Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI...", CÓ PHẢI ĐÓ LÀ MỘT TUYÊN NGÔN LÊN ÁN VIỆC VINH DANH LẠI "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” BẰNG THƠ CA HAY KHÔNG?

     Sau khi bài thơ "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" của Nguyễn Khoa Điềm ra đời thì ngay lập tức nó được Nguyễn Quang Thiều đánh bóng, cố ý phô trương lệch lạc bằng việc cho rằng Nguyễn Khoa Điềm đang mượn thơ để lên án những người phản biện & đấu tranh với cái sai của Bảo Ninh, với tư duy "phản tư méo mó, bi lụy, bế tắc" trong “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” - NBCT.

Nhưng thật tiếc cho tư duy của Chủ tịch Hội Nhà văn Nguyễn Quang Thiều. Không biết là anh Thiều giấu dốt, hay anh cố tình đi ngược Nguyễn Khoa Điềm, một nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị để lòi ra sự dốt nát, thậm chí là mông muội cố tình rửa mặt cho Bảo Ninh, đánh bóng cho NBCT?

Tìm hiểu kỹ, thẩm, ngẫm kỹ hơn về Bài thơ: "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" ta thấy rõ 
Nguyễn Khoa Điềm không phải là một thi sĩ đứng ngoài chính trị. 
Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, là người giữ vai trò then chốt trong việc định hướng Tư tưởng, Văn hóa và Diễn ngôn chính thống của Dất nước. 
Vì vậy, mọi phát ngôn về nghệ thuật (nói chung) của ông, đặc biệt ở giai đoạn cuối đời, không thể tách rời khỏi trách nhiệm lịch sử và lập trường tư tưởng.

Bài thơ “Không việc gì phải lắm lời” (27.12.2025), nếu đặt trong mạch tư tưởng nhất quán ấy, không thể đọc như một lời kêu gọi hòa giải chung chung, càng không phải là sự né tránh tranh luận. Trái lại, đây là một tuyên ngôn mang tính kết sổ, một lời lên án dứt khoát đối với việc phục hồi và vinh danh lại một "cách nghĩ" chiến tranh đã lỗi thời, từng bị lịch sử và đời sống phê bình bác bỏ, nay được kéo trở lại trung tâm đời sống Văn học - Giáo dục dưới cái tên "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH".

Ngay từ những câu mở đầu, bài thơ xác lập một thực tế lịch sử không thể đảo ngược:

“Một cuộc chiến đã đi qua
Giang sơn đã hòa bình, thống nhất”…

Đúng là chiến tranh đã đi qua, Tổ Quốc đã thống nhất và Nguyễn Khoa Điềm không phủ nhận ký ức chiến tranh, mà đóng dấu hoàn tất cho cuộc chiến trong tư cách một cuộc chiến CHÍNH NGHĨA đã thắng lợi. 
Khi giang sơn đã thống nhất, điều cần bảo vệ không còn là súng đạn, mà là ý nghĩa lịch sử của thắng lợi ấy. Khép lại chiến tranh không phải để phủ định nó, mà để ngăn chặn những cách đọc lệch lạc đang tìm cách quay lại chiếm lĩnh ký ức cộng đồng.

Chính vì vậy, ông viết:
"Không việc gì phải rũ rối ra
Ném vào nhau lời vô nghĩa"

"Lời vô nghĩa" ở đây không phải là mọi tranh luận, mà là những diễn giải đã lỗi thời, sai lạc, từng bị bác bỏ nhưng lại được phục sinh. Đó là thứ ngôn ngữ than vãn, hoài nghi, bi kịch hóa cuộc kháng chiến; thứ ngôn ngữ từng xuất hiện trong NBCT & đã từng bị chính hệ thống Chính trị - Văn hóa xác định là "KHÔNG PHÙ HỢP" để vinh danh ở tầm chuẩn mực Giáo dục.

Nguyễn Khoa Điềm nhấn mạnh rằng:
“Đã đi qua cuộc chiến tranh thiêng liêng giận dữ”

Cụm từ này mang tính đối trọng trực diện với tinh thần của "NBCT". 
Nếu Bảo Ninh nhìn chiến tranh chủ yếu như một chuỗi mất mát phi lý, nơi con người bị nghiền nát trong một cỗ máy vô danh, thì Nguyễn Khoa Điềm khẳng định: đó là một cuộc chiến Thiêng liêng, có giận dữ, có máu lửa, nhưng mang đầy đủ Ý nghĩa Lịch sử rõ ràng & KHÔNG THỂ ĐÁNH ĐỒNG.

Cuộc chiến ấy:
"Tưới tắm núi sông, số phận con người
Cả Dân tộc bước lên đài Lịch sử"

Đây là một tuyên bố không thể thỏa hiệp: cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc không phải là một bi kịch vô nghĩa, mà là bệ phóng lịch sử của cả dân tộc. Mọi nỗ lực đọc lại nó bằng tâm thế mỏi mệt, hoài nghi chính nghĩa đều là sự xúc phạm từ hậu thế đối với những người đã ngã xuống.

Trung tâm phê phán sắc lạnh nhất của bài thơ nằm ở đoạn:

“Đây là lúc chẳng cần giở lại trò đếm xác chết
Kể lể công, tội đòi soi mặt từng người”

Trong cụm từ “trò đếm xác chết”, Nguyễn Khoa Điềm lên án trực diện phương pháp luận mà NBCT: một cách tiếp cận chiến tranh thiên lệch về thống kê nỗi đau, ám ảnh xác chết và bi kịch cá nhân, từ đó làm nghèo nàn ý nghĩa lịch sử và xóa nhòa ranh giới căn bản giữa Chính nghĩa và Phi nghĩa, giữa người giải phóng và kẻ xâm lược. 
Đây không còn là sự phản tỉnh cần thiết của văn học, mà là một sự lệch chuẩn trong nhận thức lịch sử, được che đậy dưới mỹ từ “nhân văn”.

“Đếm xác chết” không phải là tưởng niệm hay ghi nhớ hy sinh, mà là biến hy sinh thành con số, biến lịch sử thành thống kê cảm xúc. Chính phương pháp ấy đã khiến chiến tranh bị nhìn như một chuỗi mất mát phi lý, nơi nỗi buồn cá nhân lấn át ý nghĩa cộng đồng và lý tưởng lịch sử, từ đó làm suy yếu nền tảng nhận thức về cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Nguyễn Khoa Điềm gọi đó là: “Thật vô ích và bất kính”. Vậy "Bất kính" với ai?
👉 Với những người lính đã ngã xuống vì một lý tưởng.
👉 Với lịch sử dân tộc đã được trả giá bằng máu.
👉 Và với thế hệ trẻ, khi họ bị buộc phải tiếp nhận một ký ức chiến tranh lệch lạc trong nhà trường.

Việc NBCT từng được vinh danh năm 1991 rồi bị hủy bỏ vinh ranh & cấm tái bản phát hành tức là NBCT bị chính đời sống phê bình và chính trị đặt lại vị trí không phải là ngẫu nhiên, mà là biểu hiện của sự tự điều chỉnh của lịch sử. Khi một tác phẩm không còn phù hợp với trách nhiệm Giáo dục và ký ức cộng đồng, nó buộc phải rời khỏi trung tâm.

Bởi vậy, việc đến năm 2025 tác phẩm này "BẰNG MỘT CÁCH THẦN KỲ NÀO ĐÓ" lại được phục hồi, bảo trợ, thậm chí đưa vào môi trường Giáo dục, chẳng khác nào đào lại một xác thối tư tưởng đã được chôn cất. Nguyễn Khoa Điềm không cần nêu đích danh, bởi bài thơ của ông chính là bản cáo trạng thơ ca đối với hành động đó.

“Hãy để những người anh hùng ngủ yên”…
“Ngủ yên” không đồng nghĩa với lãng quên, mà là không bị đánh thức để phục vụ cho những diễn ngôn sai lạc về lịch sử. Người anh hùng không cần được minh họa bằng nỗi buồn cá nhân, cảm giác hư vô hay sự hoài nghi về chính nghĩa. Họ cần được đặt đúng vào dòng chảy lịch sử khách quan, nơi sự hy sinh được nhìn nhận như một hành động có ý nghĩa, có lý tưởng và có giá trị cộng đồng. Để anh hùng “ngủ yên” chính là để lịch sử không bị bóp méo.

Vì thế, “Không việc gì phải lắm lời” không phải là lời kêu gọi im lặng, mà là lời tuyên bố chấm dứt một cuộc tranh cãi đáng lẽ không cần hồi sinh. Nguyễn Khoa Điềm, bằng thơ, đã nói thay lịch sử rằng: có những cách nhìn chiến tranh đã đến lúc phải để nguội lạnh cùng tro tàn của chúng.

Vinh danh lại NBCT không phải là biểu hiện của tiến bộ tư duy, mà là một bước thụt lùi nghiêm trọng trong nhận thức lịch sử, một dấu hiệu đáng lo ngại của sự suy thoái trong tri thức lịch sử và trách nhiệm giáo dục. Và trước sự thụt lùi ấy, không cần phải "lắm lời" không phải vì không còn gì để nói, mà vì sự thật đã quá rõ: rõ về sự lệch chuẩn trong cách tiếp cận chiến tranh, rõ về sự nhầm lẫn giữa nhân văn với bi lụy, giữa phản tỉnh với phủ định chính nghĩa, và rõ về nguy cơ làm tổn hại nền tảng nhận thức lịch sử của các thế hệ tiếp theo.

Qua những phân tích trên về bài thơ "KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI LẮM LỜI" cũng như những ý kiến cần truyền tải của Nguyễn Khoa Điềm về việc "Đóng cửa chiến tranh" khi đất nước đã "Hòa bình", mọi thứ đã "ngủ yên", "không phải lắm lời' thì hà cớ gì, hay sâu xa hơn một chút là Nguyễn Quang Thiều đang có Âm mưu gì đó khi mượn NBCT cùng những phát ngôn, suy nghĩ lệch lạc của Bảo Ninh để bôi nhọ, xuyên tạc danh dự Quân đội, xé nát Vinh quang - Hồn cốt - Linh khí Dân tộc Việt Nam?./.

Môi trường ST.

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

LANG BANG "CÂU CHUYỆN MỘT ĐỜI"!

     Trong mỗi giai đoạn phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn, song hành đổi mới đi lên, thích ứng với thời đại và xu thế phát triển toàn cầu chung của đất nước.

Quy luật cố nhiên là những kế hoạch và âm mưu thâm độc của kẻ thù cũng "già cựa" phát triển theo là điều không thể không xảy đến.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn đặt mục tiêu xuyên suốt là "công kích" liên tục vào trận địa tư tưởng văn hóa, trên nhiều bình diện của đời sống xã hội và đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng nhân dân ta.

"Diễn biến hòa bình" của chúng không từ một thủ đoạn nham hiểm hay kế sách tinh vi, xảo quyệt nào để nhằm đạt được một hiệu ứng "đánh phá" nhất định, có được hiệu quả chiến lược từng nấc thang hòng thành công mục tiêu lật đổ chế độ của dân, do dân và vì dân của Việt Nam ta.

=> Trước hết là chúng tạo lối trải đường cho các thế lực phản động, đen tối trong nước có thêm nhiều cơ hội chống phá nền tảng chế độ và gây rối ren, nhiễu loạn đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần đang yên bình của nhân dân ta. 

▪︎Trên các quá trình của lịch sử ngoại giao, tiến tới các quan hệ đối tác chính thức.

- "Diễn biến hòa bình" thường gắn chặt thủ đoạn và nanh vuốt, thông qua các kênh "bình thường hóa" cho đến giai đoạn thực hiện các vai trò hợp tác, đối tác toàn diện; lợi dụng môi trường đó để thực hiện các "kế hoạch âm thầm" cũng như xuất đầu lộ diện một cách ngang ngược của chúng.

- Chúng dùng tất cả mọi phương thức, thủ đoạn để đạt được mục đích như: sẵn sàng đầu tư một nguồn tài chính lớn để mua chuộc, thúc đẩy hình thành một chương trình theo ý đồ triển khai và thiết kế của chúng.

- Chúng sử dụng các yếu tố đặc biệt gắn chặt bên lề ngoại giao như hợp tác một số vấn đề có tính cách xã hội dân sự...

- Chúng lợi dụng, cài cắm thủ đoạn thông qua các chương trình hợp tác về văn hóa, giáo dục, môi trường v.v. gắn với các điều kiện nhân danh, mang tính quốc tế hoặc chúng yêu cầu đặt ra...

- Công cụ về văn hóa và các mắc xích nguồn lợi kinh tế là những "vũ khí cơ bản" mà chúng sẽ cố tích cực để tăng cường sự chống phá, hòng lật đổ các nền tảng văn hóa và tư tưởng chính trị của Đảng, Nhà nước ta.

Trong nhiều nội dung và cấu trúc của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung, là nơi mà kẻ thù cài cắm, sử dụng các "chiến lược mềm" chống phá nhiều nhất.

=> Loại phẩm văn học suy đồi "Nỗi buồn chiến tranh" của kẻ xuất thân trí thức tiểu tư sản Ấu Phương là một trong những điển hình về "mũi tên chống phá" trận địa văn hóa tư tưởng của Đảng, Nhà Nước ta -> mà kẻ thù đã thành công đến tận "thành trì ý thức hệ" và đã thâm nhập thực sự vào nền giáo dục - âm mưu hạ thấp hệ giá trị nhân văn trên mỗi con người Việt Nam.

Do đó, hơn lúc nào hết, đứng trước sự xâm lăng văn hóa bạo ngược này. Chúng ta rất đáng phải điều nghiên, kiên quyết đấu tranh triệt để và quyết tâm cao hơn nữa để phản bác và diệt trừ tận gốc những loại văn hóa phẩm mang tính dộc hại có tính phản động này.

Chúng ta quyết nêu cao một chính kiến, bảo vệ những giá trị thiêng liêng - trường tồn - bất diệt của văn hóa lịch sử dân tộc; đoàn kết chặt chẽ và quyết mang lại sự trong lành cội gốc cho đời sống văn hóa - lịch sử của đất nước.

Từ đó chúng ta mới có thể đúc kết lại một góc nhìn cảnh giác thâm sâu hơn, sẵn sàng phòng chống trực diện cũng như đập tan mọi thủ đoạn đê hèn, từng ngày đang tìm cách lợi dụng thâm nhập, len lỏi vào các chính sách đổi mới, mở rộng phát triển (tham gia các cơ chế đa phương của chính phủ) và hội nhập toàn cầu của đất nước.

Chúng ta kiên quyết chặn đứng "sự ngang tàng" của kẻ thù đế quốc cũng như các thế lực thù địch khi chúng thường xuyên trá hình, chĩa mũi tên xuyên phá vào mặt trận văn hóa tư tưởng của đời sống nhân dân - đời sống cách mạng của xã hội ta. 

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Một thứ sản phẩm văn hóa suy đồi được ra đời năm 1987 với cái tên ái ố là "Thân phận của tình yêu" đã bị Bộ văn hóa thời đó cấm xuất bản và lưu hành vào năm 1991.

Thế nhưng, sau đó nó được đổi thành cái tên "Nỗi buồn chiến tranh" để biến sự "lưu ý" của độc giả vào những chủ đề lịch sử và chính trị; hòng tiệm cận sâu hơn, thúc đẩy những mưu đồ uốn cong lịch sử và bàn nghiêng nhiều "quan điểm chính trị" của thể chế đất nước. 

=> Điều phản nhân văn nhất là nó xúc phạm thẳng vào hồn cốt của chính người dân Việt Nam, khi bôi nhọ hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân - những người lính xả thân vì nghĩa lớn, vì sự trường tồn của lịch sử chân chính, vì sự sống còn và nền độc lập, tự do của cả một dân tộc.

Giai đoạn từ 1986 - 1991 là giai đoạn cực kỳ nhạy cảm với nhiều sự biến đổi căn bản, phức tạp của tình hình chính trị thế giới. 

Một cực của thế giới là khối các nước XHCN và Liên Xô dần bị suy yếu và tan rã. 

Hệ thống chính trị của Chủ nghĩa Cộng sản và toàn thể các mô thức, hình thái phát triển của chủ nghĩa xã hội bị mất khả năng đề kháng trước những "phương thức nọc độc" và thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa tư bản đế quốc.

"Cơn địa chấn chính trị" nhanh chóng xảy ra làm sụp đổ và tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng lên toàn bộ các nước XHCN như Trung quốc, Cu Ba, Lào, Bắc Triều Tiên, một phần "chủ nghĩa xã hội" còn lại của thế giới... và trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp lên nhiều mặt chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam chúng ta.

Tại Việt Nam, song hành với những bước đi phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với người Mỹ là một giai đoạn thể hiện bản lĩnh và khí phách, tầm nhìn sắc sảo trí tuệ và đường lối lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta.

Tuy nhiên với bước đi thoát khỏi sự phong tỏa cấm vận này. Chúng ta bắt đầu khó khăn hơn trong lĩnh vực phòng và chống các âm mưu và chiến lược DBHB của địch.

-> kể từ đây kẻ địch cũng đã có nhiều cơ hội hơn để thâm nhập chống phá Việt Nam. Một chiến lược bắn mũi tên vào thành trì văn hóa tư tưởng và tấn công truyền thông từ bên ngoài, có vẻ cũng như những gì đang diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu.

"Thân phận của tình yêu" hay "Nỗi buồn chiến tranh" bỗng nhiên xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu mở rộng các chương trình tiếp xúc quan trọng, hoạt động không chính thức nhưng đã kết nối hai chiều một số lĩnh vực với người Mỹ, như chương trình Pow/Mia (tù binh và người Mỹ mất tích), tiếp đón các cá nhân, tổ chức nghiên cứu học thuật v.v. 

Mặc dù "Thân phận tình yêu" xuất hiện khá sớm, song hành với tiến triển ngoại giao trên. Nhưng có vẻ không bình thường (có tính ngang tàng) để khiến chúng ta đặt ra một dấu hỏi lớn.

Phải chăng sản phẩm do chính người Mỹ đặt hàng trên tiến trình phát triển các chương trình thăm dò - tiếp xúc, lộ trình phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với Mỹ ? 

Đây cũng là một câu hỏi không thừa để ta có thể điều nghiên lại phương lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. 

▪︎Nhìn lại khái quát tình hình đất nước trong gia đoạn này:

Một tiến trình phát triển ổn định trong bão táp xung đột như vấn đề bị lấn chiếm biển đảo Trường Sa, chiến tranh biên giới phía Bắc (Vị Xuyên - Hà Giang) và chiến tranh biên giới Tây Nam, tình hình Campuchia với nhiều khó khăn và thử thách.

-> Giai đoạn này có thể thấy, nhiều phức tạp về âm mưu "Diễn biến hòa bình" đang lăm le bên rào cản cấm vận cũng như mặt trận an ninh đối ngoại cực kỳ thách thức của đất nước.

Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta vẫn vững vàng tiến lên phía trước, hoàn thành những mục tiêu xây dựng kinh tế xã hội; quân đội ta anh dũng chiến đấu giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương của Tổ quốc và song hành là những đổi mới mang tầm "tư tưởng chiến lược", đảm bảo cho sự phát triển bền vững, không ngừng đi lên từng ngày của đất nước. 

Chúng ta thật tự hào biết bao với giai đoạn lịch sử còn nhiều sóng gió và gian truân ấy.

Một chương sử vàng chói lọi, minh triết của nghìn năm văn hiến, thiêng liêng hồn cốt Việt Nam. Chúng ta rất đỗi tự hào với dáng màu cao cả của một dân tộc anh hùng, một dân tộc nhiều trí tuệ, dũng lược chưa bao giờ chịu chùn bước.

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Phải chăng vẫn là chiêu bài người Mỹ muốn có một "sắc màu danh dự" trong tiến trình quay lại mối quan hệ song phương với Việt Nam.

Công cuộc bình thường hóa giúp Mỹ có lợi về kinh tế và đặc biệt hơn cả là củng cố vị thế địa chiến lược tại Châu Á, đặt một thách thức ngang bằng giữa Mỹ với Trung quốc trong thời kỳ hậu Xô Viết. 

Chúng ta "gác lại quá khứ" nhưng người Mỹ lại muốn làm mờ quá khứ tội ác và phủ nhận 'tính chất phi nghĩa' mà họ đã gây ra trong cuộc chiến.

Thông qua "Nỗi buồn chiến tranh" một sản phẩm văn học có thể ra đời với âm mưu xây dựng lên một kiểu "chủ nghĩa cá nhân" phản tri, phản hồn, phản cách mạng và hơn nữa là đi ngược lại lý tưởng chung của mỗi con người Việt Nam.

Nó còn vô giá trị hơn trong bất cứ một xã hội văn minh và đang ở xu thế phát triển nào trên toàn cõi thế giới này.

Nó đớn hèn trên một "nhận thức căn bản" mà xu hướng tiến bộ của mỗi cá nhân - lẽ sống và ý thức phụng sự dân tộc, trong bất cứ một xã hội hay đất nước nào cũng đều dễ dàng nhận thấy.

-> Ở Việt Nam chúng ta, khi mà mỗi con người cần phải nhìn nhận đúng nghĩa về quá khứ và quy luật tiến triển mỗi ngày của nó.

Mỗi cá nhân là một "nhận thức tâm hồn" biết nhìn nhận đúng những giá trị thiêng liêng, trường tồn của lịch sử, biết nhận thức về văn hóa cội nguồn, nền tảng đang sống và trách nhiệm cao cả mà chính bản thân mình đang được gắn kết, không thể đứng ngoài những quy luật tất yếu của dòng chảy lịch sử dân tộc.

"Nỗi buồn chiến tranh" xuất hiện chính là âm mưu "Kế hoạch Diễn Biến Hòa Bình" của địch, trong giai đoạn chúng tăng cường các hiệu ứng thâm nhập, chống phá (1987 - 1991).

Thời điểm mà Liên Xô và Đông Âu thiếu coi trọng lĩnh vực phòng chống các âm mưu chiến lược Diễn biến Hòa bình do Mỹ và phương Tây thực hiện.
Có thể nói trên mặt trận văn hóa tư tưởng đã mất tính phân tích và đề cao một lý luận cảnh giác, nên đã bị phá hoại và tiến dần đến sự sụp đổ không thể cứu vãn.

Thực vậy ! Henry Kissinger đã để lại cho Việt Nam một lời tuyên chuyến đầy ngạo mạn và thách thức khi rút khỏi chiến trường miền Nam: 

"Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại Việt Nam không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la... Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân." 

"Diễn Biến Hòa Bình" với nhiều kế hoạch "lặng lẽ và êm dịu" của nó, bằng nhiều cách xâm nhập và mua chuộc tác động, đã âm mưu xúc tiến thành công, để có sự tạo ra vũ khí "Nỗi buồn chiến tranh", âm mưu thực hiện ý đồ như đang diễn ra trước đó ở Liên Xô và Đông Âu.

Từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra những đường lối đổi mới toàn diện. Vấn đề văn hóa nghệ thuật, bao gồm cả văn học, nghệ thuật và văn nghệ cũng có nhiều sự thay đổi theo. Nhiều quan điểm tự do học thuật, tự do sáng tác, viết và khai thác những đề tài, góc khuất chưa dám nói đến được đề cập sôi nổi...Bắt đầu từ đây được "tư tưởng đổi mới" của Đảng phát huy sâu rộng, làm thay đổi một chất lượng mới.  

Tóm lại một khuynh hướng tự do tư tưởng trong sáng tác văn học nghệ thuật v.v mà từ trước đó không được chú trọng nhiều đến, từ thời điểm này bắt đầu nổi lên một luồng gió mới.

Tuy nhiên việc lợi dụng vấn đề tôn vinh "tính tự do hay cách hiểu "sự cởi trói trong văn học" đã bị nhiều kẻ "bồi bút" cơ hội, lắm tà tâm mà lại khéo mồm mép văn ngữ, mang nhiều thủ đoạn đê hèn...

=> chúng đã liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm tự sáng tác hoặc dịch thuật ở đâu đó có tính đồi mạt tư tưởng, thị dục ương hèn, nuôi dưỡng những "cái tôi thấp kém", gieo cấy sự ích kỷ tràn lan trên mọi phạm trù lối sống, vực dậy những thứ "chủ nghĩa cá nhân" hoàn toàn tanh tưởi v.v.

Liên tiếp những năm sau đó là xuất hiện một số tác phẩm, truyện ẩn chứa các "ý đồ chính trị", bôi nhọ tính chiến thắng, các sự kiện chiến đấu, nhân vật lịch sử, nhà lãnh đạo v.v khiến lĩnh vực văn hóa, tự do học thuật của Việt Nam ta trở thành một môi trường phức tạp.

Chúng tạo ra những diễn đàn, chương trình, lĩnh vực nghiên cứu mở rộng không được thẩm định theo chiều hướng giác ngộ "chủ nghĩa nhân văn" một cách bao hàm nhiều phạm trù tích cực về nhân triết và đạo lý mà chúng đã tạo ra sự "pha loãng về ý thức hệ", làm xô lệch nhiều tư tưởng nhân văn mang tính định hướng những giá trị bất biến của con người cũng như thủ đoạn làm biến đổi nghiêm trọng một "góc nhìn về văn hóa lịch sử lên nhân tố con người Việt Nam". 

Thế hệ trẻ ngày nay ít nhiều đã bị ảnh hưởng và có xu hướng thay đổi nhận thức, khi những vấn đề trọng tâm và cốt lõi bị mài mòn và có xu hướng chịu sự xâm thực, lấn át.

Những điều đáng lo ngại như thế không thể không nghĩ bàn trong vấn đề chính trị và điều hành của đất nước.

Rất mong những điều này được các cấp lãnh đạo quan tâm, nhất là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 

"Sự nghiệp trồng người" nếu mỗi ngày mất đi những giá trị về sự hun đúc được nhân lên trên một tổng quan tinh thần soi sáng, đúng đắn về nội dung văn hóa và lịch sử. ->Tất yếu dân tộc đó sẽ dần suy yếu, con đường củng cố, quay lại sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức.

SỰ HƯ CẤU NHẪN TÂM VÀ ÁC ĐỘC CÙNG TƯ TƯỞNG TỰ SỰ MỘT CÁCH BỆNH HOẠN LÝ TRÍ CỦA "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH" CHO TA NHỮNG CÁI NHÌN NHƯ SAU:

Tác phẩm phi tính văn học và phản nghịch với những gì thuộc về nhân sinh trừu tượng của con người (kể cả cái nhìn về mặt sai trái, suy đồi hay cái ác) cũng như những giá trị thường thấy mà văn học cho dù thể loại gì cũng phải khoác trên mình một nghĩa vụ là phục vụ cho đời sống thẩm mỹ và đạo đức của con người. 

Văn học phải được nhìn ra tính đúc kết và một góc nhìn phê bình những giá trị do nó mang lại đối với cuộc sống. 

Tính hiện thực hay chiều sâu triết lý của một tác phẩm luôn là "khái niệm hồn cốt" giúp con người nhìn ra lẽ phải và chân lý, biết đi đúng hướng và tạo lập những giá trị sống cho riêng mình.

=> "Nỗi buồn chiến tranh" là một tác phẩm vô hồn, không có trí tuệ, chỉ là sự quái thai của "văn hồn tính cách" một con người.

Nội dung tác phẩm là một "thể tính văn học" rất rỗng, lợi dụng "tính hư cấu" trong văn học một cách bừa bãi, không có tính chân hiện của đời sống con người. "Tính văn học" nghĩa là một khái thể nhận thức không bao giờ bị tách rời bởi thần thái, lương tri của con người trong văn học => nó không có "tính văn học" đúng nghĩa mà chỉ là một diễn ngôn của "hình thức nhân văn suy đồi" vô giá trị.

Phản nghịch với quan điểm vị nghệ thuật:

Văn học có trách nhiệm "chuyển ngữ" từ đời sống nội tâm đến tô điểm hồng hơn một lý tưởng chung của đời sống cộng đồng xã hội và đời sống văn hóa, lịch sử, tạo ra sự phát triển một tư duy sáng tạo của con người nói chung chứ không phải chỉ là tính đơn thuần văn học giải trí. Và cho dù thế nào thì về mặt "nghệ thuật văn chương" cũng biểu lộ được "tính chân" và nói lên một giá trị hàm triết tổng thể, một đoạn văn, một câu thơ cũng tỏa sáng những điều đó. Thế nhưng nghệ thuật trong "Nỗi buồn chiến tranh" hay "giá trị thẩm mỹ" của nó là không có. 

Nghệ thuật được đánh giá một phần trên bề hiện nội dung. Khẳng định ở góc nhìn thuần túy văn học, nó chỉ là sự nổi bật "cái xấu" về hình ảnh ngôn ngữ, mạch truyện khúc mắc từ đầu tới cuối về mặt nghệ thuật (bao gồm kỹ thuật trần thuật, phân cảnh tuyến tính, tính hư cấu tự sự và cách tạo dựng hình ảnh diễn ngôn v.v). Về phương diện ngôn ngữ rất xấu xí và ngữ nghĩa (nhìn qua tính thẩm thụ ngôn từ) hiện lên một cách tật nguyền khối óc.

Song hành với một nội dung hư cấu bệnh hoạn, phản nhận thức, cho ta thấy nó là một "Quái thai nghệ thuật" làm thui chột một nhận thức sống; có tính bôi bẩn lên tâm hồn người và kỳ phản tối đen tính văn học; bên cạnh những tính cách phản văn hóa, đi ngược lại chủ nghĩa nhân văn đích thực và mục tiêu duy nhất chỉ là sự hư cấu thái quá, biểu lộ một dị tật tâm hồn, chỉ nhằm hướng mục đích bôi xấu hình tượng và phẩm chất kiên cường, trí tuệ quả cảm của người lính - anh chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam.

Ở "Nỗi buồn chiến tranh" nó bộc lộ một nhận thức đui mù của tác giả và phản "tư tưởng khoa học" trước cái nhìn thực tiễn chiến đấu và sự tương tác gian truân của người lính.v.v Tác giả là người rối loạn cảm xúc và không có vốn sống. 

Trong văn học cách mạng, chúng ta vẫn thường thấy những gian nan, thử thách vô bờ bến của người lính, người chiến sĩ cách mạng, những đau thương và chịu đựng cùng những mất mát hy sinh không gì bù đắp nổi nhưng " phẩm chất và hình tượng người lính" vẫn luôn là những viên ngọc phách chói lòa trong lòng nhân dân và sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Rác văn học "Nỗi buồn chiến tranh" là sự phỉ báng đến lạnh lùng, vô cảm, một kiểu khua trống xét lại, bỏ lại đằng sau với bao người đồng đội anh em thương tích, làm tổn thương những người đang sống và xúc phạm bao người con ưu tú của dân tộc đã hiến thân, anh dũng ngã xuống vì hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc và sự trường tồn vẹn nguyên của Tổ quốc.

Thậm chí nó không tồn tại nổi một "tính cách văn học", theo tôi đọc được viết lên trong cái "phẩm chất người" đã được ít nhiều thụ hưởng giáo dục và tôi luyện trên chính "nội dung được dựng lên". Và tư tưởng tác giả muốn hàm chứa đến thì cực kỳ tối tăm và hạn chế xuẩn động..., nó cực kỳ bôi bẩn lên "đời sống văn học" và phủ nhận mọi "lý trí sáng suốt của con người"...

Khi viết một tác phẩm tiểu thuyết văn học, tác giả có quyền hư cấu theo ý mình muốn để đạt được mục đích trình diễn và những điều mình muốn nói. Tuy nhiên ông tác giả Bảo Ninh không thể tự cho mình có đặc quyền để tự do hư cấu bừa bãi, phản khoa học và thường thức trí tuệ con người, đánh tráo sự chân thật của hồn cách con người và bản chất của cái đẹp v.v. xúc phạm đến những gì thiêng liêng, cao cả và cốt cách chân mỹ, trí tuệ của người Việt Nam. 

Ở đây Bảo Ninh với chút trình độ văn chương khoa ngữ của mình đã tạo ra một tác phẩm sặc mùi phản đạo đức và hình thái nhân đạo của văn học. 

Chúng ta không thể tìm thấy ở tác phẩm những giá trị hàm nguyên, phong cách, lối sống mà văn học luôn cần tải đựng hoặc gián tiếp mô tả để góp phần phát triển một chủ nghĩa nhân văn theo góc nhìn thuần túy văn học.

Nó không thể có được một ảnh hưởng mang tính giá trị về triết lý sống hay tạo sức thẩm mỹ gì hơn lên đời sống con người...

-> "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ là chuỗi ngôn ngữ suy đồi nhận thức, công cụ phản văn hóa và lịch sử, nó không thể có được cái "đặc quyền hư cấu" như thế trong nền văn học và cả không gian - kho tàng văn học nghệ thuật của thế giới đương đại.

Kết luận, ca ngợi "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ có ở tư duy kẻ thù và hạng người ấu trĩ về văn hóa, lệch lạc một bản năng tâm hồn và nhận thức ngu dốt nhưng thích học đòi để thể hiện mình "yêu văn học", a dua với bản ngã thị dục và tâm thức của cái ác, cái chiều hướng suy đồi và thiển cận hồn óc.

Nhưng có lẽ "Nỗi buồn chiến tranh" là "món ngon" mà ông ta sẵn sàng bán rẻ lương tri, phẩm cách để đánh đổi với rượu ngon, tiền tài và danh tiếng ảo được "thế giới kẻ thù thất bại nhục nhã" đã ban tặng, cũng như ông ta đã ra sức "vặn xuýt" ngôn từ để bợ đỡ "danh dự", xóa mờ tội ác cho bè lũ tay sai và kẻ thù đế quốc.

"Nỗi buồn chiến tranh" lạc loài và dị hợm được dịch ra 15 thứ tiếng, để thế giới này hiểu về cái gọi là "chiến tranh Việt Nam" ư ? Và được lắm kẻ văn đàn quốc tế ca tụng ư?

Chúng ta coi họ là một lũ thất bại nhục nhã, vô liêm sỉ nhất, chúng sẽ băng hoại chết chùm cùng sự ấu trĩ, tăm tối của loại văn học ương thối này. 

"Nỗi buồn chiến tranh" sẽ bị đào thải và trôi dạt như những thứ bèo bọt rác rưởi cùng với cả hệ thống "phản nhân văn" của chúng. 

Nó sẽ có một ngày phải "tự biến mất", bị loại thải bởi sự phát triển tinh tế trên đại đồng thế giới nhân văn nghệ thuật và những bể hồn giá trị văn học chân chính; đồng thời với tính thẩm mỹ nghệ thuật đang gắn thiết lịch sử sẽ loại trừ nó để dựng xây phồn thịnh hơn, đẹp đẽ hơn toàn thể cuộc sống đương đại trong cấu trúc của thế giới văn minh này./.












Môi trường ST.

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: “CÁC ANH ƠI, CÒN VÀI TIẾNG NỮA THÔI LÀ TOÀN THẮNG RỒI MÀ”!!!

     Là những hình ảnh do nhiếp ảnh gia Pháp Jacques Pavlovsky ghi lại vào ngày 30/4/1975, nhưng không phải khoảnh khắc xe tăng 843, 390 húc cổng Dinh, mà là ba chiếc T-54 của Quân Giải Phóng cháy rực giữa phố, khói đen cuồn cuộn, bi tráng đến nghẹn lòng.

Sáng 30/4/1975, khi Sài Gòn chỉ còn cách vài giờ là hoàn toàn giải phóng, tại cửa ngõ Ngã tư Bảy Hiền - Lăng Cha Cả, một trận đánh ác liệt nổ ra giữa Trung đoàn xe tăng 273 và tàn quân Biệt Cách Dù 81 của Việt Nam Cộng hòa. Đây là tuyến phòng thủ cuối cùng bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu Ngụy - “cánh cửa thép” chốt giữ sinh mệnh chế độ cũ. Biết rõ thời khắc định mệnh đã cận kề, các kíp xe vẫn anh dũng lao lên, quyết mở đường cho đại quân tiến vào trung tâm.

Trong cuộc đột phá ấy, 8 xe tăng T-54 và 1 xe bọc thép đã bị hạ cháy. 25 cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống khi toàn thắng chỉ còn cách vài giờ ngắn ngủi…

Chiều 30/4, các đơn vị tổ chức thu dọn chiến trường, làm công tác thương binh, liệt sĩ. Nhưng riêng những chiếc xe tăng cháy phải đợi đến 4 ngày sau, khi đã nguội bớt, mới có thể tiếp cận. Khi mở được nắp xe, hầu hết hình hài các anh chỉ còn lại một nhúm tro...
Các anh được đưa về an táng tại Nghĩa trang Tân Xuân gần đó. Trong 476 phần mộ liệt sĩ nơi đây, có tới 108 người đã hy sinh ngay trong ngày lịch sử 30/4/1975.

Thân thể và lòng quả cảm của các anh đã đổ xuống vào đúng thời khắc sinh tử của dân tộc, tô thắm thêm trang sử cuối cùng của cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đã ngót nghét 30 năm ròng. Họ đã nằm lại, lặng lẽ mà oai hùng, giữa tiếng súng cuối cùng, để Tổ quốc bước vào kỷ nguyên đất nước liền dải.

Những người lính ấy, những kíp xe ấy, những “nấm mồ thép đỏ lửa” giữa lòng phố thị… mãi mãi là khúc tráng ca bất tử trong tim dân tộc./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI PHỤ NỮ BÍ ẨN CỨU ĐẠI TƯỚNG PHẠM VĂN TRÀ THOÁT CHẾT GIỮA VÒNG VÂY KẺ ĐỊCH!

     Năm 1966, địch tung Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 ngụy xuống bình định Long Mỹ, dựng căn cứ dã ngoại kéo dài dọc kênh xáng, sát chi khu quận lỵ. Hàng rào kẽm gai dày đặc siết chặt quanh căn cứ, hỏa điểm ken kín như lưới thép. Tiểu đoàn 309 nhận nhiệm vụ đánh vào căn cứ này và nhanh chóng thành công.

Trời vừa hửng, Tiểu đoàn trưởng giao Tiểu đoàn phó Phạm Văn Trà ở lại xử lý thương vong, tử sĩ rồi trở về đơn vị sau. Khi lực lượng đã rời đi, địch cho phi pháo bắn chặn các tuyến rút quân. Một mảnh pháo khiến ông bị thương nặng. Chỉ còn cậu liên lạc ở lại dìu ông vào cánh đồng. Biết mình không thể đi xa, ông ra lệnh cho cậu liên lạc quay về đơn vị, tránh hy sinh vô ích.

Giữa cánh đồng vắng, Phạm Văn Trà nằm lại một mình, vừa đau vừa lo, đầu óc xoay vòng tìm cách thoát nạn. Bỗng ông thấy một cậu bé khoảng mười tuổi xuất hiện trên bờ ruộng. Ông cố gọi. Cậu bé sững lại, nhìn ông thật lâu rồi quay đầu chạy biến về phía ấp.

“Rắc rối rồi,” ông nghĩ, tay siết chặt khẩu súng ngắn để phòng trường hợp cậu bé báo địch. Thời gian ngưng đọng, từng phút trôi dài như cả giờ. Nhưng đến xế trưa, chính cậu bé quay lại. Lặng lẽ đặt một chiếc thúng xuống bờ cỏ rồi bỏ chạy. Khi mở ra, ông thấy xôi, nửa con gà và nước uống. 

Nhá nhem tối, cậu bé trở lại cùng mẹ. Người phụ nữ dáng mảnh, mặt hiền, dìu ông về nhà trong ánh đèn dầu hắt đỏ. Chị nói nhỏ, đầy áy náy: “Ban ngày lính quốc gia nhan nhản ngoài ấp, má con tui không dám ra đón”.

Biết ông bị thương, chị giấu ông vào hầm tránh pháo ngay trong buồng, nơi lính đồn vẫn ra vào mua rượu. Nhờ sự nhanh trí của chị, ông được che chở an toàn suốt nhiều ngày. Chị chăm sóc cơm nước, rửa vết thương chu đáo. Nhưng rồi thật sự lo lắng khi thấy thương tích trở nặng, mưng mủ. 

Cuối cùng, trước quyết tâm của ông muốn trở lại đơn vị, chị tìm cách đưa ông rời ấp. Sáng sớm, chị giả vờ đưa người nhà đi bệnh, dẫn ông xuống xuồng, lợi dụng sự quen biết với lính gác để vượt qua nhiều trạm kiểm soát. Đi được vài cây số, gặp du kích, chị gửi ông lại rồi lặng lẽ quay về.

Phạm Văn Trà được cứu chữa kịp thời. Một tháng sau, khi trở lại Tiểu đoàn, đồng đội vỡ òa ôm lấy ông. Ai cũng nghĩ ông đã nằm lại nơi trận địa hôm ấy.

Mãi đến khi hòa bình lập lại, ông trở về Long Mỹ, lặng tìm lại căn nhà nhỏ nơi hai mẹ con đã che chở mình. Con kênh ngày nào vẫn chảy, bờ ruộng vẫn trải dài, nhưng người xưa thì chẳng thấy. Chiến tranh đã mang theo dấu vết của họ đi mất. 

Ông đã nhờ khắp các nơi, đăng cả tin tìm người trên báo, truyền hình để hy vọng có thể tìm lại hai mẹ con. Phải đến năm 2006, tức tròn 40 năm sau, ông mới tìm được chị và gia đình qua tin tức của anh em ở tỉnh đội Sóc Trăng./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NƯỚC ĐI RẤT HAY CỦA AN NINH VIỆT NAM!

     Mới cách đây vài ngày, các tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam vẫn còn chưa rõ Y Quynh Bdap đang ở đâu. Hầu hết đám này đều cho rằng Y Quynh Bdap vẫn còn đang ở Thái Lan và ở một trại giam nào đó. Đám này vẫn khá tự tin khi nhiều bên, trong đó có cả Ủy ban nhân quyền Liên Hợp Quốc và Nhân quyền EU lên tiếng “bảo kê” cho Y Quynh Bdap.

Nhưng, Việt Nam đã có một nước đi cực kỳ hay khiến đám này không thể biết được thông tin và gào mồm phản đối. Việt Nam đã thuê chuyên cơ riêng, với yêu cầu bảo mật đặc biệt từ Thái Lan, qua Lào về Việt Nam, để đưa Y Quynh Bdap về nước. 

Việt Nam đã thuê máy bay riêng từ hãng MJETS - Thái Lan. Theo quan sát, dòng máy bay có thể là Cessna Citation Bravo. Giá thuê trung bình dòng này vào khoảng 100 - 130 triệu/giờ bay, với các yêu cầu đặc biệt như bảo mật, lộ trình giữ kín, đội ngũ phi hành đoàn cam kết che giấu thông tin… có thể lên đến 200 - 250 triệu/giờ bay. Tức là nếu tính sơ qua, chuyến bay đưa Y Quynh Bdap về nước có thể tốn hơn 700 triệu đồng. 

Thực tế, Việt Nam hoàn toàn có thể điều các máy bay thương mại đưa Y Quynh Bdap về nước, bao trọn khoang thương gia hoặc điều máy bay thương mại rỗng khách. Tuy nhiên, việc này dễ bị lộ thông tin lịch trình, bảo mật, số hiệu máy bay và chuyến bay. 

Nói chung, an ninh Việt Nam đã tính toán rất kỹ càng, bảo mật thông tin rất tốt, chọn cách thức vận chuyển đối tượng không để lộ thông tin gì. Chỉ đến khi Y Quynh Bdap xuất hiện trên VTV1, đám phản động bất mãn với á khẩu vì không biết Y Quynh Bdap đi về Việt Nam bằng cách nào và lúc nào./.
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM ĐỊNH HƯỚNG CỦA NGÀNH TUYÊN GIÁO TRONG TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA!

     Hôm qua nay, một số bạn đặt một số vấn đề khi mình chia sẻ status về tình trạng "báo chí vả nhau". Không phải vô cớ mình dùng từ mạnh vậy; bởi đằng sau những bài viết, phóng sự trái chiều là một căn bệnh sâu hơn, đó là sự thiếu thống nhất trong định hướng tuyên truyền của một số cơ quan truyền thông - những người lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ. Để thấy rõ gốc rễ, chúng ta cần nhìn lại bản chất của xã hội chủ nghĩa, vai trò của báo chí cách mạng, và những quy định pháp luật, văn kiện của Đảng đã đặt ra đường ranh rõ ràng nhưng lại đang bị xô lệch.

Một số người biện hộ cho hiện tượng báo chí đối lập nhau bằng lập luận “tự do báo chí” và tự do ngôn luận. Họ quên rằng xã hội chủ nghĩa không phải là trạng thái hỗn mang, mà là một xã hội được định hướng cụ thể. Hiến pháp 2013 quy định quyền con người, quyền công dân, nhưng nhấn mạnh những quyền này có thể bị hạn chế bằng luật vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Điều 15 nhấn mạnh việc thực hiện quyền tự do của mỗi người không được xâm hại lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và quyền của người khác. Điều 25 bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng yêu cầu việc thực hiện phải theo quy định của pháp luật.

Luật Báo chí cũng chỉ rõ là báo chí Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu của đời sống xã hội, là diễn đàn của nhân dân và tiếng nói của tổ chức Đảng, Nhà nước, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đồng thời, luật nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nói cách khác, tự do báo chí trong xã hội ta là tự do trong khuôn khổ định hướng, chứ không phải tự do vô tổ chức.

Ngược dòng thời gian, Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 cũng khẳng định ba nguyên tắc là... văn hóa là một mặt trận, Đảng lãnh đạo văn hóa, và phải gắn văn hóa với kháng chiến – kiến quốc. Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nhấn mạnh mục tiêu xây dựng con người toàn diện trên nền tảng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, hình thành lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Nghị quyết 35-NQ/TW (2018) xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; đồng thời kêu gọi chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tuyên truyền, giáo dục và truyền thông.

Thế nhưng trên thực tế hiện nay, những nguyên tắc này đang bị xem nhẹ hoặc bị diễn giải tùy tiện. Việc một số địa phương vẫn đặt tên đường, trường học theo những nhân vật lịch sử còn tranh cãi như Gia Long, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký,... bất chấp chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương rằng không đặt tên đường với các nhân vật lịch sử còn nhiều ý kiến trái chiều cho thấy sự bất nhất giữa chủ trương và thực thi. Khi báo chí, đài truyền hình ở một nơi kịch liệt phê phán nhân vật bán nước, nơi khác lại làm phóng sự ca ngợi vị ấy “được dân thờ cúng”, người dân sẽ hỏi... rốt cuộc đâu là định hướng chính thức của Đảng?

Trường hợp Hoàng Duy Hùng mới lên VTV1 – một nhân vật lưu vong từng tham gia Mặt trận Việt Nam Tự Do, kêu gọi lật đổ chế độ, bị bắt tại Việt Nam vì liên quan âm mưu đặt bom – là ví dụ sống động cho sự bất nhất định hướng. Trong sách Cách mạng trắng, Hùng kêu gọi vận động theo kịch bản “cách mạng màu” để thay đổi chế độ. Báo chí chính thống từng xác định ông ta là đối tượng phản động, khủng bố. Vậy mà sau đó lại cũng có những chương trình, bài báo chính thống ca ngợi ông, một số quan chức cấp cao lại gọi ông ta là “đảng viên chân chính ngoài Đảng”. Kết quả là dân chúng không biết dựa vào đâu để nhận định, Hoàng Duy Hùng là kẻ phá hoại hay một “bậc trí thức hải ngoại” như một số bài viết tâng bốc? Sự bất nhất này không chỉ làm rối loạn nhận thức mà còn vô tình tiếp tay cho những kẻ từng gieo rắc bạo lực, chống phá nay có cơ hội “tẩy trắng”.

Cũng trong tháng qua, dư luận dậy sóng về việc tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được đưa vào danh sách 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu sau 1975 và đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa. Nhiều bài báo ngợi ca, xem đây là “niềm tự hào văn học”, trong khi Hội Cựu chiến binh và các cựu chiến binh lại gửi công văn phản đối, coi tác phẩm này là xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ người lính Bộ đội Cụ Hồ, mô tả cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ như một bi kịch vô nghĩa. Lập luận “văn chương có quyền hư cấu” được lặp lại đi lặp lại để biện minh, nhưng như bài trước tôi đã phân tích, hư cấu không thể trở thành chiếc ô che đậy việc biến một biểu tượng cao quý thành hình ảnh u ám, suy đồi. Khi báo chí ca ngợi một tác phẩm bị xem là xúc phạm danh dự người lính, còn tạp chí của Đảng và Hội CCB lại cảnh báo ngược lại, thì người đọc không chỉ hoang mang mà còn nghi ngờ chủ đích của việc vinh danh này.

Vấn đề mình trăn trở nhất không chỉ nằm ở một cuốn tiểu thuyết, mà nằm ở chỗ... khi đưa tác phẩm vào nhà trường, chúng ta giới thiệu tác giả với học sinh bằng “chuẩn đạo đức” nào? Với những thông tin của GS Nguyễn Cảnh Toàn rằng Bảo Ninh từng dính tới vụ việc phá hoại mẫu thí nghiệm của đồng nghiệp ở Viện Sinh học, khiến cơ quan chức năng phải vào cuộc, và sau đó bị kỷ luật, bị khai trừ khỏi Đảng, buộc rời cơ quan… thì câu hỏi đặt ra là... một nhân cách đang bị đặt dấu hỏi như vậy sẽ được “đóng khung” ra sao trong bài học? Học sinh sẽ học được điều gì? rằng cứ viết “hay” là được tôn vinh bất chấp chuẩn mực? rằng sai phạm rồi cũng có thể “rửa” bằng hào quang văn chương? Hay tệ hơn, có em sẽ ngộ nhận rằng chống đối, phá hoại cũng có thể được cổ vũ nếu biết khoác áo “nghệ thuật”?

Sự nghi ngại ấy càng sâu sắc khi ta nhìn vào bối cảnh chính trị của những người thúc đẩy tác phẩm. Nhóm Kiến nghị 72 đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp đã được báo chí liệt kê, gồm các tên tuổi như Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc. Đây lại chính là những người giữ vai trò quan trọng trong việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa, ông Nguyễn Minh Thuyết là tổng chủ biên chương trình GDPT 2018 và chủ biên bộ sách Cánh Diều; GS Trần Đình Sử là tổng chủ biên SGK Ngữ văn nâng cao. Báo chí chính thống và tạp chí nghiên cứu chỉ ra nguy cơ “tự diễn biến – tự chuyển hoá” khi những người ký kiến nghị đòi đa đảng đồng thời nắm giữ vị trí quyết định nội dung giáo dục. Khi họ cổ vũ việc đưa một tác phẩm gây tranh cãi chính trị vào sách giáo khoa, người dân có quyền đặt câu hỏi về động cơ chính trị của hành động này.

Hậu trường lịch sử an ninh Việt Nam từng ghi nhận những âm mưu cài cắm. Trong kế hoạch CM‑12 những năm 1980, tổ chức Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh tuyển mộ biệt kích, cung cấp vũ khí và tiền giả nhằm phối hợp trong–ngoài lật đổ chính quyền. Lực lượng an ninh đã dùng chính điện đài của địch để điều khiển, bắt trọn ổ. Trong bộ máy, cũng từng có cán bộ cấp cao như Nguyễn Hà Phan bị khai trừ vì phản bội. Những bài học ấy cho thấy, kẻ thù luôn tìm cách leo cao, chui sâu; chúng khai thác sự lỏng lẻo trong tổ chức để cài người, “bật lửa” từ bên trong.

Chính vì vậy, khi thấy truyền thông bất nhất – lúc tôn vinh, lúc đả kích – chúng ta không nên coi đó chỉ là chuyện “khác biệt góc nhìn”. Đằng sau có thể là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng, sự thâm nhập của quan điểm lệch lạc vào các cơ quan ngôn luận, hoặc ít nhất là sự buông lỏng trách nhiệm định hướng. Nếu không chấn chỉnh, chẳng những người dân hoang mang mà còn tạo kẽ hở cho chiến tranh thông tin len lỏi, nuôi dưỡng những mầm mống “cách mạng màu” mà ta đã thấy ở Đông Âu, Liên Xô.

Để giải quyết căn bệnh “báo chí vả nhau”, trước hết phải khẳng định lại vai trò trung tâm của Ban Tuyên giáo trong việc định hướng, thẩm định và uốn nắn nội dung truyền thông. Tôi xin đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau: 

Cần thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo cần kiên quyết xử lý các cơ quan truyền thông đưa tin trái quan điểm, phủ nhận chính nghĩa cách mạng, ca ngợi nhân vật phản diện. Song song, cần khuyến khích những sản phẩm báo chí sâu sắc, bám sát đường lối, góp phần củng cố niềm tin nhân dân.

Hai là, phải tăng cường phổ biến văn kiện của Đảng, pháp luật về văn hóa – tư tưởng. Các đài, báo phải thường xuyên tuyên truyền Đề cương văn hóa 1943, Nghị quyết 33 và Nghị quyết 35, để người làm báo hiểu rõ phương châm “văn hóa là mặt trận” và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Nữa là, cần rà soát lại việc đặt tên đường, xây dựng biểu tượng. Thực hiện nghiêm hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về không đặt tên đường với nhân vật lịch sử còn tranh cãi. Việc “vinh danh” một con người hay tác phẩm phải dựa trên tiêu chí phù hợp với đường lối, không chiều theo phong trào hoặc áp lực dư luận.

Cần phải minh bạch quy trình chọn tổng chủ biên, chủ biên sách giáo khoa. Ngăn chặn nguy cơ cài cắm quan điểm lệch lạc trong chương trình giáo dục. Những người tham gia soạn sách cần được kiểm tra lập trường chính trị, tránh tình trạng ký kiến nghị đòi đa đảng nhưng vẫn nắm trọng trách quản lý nhà nước về giáo dục.

Cuối cùng là cần phải đẩy mạnh giáo dục lịch sử và tuyên truyền phòng chống “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Nghị quyết Trung ương 4 đã coi đây là một trong những nguy cơ lớn, cần được nhận diện và xử lý sớm. Đưa nội dung này vào đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phóng viên và phổ biến tới quần chúng nhân dân nắm vững, nắm rõ.

Là người từng làm công tác Đoàn và làm dư luận viên ở cơ sở, mình hiểu người dân rất nhạy với sự bất nhất. Khi báo chí, truyền hình của Đảng và Nhà nước lúc phê phán, lúc ca ngợi cùng một đối tượng; khi định hướng văn hóa – giáo dục mơ hồ hoặc bị chi phối bởi những người có quan điểm lệch lạc, thì niềm tin xã hội bị xói mòn. Đến lúc ấy, những luận điệu “cách mạng màu”, “đa nguyên đa đảng” sẽ dễ dàng len lỏi vào tâm trí nhân dân.

Có người mỉa mai như vậy là hạn chế tự do của nhân dân. Nhưng xin thưa, Tuyên giáo là tuyên truyền và định hướng chứ không phải là cấm đoán hay “bịt miệng”; Tuyên giáo là định hướng, dẫn dắt và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Làm tốt công tác này nghĩa là đưa nhân dân đến cái đẹp – cái đúng của văn hóa cách mạng, đồng thời kiên quyết vạch mặt những âm mưu lợi dụng văn chương, lịch sử, truyền thông để phủ nhận chính nghĩa. Đó vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là bổn phận của mỗi người làm báo, mỗi cán bộ, mỗi công dân yêu nước./.
Khuyết danh ST.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH SÁCH “CHIÊU HIỀN ĐÃI SĨ” CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ CHẾ ĐỘ MỚI SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

     Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc.
 
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 do Đảng ta lãnh đạo, nhân dân ta đồng sức đồng lòng, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, làm nên một sự kiện long trời, lở đất, thay đổi căn bản số phận của cả dân tộc và mỗi người dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.
 
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt sâu sắc, mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao; xây đắp một chế độ xã hội mới mẻ, tốt tươi, đẹp đẽ ở Việt Nam; thể hiện đầy đủ, sâu sắc và sinh động bản chất dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thắng lợi vẻ vang đó là động lực, là mục tiêu cao cả, là niềm cảm hứng to lớn cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta viết tiếp trang sử mới của một thời đại mới vì niềm tự hào, tự tôn dân tộc, vì phẩm giá con người. Nhà thơ Tố Hữu đã viết những câu thơ hào sảng, lay động: “Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh / Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời” (Huế tháng Tám); Nhà thơ Nguyễn Đình Thi reo vui: “Mùa thu nay khác rồi / Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi / Gió thổi rừng tre phấp phới / Trời thu thay áo mới / Trong biếc nói cười thiết tha” (Đất nước). Trong âm nhạc, Nhạc sĩ Bùi Công Kỳ với ca khúc “Ba Đình Nắng”, phổ thơ Vũ Hoàng Địch, đã cất lên những giai điệu tự hào, kiêu hãnh: “Gió vút lên ngọn cờ trên kỳ đài phơi phới/ Gió vút lên đây bao nguồn sống mới dạt dào/ Tôi về đây lắng nghe bao tiếng gọi/ Của mùa thu cách mạng, mùa vàng sao… ”.
 
Ngay từ những ngày đầu và nhiều năm tháng sau đó, Cách mạng Tháng Tám và nguồn sáng tin yêu từ lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trở thành niềm kiêu hãnh, sức kết nối và lan tỏa của triệu triệu con tim, thành niềm cảm hứng lớn lao, trong trẻo, ào ạt của cả dân tộc đang tự tin vươn về phía trước. Với tầm nhìn thời đại, tầm vóc văn hóa, bản lĩnh chính trị, cùng với việc đề cao tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đã rất yêu quý, tôn trọng nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ. Và như một sự đáp đền, rất nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ tỏ rõ sự yêu kính, ngưỡng mộ và biết ơn cách mạng, biết ơn Chủ tịch Hồ CHí Minh - hiện thân cao cả của Đảng, của Chính phủ và chế độ mới, nhất tâm đi theo con đường sáng mà Cách mạng Tháng Tám đã khai mở.
 
Để xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho công cuộc kháng chiến kiến quốc nhiều hy sinh, gian khổ ở phía trước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực thi nhiều biện pháp nhằm phát hiện, tập hợp, sử dụng, trọng dụng nhân tài; giúp đỡ thế hệ trí thức mới tiến bộ, đào tạo họ thành những những trí thức “chính tâm và thân dân”. Trong bộ máy của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời ông Vĩnh Thuỵ (vua Bảo Đại của chế độ cũ) làm cố vấn Chính phủ, khá nhiều bộ trưởng, thứ trưởng là nhân sĩ, trí thức đã tham chính. Cụ Hồ xác định, cùng với chống “giặc đói”, “giặc dốt”, giặc ngoại xâm, thì phải kiên quyết, nhanh chóng củng cố và tăng cường bộ máy chính quyền, thực thi quyền dân chủ của nhân dân “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”. Chính phủ lâm thời tổ chức chu đáo, khẩn trương việc soạn thảo Hiến pháp cùng các công việc cho Tổng tuyển cử. Bản dự án Hiến pháp được Hội đồng Chính Phủ thảo luận, sửa đổi, bổ sung, công bố trên báo chí và gửi văn bản đến tận các làng, xã, thôn, bản xin ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Ngày 1/1/1946, Chính phủ lâm thời tự cải tổ thành Chính phủ Liên hiệp lâm thời, tiếp tục mở rộng thành phần là những người có tên tuổi, có uy tín, là nhân sĩ, trí thức tiêu biểu như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Tố, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hoè, Cù Huy Cận… và một số thành viên khác của Việt Quốc, Việt Cách.
 
Trước ngày diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu: “Ngày mai mồng 6 tháng giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa Quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình…”, “Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập”.
 
Qua những lần bổ sung và thông qua Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội, trong thành phần Quốc hội, Chính phủ có thêm sự tham gia của nhiều nhân sĩ, trí thức nổi tiếng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Nguyễn Văn Tố, cụ Bùi Bằng Đoàn… Trong bài viết “Nhân tài và Kiến quốc”, đăng báo Cứu quốc, số ra ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài... E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bực tài đức không thể xuất thân”.
 
Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ mới, nhiều trí thức, văn nghệ sĩ là người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài đã tự nguyện rời bỏ cuộc sống nơi phồn hoa, trở về Tổ quốc tham gia kháng chiến kiến quốc đầy gian khổ, thiếu thốn, như Hoàng Minh Giám, Vũ Ðình Tụng, Tạ Quang Bửu, Phan Anh, Phạm Quang Lễ (tức Trần Ðại Nghĩa), Trần Hữu Tước, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn Huyên, Nghiêm Xuân Yêm, Nguyễn Xiển, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Ngọc Thạch, Ðặng Văn Ngữ, Trịnh Ðình Thảo, Trần Đức Thảo, Ngụy Như Kon Tum... và nhiều người khác.

Câu chuyện nhà khoa học trẻ Phạm Quang Lễ du học ở Pháp từ năm 1935, tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân tại 5 trường đại học danh tiếng của Pháp, từng làm việc tại Trường Quốc gia Hàng không và Vũ trụ Pháp, sau đó sang Đức làm việc trong xưởng chế tạo máy bay và Viện nghiên cứu vũ khí của Đức. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm nước Pháp vào ngày 18/9/1946, Phạm Quang Lễ cùng với ba trí thức trẻ khác là Võ Quý Huân, Trần Hữu Tước, Vũ Đình Quỳnh theo Người về nước. Trong điều kiện rất khó khăn, thiếu thốn ở chiến khu Việt Bắc, ông đã triển khai nghiên cứu, chế tạo vũ khí cho quân đội non trẻ của ta. Tên mới Trần Đại Nghĩa là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho ông. Kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã chủ trì nghiên cứu, tổ chức chế tạo thành công nhiều loại vũ khí đang rất cần cho bộ đội ta, phù hợp với thực tế chiến trường và cách đánh của ta. Điển hình là súng và đạn Bazôka để đánh xe tăng, xe bọc thép và lô cốt địch; súng không giật (SKZ) cỡ 60mm gây cho kẻ địch nhiều thất bại và nỗi kinh hoàng.
 
Bác sĩ Đặng Văn Ngữ đang sống và làm việc tại Nhật Bản đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, trở về nước với tài sản quý nhất là các giống nấm kháng sinh để chế tạo thuốc penicillin và streptomycin đang rất cần cho bộ đội và nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Pháp và sau này là đế quốc Mỹ. Năm 1955, ông sáng lập và làm Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và côn trùng Việt Nam, tập trung nghiên cứu phòng chống và điều trị căn bệnh sốt rét tại Việt Nam. Năm 1967, ông hy sinh ở chiến trường miền Nam khi đang tập trung nghiên cứu việc phòng chống căn bệnh sốt rét.
 
Nhà nông học Lương Định Của sinh ra ở Sóc Trăng, lên Sài Gòn học xong tú tài, năm 1937, ông sang Hồng Kông học Đại học Y Khoa sau đó sang Thượng Hải, Trung Quốc học Đại học Kinh tế. Đến 1940, trường này đóng cửa do chiến tranh, Lương Định Của sang Nhật, thi vào Đại học Quốc lập Kyushu, khoa Sinh vật thực nghiệm. Năm 1946, ông lên Kyoto tiếp tục theo học ngành nông nghiệp, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nông học chuyên ngành di truyền chọn giống. Ông còn được nhận Bằng khen của Viện Nghiên cứu sinh học Kihata cho công trình “Sự sinh sản của giống lúa lai tạo từ hai giống lúa Japonica và Indica”. Những nghiên cứu và sáng tạo khoa học của ông được giới chuyên môn quốc tế đánh giá rất cao, coi ông là một trong những nhà nông học hàng đầu của thế giới lúc đó. Đang ở đỉnh cao vinh quang, Lương Định Của quyết định đưa gia đình về nước, vợ ông là bà Nubuko Nakamura, người Nhật Bản. Ông làm việc ở Viện Khảo cứu Bộ Canh nông (Sài Gòn) mấy năm, đến năm 1954, ông cùng gia đình tập kết ra Bắc, làm việc tại Viện Khảo cứu Nông lâm, trường Đại học Nông nghiệp, Viện Cây lương thực và thực phẩm, còn vợ ông - bà Nubuko Nakamura làm phát thanh viên tiếng Nhật tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Lương Định Của đã lai tạo thành công nhiều giống lúa, giống cây, giống rau cho năng suất cao, chất lượng tốt, đào tạo nhiều cán bộ khoa học hàng đầu cho ngành nông nghiệp nước nhà.
 
Cách mạng Tháng Tám và tư tưởng, tài năng, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sức hút, sức tác động lạ kỳ. Nếu coi bản chất của cuộc cách mạng chân chính là văn hóa, thì việc thực hành văn hóa, nâng tầm văn hóa của cả dân tộc cũng là thực hành một cuộc cách mạng to lớn và sâu sắc. Đường lối văn hoá kháng chiến “văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa” của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện đầy đủ trong Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ra ngày 25/11/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng; được sáng tỏ, nhấn mạnh trong bức thư “Nhiệm vụ văn hoá Việt Nam trong công cuộc cứu nước và xây dựng nước hiện nay” của đồng chí Trường Chinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 16/11/1946. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất (11/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nền văn hóa mới của nước nhà lấy hạnh phúc của đồng bào, của dân tộc làm cơ sở”. Người chỉ rõ “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”. Người nhấn mạnh: “Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ. Tâm lý của ta lại còn muốn lấy tự do, độc lập làm gốc. Văn hóa phải làm thế nào cho ai cũng có lý tưởng tự chủ, độc lập, tự do”… “Số phận dân ta là ở trong tay ta. Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.
 
“Văn hóa liên lạc mật thiết với chính trị. Phải làm thế nào cho văn hóa vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là văn hóa phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ…”. (Hồ Chí Minh) 
 
Trong thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa (năm 1951) ở chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người đề cao vai trò xung kích của văn hóa trong sứ mệnh giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Văn hóa cùng với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... phải tạo thành những mặt trận có sức mạnh to lớn trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị”; “chính trị, kinh tế, văn hóa đều “phải coi là quan trọng ngang nhau”.
 
Cũng như giới nhân sĩ, trí thức, nhà khoa học, đội ngũ những người làm công tác văn hóa, văn nghệ thế hệ Cách mạng Tháng Tám cũng ngập tràn niềm vui và hạnh phúc trước sự đổi vận, đổi đời của dân tộc, của nhân dân mình. “Nước cũ bốn nghìn năm / Theo cờ mới, trẻ như hai mươi tuổi” (Ngọn quốc kì - Xuân Diệu), “Có mối tình nào hơn thế nữa? / Ăn sâu lòng đất thấm lòng người/ Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi/ Khi vui non nước cùng cười/ Khi căm non nước với người đứng lên!” (Tình sông núi - Trần Mai Ninh…). Từ đây, đội ngũ văn nghệ sĩ thuộc nhiều loại hình văn học, nghệ thuật cùng dân tộc đi vào cuộc kháng chiến thần thánh chống xâm lược Pháp. Họ đồng cam cộng khổ, gắn bó bền chặt với đời sống công, nông, binh; khám phá, ngợi ca và góp phần nhân lên niềm tin, sức mạnh, ý chí quyết chiến và quyết thắng của cả dân tộc. Những tên tuổi tiêu biểu được khẳng định và tiếp tục có những sáng tạo mới, thành công mới. Về văn học là các nhà văn, nhà thơ Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Huy Tưởng, Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu, Hoài Thanh, Thôi Hữu, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Hồng Nguyên, Võ Huy Tâm, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nông Quốc Chấn, Hồ Phương, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Nguyễn Xuân Sanh, Trần Huyền Trân, Lưu Trọng Lư, Anh Thơ, Vũ Tú Nam, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Bổng, Kim Lân, Trần Hữu Thung, Tế Hanh, Nguyễn Khải, Giang Nam, Hữu Loan, Bàn Tài Đoàn, Tú Mỡ… Về sân khấu có các nhà biên kịch, đạo diễn như Thế Lữ, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Quang Thuận, Ngô Tất Tố, Vũ Lăng ... Về âm nhạc, có các nhạc sỹ Văn Cao, Đinh Nhu, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Xuân Khoát, Xuân Oanh, Nguyễn Thành, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đình Thi, Lương Ngọc Trác, Hoàng Việt, Lê Yên, Phan Huỳnh Điểu… Về mỹ thuật có các họa sỹ Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Đỗ Cung, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Sĩ Ngọc, Trần Lưu Hậu, Diệp Minh Châu, Lưu Công Nhân, Trọng Kiệm, Lê Lam, Nguyễn Thị Kim, Lương Xuân Nhị…Về điện ảnh, nhiếp ảnh, trong hoàn cảnh rất thiếu thốn về máy móc, phương tiện, vật liệu, các nghệ sỹ của ta như Nguyễn Bá Khoản, Võ An Ninh, Mai Lộc, Phan Nghiêm, Vũ Năng An, Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Thế Đoàn, Khương Mễ, Pham Văn Khoa đã chụp và quay được những bức ảnh, những đoạn phim tài liệu rất quý về Ngày Độc lập 2/9/1945, về nạn đói năm Ất Dậu 1945, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp trở về (1946), Pháp tấn công phố Hàng Than và Trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946), Trận đánh đồn Mộc Hóa của Tiểu đoàn 307 (1948), Chiến dịch Biên giới ở Đông Khê (1950)… Trong số các nhà văn, nghệ sỹ thời kháng chiến chống Pháp, có những người đã hy sinh anh dũng như Nam Cao, Trần Đăng, Trần Mai Ninh, Thôi Hữu, Tô Ngọc Vân.
 
Đồng hành cùng dân tộc, cùng nhân dân dưới ngọn cờ của Đảng, nhiều thế hệ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ tiếp tục trở thành người chiến sĩ trong các cuộc trường chinh đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đánh thắng bè lúc bành trướng xâm lược và diệt chủng ở hai đầu đất nước, đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng, Nhà nước đã tặng thưởng nhiều hội đoàn, tổ chức làm công tác văn hóa, văn nghệ, khoa học, kỹ thuật; các trí thức, văn nghệ sỹ Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, danh hiệu Nghệ sỹ Nhân dân, Nghệ sỹ Ưu tú và nhiều phần thưởng cao quý khác.
 
Đảng, Nhà ước khẳng định quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là nguồn sức mạnh nội sinh, là động lực to lớn để phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội; con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm trong mọi chiến lược phát triển đất nước; khâu đột phá đầu tiên và rất quan trọng là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao, trong đó, tầng lớp trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ là đội ngũ tài năng của dân tộc, từ đó góp phần nâng tầm trí tuệ, tầm văn hóa của dân tộc, sức mạnh nổi trội của đất nước./.
Yêu nước ST.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ BỒI DƯỠNG THẾ HỆ CÁCH MẠNG CHO ĐỜI SAU!

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”. Xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã dành cho thanh niên những tình cảm và sự quan tâm đặc biệt sâu sắc.
 
Trong Di chúc, Người căn dặn toàn Đảng, toàn dân và thế hệ trẻ những điều hệ trọng, những việc cần phải làm vì sự nghiệp cách mạng “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo xây dựng lực lượng cách mạng.
 
Người không chỉ quan tâm đến những lực lượng đang trực tiếp gánh vác công việc trong hiện tại mà rất chăm lo đến đội ngũ kế cận. Hồ Chí Minh là người đã rất sớm nhận ra vị trí, vai trò của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Người coi việc thức tỉnh thanh niên, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên để cùng nhân dân đánh đuổi quân xâm lược là việc làm quan trọng và cấp thiết.
 
Tổ chức yêu nước cách mạng đầu tiên do Người sáng lập và rèn luyện đa phần là những người trẻ tuổi, đó là “Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên cũng là Báo Thanh niên. Hồ Chí Minh luôn khẳng định rằng thế hệ trẻ không chỉ là lớp người kế tục thế hệ già mà thế hệ trẻ phải là tương lai, là tiền đồ tươi sáng của dân tộc.
 
Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, trong thư gửi cho học sinh, sinh viên nhân ngày khai trường đầu tiên tháng 9 năm 1945, Người đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
 
Hồ Chí Minh luôn khuyên nhủ thanh thiếu niên phải ra sức học tập, rèn luyện để tự mình có đủ sức mạnh để tham gia kháng chiến, kiến quốc, gìn giữ hoà bình, xây dựng đất nước giàu mạnh. Đối với thiếu niên, Người dạy: Tuổi nhỏ làm việc nhỏ; tuỳ theo sức của mình; để tham gia kháng chiến; và gìn giữ hoà bình.
 
Trong “Thư gửi thanh niên” vào năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà... Thanh niên muốn làm chủ tương lai một cách xứng đáng thì ngay từ bây giờ phải tự giác rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải tích cực làm việc để chuẩn bị cho tương lai.
 
Việc giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội, nhằm giúp họ tránh những cái độc hại, tiêu cực và tiếp thu, học hỏi những cái hay, tiến bộ trong cuộc sống.
 
Thanh niên phải có tinh thần sẵn sàng: “Đâu Đảng cần thì thanh niên có, việc gì khó thì thanh niên làm”; phải đoàn kết chặt chẽ, kiên trì phấn đấu, vượt mọi khó khăn, thi đua học tập và lao động sản xuất, góp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
 
Có thể thấy, kể từ khi viết tác phẩm “Đường Kách mệnh” (1927) cho tới khi viết bản “Di chúc” thiêng liêng (1969); cả cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn đau đáu và quan tâm đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ.
 
Có lẽ vì vậy mà Người luôn yêu cầu cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng phải thực sự quan tâm, chăm lo đến thanh thiếu niên; dành mọi ưu tiên và những gì là tốt đẹp nhất, có thể làm được để chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh thiếu niên, coi đó là “cái vốn quý nhất” của cách mạng.
 
Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng vĩ đại, Người còn là nhà thực hành vĩ đại. Hiện nay cũng có những ý kiến cho rằng ở nhiều nước có rất nhiều người trẻ đã là những lãnh đạo cấp cao và ao ước điều này ở Việt Nam. Nếu đọc lại lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy rằng thời Bác Hồ, Việt Nam không chỉ có một bộ trưởng trẻ tuổi mà có rất nhiều.
 
Trong Chính phủ Lâm thời 1945, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp 34 tuổi; Bộ trưởng Quốc phòng Chu Văn Tấn 32 tuổi; Bộ trưởng Thanh niên Dương Đức Hiền 29 tuổi; Bộ trưởng Bộ Quốc dân Kinh tế Nguyễn Mạnh Hà 32 tuổi; Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch 36 tuổi; Uỷ viên Chính phủ Cù Huy Cận 26 tuổi.
 
Trong Chính phủ do quốc dân bầu ra sau ngày bầu cử Quốc hội khoá I (ngày 6.1.1946) chúng ta có thể thấy có những người rất già như cụ Huỳnh Thúc Kháng 70 tuổi nhưng cũng có rất nhiều người trẻ. Các vị Bộ trưởng trẻ tuổi như Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh 34 tuổi.
 
Có một điều thú vị là ông Phan Anh là cử nhân luật Việt Nam và cử nhân văn chương Pháp, từng là Bộ trưởng Thanh niên trong Chính phủ Trần Trọng Kim trước đó một năm đã được mời giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (cử nhân văn chương trở thành Bộ trưởng Bộ Quốc phòng); Huỳnh Thiện Lộc- Bộ trưởng Bộ Canh nông 36 tuổi; Vũ Đình Hoè- Bộ trưởng Bộ Tư pháp 34 tuổi.
 
Trong kỳ họp lần thứ nhất của Quốc hội khoá I ngày 2.3.1946, hai vị Chủ tịch phiên khai mạc là một cụ già- Ngô Tử Hạ và một đại biểu Quốc hội 22 tuổi- nhà thơ Nguyễn Đình Thi. Sau này, Hồ Chí Minh phong đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp khi 36 tuổi và phong đại tướng cho ông Nguyễn Chí Thanh ở tuổi 37. Và, còn rất nhiều các ví dụ khác để chúng ta thấy rằng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận luôn song hành với thực tiễn, trong đó có tư tưởng về bồi dưỡng thế hệ trẻ.
 
Tất nhiên, lý tưởng và khát vọng của thanh niên ở thời kỳ là khác nhau. Đối với những lớp thế hệ cha anh, khát vọng lớn nhất là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc- và họ đã làm tròn. Khát vọng của bao lớp thanh niên hiện nay chính là “sánh vai với các cường quốc năm châu”, đó chính là khát vọng vươn lên tiếp cận những giá trị tri thức của nhân loại, khát vọng không chịu đói nghèo, lạc hậu, vươn lên làm giàu chính đáng; khát vọng “ra biển lớn”…
 
Lúc sinh thời, ông Võ Văn Kiệt có phát biểu một câu nổi tiếng với thanh niên Thành phố: Thành phố nhìn thấy tương lai tươi sáng của mình trên vừng trán của các em. Hiện nay, nếu chúng ta đi vào các trường đại học, các viện nghiên cứu, các nhà máy, xí nghiệp, công trường… sẽ thấy một không khí lao động hăng say đầy sức trẻ.
 
Những chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh, các chương trình do Trung ương Đoàn phát động đã tạo ra những phong trào rộng lớn, thu hút đông đảo những người trẻ tham gia và đem đến những hiệu quả lớn lao cả về tinh thần và vật chất cho xã hội.
 
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, trong một bộ phận thanh thiếu niên hiện nay đã xuất hiện những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại: Một bộ phận người trẻ phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống thực dụng, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, sống gấp, thích hưởng thụ, ngại lao động, cổ xuý cho những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hoá…
 
Đã có một bộ phận người trẻ sống nay không biết ngày mai, lao vào con đường nghiện ngập, vi phạm pháp luật, thậm chí phản bội lại quyền lợi của đất nước và dân tộc... Đặc biệt, một bộ phận người trẻ hiện nay thờ ơ với quyền lợi của đất nước và dân tộc, không quan tâm đến chính trị, không thích vào Đoàn, vào Đảng.
 
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng có lần lên tiếng về tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Tất nhiên, để mổ xẻ các nguyên nhân này đã có rất nhiều các hội thảo, rất nhiều các diễn đàn lên tiếng. Nguyên nhân thì nhiều nhưng những nguyên nhân được nhiều người trẻ thống nhất là tình trạng khô cứng trong sinh hoạt Đoàn hiện nay, là tình trạng một bộ phận cán bộ, nhất là những người giữ các chức vụ cao suy thoái, sa ngã…
 
Những người trẻ bao giờ cũng nhìn những người đi trước và xem đó là tấm gương để noi theo và phấn đấu. Vậy nên, rất nhiều những người cộng sản năm xưa nói rằng lúc ban đầu họ đi theo cách mạng, theo Đảng cũng chưa hiểu Đảng là gì, cách mạng là gì nhưng khi thấy những con người xưng là cộng sản, là người của Đảng sống đẹp và chết hiên ngang vì Tổ quốc và dân tộc nên tin và đi theo.
 
Dù muốn, dù không, những biểu hiện tiêu cực trong một bộ phận thanh niên như đã nói nêu trên là nguy cơ đe doạ tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Lợi dụng các biểu hiện tiêu cực này trong một bộ phận người trẻ, các thế lực thù địch đã và đang khai thác và lợi dụng để chống phá.
 
Bởi vậy, hơn bao giờ hết, các cấp uỷ Đảng cần thấm nhuần và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên. Cần tiếp tục quan tâm chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích… của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi, mạnh dạn giao những trọng trách để những người trẻ gánh vác… Đó chính là cách chúng ta thực hiện tốt nhất tư tưởng và những chỉ dạy của Bác Hồ./.
Yêu nước ST.