Thứ Tư, 12 tháng 11, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NHÂN ĐÀ TÀU CAO TỐC!

     Nghe ae me Mẽo (gốc baque) tranh luận rằng người mẽo thích bay hơn, cần đéo gì tàu cao tốc, hỡi ôi lòng người sao quá điêu ngoa, người Mĩ đéo có, chứ thèm bỏ mẹ ra nhưng hỡi ôi, đéo làm đc.

Yếu tưởng phú - tiên tu lộ (Muốn giàu, hãy làm đường)

Tản mạn tàu cao tốc cuả anh em California.

Người Mĩ cay vụ này, đường đường là cường quốc, nhưng đéo có tàu cao tốc, uất chứ, là nói tàu cao tốc là tốc độ cỡ 300kmh. chứ tốc độ 100km/h ae có đầy.

Con tàu Acela express lừng danh nước mĩ chạy từ hoa thịnh đốn đi philadenhia chạy đc tốc độ 300kmh trên vỏn vẹn hỡi ôi .... 50km ray, đoạn còn lại giảm còn 1 nửa.

Nói về đường sắt cao tốc, Mĩ thua trunghoa đúng 500 lần.

Một trong những Bang giàu nhất nước Mĩ, California quyết định xây, quãng đường dài 1300km, dự tính 32 tỷ đô, từ Los Angeles và vài vùng nữa rồi đến San Francisco.

Nghe ngon ko?? quá ngon. Công nghệ Mĩ ổn ko? quá ổn luôn.

Ae bàn nhau họp bàn chán tính toán như thần, quyết rồi làm thôi.

Cơ mà vào tháng 2 năm 2019, Thống đốc Gavin Newsom phán, chỉ xây đc 270 km, đoạn còn lại hoãn vô thời hạn, tầu tầu cc, lí do là hết cmn tiền rồi.

Cái này kêu bằng đội giá?? vn đội giá ae chửi ầm lên, nhưng Mĩ đội thì ae im tịt nhé ??

Thật vậy, anh em Mĩ tính toán thế đ.é0 nào nhầm be bét, giá 32 tỷ đô dự tính đội lên 78 tỷ, và giờ là 100 tỷ, anh em ko đào đâu ra tiền. giá vé dự tính 55$ cho 1 chiều từ san - los giờ đội mẹ nó lên 150$, cầm chắc lỗ vỡ mồm.

Cái này nói lên Mĩ là chính quyền trung ương yếu, liên kết giữa các bang hơi lỏng, gần như những quốc gia riêng, trung ương đ.é0 đào đâu ra tiền cho anh em Càli luôn. cũng như bác Trump gào mãi ko ra tiền xây bức tường ngăn ae Mễ.

Giá thành là vấn đề, khi xây mới thấy, 1 km ở cà li, anh em phải trả tới 200 triệu đô cho 1 km. ( ae ko nghe nhầm đâu )

Giá ở châu âu là 25 triệu đô/km và chỉ 19 triệu đô/km ở Trunghoa.

Người Trunghoa xây rẻ vì họ đã xây tới 30 ngàn km ray cao tốc, cứ mỗi km họ xây, họ rút ra đc 1 kinh nghiệm nhỏ, sau khi xây 10.000km, thì những kinh nghiệm đúc kết đc sẽ hóa vàng ròng, thành ra giảm giá xây, anh em Mĩ không có Data này.

1 vấn đề nữa, Mĩ là tư sản, anh em chỉ đầu tư nếu có lãi, nhưng tàu cao tốc là 1 dạng đặc biệt, rất khó thu lãi từ giá vé. ae đầu tư phải tự xoay, nhà trắng đ.é0 bơm tiền.

Cộng sản, về vụ này, lại ưu việt hơn anh em tư sản.

Người Tàu xây toàn lỗ, lỗ thoải mái, trung ương bơm tiền đ.é0 phải nghĩ luôn.

Duy nhất tuyến bắc kinh - thượng hải, sau mấy năm lỗ, giờ đã bắt đầu có lãi và bù dần cho các tuyến khác.

Tại sao ae cộng sản đ.é0 ngán lỗ?? ví dụ như tuyến đường sắt lên tây tạng, 100 năm nữa vẫn lỗ, nhưng ae đ.é0 ngán phí tổn luôn.

Vì dù lỗ tiền vé, cái đc là tăng trưởng kinh tế đều các vùng, giảm đc 1 năm vài triệu tấn carbon dioxide (CO2), tạo công ăn việc làm, tăng cường buôn bán, du lịch, thúc đẩy kinh tế các tỉnh nghèo, giảm tải cho các thành phố lớn, nếu nói quốc gia là cơ thể, thì tàu cao tốc như mạch máu, đi tới đâu người hồng hào tới đó. giá vé ko nói lên điều đó.

Và sự thật, trunghoa tăng trưởng như vũ bão, nhờ họ đi đúng hướng, cả tàu cao tốc lẫn đường cao tốc họ xây như nhện xe tơ, thật đáng nể. trung ương thu thuế nhờ tăng trưởng, bơm tiền cho cao tốc khỏi nghĩ luôn.

Người trunghoa quan niệm chỉ làm cao tốc thì mới giàu, chứ ko phải chờ giàu mới làm.

Anh em Mỹ Cà li đành ngậm ngùi, lí do ae thua Trung hoa vụ tàu cao tốc hỡi ôi, vì anh em là dân chủ đa đảng, chi 1 xu cũng cãi nhau ỏm tỏi, làm sao lại đc "thằng" tỷ phú trunghoa độc Đảng độc tài, hét 1 câu tiền về ào ào như lũ miền Tây.

Hiện tại anh em cà li vẫn nhúc nhắc cạo gỉ và bảo dưỡng lặt vặt, chi phí vẫn 1,8 triệu đô 1 ngày cho lương công nhân, duy tu thiết bị, chứ ko biết 15 năm nữa có xây xong hay ko, ae cạn sạch tiền, bọn thối mồm nói ae ko thể xây xong trong thế kỉ này.

.... Và giấc mơ ngồi tàu cao tốc 2h40 phút từ Los Angelesđến San Francisco của anh em Cà Li đã xa tíc, xa tíc./.
Môi trường ST.

CHỐNG XUYÊN TẠC LỊCH SỬ: CÓ KẺ RÊU RAO RẰNG NGUYỄN ANH VÀ LÊ VĂN DUYỆT CÓ “CÔNG LỚN MỞ CÕI PHƯƠNG NAM”, NGHE MÀ BUỒN CƯỜI!

     Khi Nguyễn Ánh còn đang trốn chạy quân Tây Sơn, tá túc để xin cầu viện ở Xiêm La (Thái Lan) thì đất Nam Kỳ lục tỉnh gồm Gia Định, Biên Hòa, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đã thuộc về Đại Việt hơn một thế kỷ rồi! 

Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh, ông là người Quảng Bình, tướng tài của chúa Nguyễn Phúc Chu (bề tôi của vua Lê) được lệnh đi công tác dài ngày ở phương Nam. 

Ông lập dinh Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Sài Gòn), đặt quan cai trị, tổ chức xã thôn, đưa dân từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định… vào khai khẩn ruộng hoang. Nhờ Nguyễn Hữu Cảnh, vùng đất vốn thuộc Chân Lạp mới được đưa vào bản đồ Đại Việt, đó mới là mở cõi thật sự!

Sau khi ông mất, người Việt và người Hoa di dân tiếp tục mở rộng. 

Đến thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (thế kỷ 18), lãnh thổ Việt đã mở tới Định Tường, Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ. Những danh tướng như Trương Phước Du, Nguyễn Cửu Vân, Nguyễn Cư Trinh nối tiếp công cuộc Nam tiến, trấn giữ biên cương, chiêu dân lập ấp, đánh lui quân Chân Lạp. Nguyễn Cư Trinh nổi bật với chủ trương “tằm thực” mở đất dần dần, lấy sức dân mà dựng nước, không gây chiến lớn, thể hiện tầm nhìn sâu xa...

Cuối cùng, vùng Hà Tiên – An Giang được Mạc Cửu và con là Mạc Thiên Tứ khai phá, rồi quy thuận chúa Nguyễn, xác lập chủ quyền Đại Việt ở cực Tây Nam.

Như vậy, từng tấc đất Nam Kỳ Lục Tỉnh là mồ hôi, xương máu của các bậc tiền nhân thời chúa Nguyễn, mà người mở đường vĩ đại nhất chính là Nguyễn Hữu Cảnh.

Còn Nguyễn Ánh và Lê Văn Duyệt sinh sau đẻ muộn thì chỉ thừa hưởng thành quả đã có sẵn, chứ không hề có công mở cõi gì cả. 

Nếu có, thì Nguyễn Ánh có “công mở cõi” cho Vạn Tượng khi chính Lê Huy Chú, một viên quan viết sử trong triều Gia Long thừa nhận, năm Gia Long thứ nhất (1802) đem đất ấy phong cho nước Vạn Tượng: “Trước kia vua từ thành Gia Định ra đánh miền Bắc, quốc trưởng nước Vạn Tượng là Chiêu Ấn nhiều lần cho binh theo quan quân ở miền thượng đạo đi đánh giặc. Khi Bắc Hà đã định, vua lấy đất Trấn Ninh ban cho”.

Trời ơi! Cương thổ chủ quyền đó không chỉ là đất, mà là máu của tổ tiên, là xương của dân phu, nghĩa sĩ qua hàng nghìn năm giữ gìn. Thế mà trong chính sử triều Gia Long chỉ một câu “ban cho Vạn Tượng”, nghe nhẹ hều, một vùng lãnh thổ rộng lớn Khăm Muộn từng thuộc Nghệ An - Thanh Hóa, nơi biết bao thế hệ người Việt từng cắm mốc, dựng trấn, đổ máu để giữ gìn mới có được. 

Hàng loạt triều đại mở cỏi, mở đất bằng mồ hôi, máu, và trí tuệ. Không triều đại nào được phép coi lãnh thổ như vật sở hữu riêng của một dòng họ. Càng không thể lấy đất của dân Việt để đổi lấy ngai vàng cho riêng mình. Cho đất, dâng đất, ban tặng nghĩa là làm mất đất, nghĩa là phản bội tiền nhân suốt mấy nghìn năm mở đất dựng nước và giữ nước. 

Thời Lý, Trần, Lê lấy máu mà mở đất, lấy nhân nghĩa mà chiêu dân mở cõi. Còn Gia Long- Nguyễn Ánh và tay chân của y đem giang sơn đổi ngôi vua. 

Thật đau xót, lịch sử hàng năm nước Việt chưa có ông vua nào coi đất đai của Tổ quốc là món quà để tạ ơn ngoại bang nhưng Gia Long- Nguyễn Ánh và tay chân thân tín của y thì làm ngược lại./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MUỐN PHÁ HỦY MỘT QUỐC GIA - HÃY PHÁ HOẠI NỀN GIÁO DỤC!

- "Khai phóng", "tây hóa" đã phá nát nền tảng giáo dục truyền thống - nền giáo dục XHCN; chính "khai phóng", "tây hóa" đã dung dưỡng, cổ súy chủ nghĩa cá nhân vị kỷ; âm thầm gậm nhấm, đầu độc làm ung mục cái nôi ấp thế hệ tương lai của đất nước.

- Ở TRƯỜNG thầy cô đã quá mệt mỏi, chán nản với đủ thứ áp lực do cái "khai phóng", "tây hóa", cải tiến cải lùi, các thủ tục nhì nhằng... Rồi áp lực từ phụ huynh, từ mạng xã hội đã tước đi quyền làm thầy, tước đi công cụ, phương pháp, tâm huyết giáo dục của người thầy - Tâm lý chán nản, bất lực, bất đắc trí trong một bộ phận thầy cô đã đẩy họ đến tình trạng "buông xuôi", "dạy cho xong", "mặc kệ"...!

- Ở NHÀ thì ông bà bố mẹ nuông chiều, mải lao đầu vào công danh sự nghiệp, kiếm tiền, mưu sinh mà thiếu quan tâm, dạy dỗ, đáp ứng vô điều kiện các nhu cầu của con trẻ...

- XÃ HỘI với sự bùng nổ của internet, mạng xã hội, smartphone và đủ các cám dỗ, cạm bẫy... những trào lưu độc hại trên mạng...

=> Thế hệ tương lai của đất nước bị ngâm tẩm, bị hủy hoại từ bốn phương tám hướng! 10, 20, 30, 40 năm nữa khi những thanh thiếu niên ngày nay trở thành chủ nhân của đất nước và khi đó lớp người như kẻ đang viết ra những dòng này chắc đã mắt mờ, chân chậm hoặc đã sang thế giới bên kia - Đất nước, dân tộc ta lúc đó sẽ ra sao?! Nhìn vào bọn đầu trọc tại Ukraina giật đổ tượng Lenin và các anh hùng cách mạng; nhìn vào bọn Genz Nepal đập phá, đốt thành phố, thiêu sống cảnh sát... mà tôi không khỏi rợn người, ớn lạnh - Lo lắng viễn cảnh đó, tai họa đó có thể đe dọa đất nước ta! Chúng tôi già rồi chúng tôi cũng sẽ chết, nhueng chính con cháu chúng ta có thể sẽ phải gánh chịu tai họa đó!

Tất nhiên bức tranh không phải hoàn toàn màu xám, thế hệ trẻ, nền giáo dục cũng vậy, nhiều điểm sáng, điểm đáng mừng nhưng những nguy cơ, những mối lo mà tôi nhắc ở trên đang ngày một nhiều! Thực tiễn đã phơi bày ra trước mắt những nguy cơ đó không phải mông lung, mơ hồ nữa... mà nó đang hiện hữu. Tôi viết ra những dòng này tuyệt đối không do bi quan, cả nghĩ mà muốn cảnh báo, cảnh tỉnh, cảnh giác để các bậc làm cha làm mẹ, xã hội, những người lãnh đạo có tâm, có tầm, những người có chức trách, nhiệm vụ đối với xã hội nếu có đọc được thì hãy hành động, trong sức lực, khả năng của mình hãy bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước - Bảo vệ, chấn hưng nền giáo dục XHCN là hướng đi là phương pháp tối ưu nhất, quan trọng nhất, có ý nghĩa sống còn nhất!





Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “GIÓ ĐƯA CÂU CẢI VỀ TRỜI RAU RĂM Ở LẠI CHỊU ĐỜI ĐẮNG CAY”!

     Câu ca dao phổ biến này gắn liền với câu chuyện về bà Phi Yến, thứ phi của Nguyễn Ánh, và người con trai là Hoàng tử Cải.

Truyền thuyết này không được ghi chép chính thức trong sử sách nhà Nguyễn (như Đại Nam Thực Lục), nhưng lại có sức ảnh hưởng rất lớn trong dân gian, được lưu truyền một câu chuyện bi thương về gia đình Nguyễn Ánh.

Năm 1783, trong cuộc chiến cam go với quân Tây Sơn, chúa Nguyễn Ánh phải cùng đoàn tùy tùng chạy dạt ra đảo Côn Lôn (Côn Đảo ngày nay) để lánh nạn.

Trong số những người theo chúa có Hoàng Phi Yến (tên tục là Lê Thị Răm), một thứ phi xinh đẹp và thông minh, cùng con trai chung của họ là Hoàng tử Cải (tên tục là Hội An), khi đó mới chừng bốn tuổi.

Sau nhiều lần thất bại, Nguyễn Ánh ngày càng tuyệt vọng và quyết định nghe lời Giám mục Bá Đa Lộc, chuẩn bị đưa Hoàng tử Cảnh sang Pháp làm con tin để cầu viện binh lực ngoại bang. Khi biết tin này, Hoàng Phi Yến đã tìm đến can ngăn Nguyễn Ánh:
“Việc đánh nhau với Tây Sơn là chuyện trong nhà, thiếp nghĩ chúa công không nên nhờ vả ngoại bang. Nếu thắng được Tây Sơn thì chẳng vẻ vang gì, mà e còn lắm điều rối rắm về sau, chẳng lợi cho xã tắc”.

Lời can ngăn chính trực này không những không được chấp nhận mà còn làm Nguyễn Ánh nổi giận lôi đình. Trong cơn nóng giận, Nguyễn Ánh nghi ngờ Phi Yến đã thông đồng với quân Tây Sơn, lập tức ra lệnh giam bà vào một hang đá lạnh lẽo trên hòn đảo hoang vắng.

Ít lâu sau, tin cấp báo quân Tây Sơn sắp đổ bộ lên Côn Lôn khiến đoàn quân Nguyễn Ánh hoảng loạn, phải vội vàng nhổ neo lên thuyền tháo chạy sang đảo Phú Quốc.

Khi mọi người đã yên vị trên thuyền, Hoàng tử Cải ngước nhìn lên, không thấy mẹ đâu. Đứa bé ngây thơ khóc lóc, kêu gào, đòi trở lại để tìm mẹ. Thấy con trai khóc lóc thảm thiết đòi mẹ, lại nhớ đến lời can ngăn của Phi Yến trước đó, Nguyễn Ánh càng thêm tức giận và uất ức.

Trong cơn thịnh nộ không kìm nén được, Nguyễn Ánh đã túm lấy đứa con trai ruột của mình rồi ném thẳng xuống biển lạnh giá.

Thi hài bé nhỏ của Hoàng tử Cải trôi dạt vào bãi Cỏ Ống. Dân làng thấy thương tình, đã mang xác cậu bé xấu số lên bờ chôn cất tử tế và lập miếu thờ, gọi là Miếu Cậu.

Cùng lúc đó, dân làng Cỏ Ống biết chuyện nên đã tìm đến hang đá, giải cứu Phi Yến. Khi nghe tin dữ về cái chết bi thương của con trai, bà Phi Yến vô cùng đau đớn, nước mắt cạn khô, chỉ còn biết về sống nương tựa bên cạnh mộ con.

Thời gian sau, Nguyễn Ánh trở lại Côn Lôn. Biết chuyện Phi Yến được dân làng cứu giúp và đang ở đây, ông đã sai người đón bà về. Dân làng thương tiếc số phận bà, muốn bà ở lại nên đã mời bà đến dự lễ hội dân gian. Tại đây, bà Phi Yến bị tên đồ tể Biện Thi sàm sỡ. Để giữ trọn tiết hạnh, bà đã tự tử.

Thương cảm trước số phận bi thương nhưng tiết liệt của bà, dân làng đã lập miếu thờ bà tại làng An Hải, gọi là An Sơn Miếu.

Từ đó, dân gian truyền tụng câu ca dao:
“Gió đưa cây Cải về trời,
Rau Răm ở lại chịu đời đắng cay”.

Câu ca dao ấy không chỉ là sự thương cảm của người dân dành cho hai mẹ con, mà còn là lời kết án nặng nề đối với sự tàn nhẫn, độc đoán của Nguyễn Ánh. Miếu thờ Bà Phi Yến (An Sơn Miếu) và Miếu Cậu (Hoàng tử Cải) tại Côn Đảo ngày nay vẫn là nơi dân gian thờ phụng để tưởng nhớ bi kịch đau thương này./.
-----
*Cây Cải: Tượng trưng cho Hoàng tử Cải.
*Rau Răm: Tên tục của Bà Phi Yến (Lê Thị Răm).
Khuyết danh ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: HỊCH XUẤT QUÂN CỦA ANH HÙNG ÁO VẢI CỜ ĐÀO - VỊ VUA TRỰC TIẾP CẦM DAO KIẾM ĐÁNH GIẶC!

“ĐÁNH CHO ĐỂ DÀI TÓC 
ĐÁNH CHO ĐỂ RĂNG ĐEN 
ĐÁNH CHO NÓ CHÍCH LUÂN BẤT PHẢN 
ĐÁNH CHO NÓ PHIỀN GIÁP BẤT HOÀN 
ĐÁNH CHO SỬ TRI NAM QUỐC, SƠN HÀ CHI HỮU CHỦ
*********** 
Giặc Thanh sang xâm phạm bờ cõi,
bọn NA LVD bán nước cầu vinh rước giặc vào nhà.

Chúng tưởng nước ta đã mất chủ,
dân ta đã cúi đầu chịu nhục,
nên dám ngang nhiên giày xéo non sông này!

Nay trẫm cùng tướng sĩ,
nguyện lấy thân này báo đền xã tắc,
quyết đánh một trận rửa nhục cho nước,
giữ vẹn giang sơn mà tổ tông để lại.

Kẻ nào hèn nhát, lùi bước - chém trước trận!

Kẻ nào liều chết xông pha - thưởng gấp mười!

Trẫm cùng các ngươi,
đồng tâm hiệp lực, sống thác có nhau.

Một trận này không thắng - thì cùng chết!

Đánh cho bọn giặc phương Bắc biết rằng:

Nước Nam này có chủ,
dân Nam này có hồn!

Đánh cho non sông cởi xiềng,
cho xã tắc trường tồn,
cho muôn đời sau còn biết đến anh linh dân Việt!”.

Cuối năm 1788, 29 vạn quân Thanh theo lệnh vua Càn Long tràn sang xâm lược nước ta, với danh nghĩa “phù Lê diệt Tây Sơn”.

Chỉ trong một tuần lễ, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, ban lời hịch ra quân, thân chinh chỉ huy đại quân ra Bắc.

Chỉ trong 5 ngày Tết Kỷ Dậu, đại quân Tây Sơn đánh tan toàn bộ quân Thanh, quét sạch xâm lược.

SỰ TRÁO TRỞ TRƠ TRẼN
Kẻ bán nước Nguyễn Ánh “cõng rắn cắn gà nhà” đã bị người dân Việt Nam nguyền rủa bao đời nay, gần đây được một số tờ báo “phục dựng” lại trở thành anh hùng dân tộc?

Nguyễn Ánh tên thật là Nguyễn Phúc Ánh hiệu là Gia long sinh năm 1762, mất năm 1820, kẻ cầu viện ngoại bang đem quân sang đánh nhà Tây Sơn. Năm 1802, với sự suy yếu của vương triều Tây Sơn bắt đầu từ khi Vua Quang Trung mất. Được sự giúp đỡ của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh đã lật đổ nhà Tây Sơn lập ra nhà Nguyễn.

Trong suốt thời gian lưu vong đến khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã phạm những tội lỗi tày trời đối với đất nước, gia tộc mà không thể dung thứ. Để có được ngôi vua, Hắn không từ một thủ đoạn đen tối nào. Nguyễn Ánh đã dùng con trai mình là Hoàng tử Cảnh làm con tin cho Pháp; giết con trai mình là Hoàng tử Cải lo sợ bị tiếm quyền. Khi vợ Hắn là bà Phi Yến khuyên không nên cầu viện ngoại bang, Hắn đã giam bà đến chết. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã phá thành Thăng Long lấy gạch ngói vào Phú Xuân xây Kinh đô Huế. Một (anh hùng dân tộc)@ sao lại có hành động hèn hạ như vậy?

Cuối thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh chiếm đoạt quyền hành nhà Lê ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ lập vương triều độc lập ở Đàng Trong, đất nước chia 2 suốt hơn 200 năm cho đến khi anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa thành công chấm dứt tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài, giang sơn liền dải. chính Quang Trung lần lượt đập tan các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La ở phía Nam và Mãn Thanh Ở phía Bắc, Lê Chiêu Thống rước 29 vạn quân Mãn Thanh vào giày xéo đất nước.

Ở miền Nam Nguyễn Ánh quỳ gối để giặc Xiêm La vào xâm lược nước ta. Sau khi Xiêm La thất bại, Nguyễn Ánh đã cầu viện giặc Pháp đánh nhà Tây Sơn chiếm vương quyền. Hắn đã cắt cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, mở đường cho Pháp xâm lược Việt Nam.

Chỉ những kẻ bán mình cho quỷ mới ca ngợi Nguyễn Ánh là anh hùng dân tộc,Đánh tráo lịch sử là hành động hồ đồ không thể chấp nhận.
Thời thế có thể thay đổi nhưng lịch sử ko thể thay đổi./.



Khuyết danh ST.

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TÌNH HÌNH Ở VENEZUELA LÚC NÀY QUÁ CĂNG, CHIẾN TRANH ĐẾN NƠI RỒI.

     Mỹ thì đã quyết định x.â.m lược Venezuela và họ đang họp bàn kế hoạch triển khai cuộc x.â.m lược này.

Nga đã đưa đến Venezuela rất nhiều V.ũ khí, Thiết bị quân sự như "V.ũ k.h.í tận thế" là Oreshnik, Máy bay n.é.m B.o.m chiến lược có khả năng mang theo VKHN là "BlackJack", các loại Tên lửa đất đối không, không đối không, V.ú k.h.í cầm tay và nhiều loại V.ũ k.h.í và trang thiết bị, vật tư hậu cần phục vụ chiến tranh.

Đặc biệt Nga vừa tuyên bố họ sắp tập trận trên lãnh thổ Venezuela với sự tham gia của Quân đội Venezuela - Nga - Trung Quốc - Triều Tiên - Iran.

Hi vọng Mỹ khiếp sợ cuộc tập trận này mà Mỹ rút lại ý định gây chiến./.

Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: MỘT CHÚT SUY TƯ VỀ CHỮ "LỄ"!

     Ngày xưa, từ những ngày mới hồn nhiên và còn lắm những ương bướng ấu thơ được đi học. Mỗi ngày khi ôm cặp sách đến trường, mỗi người trong chúng ta đều nhìn thấy ngay một câu chữ có tính nghiêm giảng:
"TIÊN HỌC LỄ HẬU HỌC VĂN" được bài trí, hiển hiện nhiều nơi ở trường và các lớp học.

Không ai bảo ai nhưng mỗi chúng ta đã tự hiểu rằng muốn làm được người tốt có trình độ học thức, trước tiên trong mỗi chúng ta phải luôn tâm niệm về cái học trước tiên là nhân cách lễ nghĩa, phải biết sáng tỏ cái "tư chất đạo đức làm người", phải học những điều lễ giáo thật chỉnh chu trước tiên; phải biết tuân nghiêm với đạo lễ phép tắc. Nghĩa là tư tưởng chúng ta phải luôn ý thức được rằng cần phải rèn luyện đạo đức, phép tắc ứng xử, tuân thủ một thái độ sống đúng đắn, chuẩn mực trong tất cả các mối quan hệ với người khác như phải biết tôn thờ, kính trọng người trên, tôn trọng lẫn nhau trong ứng xử giữa bè bạn...

Từ đó, TIÊN HỌC LỄ cũng có thể xây dựng nên những tình cảm cao quý, biết yêu mến và vị tha, khiêm nhường và thường hiện trong hoàn cảnh sống. 

Câu nghiêm giáo nói lên điều gì. Rất dễ hiểu, rằng chúng ta cần phải hiểu rõ những điều HỌC LỄ đó rồi sau đó mới có thể học đến những bài học kiến thức và sách vở văn hóa khác. 

Ngược lại, không học LỄ, hoàn thành được phép tắc đạo đức LỄ trong cuộc sống và quan hệ ứng xử thì mỗi chúng ta sẽ rất dễ sa ngã, đảo lộn nhân cách sống khi tiếp xúc với cộng đồng và nhiều hoàn cảnh tập thể khác. Người không học, tiếp thu triết LỄ hiểu được cái phạm trù Lễ sẽ hư hỏng về mặt đạo đức, dẫn đến sa sút về nhận thức lý trí (vô lễ sinh bất trí).v.v Vô đạo lễ sẽ không thể nào HỌC VĂN thành đạt hay nói đúng hơn, vô Lễ là không thể có thành tựu học vấn.

 Tầm quan trọng của từ LỄ là vô cùng lớn lao, khuyến tạo nên mọi giá trị bền vững xung quanh mỗi chúng ta. LỄ là giềng mối hun đúc nên phẩm chất cao đẹp và trí tuệ sắc sảo, thông minh trong mỗi con người. 

Người học LỄ và truyền đạt được LỄ sẽ luôn có một thành quả sống chất lượng và tươi đẹp.

Từ xa xưa, nền đạo học Nho giáo đã nói về Lễ trong đời sống "Tam cương - Ngũ thường" và nó là một hệ thống luân lý làm nên những nền tảng đạo đức và quyết định trật tự xã hội. Ngũ thường nhân - lễ - nghĩa - trí - tín là những đức hạnh mà con người cần phải có. Đạo học xem ngũ thường là sự thường hằng mà đời sống con người cần phải học, tuân thủ quy tắc sống để vươn xa về mặt trí tuệ và giữ gìn những nền tảng đạo đức.

Đức Khổng Tử vị thầy vĩ đại trong lịch sử nhân loại có dạy rằng : 

"Một ngày biết nén mình theo Lễ thì thiên hạ sẽ quy về nhân vậy” - "Nhất nhật khắc kĩ phục lễ thiên hạ quy nhân yên -.

"Bất học lễ vô dĩ lập" - nghĩa là không học lễ không biết lập thân;

hoặc "Bất tri lễ vô dĩ lập dã" - nghĩa là "không biết lễ không thể tự đứng vững được". Lễ quy về nhân, không lễ lòng nhân ái sẽ bị xói mòn và triệt đổ.

Tóm lại tầm quan trọng của LỄ là vậy, Lễ là quy tắc sống trong mỗi con người trên hành trang xây dựng cuộc sống và bước trên con đường văn minh, phát triển. LỄ là quy tắc chung gia cố sự trường tồn những nền tảng và các giá trị văn hóa lối sống, nhiều truyền thống đạo lý, nhân văn phổ quát trong đời sống mọi mặt từ gia đình đến xã hội trong mỗi chúng ta.

 Lễ nghi còn tượng trưng cho những điều gì đó bất hủ, lưu truyền chảy mãi không dứt và hiện sinh sống mãi với thời gian; in đậm những phong thái thẩm mỹ và thiêng liêng. Lễ nghi, quy tắc đạo đức tồn tại trong tiềm thức soi chiếu đến cùng những triết lý nhân đạo và lịch sử văn hóa dân tộc.

Bởi LỄ chính là cội nền những phạm trù đạo đức của xã hội là chuẩn mực cao quý trong mối quan hệ vừa nhân văn vừa đạo lý giữa con người với con người. Vạn vật và nguyên tắc hoạt động của nó đều có thể biến thành đạo LỄ, nếu như con người biết dụng Lễ. 

 Chính vì vậy đối với nền Giáo dục của đất nước phải luôn cần giáo LỄ, chỉ bảo những lời dạy LỄ thì nền giáo dục đó mới có thể mang lại thành tựu về chất lượng trồng người hoàn mỹ.

 LỄ tạo nên hệ giá trị nhân văn con người mang tính kế thừa và phát huy vô cùng đến những tiềm năng hùng mạnh và được tiếp nối đời đời như dòng chảy bất tuyệt ; phẩm giá con người luôn được nâng cao là nhờ LỄ được thầm nhuần bởi tố chất và biểu hiện ra bên ngoài. Năng lực và tâm trí con người có thể được trau sáng hơn bởi những giáo điều trọng LỄ.

Ngày nay, LỄ trong trường học đã không còn được chú trọng một cách nghiêm giáo như xưa.

 Thiết nghĩ, đã đến lúc con người chúng ta phải tỉnh táo trước những hào quang tạm thời của thành tựu đang sống; dừng thỏa mãn với những thứ nhân văn giả tạo do đời sống tự do hội nhập, phát triển từng ngày của xã hội mang lại.

 Đừng nên ngộ nhận mà sở thích những cung cách văn hóa ngoại lai, ứng xử thiếu chuẩn mực, đi chệch những lề lói nhân triết đang mỗi ngày xâm thực sâu vào đời sống mỗi con người. Bởi lẽ Lễ nghi chính là phong cách đã thấm nhuần và thái độ sống, nó biểu hiện trên mỗi con người cả nội dung và hình thức. 

 Nguy hiểm hơn, bên cạnh những ý tưởng nhân quyền, tự do được rao giảng lệch lạc là sự ảnh hưởng sâu sắc từ những chiều hướng công nghệ, khoa học kỹ thuật lấn sâu vào đời sống tiện ích một cách thường nhật ; những tác động thường xuyên, phi truyền thống do kinh tế xã hội phát triển và nhiều sự giao lưu, giao thoa hợp tác mang lại. 

Hơn lúc nào hết, hiện nay đất nước Việt nam chúng ta, con người Việt và mỗi gia đình Việt chúng ta nên nhận thức sâu sắc về nghĩa nhân triết cũng như cần thấm nhuần hơn về đạo học Lễ... Đạo Lễ nhìn chung là cái gốc của đạo lý nhân sinh, muôn đời không thể đánh đồng với những tiêu chí khác hay tạo sự đồng dạng thành nhận thức sai biệt.

 Lễ là niềm chân của tính cách, thể hành động nhất quán của đạo đức, là duy niệm khách quan phát triển thành nhân cách lớn lao cho con người. Phục Lễ để hành đạo nhân như ý Khổng Tử và cũng để học văn hóa, kiến thức uyên sâu, tài giỏi hơn (hậu học Văn), điều cần nỗ lực trong thế giới này.

Lễ tạo nên một tinh thần đại đoàn kết, tỷ như một sức mạnh vô hạn, sẵn sàng ứng phó trước những gì cao siêu đối địch nhất nằm trong mưu đồ chống phá, xâm lăng của kẻ địch đối với sự nghiệp xây dựng phát triển và bảo vệ Tổ quốc, chấn hưng nhiều mặt trong hành trình không ngừng vững mạnh đi lên của dân tộc ta.

Quan trọng vô cùng, vô biên về tính nhân triết và tính giáo hóa của LỄ./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KÌNH NGƯ QUANG - SANH ĂN UỐNG GÌ TRONG 2 NGÀY TRÊN BIỂN VÀ ÁP DỤNG NHỮNG KỸ NĂNG SINH TỒN NÀO ĐỂ THOÁT CHẾT???

     Khoảng 17h ngày 06/11, Cường buồn chuyện nhà, sẵn hơi men mất kiểm soát nhảy xuống biển, Quang và Sanh lập tức theo cứu.

Quang và Sanh mặc áo phao, cầm theo 1 cái cho Cường, lên thúng chèo ra lúc bão 13 đã nổi sóng.

 Anh em trên bờ cột một sợi dây dài vào thúng để nếu Quang và Sanh lâm nguy thì kéo vào bờ.

Thả hết dây mà chưa tới chỗ Cường, Quang và Sanh chấp nhận CẮT DÂY để chèo ra tiếp cứu Cường. Đây là chất anh hùng, tinh thần đồng đội thấm vào máu huyết con cháu đội hùng binh Hoàng Sa năm xưa. Trước khi lên đường ra giữ Hoàng Sa sẽ làm lễ KHAO LỀ THẾ LÍNH, chấp nhận "tế sống", xem như "đã một lần chết" để ra khơi bảo vệ biên cương.

Cứu được Cường nhưng sóng gió quá mạnh, đẩy thúng dần xa bờ. Ghe thuyền neo đậu cột chặt vào nhau chật cứng ở cảng neo đậu không thể ra cứu. Một chiếc ghe ở cảng Bến Đình chạy ra nửa đường, không thể chạy tiếp vì thiếu nước làm mát. Thúng trôi xa và màn đêm ập xuống, sóng dữ tăng dần.

Đến khoảng 20h, lật thúng !

Cả 3 người tụ lại ôm nhau để GIỮ ẤM, co người để giảm thất thoát nhiệt. Dĩ nhiên, cả ba người đều siêu bơi lội mới co người mà nổi trên sóng.

Đến khoảng 22h, sóng gió dữ dội nhất, Cường yếu hẳn (trẻ nhưng có men nên yếu), không bám vào nhóm được nữa, chào hai anh, em thả tay đây, rồi trôi một mình theo dòng hải lưu.

Quang và Sanh bám cùng nhau, thường xuyên kiểm tra và động viên nhau, NGỦ GỤC LÀ CHẾT, đến gần 3 giờ sáng sóng vẫn dữ dội, Quang 47 tuổi yếu hơn Sanh 37 tuổi, Quang chấp nhận thả tay theo dòng hải lưu, cả hai lạc nhau từ đây. Nhưng cả hai biết một điều, THIẾU NƯỚC LÀ CHẾT, nên tranh thủ uống nước mưa.

Sáng hôm sau, 07/11, trời trong xanh không một gợn mây, nắng chói.

Theo lời kể của cả Quang và Sanh, PHÂN PHỐI SỨC là điều hết sức quan trọng. Nghĩa là khi không thấy tàu thì nương theo sóng nước, hoạt động ít nhất có thể, để giữ sức. Thấy tàu thì bơi tới.

Cả ngày 07/11 và đêm 07/11 cả hai vẫn chưa được cứu, thấy nhiều tàu và bơi tới nhưng tàu không thấy mình.

Quang, người lớn tuổi và kinh nghiệm nhất, lại là người chuyên lặn biển bắt cá nên anh chụp được 1 con cua và vài con cá nhỏ bơi gần anh, cùng với ít rong, anh có bữa ăn ngon giữa biển để bổ sung đạm và nước.

Sanh lượm được chai nước suối ai đó uống nửa chừng rồi vất xuống biển, như là ông bà khiến để anh khỏi chết khát. Rồi anh lại lượm được quả táo thúi ai đó quăng giữa biển, còn nửa quả chưa thúi. Nó như quả táo bà tiên cho trong chuyện cổ tích, phước đức của ông bà để lại.

Chiều 08/11, Quang lần thứ bảy bơi tới đón tàu, thủy thủ thấy và Quang được cứu. Khi sang thuyền đội cứu hộ Lý Sơn, Quang nói không về, phải theo tàu đi cứu Sanh và Cường, Quang biết hai đứa hướng nào. 

Quang nói chắc nụi, thằng Sanh không thể chết được, nó còn khỏe lắm, khỏe hơn Quang nhiều. Tàu tiến về phía Nam và phát hiện ra Sanh. Đúng là Sanh còn khỏe, bỏ luôn áo phao, chỉ mặc quần đùi bơi cho lẹ, tiến về phía tàu.

Quang nói, Cường yếu hơn, không chắc sống được, nhưng vẫn có hy vọng. Cường thả tay sớm, trôi xa hơn và xa bờ hơn. Trời lại sắp tối, tưởng như vô vọng nhưng rồi tất cả vỡ òa khi nghe tin tàu cá tỉnh Quảng Bình đang chạy ngoài khơi xa tỉnh Bình Định vớt được Cường còn sống, ở hướng Đông khoảng 10 hải lý so với nơi cứu được Sanh.

Kỹ năng bơi lội siêu hạng chưa đủ, mà tinh thần thép cùng kinh nghiệm đầy mình mới vượt qua.

Và, phước đức ông bà, dư âm đội hùng binh Hoàng Sa còn vang vọng cùng với những lời khẩn cầu của người dân cả nước, những nỗ lực xuyên ngày đêm của các đội cứu hộ, đã đưa các anh trở về nguyên vẹn./.
Ảnh: Trước lúc CẮT DÂY, một khoảnh khắc chấn động tâm can người theo dõi!
Môi trường ST.

ÔNG CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 6 QUẢ TÊN LỬA STRIKE - NIỀM KIÊU HÃNH CỦA KHÔNG LỰC HUÊ KỲ BỊ LỪA TRONG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG!

     Năm 1972, giữa cao điểm chiến tranh điện tử, Mỹ tung ra phi đội “Chồn hoang” (Wild Weasel) - những chiếc máy bay F-105 được trang bị tên lửa chống bức xạ Shrike, chuyên săn lùng radar Việt Nam.

Chỉ cần ta bật sóng một giây, Shrike sẽ lao đến và phá hủy trận địa ngay lập tức.

Mỗi lần phát sóng là một lần thách thức giữa sự sống và cái chết.

Thế nhưng Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn, chỉ huy Tiểu đoàn 77, đã bình tĩnh nghĩ khác: “Nếu nó chỉ bắn khi ta phát sóng, thì ta bật sóng ngắn hơn nó bắt kịp.”

Ông cùng kíp trắc thủ nghĩ ra cách phát sóng ngắt quãng, chớp tắt theo nhịp, khiến Shrike không thể xác định mục tiêu. Sáu quả tên lửa Shrike niềm kiêu hãnh của công nghệ Mỹ bị lừa trúng hư không.

“Đó là cách mình biến cái mạnh của nó thành cái yếu.” - Đại tá Đinh Thế Văn.

Một câu nói giản dị, nhưng ẩn chứa triết lý chiến tranh thông minh của Việt Nam: Thắng bằng trí, không chỉ bằng sức.

💥Tham khảo cuốn sách "Điện Biên Phủ trên không - Bản hùng ca dưới trời rực lửa" của Đại tá, AHLLVTND Đinh Thế Văn - di sản giá trị cho thế hệ hôm sau./.
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA DỰNG NƯỚC: HUYỀN THOẠI VỀ LOA THÀNH!

     Loa Thành hay Cổ Loa Thành, còn có tên khác là Tư Long Thành, người Trung Quốc thường gọi là Côn Lôn Thành, chính là kinh thành của nước ta thời An Dương Vương.

Di tích Loa Thành nay vẫn còn ở huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Truyền thuyết nói Loa Thành gồm đến chín vòng, được đắp theo kiểu xoáy hình trôn ốc, nhưng di tích còn lại chỉ thấy có ba vòng, dài tổng cộng hơn mười sáu cây số. Loa Thành là công trình kiến trúc lớn nhất của nước nhà thời cổ đại, là chứng tích bất diệt của ý chí và năng lực sáng tạo của tổ tiên ta. Việc đắp thành khó khăn này đã được tiến hành như thế nào?

Sách Đại Việt sử kí toàn thư (ngoại kỉ, quyển 1, từ tờ 6a đến tờ 7b) chép rằng:
“Thành này cứ hễ đắp xong lại bị sụt lở, khiến Nhà vua rất lấy làm lo. Nhà vua bèn trai giới sạch sẽ, khấn trời khấn đất và các vị thần núi, thần sông, rồi khởi công đắp lại".

… Mùa xuân, tháng ba, chợt có thần nhân đến trước cửa thành, trỏ vào thành rồi cười mà nói rằng:
- Đắp như thế thì đến bao giờ mới xong?

Vua liền mời vào điện để hỏi. Thần nhân nói:
- Cứ đợi Giang sứ đến.

Xong, cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau, Vua ra cửa thành, thấy có con rùa bơi trên sông, từ phía Đông đến, nói được tiếng người, xưng là Giang sứ, bàn được chuyện tương lai. Nhà vua mừng lắm, để lên mâm vàng rồi đặt mâm lên điện và hỏi về nguyên nhân khiến cho thành bị sụt lở. Rùa vàng đáp:
- Ấy là bởi tinh khí núi sông của vùng này bị (hồn thiêng) của con vua thuở trước phụ vào để trả thù cho nước. Nó nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi ấy có con quỷ, ấy chính là (hồn thiêng) của người con hát thuở trước chết chôn ở đấy hoá thành. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không. Ông ta có đứa con gái và một con gà trắng, đó chính là hư khí của tinh, phàm ai là người qua lại và ngủ đêm tại đó đều bị chết vì bị quỷ ám.

Chúng có thể gọi nhau, họp đàn họp lũ, làm cho sụp cả thành. Nay nếu giết được con gà trắng ấy để trừ tinh khí đi thì thành sẽ tự nhiên xây được bền vững.

Nhà vua nghe vậy, liền đem rùa vàng đến quán, giả làm người xin ngủ trọ. Chủ quán nói:
- Ngài là bậc quý nhân, vậy xin đi ngay kẻo ở đây là mắc họa.

Nhà vua cười nói:
- Sống chết đều có mệnh số cả, ma quỷ mà làm gì nổi?

Nói rồi, vẫn cứ ngủ lại quán. Đêm khuya, nghe tiếng quỷ từ ngoài vào gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng khiến lũ quỷ không sao vào được. Gần sáng, khi nghe tiếng gà gáy thì chúng bỏ chạy tan tác. Rùa vàng xin Vua đuổi theo chúng. Tới núi Thất Diệu, tinh khí của lũ quỷ biến mất. Nhà vua cùng rùa vàng trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng Nhà vua đã chết rồi, bèn gọi người đến khâm liệm để đem đi chôn. Thấy Nhà vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán sụp lạy mà thưa rằng: 
 - Ngài được như thế này ắt phải là thánh nhân.

Vua xin gà trắng đem giết để tế lễ. Gà chết, con gái của chủ quán cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi (Thất Diệu), thấy ở đó có nhạc khí cổ và xương người, liền sai đốt thành tro rồi đổ xuống sông. Yêu khí ma quỵ từ đó mất hẳn. Cũng từ đó, thành đắp chưa quá nửa tháng đã xong. Rùa vàng liền cáo từ ra về. Nhà vua cảm tạ và hỏi rằng: 
 - Đội ơn ngài đã giúp đắp thành vững chắc. Nhưng, nay mai nếu có giặc đến thì lấy gì mà chống giữ?

Rùa vàng liền trút chiếc móng đem cho vua và nói: 
 - Nước yên hay nguy đều do trời định đoạt, nhưng người cũng nên phòng bị. Nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này mà làm lẫy nỏ, nhằm thẳng giặc mà bắn thì không lo gì.

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (cũng có sách chép là Cao Thông) chế nỏ thần, lấy móng rùa vàng làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ".

Lời bàn: Nước bấy giờ còn nhỏ, dân bấy giờ còn thưa, tiềm lực quốc gia bấy giờ cũng còn yếu, đã thế, trình độ kĩ thuật bấy giờ lại chưa cao, thế mà Nhà vua dám dốc sức xây thành Cổ Loa, chí lớn thật đáng sánh ngang với trời đất. Việc lớn, khó khăn lớn, hình ảnh của lũ yêu quái phá hoại. Ở một góc độ nào đó, cũng có thể coi là biểu tượng của những thử thách chất chồng đó thôi.

Việc Nhà vua nghênh đón Giang sứ có cái gì đó phảng phất hình ảnh các vị minh quân hồ hởi đón lời hay trong thiên hạ. Việc Giang sứ không chút quản ngại, cùng Vua lên tận núi Thất Diệu để diệt yêu quái, sau lại còn thanh thản trút móng tặng Vua, tất cả nào có khác gì hình ảnh những người vô danh trong trăm họ, đã hết lòng phò tá chí lớn của Nhà vua!

Nhà sử học lỗi lạc của nước nhà (thế kỉ thứ XV) là Ngô Sĩ Liên nói rằng: “Việc làm của thần là dựa theo ý người, thần nhập vào vật mà nói. Khi nước sắp thịnh. thần minh giáng xuống để xem đức hóa, khi nước sắp mất, thần minh cũng giáng xuống để xét tội. Cho nên, cũng có khi thần giáng mà thịnh, lại cũng có khi thần giáng mà suy" (Đại Việt sử kí toàn thư, ngoại kỉ, quyển 1, tờ 10-b). Như An Dương Vương, thần minh giáng lần đầu thì đắp xong Loa Thành, dựng nên quốc gia Âu Lạc hùng mạnh: thần minh giáng lần thứ hai, quân thua nước mất. Người xưa tin như vậy và đã trịnh trọng chép vào sử như vậy. Gấp sách lại, xin bạn chớ bao giờ tự hỏi rằng đáng tin hay không đáng tin, mà tốt hơn cả, bạn nên tự hỏi rằng cổ nhân muốn kí thác điều gì./.



Yêu nước ST.

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 108 NĂM NGÀY CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VĨ ĐẠI: MỖI NGÀY MỘT CHUYỆN ĐÁNG NHỚ - NGƯỜI ĐƯA CƠ QUAN TÌNH BÁO CHỦ CHỐT CỦA LIÊN XÔ LÊN ĐỈNH VINH QUANG-6/11!

     Trong suốt hơn 70 năm tồn tại dưới các cơ cấu tổ chức khác nhau, Uỷ ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) có tất cả 17 vị chủ tịch, trong đó Yuri Vladimirovich Andropov được xem là đã đưa KGB lên đỉnh cao. Bản thân Yuri Vladimirovich (1914-1984) là vị Chủ tịch KGB duy nhất sau khi rời Lubyanka được bổ nhiệm vào vị trí cao hơn và sau đó là cao nhất đất nước - Tổng Bí thư.

Trưởng thành từ công tác đoàn, công tác đảng, Yuri Andropov có điều kiện để nắm được nhiều thông tin đã chắt lọc và có chất lượng cao; hiểu biết bộ máy cơ chế và phương thức vận hành các đòn bẩy quyền lực. Cái thiếu của "tip" cán bộ này là thực tế đời thường khắc nghiệt được Yuri Andropov bổ sung bằng những năm công tác trong ngành ngoại giao - làm Vụ trưởng Vụ châu Âu 4, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương, đặc biệt 3 năm làm đại sứ tại Hungary vào thời điểm nước này có chính biến (1956).

Là người có tầm nhìn chiến lược và có phương pháp luận khoa học, Chủ tịch KGB Yuri Andropov tập trung nhiều công sức cho lĩnh vực tư tưởng, thành lập thêm một số bộ phận nhằm theo dõi và nắm chắc hơn mọi mặt của đời sống xã hội. KGB dưới thời Yuri Andropov đã tìm được cách tiếp cận cương quyết nhưng mềm dẻo và có hiệu quả đối với mọi vấn đề trong xã hội và mọi vùng của đất nước. Với hệ thống đại diện ở tất cả các địa phương, KGB nắm bắt, báo cáo cho lãnh đạo đất nước mọi việc xảy ra trong nước, để trên cơ sở đó, Bộ Chính trị chỉ đạo xử lí, giải quyết.

Cũng chính dựa trên tài liệu tác chiến do KGB cung cấp, Liên Xô vào thời điểm ấy bắt đầu tuyên chiến với nạn tham nhũng. Cũng chính KGB dưới thời Yuri Andropov đã cảnh báo lãnh đạo đất nước về việc trong xã hội bắt đầu xuất hiện một loại “bệnh dịch” thờ ơ và thụ động, những yếu tố làm cho tình hình xã hội căng thẳng, những dấu hiệu khủng hoảng trong chính trị, kinh tế đất nước… Theo đánh giá, phải là một KGB đứng đầu bởi vị Chủ tịch có trí tuệ sắc sảo và tinh tế như Yuri Andropov thì mới giúp duy trì được đất nước Liên Xô ổn định, thịnh vượng trong hai chục năm, mới có một hệ thống kiểm soát xã hội một cách toàn diện và chắc chắn như thế.

Dưới thời Yuri Andropov, KGB triển khai được một mạng lưới điệp viên đông đảo, giỏi nghiệp vụ và rộng rãi chưa từng có trên toàn thế giới, cùng với đảm bảo về ngân sách và kĩ thuật khá hoàn hảo. Tình báo Xô-viết cắm rễ được ở tất cả các khu vực, như một cái máy khổng lồ thu hút mọi thông tin trên toàn thế giới. KGB đã giúp lãnh đạo đất nước chỉ đạo xử lí thành công, hiệu quả một loạt vấn đề tối quan trọng như chiến tranh và hoà bình, giải trừ quân bị, xây dựng, phát triển tiềm lực khoa học, tiềm lực quốc phòng của Liên Xô, góp phần đắc lực vào sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

KGB cũng cung cấp thông tin, tham mưu cho lãnh đạo đất nước thực hiện nhất quán chủ trương bảo vệ kiên quyết các lợi ích chính trị của Liên Xô, không cho phép làm xấu tình hình và suy giảm ảnh hưởng của đất nước trên trường quốc tế - đây chính là thời kì Liên Xô đạt được cân bằng chiến lược quân sự với Mỹ. Cũng chính Yuri Andropov - với tư cách Chủ tịch KGB đã đề xuất ý kiến kiềm chế tối đa trong quan hệ với Trung Quốc, bằng mọi cách thu hẹp các cuộc xung đột với người láng giềng khổng lồ này.

Là thủ trưởng, Yuri Andropov rất quan tâm đến mọi mặt công tác, đời sống của cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; và họ đáp lại ông bằng lòng trung thành, mẫn cán, sự tận tâm phục vụ. Làm việc trong cơ quan an ninh trở thành một nghề danh giá và được nể trọng. Một nét đáng quý nữa ở Yuri Andropov là trong mọi vấn đề, ông không bao giờ nhận thừa trách nhiệm về phía mình hay có biểu hiện lạm quyền. Trong công tác và sinh hoạt, Yuri Andropov luôn là mẫu mực cho mọi cán bộ dưới quyền. Không uống rượu, không hút thuốc, không quát tháo, yêu âm nhạc và ca hát, ngay trong dáng đi của ông cũng thể hiện một cái gì đó khiêm nhường, giản dị.

Chính nhờ công lao, thành tích đối với đất nước, nhờ những phẩm chất cá nhân cao quý mà sau khi Leonid Breznhev từ trần, Yuri Andropov được bầu làm Lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản và Nhà nước Xô-viết (tháng 11-1982). Ở cương vị này, ông đã khởi xướng việc cải cách sâu rộng, toàn diện đời sống xã hội Liên Xô theo hướng đưa dần các yếu tố dân chủ đích thực vào hệ thống chính trị, áp dụng cơ chế thị trường trong kinh tế, nhưng với lộ trình và bước đi phù hợp, chắc chắn.

Có thể giả định rằng, nếu sống, làm việc thêm một thời gian nữa, Yuri Andropov hoàn toàn có thể thay đổi tiến trình lịch sử của Liên bang Xô-viết, xây dựng một hệ thống Xô-viết đổi mới mà không cần phải phá huỷ nó.

Tại một Hội nghị Trung ương, khi đánh giá về công tác an ninh tình báo, Tổng Bí thư Leonid Breznhev đã bỏ giấy nói "vo": Uỷ ban An ninh quốc gia dưới sự lãnh đạo của đồng chí Andropov đã giúp đắc lực cho công tác của Trung ương, cả về đối nội và đối ngoại. Có người nghĩ rằng KGB - đó là bắt bớ, tù đầy. Nhầm! KGB trước hết là những công việc to lớn và đầy trách nhiệm. KGB không phải ai cũng làm được. Ở đây cần có năng lực và tính cách, lòng dũng cảm và lòng trung thành to lớn. Đó là sự đánh giá xứng đáng đối với Yuri Vladimirovich - vị Chủ tịch có công đưa KGB lên đỉnh vinh quang./.
Ảnh: Yuri Andropov, người có công đưa KGB lên đỉnh vinh quang./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN:🇻🇳 ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG TRAO QUYẾT ĐỊNH BỔ NHIỆM TƯ LỆNH BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG!

     Chiều 8/11, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức trao Quyết định của Chủ tịch nước và Quyết định của Thủ tướng về việc thăng quân hàm Trung tướng và bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, đối với Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam Vũ Trung Kiên.

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước và Thủ tướng, Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng, đã trao Quyết định thăng quân hàm từ Thiếu tướng lên Trung tướng đối với Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam Vũ Trung Kiên.

Đại tướng Phan Văn Giang cũng đã trao Quyết định bổ nhiệm Trung tướng Vũ Trung Kiên giữ chức vụ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, thay thế người tiền nhiệm là Thượng tướng Lê Đức Thái, hiện đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Trung tướng Vũ Trung Kiên từng giữ chức vụ Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội Biên phòng, tháng 10/2021, ông được điều động, bổ nhiệm giữ chức Phó Tư lệnh Pháp luật Cảnh sát biển Việt Nam./.
Ảnh: Đại tướng Phan Văn Giang trao quyết định và tặng hoa chúc mừng Trung tướng Vũ Trung Kiên.
Yêu nước ST.

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

KỶ NIỆM 108 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VĨ ĐẠI: CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA KHAI MỞ MỘT THỜI ĐẠI MỚI.

     Ngày 7-11-1917, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolshevik Nga, đứng đầu là V.I.Lênin, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười đã nổ ra và giành thắng lợi, đánh dấu bước ngoặt trong đời sống chính trị của thế giới. Cuộc cách mạng vĩ đại đó đã vạch đường cho nhân loại đi đến một xã hội mới, trong đó nhân dân lao động được giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột, đứng lên làm chủ đất nước và vận mệnh của mình.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nhà nước Xô viết do Lênin sáng lập đã làm thay đổi căn bản số phận dân tộc Nga, đưa nước Nga từ một nước phong kiến tiền tư bản nghèo đói và lạc hậu trở thành một cường quốc. Vai trò của nước Nga trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao.

Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã biến “bóng ma ám ảnh châu Âu” thành một sức mạnh hiện hữu. Chủ nghĩa Mác-Lênin từ lý luận khoa học trở thành thực tiễn, từ tư tưởng trở thành hiện thực sinh động trên phạm vi thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tác động mạnh mẽ đến đời sống, chính trị nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Nhiều đảng cộng sản và công nhân ở các nước đã ra đời; phong trào đoàn kết quốc tế được hình thành và phát triển sâu rộng khắp các châu lục. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động tại hàng loạt nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ Latin đã nổi dậy đấu tranh giành được độc lập dân tộc. Phong trào giải phóng dân tộc phát triển như một dòng thác trên toàn cầu; hàng trăm triệu người được giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Với sự xuất hiện và tồn tại hơn 7 thập kỷ của nước Nga Xô viết và sau đó là Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô), nhân loại đã được chứng kiến những biến đổi kỳ diệu của đời sống con người trên 1/3 diện tích trái đất.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, với tiềm lực chính trị, tinh thần, kinh tế, quân sự, lực lượng Hồng quân Liên Xô đã đánh tan các thế lực phát xít đến tận sào huyệt, góp phần quyết định cứu nhiều quốc gia, dân tộc ở châu Âu, châu Á thoát khỏi thảm họa diệt chủng của chủ nghĩa phát xít.

Những thành tựu to lớn mà hệ thống xã hội chủ nghĩa với trụ cột là Liên Xô đạt được cũng đã thức tỉnh, cổ vũ phong trào đấu tranh vì dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội ở chính ngay các nước tư bản phát triển, buộc chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc phải có những điều chỉnh để thích nghi và tồn tại.

Đúng như Lênin đã từng khẳng định: “Cuộc Cách mạng Tháng Mười của chúng ta đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử thế giới”. Đánh giá về tầm vóc, ý nghĩa và giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”. Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa khai mở một thời đại mới trên toàn thế giới.

Từ sau Cách mạng Tháng Mười Nga, phong trào cách mạng ở mỗi nước, trong đó có Việt Nam, trở thành một bộ phận khăng khít của phong trào cách mạng thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn luôn trung thành, vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga vào điều kiện cụ thể của đất nước ta.

Trước những biến đổi sâu sắc của thời đại và thế giới, nhất là từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) và coi đó là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đánh giá: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn của đất nước là minh chứng sống động con đường đi lên CNXH là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại, được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại.

Ngày nay, lợi dụng sự khủng hoảng nghiêm trọng của CNXH trên thế giới, các thế lực thù địch ra sức chống phá quyết liệt, mưu toan phủ nhận thành quả Cách mạng Tháng Mười Nga và cơ sở tư tưởng của cuộc cách mạng vĩ đại này là Chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước những khó khăn, thử thách nghiệt ngã của CNXH, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng xuất hiện tư tưởng bi quan, dao động, ngả nghiêng, ý kiến trái chiều, đặt lại vấn đề về tầm vóc, giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Song, “bàn tay không che nổi mặt trời”, lý tưởng và những giá trị nhân văn cao cả của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn tràn đầy sức sống trường tồn, luôn tỏa sáng và in đậm trong tâm trí của nhân dân Nga và của nhân loại. 

Chúng ta có thể khẳng định, mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH của các thế lực thù địch và phần tử cơ hội trong nhiều thập kỷ qua càng làm nổi bật tầm vóc, ý nghĩa và giá trị thời đại sâu sắc của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại./.
Ảnh: Lãnh tụ V.I.Lênin.

Ảnh 2: Lãnh tụ V.I.Lênin diễn thuyết ở Quảng trường Đỏ, Moscow năm 1917.

Ảnh 3: Những người lính Bolshevik diễu hành trên đường phố Moscow năm 1917.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

BẢO VỆ NGƯỜI TỐT, BẢO VỆ CHÍNH NGHĨA VÀ QUYẾT TÂM ĐẤU TRANH CHỐNG GIẶC SỬ!

     Những con người đã và đang đi đầu trong cuộc chiến chống giặc sử, lật sử, ngụy sử. Họ đã chiến đấu bảo vệ Tổ quốc giờ họ vẫn đang bảo vệ thành quả cách mạng trước bọn giặc sử lộng hành.

Trong số họ, Trung tương Nguyễn Nguyễn Thanh Tuấn - một người được sinh ra trong gia đình có bề dày truyền thống cách mạng và bản thân là một người lính, một người Cộng sản, nhưng nay ông lại bị đe dọa và những kẻ lật sử đang có lời lẽ hỗn xược với vị tướng đáng kính này.

Thật nực cười khi mà bè lũ lật sử, bầy đàn cào cấu lịch sử lại đe dọa một con người cả đời vì dân vì nước. Vì lý tưởng của Bác Hồ.

Cái ngu dốt thứ nhất của bọn lật sử là chúng dọa nạt một người lính mà bom đạn của quân thù còn chẳng sợ thì sợ chi tiếng sủa của lũ đó?

Cái ngu thứ 2, chúng đe dọa thì đã đồng nghĩa chúng sợ hãi. Sợ sự thật nên phải nhe nanh dọa người vì đó là chất của những kẻ hèn mọn và bất lực.

Cái ngu thứ 3, chúng không hiểu câu "dĩ dân vi bản" hay "quan nhất thời, dân vạn đại". - có thể chúng đang được ai đó làm ngơ để thế lực nào chống lưng, nhưng thực tiễn đã chứng minh: kẻ nào làm tổn hại đến dân tộc thì kẻ đó sẽ phải trả giá.

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua bao biến cố, thăng trầm, nhưng lịch sử, văn hóa chưa bao giờ mất đi bản sắc bởi mỗi trang sử đều viết lên từ xương máu cha ông và nước mắt của đồng bào.

Qua sự việc trên, cho thấy chúng rất ngu khi dám đụng đến hồn thiêng sông núi và lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Vì vậy, mong mọi người hãy đoàn kết hơn nữa, kiên quyết đấu tranh để không cho giặc sử len lỏi vào từng ngóc ngách của đời sống XH và phòng ngừa chúng leo cao, luồn sâu để lật đổ chế độ.

Tất nhiên, bọn giặc sử chưa đáng lo bằng những kẻ tiếp tay cho chúng và càng đáng sợ hơn là những người biết mà không dám lên tiếng, không dám bảo vệ người tốt mà để mặc cho cái xấu hoành hành.

Đứng trước trái ngang mà chúng ta im lặng là đồng nghĩa chúng ta đang để cái xấu tồn tại. Mỗi người yêu nước hãy phát huy thế mạnh của mình để bảo vệ sự thật lịch sử, thông qua cách hành động đúng với đường lối, chủ trương của Đảng - đó cũng chính là thể hiện sự biết ơn của mình với những người đã ngã xuống cho Tổ quốc được đứng lên

Đời người ai cũng có quyền được sống, nhưng hãy sống sao cho xứng đáng và thực sự ý nghĩa, để mai này khi không còn trên cõi đời này nữa thì vẫn để lại cho đời sự tiếc nuối và tiếng thơm, thay vì sự phỉ nhổ của người đời dành cho những kẻ đang trả giá vừa qua.

Qua đây, chúng ta càng thấu hiểu và trân trọng hơn các vị tướng - những người đang đóng góp cho phong trào toàn dân chống DBHB, dù hôm nay thế lực xấu đang đe doạ họ, nhưng chúng ta luôn tin tưởng rằng, với bản chất của người lính Bác Hồ thì ở họ không bao giờ xuất hiện 2 từ sợ hãi và dù chiến tranh hay trong hòa bình thì người lính Cụ Hồ vẫn luôn chiến đấu đến cùng./.
Khuyết danh ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: BÍ THƯ THỨ NHẤT LÊ DUẨN NÓI VỀ ÂM MƯU CHỐNG VIỆT NAM CỦA BÈ LŨ PHẢN ĐỘNG TRUNG QUỐC!

     Năm 1963, khi Nikita Khơrútxốp có sai lầm, Trung Quốc lập tức ra Cương lĩnh 25 điểm và mời Đảng ta đến và góp ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi cùng đi với một số anh em khác. Trong khi bàn bạc, họ [Trung Quốc] lắng nghe ta chừng mười điểm gì đó, nhưng khi tới ý kiến “không xa rời phe Xã hội chủ nghĩa” thì họ không nghe nữa… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về văn bản của chính tôi. Tôi xin ý kiến các đồng chí nhưng tôi không chấp nhận điểm này của các đồng chí.”

Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.” Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”

Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.” Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng quân sự của việc này. Mao hỏi tôi:
– Lào có bao nhiêu cây số vuông?
Tôi trả lời:
– Khoảng 200 nghìn [cây số vuông].
– Dân số của họ là bao nhiêu? [Mao hỏi]
– [Tôi đáp:] Gần ba triệu.
– [Mao nói:] Thế thì cũng không nhiều lắm! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy!
– [Mao hỏi:] Thái Lan thì có bao nhiêu cây số vuông?
– [Tôi trả lời:] Khoảng 500 nghìn.
– Và có bao nhiêu người? [Mao hỏi]
– Gần 40 triệu! [Tôi đáp]
– Trời ơi! [Mao nói], tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500 nghìn cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống đấy nữa [Thái Lan]!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, ông ta [Mao] nói với tôi: 
“Các đồng chí, có thật người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không?” Tôi nói: “Đúng.” 
“Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không?” 
Tôi đáp: “Đúng.” Ông ta lại hỏi: “Và cả quân Minh nữa, đúng không?” 
Tôi trả lời: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông. Ông có biết thế không?” Tôi đã nói với Mao như vậy đó. 
Ông ấy nói: “Đúng! Đúng!” 
Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái Lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp.
-----
* Tài liệu được dịch từ cuốn Đằng sau tấm màn tre - Trung Quốc, Việt Nam và Thế giới ngoài châu Á (Behind the Bamboo Curtain - China, Vietnam, and the World beyond Asia), do Priscilla Roberts biên tập, Trung tâm Woodrow Wilson và Đại học Stanford xuất bản, 2006. 
* Phần III chương 14 của cuốn sách có tiêu đề “Lê Duẩn và sự đoạn tuyệt với Trung Quốc”.
Từ (14 trang, từ trang 453 đến 467) của Tiến sĩ Stein Tønnesson và bản dịch tài liệu này ra tiếng Anh của Christopher E. Goscha (20 trang, 467-486).
Ảnh: Tổng bí thư Lê Duẩn trong lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Đà Nẵng.
Khuyết danh ST.

VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ: CÀNG KHÓ KHĂN TÌNH QUÂN - DÂN CÀNG BỀN CHẶT!

     Trước những thiệt hại to lớn về hạ tầng, tài sản do cơn bão số 13 gây ra, Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đã điều động hơn 350 cán bộ, chiến sĩ đến các vùng bị thiệt hại nặng để giúp dân khắc phục hậu quả.

Giữa cảnh hoang tàn, hình ảnh người chiến sĩ Sư đoàn 2 không quản ngại khó khăn, chạy đua với thời gian để giúp nhân dân dọn dẹp từng đống gạch, đất đá, cây cối, dựng lại từng mái nhà bị đổ sập, tốc mái đã làm người dân xúc động. Nhiều người dân nói với nhau rằng, chính trong những lúc khó khăn này, tình quân - dân lại càng thêm bền chặt, tạo nên sức mạnh hồi sinh từ đổ nát.

Căn nhà của gia đình ông Tạ Minh Phụng, ở thôn An Mỹ, xã An Lương (tỉnh Gia Lai) bị tốc mái hoàn toàn, đồ đạc ngổn ngang. Sau khi đi tránh bão về, ông Phụng không biết phải bắt đầu từ đâu, phần vì mệt, phần vì xót của. “Khi bộ đội Sư đoàn 2 đến nói với gia đình, còn người là còn tất cả, nhà tốc mái rồi thì anh em bộ đội sẽ cùng gia đình lợp lại. Bà con hãy kiên cường, đoàn kết để vượt qua khó khăn, gia đình tôi cùng với các anh bộ đội bắt tay vào dọn dẹp, lợp lại nhà”, ông Phụng xúc động nói.

Đại tá Lê Sỹ Hùng, Chính ủy Sư đoàn 2 cho biết, nhận định cơn bão số 13 sẽ gây thiệt hại lớn cho các xã, phường phía Đông của tỉnh Gia Lai. Trước khi bão vào, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 2 đã điều động hơn 350 cán bộ, chiến sĩ, cùng với phương tiện, thành lập các tổ, đội đến các xã, phương: An Lương, Tuy Phước, Nhơn Đông, Quy Nhơn để sẵn sàng ứng cứu nhân dân trong bão và giúp dân khắc phục hậu quả.

“Sư đoàn 2 với truyền thống “Trên tin, bạn mến, dân thương; đã đi là đến, đã đánh là thắng” được hun đúc, tôi luyện qua hơn 60 năm xây dựng, trưởng thành, nên khi nhận được lệnh hành quân giúp dân, chỉ trong một thời gian ngắn các cơ quan, đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị. Tổ chức hành quân trong đêm và sáng sớm ngày 6-11 đã có mặt ở các địa điểm trọng yếu để giúp nhân dân. Và ngay trong chiều nay (chiều 8-11), trước những thiệt hại nặng nề do cơn bão số 13 gây ra cho phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk, Sư đoàn 2 tiếp tục điều động gần 350 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 38 hành quân đến phường Sông Cầu để giúp dân”, Đại tá Lê Sỹ Hùng thông tin.

Theo thống kê của các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai, bão số 13 đã gây thiệt hại cho tỉnh 2 người chết, 8 người bị thương; làm 199 nhà bị sập đổ, 12.447 nhà bị tốc mái, 15 thuyền bị chìm và 42 thuyền bị hư hỏng, 334 lồng, bè nuôi trồng thủy hải sản. Nhiều tuyến đường cũng bị sạt lở nghiêm trọng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu hơn 5.000 tỷ đồng.

Tỉnh Gia Lai quyết định hỗ trợ 60 triệu đồng cho mỗi gia đình có nhà bị sập do bão để xây dựng lại nhà ở, song không được xây dựng lại ở các khu đã di dời; 5 triệu đồng đối với nhà bị tốc mái hoàn toàn và 2 triệu đồng đối với nhà bị tốc mái một phần. Hỗ trợ gia đình có người mất 10 triệu đồng/người và 5 triệu đồng/người bị thương. Riêng tàu bị chìm, hoa màu hư hại sẽ bồi thường theo quy định.

Tại các cuộc họp và các địa phương đến kiểm tra, đồng chí Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai đánh giá cao sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương và các cấp, ngành, lực lượng vũ trang trong ứng phó và khắc phục thiệt hại do bão số 13 gây ra. Đồng thời, đề nghị cả hệ thống dồn lực tập trung khắc phục thiệt hại do bão số 13 gây ra, sớm ổn định cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, phải chủ động quy hoạch lại không gian dân cư, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của người dân trước thiên tai./.




Theo QĐND
Yêu nước ST.