc lập.
  • Quy định về vũ khí tự động (Autonomous Weapon Systems - AWS): AI đang thúc đẩy sự ra đời của các loại vũ khí có khả năng tự động nhận diện mục tiêu và tấn công mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người. Việc này đặt ra câu hỏi lớn về đạo đức, pháp lý quốc tế và kiểm soát, liệu chúng có vi phạm luật nhân đạo quốc tế hay không.
  • Bảo vệ dữ liệu quân sự và thông tin mật: AI hoạt động dựa trên dữ liệu. Việc thu thập, lưu trữ, xử lý và chia sẻ dữ liệu quân sự đòi hỏi những quy định chặt chẽ để ngăn chặn rò rỉ, đánh cắp hoặc thao túng bởi đối phương. Luật An ninh mạng đã là một bước đi quan trọng, nhưng cần có những quy định cụ thể hơn cho lĩnh vực quốc phòng.
  • Xử lý các hành vi lợi dụng AI tấn công: Các cuộc tấn công mạng sử dụng AI ngày càng tinh vi, khó truy vết và nhận diện thủ phạm. Hệ thống pháp luật cần có khả năng định danh, truy tố và xử lý nghiêm minh các hành vi này, bất kể chúng được thực hiện từ đâu trên không gian mạng.
  • Quy định về tác chiến thông tin sử dụng AI: Việc sử dụng AI để tạo ra tin giả, thông tin xấu độc nhằm gây ảnh hưởng đến tâm lý quân nhân, dân chúng là một hình thức tác chiến mới. Pháp luật cần có khung khổ để kiểm soát, ngăn chặn và xử lý các hành vi này.

Hoàn Thiện Hành Lang Pháp Lý Quân Sự Trong Kỷ Nguyên AI

Để vượt qua những thách thức trên, Quân đội và Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện hành lang pháp lý quân sự theo hướng:

1. Xây dựng các quy định chuyên biệt cho AI trong quốc phòng: Đây là điều cấp thiết. Cần có các nghị định, thông tư hoặc hướng dẫn cụ thể về việc nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và triển khai các hệ thống AI phục vụ mục đích quân sự. Các quy định này cần bao gồm các tiêu chuẩn về đạo đức AI, tính minh bạch, khả năng kiểm soát của con người và quy trình xử lý khi có sự cố.

2. Cập nhật Luật An ninh mạng và các văn bản liên quan: Dù Luật An ninh mạng đã là nền tảng quan trọng, nhưng cần tiếp tục rà soát, bổ sung các điều khoản cụ thể hơn để bao quát các hình thức tấn công mới sử dụng AI, các quy định về bảo vệ dữ liệu quân sự và các biện pháp đối phó với tin giả do AI tạo ra.

3. Phát triển chính sách về vũ khí tự động: Việt Nam cần sớm có quan điểm và chính sách rõ ràng về vũ khí tự động, bao gồm các giới hạn về quyền tự chủ của AI trong việc ra quyết định gây sát thương, đảm bảo nguyên tắc "kiểm soát có ý nghĩa của con người" (meaningful human control) đối với các hệ thống vũ khí.

4. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật: Dù có luật tốt, việc thực thi cũng quan trọng không kém. Cần đào tạo đội ngũ cán bộ pháp chế, điều tra viên có kiến thức chuyên sâu về công nghệ, AI và an ninh mạng để có thể thu thập chứng cứ, truy vết và xử lý các vụ việc phức tạp.

5. Hợp tác quốc tế về pháp lý AI và an ninh mạng: Tham gia vào các diễn đàn, hiệp ước quốc tế về AI và an ninh mạng để học hỏi kinh nghiệm, chia sẻ quan điểm và góp phần xây dựng các chuẩn mực pháp lý quốc tế chung. Điều này giúp chúng ta không bị lạc hậu và có tiếng nói trong việc định hình luật chơi trên không gian mạng.


Trong bối cảnh AI và an ninh mạng đang định hình lại chiến trường tương lai, việc xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý quân sự là nhiệm vụ tối quan trọng. Nó không chỉ là công cụ để quản lý công nghệ mà còn là phương tiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia, giữ vững trật tự kỷ cương quân đội và góp phần đảm bảo hòa bình, ổn định. Với sự chủ động, quyết tâm và tầm nhìn chiến lược, Quân đội và Nhà nước ta sẽ xây dựng được một hệ thống pháp luật đủ mạnh mẽ để làm chủ kỷ nguyên AI và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trên mọi mặt trận.

Bài 6: Trách Nhiệm Của Người Chỉ Huy Trong Quản Lý Rủi Ro AI và Tin Giả

 


Trong kỷ nguyên số, vai trò của người chỉ huy không chỉ dừng lại ở việc lãnh đạo tác chiến truyền thống mà còn mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh mạng và quản lý công nghệ. Đặc biệt, khi trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng được ứng dụng sâu rộng, đồng thời tin giả và thông tin xấu độc do AI tạo ra trở thành mối đe dọa thường trực, trách nhiệm của người chỉ huy trong việc quản lý rủi ro từ AI và đối phó với ma trận tin giả là vô cùng quan trọng. Họ chính là người định hướng, kiểm soát và đảm bảo an toàn cho cán bộ, chiến sĩ và hệ thống quân sự trước những thách thức mới này.

AI và Tin Giả: Mối Quan Ngại Hàng Đầu Của Người Chỉ Huy

Sự xuất hiện của AI mang lại tiềm năng to lớn cho quân đội, từ việc nâng cao năng lực tình báo, tác chiến, đến tối ưu hóa hậu cần và huấn luyện. Tuy nhiên, nếu không được quản lý chặt chẽ, AI cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đối phương có thể lợi dụng AI để:

  • Tạo tin giả tinh vi: Sử dụng công nghệ deepfake để tạo ra hình ảnh, video, âm thanh giả mạo về các nhân vật, sự kiện quân sự, gây hoang mang, mất uy tín.
  • Thực hiện tấn công mạng tự động: AI có thể tự động dò quét lỗ hổng, phát tán mã độc, hoặc thực hiện các cuộc tấn công DDoS quy mô lớn, gây gián đoạn hệ thống chỉ huy, điều khiển.
  • Thao túng thông tin: AI có thể tạo ra các luồng thông tin sai lệch, lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng để định hướng dư luận, gây chia rẽ nội bộ, làm suy yếu ý chí chiến đấu của quân nhân.

Đối với người chỉ huy, những rủi ro này không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là thách thức lớn đối với việc duy trì kỷ luật, củng cố tư tưởng và bảo toàn bí mật quân sự. Một thông tin giả có thể gây ra quyết định sai lầm, một cuộc tấn công mạng có thể làm tê liệt hệ thống, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tác chiến và an toàn của đơn vị.


1. Nâng cao nhận thức và tầm nhìn về AI: Người chỉ huy phải là người tiên phong trong việc nắm bắt xu thế AI, hiểu rõ khả năng và giới hạn của nó. Điều này đòi hỏi họ không ngừng học hỏi, tham gia các khóa tập huấn về AI và an ninh mạng để có cái nhìn toàn diện, không "thần thánh hóa" hay "e ngại" công nghệ. Một tầm nhìn chiến lược về AI sẽ giúp họ đưa ra những quyết định đúng đắn trong việc đầu tư, ứng dụng và kiểm soát.

2. Xây dựng văn hóa cảnh giác số: Người chỉ huy cần xây dựng trong đơn vị một văn hóa cảnh giác cao độ với thông tin trên không gian mạng. Điều này bao gồm việc thường xuyên quán triệt về các chiêu thức tin giả, hướng dẫn cán bộ, chiến sĩ cách kiểm tra, xác minh thông tin trước khi tin tưởng và chia sẻ. Khuyến khích tư duy phản biện, không tin ngay những gì thấy trên mạng xã hội, đặc biệt là các thông tin liên quan đến quân đội, quốc phòng.

3. Đảm bảo an toàn thông tin và dữ liệu: Người chỉ huy phải chịu trách nhiệm cao nhất trong việc bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu của đơn vị. Điều này bao gồm việc triển khai các biện pháp kỹ thuật bảo mật tiên tiến, kiểm tra định kỳ các lỗ hổng, và đặc biệt là nâng cao ý thức tuân thủ quy định về an toàn thông tin cho mọi quân nhân. Mọi việc ứng dụng AI đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình bảo mật đã được xác lập.

4. Khuyến khích ứng dụng AI có kiểm soát: Người chỉ huy không nên cấm đoán AI vì lo ngại rủi ro, mà cần khuyến khích việc ứng dụng AI một cách thông minh, có kiểm soát để nâng cao hiệu quả công việc. Việc này bao gồm việc lựa chọn các giải pháp AI phù hợp, đào tạo kỹ năng sử dụng cho quân nhân và thiết lập các "hàng rào" kiểm soát để đảm bảo AI phục vụ đúng mục đích, không gây ra tác dụng phụ.

5. Chỉ đạo đấu tranh phản bác tin giả hiệu quả: Khi tin giả xuất hiện, người chỉ huy phải là người ra quyết định nhanh chóng, chỉ đạo các lực lượng chuyên trách và toàn đơn vị tham gia đấu tranh phản bác. Việc này bao gồm việc phối hợp với các cơ quan thông tin, truyền thông để công khai sự thật, cảnh báo cộng đồng và vô hiệu hóa tin giả một cách nhanh nhất. Trong môi trường quân đội, việc phản ứng kịp thời và mạnh mẽ với tin giả là yếu tố then chốt để duy trì ổn định tư tưởng và kỷ luật.


Trong bối cảnh AI và không gian mạng ngày càng định hình cục diện chiến trường hiện đại, trách nhiệm của người chỉ huy trong việc quản lý rủi ro từ AI và tin giả là không thể xem nhẹ. Họ không chỉ là những nhà chiến lược trên mặt trận thực địa mà còn là những người tiên phong trên mặt trận tư tưởng và công nghệ. Bằng việc nâng cao nhận thức, xây dựng văn hóa cảnh giác số, đảm bảo an toàn thông tin và chỉ đạo đấu tranh hiệu quả, người chỉ huy sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh, làm chủ công nghệ, và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên số.