Thứ Năm, 13 tháng 11, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NHỮNG NGƯỜI LÍNH TÌNH NGUYỆN TỪ CHÂU PHI VÀ SỰ KHÁC BIỆT CỦA MỘT CUỘC CHIẾN CHÍNH NGHĨA!

     Trong bối cảnh xung đột Nga - Ukraine tiếp tục căng thẳng, sự xuất hiện của các lực lượng tình nguyện quốc tế tiếp tục thu hút sự chú ý của dư luận toàn cầu. Đáng chú ý, nhiều chiến binh đến từ châu Phi, Triều Tiên, thậm chí cả một số người Mỹ đã tự nguyện chiến đấu bên phía Nga.

Hiện tượng này không chỉ phản ánh mối quan hệ đối tác ngày càng sâu rộng giữa Moscow và các quốc gia Á - Phi, mà còn thể hiện một khía cạnh khác của cuộc đối đầu: không đơn thuần là xung đột lãnh thổ, mà là cuộc chiến về quan điểm, về cách hiểu công lý và trật tự thế giới.

Tình nguyện, không phải đánh thuê

Trong khi phương Tây nhiều lần viện trợ hoặc tuyển dụng lực lượng lính đánh thuê từ Anh, Mỹ, Tây Ban Nha, Colombia cho Ukraine, thì phía Nga lại ghi nhận sự xuất hiện của các nhóm tình nguyện quốc tế, phần lớn đến từ châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh.

Điều đáng nói là, phần lớn trong số họ không tham gia vì lợi ích vật chất, mà vì họ xem đây là cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít mới và sự áp đặt của phương Tây. Một ví dụ điển hình là một số công dân Mỹ chiến đấu cho Nga, trong đó có con trai của bà Juliane Gallina, cựu Phó giám đốc CIA, đã chia sẻ rằng họ đến với Nga vì lý tưởng, không phải vì tiền.

Sự khác biệt này không chỉ mang tính biểu tượng. Nó cho thấy, trong khi một bên dựa vào lợi nhuận và hợp đồng, bên kia dựa vào niềm tin và ý thức chính trị.

Hiện tượng “ghen tị” và nỗi lo phương Tây

Không ít trang truyền thông và giới bình luận phương Tây đã thể hiện sự “khó chịu” trước hình ảnh các lực lượng châu Phi và châu Á sát cánh cùng binh sĩ Nga. Có lẽ bởi vì điều đó thách thức một định kiến tồn tại lâu dài: rằng những quốc gia ngoài phương Tây chỉ có thể là “đối tượng được trợ giúp”, chứ không thể là chủ thể có lựa chọn chính trị độc lập.

Sự xuất hiện của các đơn vị tình nguyện từ nhiều châu lục cho thấy Moscow vẫn duy trì sức hút quốc tế, không phải bằng đồng tiền, mà bằng thông điệp: “Không để một quốc gia nào bị biến thành công cụ cho lợi ích của kẻ mạnh.”

Chiến tranh - thước đo của niềm tin

Dĩ nhiên, chiến tranh luôn tàn khốc, và không có bên nào hoàn toàn trong sạch. Nhưng khi một bộ phận thanh niên đến từ những quốc gia xa xôi, vượt qua ranh giới địa lý và văn hóa để chiến đấu vì điều họ tin là “chính nghĩa”, thì điều đó phản ánh một sức mạnh mềm đặc biệt mà phương Tây khó có thể tạo ra bằng các gói viện trợ quân sự.

Sự khác biệt giữa “tình nguyện” và “đánh thuê” chính là ở chỗ ấy: Một bên vì lý tưởng, tự nguyện dấn thân; Một bên vì hợp đồng, làm việc theo nhiệm vụ được trả lương. Và chính sự khác biệt đó đang làm thay đổi cách nhìn của thế giới về bản chất cuộc xung đột tại Ukraine.

Một thông điệp vượt ra ngoài chiến trường

Hiện tượng “những người lính tình nguyện từ châu Phi” không chỉ là chi tiết bên lề. Nó gửi đi một thông điệp sâu sắc: Thế giới không còn đơn cực. Các quốc gia nhỏ, các dân tộc từng chịu thiệt thòi đang bắt đầu tự chọn lập trường của mình.

Trong bức tranh địa chính trị mới, chính nghĩa và niềm tin đang dần trở thành thứ vũ khí mạnh hơn cả kinh tế hay quân sự./.
Khuyết danh ST.

KHÔNG GIAN MẠNG - MẶT TRẬN NÓNG TRONG BẢO VỆ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!

     Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV, dự kiến diễn ra từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 01 năm 2026 tại Thủ đô Hà Nội, là sự kiện chính trị trọng đại của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Thành công của Đại hội sẽ tiếp tục mở ra một giai đoạn phát triển mới cho đất nước; giai đoạn vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, càng đến gần thời điểm Đại hội, trên không gian mạng, đặc biệt là các nền tảng như Facebook, YouTube, Viber, Zalo, Twitter, Instagram…, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm gây nhiễu loạn thông tin, hoang mang dư luận, hướng tới phá hoại niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Thủ đoạn tinh vi, nội dung xuyên tạc nguy hiểm: Các thế lực thù địch đã lợi dụng tiến trình chuẩn bị Đại hội XIV để tung ra luận điệu xuyên tạc, vu cáo, nhất là về công tác chuẩn bị nhân sự, văn kiện và đánh giá kết quả lãnh đạo nhiệm kỳ XIII. Chúng dựng chuyện, quy chụp rằng: “việc chuẩn bị Đại hội là hoạt động thay cho đại hội, tước bỏ quyền của đại biểu”; rằng “công tác nhân sự đã được ấn định trước, không có dân chủ, minh bạch”. Bằng các bài viết, hình ảnh, clip cắt ghép, bình luận ác ý, chúng tìm cách kích động tâm lý nghi ngờ, bất mãn trong một bộ phận quần chúng thiếu hiểu biết chính trị, từ đó gây chia rẽ nội bộ, làm giảm sút niềm tin vào Đảng. Đặc biệt, trong thời gian qua, các đối tượng còn lợi dụng Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII để ngụy tạo thông tin, như tung tin sai sự thật về nhân sự lãnh đạo Bộ Quốc phòng, xuyên tạc rằng “Đại hội chỉ là hình thức, là dịp tái cơ cấu cán bộ phục vụ lợi ích nhóm”. Những luận điệu này vô cùng nguy hiểm, bởi chúng nhằm bôi nhọ uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân, tiến tới làm suy yếu nền tảng chính trị, tư tưởng của chế độ.

Nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá: Âm mưu nhất quán của các thế lực thù địch là “phi chính trị hóa Quân đội”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng lợi dụng không gian mạng, nơi tốc độ lan truyền thông tin nhanh, khó kiểm soát để gieo rắc sự hoài nghi, kích động và chia rẽ. Bằng những thủ đoạn tinh vi như: Giả mạo các trang tin, fanpage chính thống để lan truyền “tin giả, tin nửa thật, nửa sai”; dựng video, cắt ghép hình ảnh cán bộ, chiến sĩ để bôi nhọ, bịa đặt; lợi dụng danh nghĩa “tự do ngôn luận”, “phản biện xã hội” để hợp thức hóa thông tin sai lệch. Mục tiêu cuối cùng là làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam, từ đó phá hoại Đại hội XIV - một sự kiện có ý nghĩa quyết định đối với tương lai chính trị của đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân: Cần khẳng định rõ Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng vũ trang nòng cốt của nhân dân, “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, Quân đội ta luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân, là lá chắn vững chắc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm: Tổng kết, đánh giá kết quả lãnh đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong nhiệm kỳ vừa qua; xác định phương hướng, mục tiêu lãnh đạo trong nhiệm kỳ tới, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt về Đại hội Đảng bộ Quân đội không chỉ là xúc phạm danh dự, uy tín của Quân đội, mà còn là hành động chống phá trực tiếp vào nền tảng chính trị của Đảng.

Cảnh giác, chủ động đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần: Nâng cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Không chia sẻ, bình luận, phát tán thông tin chưa được kiểm chứng, tránh tiếp tay cho kẻ xấu. Tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng lý lẽ sắc bén, lập luận khoa học, văn hóa tranh luận đúng mực. Tăng cường tuyên truyền tích cực, chia sẻ thông tin chính thống, lan tỏa tinh thần yêu nước, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vai trò của Quân đội. Mỗi người dân, đặc biệt là cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, cần thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, tin tưởng tuyệt đối vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng, không để bị dao động, lôi kéo.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững. Trước, trong và sau Đại hội, các thế lực thù địch chắc chắn sẽ tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá, nhưng sự tỉnh táo, đoàn kết và niềm tin sắt son của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân sẽ là lá chắn vững chắc, bảo vệ thành công Đại hội XIV, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và tương lai của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.

VIỆT NAM THỐNG NHẤT LÀ TRIỀU ĐẠI NÀO?

1. Ai là người mở rộng thống nhất lãnh thổ Việt Nam?

Để làm nên dáng hình đất nước Việt Nam hôm nay, không bắt đầu từ nhà Nguyễn, mà đã được khai mở, gây dựng và hoàn thiện dần dần qua nhiều thế kỷ, bắt đầu từ thời Lý - Trần - Lê. 

Nhà Nguyễn chỉ là chúa, là bề tôi của vua Lê. 

Ngay từ thời Lý thế kỷ 11, sau khi giành lại độc lập, Đại Việt đã hướng về phương Nam để mở rộng không gian sinh tồn. 

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chế Củ, buộc Chiêm Thành phải dâng ba châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (tương ứng Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay). Đây là cột mốc mở đầu cho tiến trình Nam tiến, mở cõi đầu tiên bằng sức mạnh và trí tuệ Đại Việt.

Đến thời Trần thế kỷ 13-14, dù bận đối phó với ba lần xâm lược của quân Nguyên – Mông, nhà Trần vẫn tiếp tục chính sách ổn định vùng biên giới phía Nam, củng cố vùng đất mới. 

Sau chiến thắng, nhà Trần đẩy mạnh giao thương, di dân, khai khẩn vùng Thuận Hóa (Thừa Thiên Huế) vùng đệm chiến lược cho những bước mở cõi sau này. Có thể nói, nhà Trần chuẩn bị nền tảng nhân lực và tinh thần cho công cuộc tiến sâu về phương Nam.

Đến thời Lê sơ thế kỷ 14-15 đỉnh cao là Lê Thánh Tông, công cuộc mở cõi được đẩy mạnh và định hình rõ rệt. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành, hạ kinh đô Đồ Bàn (Bình Định) chia đất Chiêm Thành thành thừa tuyên Quảng Nam, mở rộng lãnh thổ Đại Việt đến tận đèo Cù Mông (Phú Yên ngày nay). Đây là bước ngoặt lớn, đặt dấu chấm hết cho sức mạnh Chiêm Thành, mở ra vùng đất phì nhiêu miền Trung và Nam Trung Bộ cho người Việt.

Sau đó, trong thời Lê Trung Hưng, các chúa Nguyễn vốn là quan trấn thủ Thuận Hóa – Quảng Đà của triều Lê tiếp tục xu hướng mở cõi này, nhưng với danh nghĩa và nền tảng do triều Lê khởi dựng. Họ mở đất đến Nam Bộ, nhưng vẫn nhân danh vua Lê của nước Đại Việt, không hề có cái gọi là “công thống nhất” nào của riêng Gia Long- hay nhà Nguyễn. 

Vì vậy, nói cho đúng, từ thế kỷ XI đến XV, công mở cõi là của các triều Lý – Trần – Lê, là kết tinh của trí tuệ, mồ hôi, máu xương bao thế hệ người Việt. 

Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19 vương triều chúa Nguyễn đàng Trong thối nát, dân nổi lên khởi nghĩa khắp nơi. Điển hình là phong trào ba anh em nhà Tây Sơn. 

Chính Quang Trung mới là người đập tan thế chia cắt Trịnh – Nguyễn kéo dài gần hai trăm năm, tiêu diệt thế lực chúa Nguyễn ở Đàng Trong, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, thu giang sơn về một mối cho Vua Lê, khôi phục nền thống nhất dân tộc và lãnh thổ. Lúc đấy Nguyễn Huệ chỉ nhận làm quan quân sự cho nhà Lê, lấy con gái vua Lê Hiển Tông. 

Sau nay Vua Lê Hiển Tông mất, con là Lê Chiêu Thống nghe theo lời xúi giục, ép buộc từ tàn dư chúa Trịnh, chạy qua Tàu cầu viện Càn Long để trị Nguyễn Huệ. Lúc này, Nguyễn Huệ mới nổi cáu, đem quân ra bắc, bem sạch 290.000 quân của Càn Long. Như vậy, chính Quang Trung - Nguyễn Huệ người sau cùng của thời đại phong kiến thống nhất lãnh thổ. 

Quang Trung - Nguyễn Huệ ốm mất đột ngột, con Quang Toản lên ngôi khi 10 tuổi, triều đình non trẻ, rối ren do thiếu người phụ chính có tâm tầm. Nguyễn Ánh nhân cơ hội ấy phục thù nhà Tây Sơn, tiếm danh chính thống. 

Nguyễn Ánh (Gia Long) và Minh Mạng chỉ hưởng thụ thành quả ấy, thậm chí còn khiến đất nước suy yếu, để rồi mất vào tay thực dân Pháp vào giữa thế kỷ 19. 

Lịch sử công bằng và sáng suốt, ai mở nước, ai giữ nước, và ai để mất nước cần phải được nói rõ ràng sòng phẳng.

2. Quốc hiệu Việt Nam 

Ai là người đặt Quốc hiệu Việt Nam 

Hãy đến vùng Ải Chi Lăng, có một ngôi Miếu Tổ Đình, trong đó có một bia đá khắc chữ Hán:
VIỆT NAM.
Bia đá và Miếu Tổ Đình nay là dy sản và Báu vật Quốc gia.

Kết luận:

1. Đất nước Việt Nam được các triều Lý, Trần, Lê mở rộng chứ chúa Nguyễn chỉ là bề tôi của vua Lê nên không tính là chúa Nguyễn mở rộng đất nước mà là nhà Lê mở rộng đất nước, hơn nữa sau đó triều Nguyễn từ Gia Long (Nguyễn Ánh) cướp ngôi nhà Tây Sơn lên làm vua là triều cắt dần đất nước cho ngoại bang và làm mất nước hoàn toàn vào tay thực dân Pháp. Miền trung Việt Nam giờ hẹp tí như vậy là vì bọn Gia Long(Nguyễn Ánh) Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký đã cắt đất Trấn Ninh dâng cho Lào... 

2. Nguyễn Huệ (Quang Trung) dẹp thế lực chúa Nguyễn (phía Nam) và thế lực chúa Trịnh (phía Bắc) thu non sông về một mối cho vua Lê vì vậy Nguyễn Huệ (Quang Trung) là người đã thống nhất đất nước Việt Nam chứ không phải tên Gia Long(Nguyễn Ánh) bán nước cầu vinh cõng rắn cắn gà nhà rước 5 vạn giặc Xiêm về tàn sát cướp bóc hãm hiếp dân miền Nam bị vua Quang Trung(Nguyễn Huệ) đánh cho tan tác./.
3. Quốc hiệu Việt Nam đã có từ thời Trần./.
Ảnh 1: Miếu Tổ Đình ở Ải Chi Lăng.
Ảnh 2, 3: Bia đá khắc chữ Hán Quốc hiệu Việt Nam.


Khuyết danh ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 43 NĂM NGÀY KHÁNH THÀNH “BỨC TƯỜNG ĐÁ ĐEN” - DẤU LẶNG NHỨC NHỐI CỦA CUỘC CHIẾN TRANH PHI NGHĨA CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM (13/11/1982 - 13/11/2025)!

     Bốn mươi ba năm đã trôi qua kể từ ngày “Bức tường Chiến tranh Việt Nam” (Vietnam Veterans Memorial), công trình tưởng niệm hơn 58.000 binh sĩ Mỹ thiệt mạng hoặc mất tích trong cuộc chiến tranh Việt Nam được khánh thành tại thủ đô Washington D.C. Thế nhưng, với nhiều người Mỹ, đó không chỉ là một đài tưởng niệm mà còn là biểu tượng cho nỗi ám ảnh về một cuộc chiến phi nghĩa mà nước Mỹ đã tiến hành cách đây nửa thế kỷ.

Dấu vết của một cuộc chiến sai lầm

Bức tường đá đen hình chữ V, dài hơn 150 mét, khắc chi chít tên của 58.000 con người, những thanh niên đã ngã xuống trên mảnh đất cách quê hương họ nửa vòng trái đất. Mỗi cái tên là một cuộc đời, một gia đình, một bi kịch. Tất cả tạo nên một bản danh sách đau thương mà lịch sử nước Mỹ khó có thể xóa nhòa.

Bức tường được thiết kế bởi Maya Lin, khi ấy chỉ là một sinh viên kiến trúc gốc Á 21 tuổi. Với cô, công trình này không phải là biểu tượng của chiến thắng, mà là một vết sẹo trên cơ thể nước Mỹ, phản chiếu những mất mát, chia rẽ và day dứt mà cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đã để lại.

Tờ Washingtonian từng nhận xét: “Trong một thành phố nơi chiến tranh thường được tôn vinh như chiến thắng, bức tường đen lại nhắc nhở về một cuộc chiến kết thúc trong cay đắng.”

Khi niềm kiêu hãnh trở thành vết thương

Mỗi năm, khoảng 4 triệu lượt người tìm đến bức tường. Nhiều người mang theo hoa, thư tay, huy chương hay tấm ảnh cũ; có người lặng lẽ đặt bàn tay lên tấm đá lạnh, tìm tên đồng đội hoặc người thân. Những giọt nước mắt vẫn rơi, sau gần nửa thế kỷ, bởi nỗi đau không chỉ nằm trong ký ức mà còn trong lương tri của cả một dân tộc.

Bức tường đen ấy nhắc người Mỹ nhớ rằng, cuộc chiến tại Việt Nam không mang lại vinh quang, chỉ để lại những ngôi mộ, những cựu binh bị tổn thương và một nước Mỹ chia rẽ sâu sắc. Đó là thất bại không chỉ về quân sự, mà còn về đạo lý khi một siêu cường đã mang bom đạn trút xuống một đất nước nhỏ bé, mang danh “bảo vệ tự do”.

Nỗi đau còn ở lại bên kia Thái Bình Dương

Nếu bức tường ở Washington là nơi người Mỹ tưởng niệm 58.000 sinh mạng, thì trên mảnh đất Việt Nam, có hơn ba triệu người dân, cả quân lẫn thường dân đã phải ngã xuống, hàng triệu người khác mang thương tật, chất độc da cam, hay mất mát người thân.

Nửa thế kỷ trôi qua, những hố bom, cánh rừng trụi lá, những vùng đất còn nhiễm chất độc hóa học vẫn là minh chứng cho hậu quả khủng khiếp mà cuộc chiến phi nghĩa ấy để lại.

Việt Nam đã khép lại quá khứ, mở rộng cánh tay hòa giải và xây dựng tương lai, nhưng ký ức về sự tàn khốc của chiến tranh vẫn là lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng: không có lý do nào có thể biện minh cho xâm lược và hủy diệt.

Thông điệp từ “bức tường đá đen”

Giữa những đài tưởng niệm trắng muốt, uy nghi của Washington D.C., bức tường đá đen khiêm nhường, lặng lẽ nằm đó như một nốt trầm trong bản hùng ca nước Mỹ. Nó không tôn vinh sức mạnh quân sự, mà kể lại một chương sử buồn, nơi niềm kiêu hãnh bị thay bằng hối tiếc.

Và với nhân loại, bức tường ấy là lời cảnh tỉnh: Chiến tranh chỉ gieo rắc sự đau thương. Hòa bình không thể đến từ súng đạn, mà từ sự thấu hiểu và tôn trọng giữa các dân tộc.

Bốn mươi ba năm sau ngày khánh thành, “Bức tường đá đen” vẫn đứng đó, lặng lẽ mà ám ảnh như một tấm gương phản chiếu lương tâm nước Mỹ và là bản cáo trạng không lời về cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Việt Nam. Nó nhắc con người hôm nay và mai sau: hãy giữ gìn hòa bình, để những bức tường tưởng niệm như thế không bao giờ phải mọc lên thêm lần nữa./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠO ĐỨC VÀ CẤU TRÚC CỦA ĐẠO ĐỨC!

     Khái niệm đạo đức. Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại.

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Ethicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học.

Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên.

Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội.

Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.

Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

Trong định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sau:
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội.
Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,… chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức.

Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng.

Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.

- Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người. Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định.

Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.

- Đạo đức là một hệ thống các giá trị.
Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội - chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo). Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt.

Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định.

Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo.

Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo./.
Môi trường ST.

NOONG NHAI NỖI ĐAU CÒN BUỐT NHÓI...

     Ngày 13-3-1954, quân ta đánh trận mở màn vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Càng về sau những cuộc giao tranh càng ác liệt, quân Pháp lần lượt buộc phải rút chạy khỏi nhiều cứ điểm quan trọng. Cho đến cuối tháng 4-1954, phạm vi trận địa mà chúng còn tạm thời kiểm soát chỉ rộng chừng vài km2.

 Trong cơn tuyệt vọng, thực dân Pháp đã phạm một tội ác ghê tởm nhất, hèn hạ nhất là sát hại dân thường - điều mà Công ước quốc tế đã nghiêm cấm - ném bom vào trại tập trung Noong Nhai!

Ông Lò Văn Inh - một nạn nhân sống sót sau vụ thảm sát 1954 - ngậm ngùi kể: Sáng hôm ấy, bà con Noong Nhai tập trung rất đông để đưa tang một người trong trại bị chết vì bệnh thương hàn. Trên trời, tiếng máy bay “bà già” ro ro trong sương mù, bọn “thám không” bay trước để xác định tọa độ oanh kích. Sau mấy vòng lượn trên bầu trời Noong Nhai, những chiếc “bà già” khuất vào trong sương. Đó là điều vẫn thường xảy ra hằng ngày, nên chẳng ai để ý lắm. Quá trưa, từng tốp những chiếc khu trục (B54) bất ngờ xuất hiện. Chiếc sau nối chiếc trước, nhằm mục tiêu trại tập trung Noong Nhai cắt bom. Từ dưới đất những cột lửa ngùn ngụt bốc lên không trung, khói đen cuồn cuộn phủ tối một vùng trời. Sau loạt bom sát thương, chúng ném tiếp 12 quả bom napalm. Những tiếng nổ chát chúa, rung chuyển cả một góc phía nam lòng chảo Mường Thanh. Dân chúng kêu khóc hoảng loạn, chạy tứ tán khắp nơi. Những người bị thương không chạy kịp, bị bom thiêu cháy. Mấy đơn vị bộ đội đóng gần đấy, một mặt bắn trả máy bay giặc, một mặt xông vào lửa đạn cứu dân. Những người bị thương được bộ đội nhanh chóng đưa ra ven suối sơ cứu tạm thời.

 Kết thúc cuộc thảm sát dã man, nhiều gia đình không còn một người nào sống sót như gia đình ông Lường Văn É (bản Huổi Cánh, xã Thanh An), chết cả năm người; gia đình ông Lò Văn Inh (bản Hồng Cúm, xã Thanh An), chết cả sáu người; gia đình ông Lường Văn Cu (bản Huổi Cánh, xã Thanh An), chết cả bảy người; gia đình ông Lường Văn Puốn (bản Huổi Cánh, xã Thanh An), có 22 người, chết 21 người; gia đình ông Lù Văn Yêu (bản Hồng Cúm, xã Thanh An), có 19 người, chết 14 người...

 Tổng cộng có 444 người dân vô tội chết, hàng trăm người bị thương, nhiều người bị tàn phế suốt đời.

Chỉ trong tích tắc, 444 đồng bào vô tội phần lớn là phụ nữ và trẻ em ngã xuống giữa biển lửa, không kịp một lời trăng trối. Hàng trăm người khác bị thương, những mái nhà tan nát, những tiếng khóc hòa vào khói bom.

Noong Nhai trở thành vết thương khắc vào lịch sử, là minh chứng đau lòng cho tội ác chiến tranh và sức chịu đựng phi thường của dân tộc Việt Nam.

Đó không chỉ là ký ức của riêng Điện Biên, mà là lời nhắc nhở cho mọi thế hệ hôm nay để hiểu giá trị của hòa bình./.




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÂN TÍCH CHUYÊN SÂU NGUYÊN NHÂN TỬ VONG CỦA VUA QUANG TRUNG VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC KHÁM PHÁ HỌC THUẬT MỚI NHẤT (2020-2025)!

I. Giới Thiệu: Thiết Lập Bối Cảnh Lịch Sử và Khung Phân Tích

1.1. Bối Cảnh Quyết Định Năm 1792: Bất Ổn Địa Chính Trị và Triều Đại

Cái chết đột ngột của Hoàng đế Quang Trung (Nguyễn Huệ) vào tháng 9 năm 1792 (tháng Tám âm lịch) là một biến cố lịch sử có tính chất xoay chuyển vận mệnh quốc gia. Sau khi đánh bại quân Thanh vào năm 1789, triều đại Tây Sơn đang ở đỉnh cao quyền lực, nhưng đồng thời đối diện với những thách thức nội bộ và ngoại giao gay gắt. Hoàng đế Quang Trung, người được công nhận là thiên tài quân sự và nhà cải cách hành chính, đang gấp rút chuẩn bị cho chiến dịch Nam tiến quyết định nhằm tiêu diệt thế lực Nguyễn Ánh ở Gia Định. Sự ra đi của ông ở tuổi 39, ngay trước khi chiến dịch này được triển khai, đã loại bỏ nhân tố quân sự và chính trị trung tâm, dẫn đến sự suy yếu và sụp đổ nhanh chóng của triều đại Tây Sơn sau đó.

Bởi cái chết xảy ra trong một giai đoạn căng thẳng cực độ về chính trị và quân sự, nó ngay lập tức khơi nguồn cho những suy đoán và tranh cãi kéo dài hơn hai thế kỷ. Các nhà nghiên cứu buộc phải thừa nhận rằng triều đình Tây Sơn có khả năng đã kiểm soát chặt chẽ các thông tin về sức khỏe và cái chết của Hoàng đế nhằm che giấu sự dễ tổn thương của triều đại hoặc danh tính của những kẻ ám sát (nếu có). Chính sự mập mờ trong các nguồn sử liệu truyền thống này đã khiến sự thật trở nên khó nắm bắt.

1.2. Tranh Cãi Sử Học: Chết Tự Nhiên so với Ám Sát

Cuộc tranh luận sử học về cái chết của Quang Trung được định hình chủ yếu bởi hai giả thuyết đối lập: giả thuyết bệnh lý tự nhiên và giả thuyết ám sát/đầu độc. Việc các nhà nghiên cứu vẫn phải liên tục so sánh luận cứ chứng minh Hoàng đế bị đầu độc với bệnh cao huyết áp/đột quỵ (tai biến mạch máu não) cho thấy sự bế tắc của phương pháp nghiên cứu truyền thống.   

Nếu các nguồn sử liệu mô tả rõ ràng về một vụ đầu độc, cuộc tranh luận đã kết thúc. Tương tự, nếu triệu chứng rõ ràng là đột quỵ, động cơ chính trị sẽ giảm đi. Tuy nhiên, sự dai dẳng của sự lựa chọn nhị nguyên này sau hơn 220 năm nhấn mạnh rằng các nguồn sử liệu sơ cấp về sự kiện tháng 8/9 năm 1792 đều chứa đựng sự mơ hồ sâu sắc. Do đó, các nghiên cứu hiện đại phải tìm kiếm phương pháp luận mới, vượt ra ngoài việc giải thích văn bản đơn thuần.

1.3. Phạm Vi, Phương Pháp Luận và Trọng Tâm vào Khám Phá Mới (2020-2025)

Báo cáo chuyên môn này tập trung vào việc tổng hợp và đánh giá nghiêm ngặt các khám phá khoa học lịch sử mới nhất trong giai đoạn 2020–2025, bao gồm các tài liệu học thuật chuyên sâu mới công bố và các tuyên bố về tài liệu lưu trữ mới nhất trong năm 2024.   

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là phép tam giác hóa (triangulation): đối chiếu các mô tả triệu chứng lịch sử (từ các nguồn của Tây Sơn, thù địch như nhà Nguyễn, và trung lập như triều đình Thanh) với các tiêu chí chẩn đoán y học hiện đại (hồi cứu bệnh lý học pháp y). Sự chuyển hướng gần đây của nghiên cứu từ phân tích tự sự (narrative analysis) sang phân tích kỹ thuật (technical analysis) là một đặc điểm nổi bật của giai đoạn 2020–2025, nhằm bù đắp cho sự thiếu hụt dữ liệu pháp y.

----------------------------------------
II. Các Ghi Chép Lịch Sử Sơ Cấp: Tài Liệu Hóa về Cơn Bệnh Cuối Cùng

2.1. Tường Thuật Truyền Thống về Triệu Chứng

Các tài liệu lịch sử, dù ít ỏi và thường bị kiểm soát, đều cung cấp một số chi tiết về bệnh tình của Hoàng đế Quang Trung. Triệu chứng được ghi nhận bao gồm đau đầu dữ dội (thượng thủ), chóng mặt (huyễn vựng), mệt mỏi cùng sự suy sụp nhanh chóng của thể trạng. Một số nguồn còn đề cập đến khả năng nôn mửa, đây là những triệu chứng cổ điển thường được liên kết với các cơn khủng hoảng tăng huyết áp hoặc các sự kiện mạch máu não cấp tính.   

Mặc dù có một số nguồn nói về tình trạng sức khỏe suy giảm dần dần, phần lớn các mô tả đều nhấn mạnh tính chất tương đối đột ngột của sự kiện cuối cùng. Cái chết bất ngờ trong khi Hoàng đế đang ở đỉnh cao quyền lực và chuẩn bị cho một chiến dịch lớn tạo ra một mẫu hình hành vi y tế phù hợp với một sự kiện cấp tính (ví dụ: xuất huyết não) hơn là một quá trình đầu độc mãn tính. Nếu có âm mưu đầu độc kéo dài, các kẻ chủ mưu sẽ được hưởng lợi từ sự chối bỏ dễ dàng hơn trong một thời gian dài, nhưng các ghi chép lại chỉ ra sự suy kiệt nhanh chóng.

2.2. Đánh Giá Mô Tả Triệu Chứng Qua Lăng Kính Thế Kỷ 18

Việc đánh giá tính xác thực của các triệu chứng đòi hỏi phải hiểu rõ thuật ngữ Đông Y (Y học Cổ truyền Việt Nam) được sử dụng vào thế kỷ 18. Các thuật ngữ này có thể không tương đương hoàn toàn với chẩn đoán hiện đại.

Các tài liệu lịch sử của triều Nguyễn, điển hình là Đại Nam Thực Lục, mặc dù ghi nhận cái chết của Quang Trung, nhưng cần được xem xét với sự thận trọng cao độ do tính chất thù địch của chúng. Các tài liệu này có thể phóng đại hoặc diễn giải sai về bệnh trạng nhằm giảm bớt uy tín của Hoàng đế Tây Sơn, ám chỉ sự yếu kém về thể chất hoặc đạo đức. Tuy nhiên, điểm chung của hầu hết các nguồn, ngay cả những nguồn đối lập, là sự thừa nhận về mức độ nghiêm trọng và tốc độ của căn bệnh.   

2.3. Thời Điểm Chính Trị của Cái Chết

Quang Trung qua đời khi đang tích cực chuẩn bị cho chiến dịch đánh Gia Định (Nguyễn Ánh). Sự đột ngột này không chỉ gây sốc mà còn đảm bảo triều đình không có đủ thời gian chuẩn bị cho việc kế vị một cách suôn sẻ, tạo ra một lỗ hổng chính trị nghiêm trọng.

Thời điểm xảy ra cái chết- ngay sau khi hoàn tất các công tác chuẩn bị quân sự lớn - cũng làm tăng tối đa động cơ can thiệp chính trị. Tuy nhiên, việc tăng cường động cơ này không làm thay đổi sự thật vật lý. Sự kiện cấp tính này là tâm điểm mà phân tích triệu chứng lịch sử gặp gỡ phân tích y học hiện đại.   

Sự nhất quán trong việc báo cáo "đau đầu dữ dội" và "khởi phát nhanh" là chỉ số ban đầu mạnh mẽ nhất ủng hộ một sự kiện mạch máu nghiêm trọng (xuất huyết/đột quỵ), trái ngược với đầu độc mãn tính.

----------------------------------------
III. Giả Thuyết A: Lý Thuyết Bệnh Lý Tự Nhiên (Bệnh Lý Tự Nhiên)

3.1. Tương Quan Lâm Sàng Chi Tiết: Tăng Huyết Áp và Tai Biến Mạch Máu Não (Cao Huyết Áp/Đột Quỵ)

Giả thuyết cho rằng Hoàng đế Quang Trung qua đời do các nguyên nhân bệnh lý tự nhiên, đặc biệt là tăng huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não (đột quỵ), đang nhận được sự ủng hộ lớn từ các nhà sử học y khoa và chuyên gia phân tích pháp y hồi cứu.

Phân tích lối sống của Hoàng đế cho thấy những yếu tố rủi ro cổ điển dẫn đến tăng huyết áp nghiêm trọng. Cuộc đời ông gắn liền với căng thẳng thể chất và tinh thần cực độ, chiến tranh kéo dài, trách nhiệm triều đình cao độ, và có thể là một chế độ ăn uống không điều độ. Đây là những yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với tăng huyết áp mãn tính. Bệnh tăng huyết áp thường không có triệu chứng rõ ràng cho đến khi xảy ra khủng hoảng.

Các triệu chứng được mô tả trong các tài liệu lịch sử (đau đầu, chóng mặt, suy sụp) khớp với sự biểu hiện lâm sàng của xuất huyết não cấp tính hoặc cơn khủng hoảng tăng huyết áp. Hiện tượng "đau đầu sấm sét" (sentinel headache) liên quan đến xuất huyết nội sọ, đặc trưng bởi sự khởi phát nhanh và mức độ nghiêm trọng, hoàn toàn phù hợp với các mô tả về sự đau đớn dữ dội mà Hoàng đế phải chịu đựng.   

3.2. Ứng Dụng Kỹ Thuật Phân Tích Lịch Sử Pháp Y (Dựa trên Nghiên Cứu 2023/2024)

Sự chuyển hướng gần đây trong nghiên cứu đã đưa các kỹ thuật kỹ thuật và thống kê vào lĩnh vực lịch sử. Việc học giả tiếp tục so sánh luận cứ giữa đầu độc và cao huyết áp cho thấy họ đang cố gắng xác định một chẩn đoán hiện đại, cụ thể.   

Các tài liệu học thuật gần đây, chẳng hạn như báo cáo kỹ thuật (dạng PDF) được công bố gần nhất , có khả năng đã sử dụng phương pháp mô hình hóa dịch tễ học thống kê. Phương pháp này ước tính xác suất xảy ra đột quỵ dựa trên dữ liệu tỷ lệ tử vong và các yếu tố môi trường (căng thẳng, tuổi tác) trong thế kỷ 18. Bằng cách áp dụng các tiêu chí chẩn đoán hiện đại vào dữ liệu lịch sử hạn chế, các nhà nghiên cứu đang cố gắng thiết lập tính xác suất thống kê cho giả thuyết này.   

Việc các nhà nghiên cứu tập trung cụ thể vào chẩn đoán cao huyết áp là một điểm then chốt. Điều này cho thấy họ đã vượt qua chẩn đoán mơ hồ về "bệnh tật" sang một bệnh lý cụ thể có thể được giải thích bằng y học. Giả thuyết chết tự nhiên được coi là lời giải thích khoa học và tiết kiệm nhất (scientifically parsimonious), mặc dù không có bằng chứng pháp y trực tiếp.   

3.3. Ảnh Hưởng đến Sự Ổn Định của Tây Sơn

Một cái chết tự nhiên, dù bi thảm, làm suy yếu chế độ Tây Sơn về mặt chính trị bằng cách loại bỏ nhân vật quân sự thống nhất trung tâm mà không ngụ ý sự phản bội hay can thiệp của kẻ thù bên ngoài. Điều này khiến sự sụp đổ của triều đại sau đó được nhìn nhận là do sự yếu kém trong kế hoạch kế vị và sự non kém của người thừa kế.

----------------------------------------
IV. Giả Thuyết B: Lý Thuyết Ám Sát (Âm Mưu Đầu Độc/Ám Sát)

4.1. Xác Định Động Cơ Chính Trị và Các Chủ Thể Tiềm Năng

Giả thuyết ám sát được thúc đẩy mạnh mẽ bởi động cơ chính trị và tính chất quyết định của cái chết đối với vận mệnh triều đại.

Nguyễn Ánh và Phe Miền Nam: Đây là bên hưởng lợi rõ ràng nhất. Việc loại bỏ Quang Trung là con đường duy nhất để Nguyễn Ánh giành chiến thắng.

Kẻ Phản Bội Nội Bộ Tây Sơn: Mặc dù ít được ghi nhận, khả năng có sự bất mãn trong hàng ngũ tướng lĩnh hoặc gia tộc Tây Sơn (do tranh chấp quyền lực hoặc kế vị) không thể bị loại trừ hoàn toàn.

Triều Đình Thanh: Có thể có các âm mưu trả thù ngoại giao hoặc sự can thiệp tinh vi sau thất bại năm 1789, mặc dù khả năng này được đánh giá là thấp hơn.

4.2. Đánh Giá Bằng Chứng Dân Gian và Truyền Thuyết về Đầu Độc

Giả thuyết đầu độc tồn tại dai dẳng không phải nhờ bằng chứng vật lý mà nhờ sức mạnh của nó như một huyền thoại chính trị. Việc một vị anh hùng vĩ đại qua đời vì bệnh tật (như đột quỵ) thường khó chấp nhận hơn là bị kẻ thù hiểm ác tiêu diệt bằng mưu kế. Điều này củng cố tinh thần dân tộc chống lại các kẻ thù lịch sử (Nguyễn Ánh).

Các tin đồn được ghi lại trong các sử liệu muộn hơn và truyền thuyết dân gian thường nhấn mạnh việc sử dụng chất độc (ví dụ: thạch tín, độc tố thảo dược). Tuy nhiên, những tài liệu này cần được sàng lọc nghiêm ngặt vì chúng thường là sản phẩm của sự diễn giải mang tính chính trị hoặc nhu cầu tự sự. Nếu đầu độc xảy ra, nó phải được thực hiện bởi một người trong vòng thân cận tuyệt đối, khả năng cao thông qua thức ăn hoặc thuốc men được tin dùng.   

4.3. Khả Thi về Mặt Độc Học và Tiền Lệ Lịch Sử

Để giả thuyết đầu độc trở nên khả thi về mặt độc học, chất độc được sử dụng phải có tác dụng nhanh chóng, gây ra sự suy sụp cấp tính và các triệu chứng thần kinh, nhằm mô phỏng chính xác một cơn đột quỵ hoặc suy tim cấp. Các nhà nghiên cứu phải xem xét các loại độc dược có sẵn trong thế kỷ 18 ở Đại Việt có khả năng gây ra sự sụp đổ mạch máu cấp tính.

Tuy nhiên, việc chứng minh giả thuyết này gần như bất khả thi nếu không có hài cốt hoặc bằng chứng hóa học. Trong khi giả thuyết bệnh lý tự nhiên dựa trên sự tương quan triệu chứng với bệnh học xác suất cao , giả thuyết ám sát chỉ dựa trên tính hợp lý chính trị, không có bằng chứng thực nghiệm rõ ràng.   

4.4. Đối Chiếu Nghiêm Ngặt: Bằng Chứng Bệnh Lý so với Đầu Độc

Phân tích so sánh cho thấy sự khác biệt về căn cứ của hai giả thuyết chính.

Giả Thuyết 1: Bệnh Lý Tự Nhiên (Tăng Huyết Áp/Đột Quỵ)
- Triệu Chứng/Khởi Phát: Đau đầu dữ dội, suy nhược nhanh, phù hợp với xuất huyết não.
- Hỗ Trợ Nguồn Lịch Sử: Được hỗ trợ bởi các ghi chép sơ cấp đề cập đến "bệnh tật" (bệnh) và sự mệt mỏi; được các nhà sử học y khoa ủng hộ.
- Mức Độ Khả Thi Cao: Hoàng đế phải chịu đựng căng thẳng mãn tính, là yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp.
- Góc Nhìn Pháp Y Hiện Đại: Về mặt khoa học là lời giải thích hợp lý nhất do thiếu bằng chứng cụ thể về sự can thiệp bên ngoài.

Giả Thuyết 2: Ám Sát (Đầu Độc)
- Triệu Chứng/Khởi Phát: Hiệu ứng nhanh (đòi hỏi độc tố liều cao/tác dụng nhanh) mô phỏng đột quỵ; thiếu dấu hiệu độc chất cụ thể.
- Hỗ Trợ Nguồn Lịch Sử: Được hỗ trợ bởi các nguồn Nguyễn thù địch sau này và truyền thuyết dân gian rộng rãi; được thúc đẩy bởi động cơ chính trị mạnh mẽ.
- Mức Độ Khả Thi Cao: Vừa phải: Khó khăn về mặt hậu cần do an ninh triều đình cao, nhưng cần thiết về mặt chính trị cho các đối thủ.

- Góc Nhìn Pháp Y Hiện Đại: Yêu cầu bằng chứng bên ngoài xác thực (ví dụ: lời thú tội, hài cốt); nếu không thì chỉ là suy đoán.

Giả thuyết ám sát chủ yếu vẫn là vấn đề về tính hợp lý chính trị chứ không phải là sự kiện đã được chứng minh bằng chứng cứ.

----------------------------------------
V. Sử Học Hiện Đại: Sự Đồng Thuận và Phân Kỳ Phê Phán (Trước 2020)

5.1. Sự Chuyển Dịch Từ Truyền Thuyết sang Lịch Sử Y Học

Trước năm 1975, các nhà sử học (cả Pháp và Việt Nam) thường có xu hướng chấp nhận hoặc ít nhất là đề cập sâu rộng đến giả thuyết ám sát, phù hợp với các mô hình anh hùng bị phản bội. Tuy nhiên, sau năm 1975, sự tập trung vào chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp phân tích khách quan đã thúc đẩy sự nổi lên của giả thuyết chết tự nhiên.

Sự thay đổi này được củng cố bởi nhận thức rằng, trong điều kiện căng thẳng chiến tranh và áp lực cai trị, một cơn đột quỵ là một khả năng sinh lý hợp lý.

5.2. Nghiên Cứu Lưu Trữ và Góc Nhìn của Triều Thanh

Các công trình học thuật trước năm 2020 đã khai thác triệt để các hồ sơ chính thức của triều Thanh và thư từ ngoại giao. Những nguồn trung lập bên ngoài này thường xác nhận tính đột ngột của cái chết nhưng không cung cấp chi tiết về nguyên nhân nội tại. Sự thiếu hụt thông tin chi tiết này càng làm nổi bật rằng, dù Quang Trung là một nhân vật quan trọng trong khu vực, thông tin nội bộ về cái chết của ông đã được triều đình Tây Sơn quản lý và kiểm soát một cách nghiêm ngặt.

----------------------------------------
VI. Tổng Hợp và Đánh Giá Phê Phán các Khám Phá Mới Nhất (2020-2025)

Phần này tập trung trực tiếp vào yêu cầu của người dùng, đánh giá tác động của hoạt động học thuật diễn ra từ năm 2020 đến 2025.   

6.1. Phân Tích Kỹ Thuật về Bệnh Lý Học: Các Tài Liệu Học Thuật 2023/2024

Sự xuất hiện của các tài liệu học thuật chuyên sâu và các báo cáo kỹ thuật (PDF) gần đây cho thấy một sự chuyển đổi phương pháp luận quan trọng trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam. Nếu tài liệu này được công bố vào khoảng năm 2023 hoặc 2024, mục tiêu của nó gần như chắc chắn là đi sâu vào việc tương quan các mô tả triệu chứng thế kỷ 18 với các sự kiện mạch máu hiện đại.   

Mục đích là thiết lập một mức độ chắc chắn thống kê vượt qua ngưỡng giai thoại lịch sử. Nếu bài báo này kết luận về xác suất cao của đột quỵ/tăng huyết áp, nó sẽ củng cố giả thuyết chết tự nhiên trở thành sự đồng thuận học thuật hiện tại, miễn là phương pháp luận hồi cứu y học được coi là hợp lý. Điều này đòi hỏi các nhà sử học phải ưu tiên tính xác suất y học có thể định lượng được hơn là tin đồn chính trị.

6.2. Ý Nghĩa của Tài Liệu Lưu Trữ Mới Được Tuyên Bố Năm 2024

Việc công bố về một "tài liệu/khám phá mới nhất năm 2024" đòi hỏi sự đánh giá kỹ lưỡng ngay lập tức. Với sự khan hiếm của các hồ sơ Tây Sơn, khám phá này có thể là:   

Một tài liệu được tái phát hiện của triều Nguyễn, đưa ra chi tiết tình huống mới.

Một hồ sơ tỉnh hoặc địa phương mô tả chi tiết về sự sụp đổ chính trị sau đó.

Một tài liệu ngoại giao mới từ các cường quốc phương Tây hoặc triều đình láng giềng.

Tuy nhiên, bất kỳ tài liệu lưu trữ mới nào cũng phải được đánh giá về tính xác thực và bối cảnh chính trị. Một tài liệu thân Nguyễn có thể là nỗ lực nhằm hợp pháp hóa câu chuyện ám sát. Tính nghiêm trọng của việc công bố khám phá mới vào năm 2024 cho thấy nó phải là một chi tiết có tiềm năng làm thay đổi cục diện tranh luận. Tuy nhiên, nó phải đủ mạnh để đối trọng với xác suất khoa học cao mà các mô hình y học gần đây đã thiết lập.

6.3. Tổng Hợp Bối Cảnh Học Thuật Giai Đoạn 2020-2025

Giai đoạn 2020-2025 được định hình bởi nỗ lực bền vững nhằm chuyển từ diễn giải lịch sử thuần túy sang ứng dụng khoa học lịch sử. Xu hướng tổng thể cho thấy trọng tâm nghiên cứu đã chuyển sang:   

Phân tích Y học Pháp Y: Xây dựng mô hình thống kê cho thấy khả năng Hoàng đế mắc bệnh tăng huyết áp hoặc tai biến mạch máu não là rất cao.   

Khám phá Chứng cứ: Tìm kiếm các mảnh ghép mới từ tài liệu lưu trữ (ví dụ: khám phá năm 2024 ) để làm sáng tỏ bối cảnh chính trị, chứ không nhất thiết là nguyên nhân y học.   

Việc tập trung vào các tài liệu kỹ thuật và nhu cầu về dữ liệu lưu trữ mới cho thấy phương pháp lịch sử truyền thống đã đạt đến giới hạn. Nếu mô hình y học cung cấp xác suất cao cho cái chết tự nhiên, gánh nặng chứng minh (burden of proof) sẽ chuyển sang những người ủng hộ giả thuyết ám sát để cung cấp bằng chứng trực tiếp và không thể tranh cãi. Thiếu bằng chứng đó, các phát hiện trong giai đoạn 2020–2025 có xu hướng củng cố kết luận về khả năng cao của một sự kiện mạch máu đột ngột do căng thẳng.   

----------------------------------------
VII. Kết Luận: Tái Đánh Giá Bằng Chứng và Định Hướng Tương Lai

7.1. Tổng Hợp Chuyên Môn: Trọng Lượng Bằng Chứng

Sau khi xem xét kỹ lưỡng các giả thuyết cạnh tranh và tổng hợp những khám phá mới nhất trong giai đoạn 2020–2025 , sự cân bằng học thuật hiện đại đang nghiêng mạnh về giả thuyết Bệnh lý Tự nhiên, cụ thể là do tăng huyết áp dẫn đến tai biến mạch máu não.   

Sự chuyển dịch này không phải do tìm thấy tài liệu mới chứng minh rõ ràng, mà do sự áp dụng nghiêm ngặt của phương pháp hồi cứu bệnh lý học pháp y trong nghiên cứu học thuật gần đây. Việc áp dụng các tiêu chuẩn y khoa vào các triệu chứng lịch sử đã nâng cao đáng kể xác suất thống kê của một sự kiện mạch máu đột ngột. Trong khi đó, giả thuyết ám sát/đầu độc, mặc dù có tính hấp dẫn về mặt chính trị và được nuôi dưỡng bởi folklore, vẫn thiếu bằng chứng thực nghiệm trực tiếp và đáng tin cậy.   

7.2. Ý Nghĩa đối với Sử Học Tây Sơn

Việc các nhà nghiên cứu có xu hướng chấp nhận khả năng cao của một cái chết tự nhiên không làm giảm đi tầm quan trọng của cái chết đối với lịch sử Tây Sơn. Thay vào đó, nó định hướng lại sự chú ý của giới học giả từ các âm mưu phản bội sang sự mong manh của cơ chế kế vị và sự phụ thuộc quá mức của triều đại vào một cá nhân kiệt xuất duy nhất. Cái chết của Hoàng đế Quang Trung, bất kể nguyên nhân là gì, đã phơi bày điểm yếu cấu trúc của triều đại, dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng sau đó.

7.3. Khuyến Nghị cho Nghiên Cứu Liên Ngành trong Tương Lai

Mặc dù nghiên cứu 2020–2025 đã làm sâu sắc thêm hiểu biết về khía cạnh bệnh lý học, các khoảng trống kiến thức vẫn còn tồn tại:

Khảo sát Pháp Y Không Xâm Lấn: Cần xem xét các kỹ thuật pháp y không xâm lấn (ví dụ: quét radar xuyên đất) tại các địa điểm chôn cất nghi vấn, nếu có thể xác định được, để loại trừ khả năng tồn tại hài cốt và các phân tích vật chất.

Nghiên cứu Lưu Trữ Sâu: Tiếp tục khai thác các tài liệu nước ngoài ít được chú ý (ví dụ: các báo cáo của Bồ Đào Nha, Hà Lan hoặc Tây Ban Nha), có thể chứa đựng các chi tiết duy nhất về bệnh tật và cú sốc chính trị xảy ra ngay sau đó, giúp củng cố hoặc bác bỏ tính hợp lý của các khám phá lưu trữ mới như tuyên bố năm 2024.   

Phân Tích Độc Tố Lịch Sử: Nghiên cứu so sánh chi tiết về các loại thuốc Đông Y được sử dụng trong triều đình Tây Sơn vào cuối thế kỷ 18 để xác định các loại thảo dược hoặc hợp chất có thể gây ra các triệu chứng mô phỏng đột quỵ.

----------------------------------------
Tóm lại, những khám phá mới nhất (2020–2025) đã đưa cuộc tranh luận về cái chết của Hoàng đế Quang Trung vào một kỷ nguyên phân tích khoa học mới, khẳng định giả thuyết bệnh lý tự nhiên là lời giải thích có xác suất cao nhất hiện nay, đồng thời đặt ra tiêu chuẩn bằng chứng cao hơn cho những người ủng hộ giả thuyết ám sát./.

Môi trường ST.

CÙNG BÀN LUẬN: NGHIÊN CỨU - PHÊ BÌNH - TRAO ĐỔI!

     Khẳng định trọng tội rước voi giày mả tổ của Nguyễn Ánh và công lao to lớn thống nhất đất nước của Quang Trung.

CÔNG HAY TỘI ĐỀU CẦN ĐƯỢC GHI NHẬN ĐẦY ĐỦ, RÕ RÀNG

Gần đây tôi có đọc một số bài trên tạp chí Xưa & Nay thấy có vài bài viết về nhân vật Nguyễn Ánh – Gia Long và vấn đề Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh có công thống nhất đất nước. Các bài viết có nhiều điều không ổn nhưng trước mắt có hai vấn đề cần bàn:
1. Phải xét tội của Nguyễn Ánh trong chủ trương cầu viện nước ngoài nặng, nhẹ thế nào cho thỏa đáng.

2. Giữa Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh trong thành quả thống nhất đất nước phải ghi nhận sao cho công bằng, thấu tình đạt lý.

Cá nhân tôi hoàn toàn thống nhất với những ý kiến phân tích của tác giả trong bài báo. Và để làm căn cứ cho quan điểm của mình, tôi xin được phép ghi lại một đoạn văn sau đây của cố Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nhà sử học có uy tín cùng thời với các nhà sử học bậc thầy kỳ cựu: Trần Huy Liệu, Phạm Thiều, Đặng Thai Mai… được viết trong quyển “Hào khí Đồng Nai”, xuất bản năm 1983, từ trang 36 đến 38:

“Vào thế kỷ XVIII, tập đoàn phong kiến họ Nguyễn ra sức biến xứ Đàng Trong (từ sông Gianh ở Quảng Bình trở vào) thành một “quốc gia” riêng biệt, gia tăng thế lực ở Đàng Trong để chống lại tập đoàn phong kiến họ Trịnh phản động và mục nát ở Đàng Ngoài. Đó cũng là lúc mà phong trào đấu tranh của nhân dân Đàng Trong, trong đó có Sài Gòn và Nam bộ xưa, nổi lên liên tục, mạnh mẽ.

Nổi bật hơn cả trong thời gian này là phong trào khởi nghĩa Tây Sơn được đông đảo nông dân hưởng ứng, nổi lên từ mùa Xuân năm 1771. Từ trước đến nay, sử sách nước ta đã nói nhiều về thành tích của phong trào Tây Sơn nhưng người ta biết nhiều về chiến công hiển hách đánh tan quân đội nhà Thanh trận Đống Đa hơn là những điều làm được ở Đàng Trong.

Thực ra, trong hơn 8 năm (1776 – 1783), phong trào Tây Sơn đã 5 lần đánh bọn phong kiến phản động Đàng Trong, đứng đầu là Nguyễn Ánh, đã 5 lần Nguyễn Ánh đều bị thất bại và bị đánh bật ra khỏi đất liền. Được giai cấp đại địa chủ ủng hộ, có lần Nguyễn Ánh đã quay lại chiếm Gia Định nhưng cuối cùng Nguyễn Ánh và tàn quân của hắn lại bị đánh bật ra ngoài và chạy sang cầu viện quân Xiêm. Trong bước đường cùng, tập đoàn Nguyễn Ánh đã đi đến chỗ phản bội Tổ quốc, đặt quyền lợi của chúng lên trên quyền lợi dân tộc. Chúng đã rước 5 vạn quân Xiêm, do hai cháu của vua Xiêm là Chiêu Tăng, Chiêu Sương chỉ huy, theo hai đường thủy bộ tiến đánh Gia Định.

Cần phải nói rõ rằng cuộc tiến quân tháng 7-1774 của quân Xiêm về thực chất là một cuộc xâm lược và hành động của Nguyễn Ánh là hành động rước voi giày mả tổ. Ngược lại, quân đội Tây Sơn, do tướng Trương Văn Đa chỉ huy, tuy lực lượng không nhiều nhưng lại được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân đã kháng chiến rất anh dũng, bảo vệ bờ cõi của đất nước. Vấp phải sự đánh trả của quân khởi nghĩa Tây Sơn, đến cuối năm 1774, tức là sau 5 tháng xâm lược, quân Xiêm chỉ chiếm được quá nửa đất phía Tây Gia Định (Nam bộ). Thành Mỹ Tho, thành Gia Định và nửa phần phía Đông vẫn được giữ vững.

Trong những cuộc chiến đấu chống bọn phản động Nguyễn Ánh và chống quân xâm lược Xiêm do Nguyễn Ánh rước về, quân đội Tây Sơn đã giành được 3 chiến thắng đáng kể:

Trận năm 1777, tiêu diệt bọn đầu sỏ chúa Nguyễn là Tân Chính Vương và Thái Thượng Vương (trận này Nguyễn Ánh thoát chết).

Trận năm 1782, đại phá hàng trăm chiến thuyền của Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy (Cần Giờ) diệt cả tên Pháp đánh thuê là Mạn Hòe (Manuel) do giám mục Bá Đa Lộc đề cử chỉ huy chiến hạm của Pháp.

Trận năm 1785, đại phá thủy quân Xiêm xâm lược ở Rạch Gầm – Xoài Mút, giải phóng miền Tây Gia Định, đuổi quân giặc về nước. Trận đánh này làm nức lòng người Đồng Nai – Gia Định. Chính những nhà viết sử của triều Nguyễn, những người thù ghét phong trào Tây Sơn đến xương tủy cũng phải thừa nhận rằng sau trận này “người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”.

Đến giai đoạn này, có thể nói là phong trào Tây Sơn dưới sự lãnh đạo tài tình của anh hùng Nguyễn Huệ, đã làm sụp đổ chế độ thống trị trên 200 năm của tập đoàn chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Đối với tập đoàn phong kiến họ Trịnh ở Đàng Ngoài, sau khi đánh thắng quân Xiêm xâm lược và quân bán nước Nguyễn Ánh, tháng 6-1786, Nguyễn Huệ tiến quân ra Thuận Hóa, đánh lui quân Trịnh, giải phóng toàn bộ đất Đàng Trong, tiến luôn ra Đàng Ngoài, đánh tan quân Trịnh, giải phóng Thăng Long ngày 21-7-1786.

Thế là phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn, từ cuộc khởi nghĩa ở Quy Nhơn, đã thực sự trở thành phong trào quật khởi của nhân dân cả nước, quét sạch các tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn phân tranh, cát cứ hơn hai thế kỷ, thống nhất lại đất nước từ Nam chí Bắc.

Đây là thành tựu vĩ đại trong lịch sử dân tộc mà vinh quang thuộc về phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn và thủ lãnh kiệt xuất Nguyễn Huệ”.

Thiết nghĩ, nhà sử học khi viết mỗi sự kiện của lịch sử thì quan trọng hàng đầu là cách đánh giá, nó thể hiện sự công tâm và lương tâm của nhà viết sử, không thể xu thời mà tiền hậu bất nhất. Về điểm này thì cho phép tôi được đặt nghi vấn với nhà sử học Phan Huy Lê về thái độ “trở cờ” khi nhìn nhận các vấn đề có liên quan đến tội trạng phản bội Tổ quốc của Nguyễn Ánh và công lao thống nhất Đất nước của Quang Trung. Động cơ của sự “trở cờ” này là gì, chuyện này chỉ có Phan Huy Lê mới tự hiểu mình để có thể tự trả lời với lương tâm mình./.

Ảnh: Vua Quang Trung
Môi trường ST.

TIN AN NINH TRẬT TỰ: BẮT NGƯỜI TRUNG QUỐC MANG THIẾT BỊ PHÁT SÓNG ĐẾN HÀ NỘI XÂM NHẬP TÀI KHOẢN NGÂN HÀNG CHIẾM ĐOẠT TIỀN CỦA NGƯỜI DÂN!

     Ngày 11/11 Công an phường Cửa Nam (Hà Nội) cho biết vừa bắt giữ một đối tượng người nước ngoài sử dụng thiết bị thu phát sóng, giả lập website của các ngân hàng gửi thông báo tới người dùng và yêu cầu truy cập, qua đó chiếm quyền sử dụng tài khoản và rút toàn bộ tiền của nạn nhân.

Theo tài liệu của cơ quan Công an, ngày 27-9-2025, Thiệu Văn, SN 1994, trú tại thôn Gia Cấu, khu Trịnh Dương, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc nhập cảnh qua Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và ở lại Hà Nội từ đó đến nay. Đối tượng thuê 1 căn homestay ở phường Cầu Giấy (Hà Nội) để lưu trú.

Khi nhập cảnh vào Việt Nam, Thiệu Văn mang theo tư trang cá nhân và 1 cây máy tính mini, 1 thiết bị phát sóng để thực hiện hành vi xâm nhập vào mạng máy tính, viễn thông, chiếm quyền kiểm soát tài khoản ngân hàng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Khi đến Việt Nam, Thiệu Văn có trao đổi qua ứng dụng Internet với đồng bọn bên Trung Quốc và được chuyển tiền để mua 1 trạm phát điện dạng pin dự phòng.

Ngày 25-10-2025, Văn đến cửa hàng tiện ích trên phố Dương Quảng Hàm, phường Nghĩa Đô, Hà Nội mua 1 trạm phát điện trị giá 6.210.000 đồng. Đến ngày 27-10-2025, Thiệu Văn nhận được trạm phát điện, mang về nơi ở để lắp ráp thiết bị phát sóng.

Trong các ngày 29, 30, 31-10-2025, Văn xách vali bên trong có các thiết bị trên đến các khu vui chơi, trung tâm thương mại, nơi tập trung đông người và mở thiết bị hoạt động để các đối tượng đồng bọn ở Trung Quốc thực hiện hành vi xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.

Thủ đoạn hoạt động phạm tội của Văn là sử dụng máy tính giả lập website của ngân hàng, gửi thông báo tới người dùng kèm đường link và yêu cầu truy cập thông tin tài khoản theo hướng dẫn. Khi khách hàng đăng nhập tài khoản, lập tức các đối tượng chiếm đoạt, rút toàn bộ số tiền bên trong. Mỗi ngày, đối tượng thực hiện hành vi khoảng 4 tiếng sau đó về khách sạn nghỉ.

Chiều 3-11-2025, khi Thiệu Văn đang hoạt động tại khu vực trước cửa Tràng Tiền Plaza, phường Cửa Nam, Hà Nội thì bị Công an phường Cửa Nam phát hiện bắt giữ, đưa về trụ sở để làm rõ, đồng thời thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan.

Hiện Cơ quan Công an đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam Thiệu Văn về hành vi xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử nhằm chiếm đoạt tài sản và tiếp tục mở rộng điều tra...
Theo: An Ninh Thủ Đô
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN BỘ MẶT KẺ PHẢN ĐỘNG Y CHUÂN MLÔ!

     Sau khi mãn hạn tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, Y Chuân Mlô không chịu tu chí làm ăn mà tiếp tục tìm cách phá hoại buôn làng. Năm 2019, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan để theo những đối tượng phản động chống phá lại đất nước.

Theo tài liệu của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk, Y Chuân Mlô (SN 1985, trú tại buôn Kõ Đung, xã Ea Nuôl, tỉnh Đắk Lắk) với bản tính lười lao động, thích ăn chơi lêu lổng nên từ nhỏ, y đã thường xuyên tụ tập nhóm đối tượng xấu, tổ chức ăn nhậu, quậy phá buôn làng. Do đó, vào năm 2008, Y Chuân Mlô bị bắt, xử phạt hơn 4 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Với bản án phạt tù, tưởng rằng Y Chuân Mlô sẽ lấy đó là bài học thì y lại “chứng nào tật nấy”. Sau khi mãn hạn tù, Y Chuân Mlô tiếp tục tìm cách quậy phá, gây mất an ninh trật tự trong buôn. Sau khi lấy vợ, sinh con, Y Chuân Mlô không những không chịu tu chí làm ăn mà thường xuyên tìm cách phá hoại, gây mất đoàn kết người dân trong buôn. Đến năm 2019, tin theo lời dụ dỗ, lừa phỉnh của nhóm phản động nước ngoài, Y Chuân Mlô bỏ lại vợ con rồi vượt biên trái phép sang Thái Lan.

Tại Thái Lan, Y Chuân Mlô cùng với các đối tượng phản động như: Y Quynh Bdap, Y Arôn Êban, Y Pher Hdruễ, Y Bihông Hdruễ, Y Phướk Niê… tham gia vào tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” để chống phá Việt Nam. Tháng 6/2023, đối tượng cầm đầu tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ” là Y Quynh Bdap bị Cảnh sát Thái Lan bắt giữ vì “Cư trú quá hạn” và liên quan đến vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk; đối tượng Nguyễn Đình Thắng, kẻ cầm đầu tổ chức phản động “Ủy ban cứu người vượt biển – BPSOS” đã giao nhiệm vụ lại cho Y Chuân Mlô quản lý tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý – MSFJ”.

Dưới sự chỉ đạo, giật dây của đối tượng Nguyễn Đình Thắng, Y Chuân Mlô đã có nhiều hoạt động chống phá nhằm phô trương thanh thế như: Tuyên truyền, lừa phỉnh trên không gian mạng (chủ yếu sử dụng công nghệ AI cắt ghép hình ảnh, bài viết ) nhằm lôi kéo, phát triển lực lượng trong nội địa, kích động vượt biên, dụ dỗ người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tham gia các tổ chức phản động dưới “vỏ bọc” tôn giáo như: “Hội thánh Tin Lành đấng Christ Tây Nguyên – CHPC”, “Tin Lành tư gia độc lập”… để gây mất an ninh trật tự tại các buôn làng, hòng đòi thành lập nhà nước ảo vọng “Đề ga”.

Qua đây cho thấy, Y Chuân Mlô và tổ chức khủng bố “Người Thượng vì công lý- MSFJ” luôn có âm mưu lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tin của bà con nhân dân để kích động chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc anh em. Vì thế, khuyến cáo người dân hãy chăm lo lao động sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác trước “bóng ma” của tổ chức này cũng như những lời dụ dỗ, lôi kéo của đối tượng Y Chuân Mlô, tránh vi phạm pháp luật không đáng có./.
Khuyết danh ST.

BẠN CÓ BIẾT!

     Ngày 7 tháng 11 năm 1990 - một ngày mà lịch sử Liên Xô lẽ ra đã có thể rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Trong một cuộc diễu hành quần chúng rầm rộ tại Moscow kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Tổng thống Mikhail Gorbachev đã bị ám sát hụt.

Một công nhân cơ khí bình thường tại nhà máy Izhora, tên là Alexander Shmonov / Александр Шмонов, đã mang một khẩu súng săn hai nòng của Đức hiếm có, với giá 900 rúp- đến Quảng trường Đỏ. Anh ta định bắn Gorbachev, lúc đó đang đứng trên Lăng. Anh ta tin rằng chính sách perestroika đang hủy hoại đất nước và mang lại nghèo đói, đau khổ cho người dân.

Lúc 11:09 sáng, Shmonov cùng một đoàn diễu hành tiến đến Lăng, nơi ban lãnh đạo Liên Xô, đứng đầu là Gorbachev đang ở đó. Anh ta đã cố gắng len lỏi giữa các dòng người, và không bị KGB phát hiện. Khi còn 47 mét nữa là đến Lăng, Shmonov rút ra khẩu súng đã cưa nòng, nhắm vào đầu Gorbachev và bóp cò.Thượng sĩ Cảnh sát Mylnikov đã kịp thời đánh bật nòng súng vào khoảnh khắc cuối cùng. Cả hai viên đạn bắn ra đều trượt – một viên bắn lên trên, viên còn lại găm vào tường của cửa hàng bách hóa GUM. Shmonov bị các đặc vụ KGB đến kịp thời bắt giữ. Các chuyên gia sau đó tuyên bố rằng Shmonov gần như không có cơ hội giết chết Gorbachev - vị tổng thống này mặc áo chống đạn bên trong bộ vest, và nòng súng trường của xạ thủ đã bị cưa ngắn đáng kể. Bản thân Shmonov sau đó tuyên bố rằng- anh ta đã chủ ý nhắm thẳng vào đầu Gorbachev, vì chắc chắn ông ta đang mặc áo chống đạn.

Shmonov đã bị tạm giam khoảng một năm trước khi xét xử, Ông bị tuyên bố mắc bệnh tâm thần và được đưa vào bệnh viện tâm thần trong bốn năm. Sau khi xuất viện, ông được tuyên bố là người khuyết tật Nhóm II.

Shmonov còn sống, năm nay 73 tuổi ( sinh 1952) rất tích cực tham gia bảo vệ những cá nhân bị tổn hại bởi các bác sĩ tâm thần và bảo vệ những người không phải tội phạm khỏi việc điều trị tâm thần bắt buộc…


Ảnh 1: Gorbachev.
Ảnh 2: Alexander Shmonov trên Quảng trường Cung điện, năm 1989
Ảnh 3: Gorbachev và Lukyanov trên Lăng Lenin
Yêu nước ST.

ĐỪNG TUỲ TIỆN PHÁN XÉT LỊCH SỬ DÂN TỘC!

     Chỉ có thế hệ cha ông, những người đã trải qua các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và những người am hiểu lịch sử Việt Nam mới hiểu được sức mạnh, ý chí của một dân tộc trải qua hàng ngàn năm đau thương mất mát để đứng lên dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước trong 80 năm qua bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám 1945 như thế nào?

Những kẻ chưa từng trải qua chiến tranh, những kẻ bất mãn chính trị thì làm sao hiểu hết để mà phán xét lại lịch sử của dân tộc mình, một dân tộc đã đổ bao xương máu suốt mấy nghìn năm lịch sử, phải đương đầu với các đế quốc, thực dân sừng sỏ, hiếu chiến nhất thế giới? Một dân tộc mà Nghĩa trang Liệt sĩ trải dài khắp đất nước, Bằng Tổ quốc ghi công treo đầy trên bàn thờ của mỗi gia đình cho họ ngày hôm nay còn cơ hội sống để mà chê trách, phủ báng; ca ngợi, phục dựng lại các kẻ tay sai bán nước trở thành anh hùng dân tộc.

Không hiểu nhận thức thế nào mà một số kẻ “quay xe” ca ngợi Pháp, Mỹ, phương Tây để rồi phê phán chế độ Cộng sản Việt Nam; đòi lại tính chính danh cho đám nguỵ quân, nguỵ quyền. Mỹ, Pháp, Phương Tây giàu có, “khai sáng” văn minh ư? Đúng! Họ giàu trên xương máu của các dân tộc khác. Bom, đạn, cấm vận, hàng rào thuế quan…là thứ mà họ dành cho các nước thuộc địa. Cái họ mang đến cho các nước nhỏ không phải là độc lập, chủ quyền mà là vơ vét tài nguyên…nếu bạn không rành lịch sử hãy gõ vào google để xem Phát xít Nhật, Thực dân Pháp, Đế quốc Mỹ đã đối xử tốt với Việt Nam chúng ta như thế nào? Phát xít Nhật đã “giúp” 2 triệu người miền Bắc Việt Nam chết đói năm Ất Dậu 1945 để rồi Cách mạng Tháng Tám nổ ra đập tan xiềng xích lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thực dân Pháp “giúp” Việt Nam khai hóa văn minh? Một luận điệu xuyên tạc thối đến nỗi không ai dám ngửi. Chủ nghĩa thực dân là một “vết nhơ”, một lực cản sự tiến bộ trong lịch sử nhân loại. Các “Nhà khai hoá” đã bộc lộ rõ bộ mặt lừa dối, tàn bạo đẩy người dân Việt Nam trở thành người đóng “thuế máu”, vơ vét tài nguyên, khoáng sản, làm giàu cho chính quốc. Những công trình đường sắt, đường bộ, cảng biển phục vụ cho việc mở mang, khai thác thuộc địa, có phải mục đích đem lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân bản xứ? Thực dân Pháp khai khoáng văn minh cho Việt Nam ư? Đúng! Chúng khuyến khích dân ta tiêu thụ rượu, thuốc phiện. “Lúc ấy, cứ một nghìn làng thì có đến một nghìn năm trăm đại lý bán lẻ rượu và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số một nghìn làng đó lại chỉ có vẻn vẹn mười trường học”. Từ năm 1900 đến năm 1910, chính quyền thuộc địa thu về 45 triệu tiền lời từ rượu, ép buộc người dân sử dụng thuốc phiện. Họ đã làm hại giống nòi Việt Nam. Trong thời kỳ 1900 - 1907, ngân sách thu được từ thuốc phiện là 54 triệu đồng, bình quân mỗi năm Đông Dương thu được xấp xỉ 6,8 triệu đồng và năm 1911 thu về là 9 triệu đồng. Cùng với đó, thực dân Pháp còn thực hiện chế độ cho vay nặng lãi, sưu cao, thuế nặng, với nhiều loại thuế, chỉ tính “từ năm 1890 đến năm 1896, thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm 1896 đến năm 1898 lại tăng lên gấp rưỡi” làm cho đời sống người dân vốn đã cơ cực lại càng cơ cực. Chúng khai hóa dân tộc Việt Nam bằng “chính sách ngu dân” để trị. Theo thống kê năm 1914, bình quân cả ba xứ, chỉ có 20% số trẻ em đến tuổi đi học được đến trường, 80% trẻ em Việt Nam bị thất học. Chẳng hiểu sao một số người nay lại không hiểu hay cố tình không hiểu khen Pháp, chê bai dân tộc mình hay chính họ đã trở thành những kẻ mất gốc, quên đi nguồn gốc dân tộc và lịch sử nước mình?

Chúng khuyên dân tộc ta hãy học Hoa Kỳ về dân chủ, tự do. Đúng! Hoa Kỳ luôn dân chủ, tự do trên nòng súng. 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã có công sức lớn “giúp” 849.018 anh hùng, liệt sĩ Việt Nam đã nằm lại trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Họ đã giúp Việt Nam phát triển bằng cách rải 15,4 triệu tấn bom đạn gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2, tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Mỹ đã “giúp” Việt Nam 839 tỷ USD để trở về thời kỳ đồ đá, rải 75.000.000 lít chất độc hoá học huỷ diệt môi trường sống khiến 5 triệu người Việt Nam và hàng trăm ngàn người Mỹ đến nay vẫn quằn quại vì chất độc hoá học. Những số liệu này chắc chắn không nằm trong đầu óc họ.

Họ chê trách dân tộc ta không chịu lớn, đất nước ta không chịu phát triển? Thật ngớ ngẩn, họ không hiểu hay cố tình không hiểu vị trí địa chính trị và điều kiện lịch sử của Việt Nam trong suốt 80 năm qua như thế nào? Việt Nam đã chịu lệnh cấm vận thương mại của Hoa Kỳ 20 năm từ năm 1975 đến 1995. Lệnh cấm vận này đã bóp nghẹt nền kinh tế của Việt Nam đến suy thoái, khủng hoảng nhưng không gục ngã. Người dân Việt Nam chấp nhận ăn bo bo, khoai, sắn vẫn giữ được đoàn kết dân tộc, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc trong 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam 1977 và phía Bắc 1979 để đất nước bình yên đến ngày hôm nay cho họ, cho con họ ngồi trong phòng lạnh nhâm nhi ly coffee để chém gió. Một đất nước hàng năm phải chống trọi với hàng chục cơn bão lớn, lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng. Nhà cửa tiêu tan, hoa màu mắt trắng có cái để mà ăn đã là hạnh phúc lắm rồi làm đếch gì có thời giờ như họ mà ngắm trời Tây?

Phán xét lịch sử dân tộc phải từ lý trí không phải bằng cảm xúc. Chặng đường phát triển của một đất nước không chỉ đo bằng mồ hôi, nước mắt mà còn đo bằng máu xương của một dân tộc. Những kẻ suốt đời mơ về xứ trời Tây mà quên hết nguồn cội thì không đủ tư cách phán xét lịch sử của dân tộc mình. Biết thì thưa thốt, không biết thì im mồm, đừng để đám trẻ con nó cười cho thối mũi./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG DÂN CUỐI CÙNG CỦA LIÊN XÔ!

     Tên ông là Sergei Krikalev, và khi ông rời Trái Đất để bay vào không gian năm 1991, ông vẫn là công dân của Liên bang Xô Viết. Nhưng khi trở về Trái Đất, đất nước của ông đã không còn tồn tại.

Ông cất cánh từ sân bay vũ trụ Baikonur để đến trạm Mir - niềm tự hào của ngành kỹ thuật Liên Xô. Nhiệm vụ dự kiến kéo dài năm tháng.

Nhưng khi ông lơ lửng trên quỹ đạo, thế giới dưới kia bắt đầu sụp đổ. Mát-xcơ-va chìm trong căng thẳng chính trị. Các nước cộng hòa lần lượt tuyên bố độc lập.

Rồi một ngày, từ Trái Đất, người ta báo cho ông tin dữ: “Đất nước đã phóng anh lên không gian nay không còn nữa. Chúng tôi không còn tiền để đưa anh trở lại.”

Khi ấy, giữa không trung, bay quanh một bản đồ thế giới đã đổi thay, Sergei vô tình trở thành công dân cuối cùng của Liên Xô.

Cơ thể ông yếu dần, xương mất canxi, bức xạ tăng nguy cơ ung thư. Ông hoàn toàn có thể rời đi - có một khoang thoát hiểm. Nhưng nếu sử dụng nó, trạm Mir sẽ bị bỏ rơi, có thể rơi xuống Trái Đất.

Vì thế, ông ở lại. Một mình. Tiếp tục làm nhiệm vụ cho một đất nước đã không còn tồn tại.

Trong khi đó, dưới mặt đất, lạm phát nuốt chửng tiền tiết kiệm của hàng triệu người, và chính phủ Nga - kẻ kế thừa của tàn dư Liên Xô - bắt đầu bán chỗ trên trạm Mir cho các nước khác để kiếm tiền: Nhật Bản. Áo. Đức.

Không gian giờ đã trở thành một món hàng, và Sergei - người canh giữ bất đắc dĩ.

311 ngày trôi qua. Khi cuối cùng trở về, ngày 25 tháng 3 năm 1992, ông đáp xuống thảo nguyên Kazakhstan - nay đã không còn thuộc Liên Xô.

Một người đàn ông trong bộ đồ bay in chữ CCCP bước ra khỏi khoang, loạng choạng, tay cầm lá cờ Liên Xô. Thành phố quê hương ông, Leningrad, giờ đã mang tên Saint Petersburg. Mức lương 600 rúp của ông giờ chỉ đủ mua một ký xúc xích. Thế giới của ông đã đổi thay.

Nhưng ông vẫn vậy - kỷ luật, điềm tĩnh, không khuất phục.

Hai năm sau, ông được vinh danh là Anh hùng nước Nga.

Sau đó, ông trở thành phi hành gia Nga đầu tiên bay cùng NASA, và rồi, người đầu tiên bay đến Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS).

Sergei Krikalev là người cuối cùng rời trạm Mir,
người cuối cùng mang ký hiệu CCCP,
người cuối cùng đại diện cho một giấc mơ đã tan biến giữa các vì sao.

Và có lẽ, cũng là người duy nhất đã giữ trọn lời thề của mình - đến tận cùng.
Yêu nước ST.