Thứ Ba, 30 tháng 12, 2025

LANG BANG "CÂU CHUYỆN MỘT ĐỜI"!

     Trong mỗi giai đoạn phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn, song hành đổi mới đi lên, thích ứng với thời đại và xu thế phát triển toàn cầu chung của đất nước.

Quy luật cố nhiên là những kế hoạch và âm mưu thâm độc của kẻ thù cũng "già cựa" phát triển theo là điều không thể không xảy đến.

Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn đặt mục tiêu xuyên suốt là "công kích" liên tục vào trận địa tư tưởng văn hóa, trên nhiều bình diện của đời sống xã hội và đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng nhân dân ta.

"Diễn biến hòa bình" của chúng không từ một thủ đoạn nham hiểm hay kế sách tinh vi, xảo quyệt nào để nhằm đạt được một hiệu ứng "đánh phá" nhất định, có được hiệu quả chiến lược từng nấc thang hòng thành công mục tiêu lật đổ chế độ của dân, do dân và vì dân của Việt Nam ta.

=> Trước hết là chúng tạo lối trải đường cho các thế lực phản động, đen tối trong nước có thêm nhiều cơ hội chống phá nền tảng chế độ và gây rối ren, nhiễu loạn đời sống kinh tế, văn hóa, tinh thần đang yên bình của nhân dân ta. 

▪︎Trên các quá trình của lịch sử ngoại giao, tiến tới các quan hệ đối tác chính thức.

- "Diễn biến hòa bình" thường gắn chặt thủ đoạn và nanh vuốt, thông qua các kênh "bình thường hóa" cho đến giai đoạn thực hiện các vai trò hợp tác, đối tác toàn diện; lợi dụng môi trường đó để thực hiện các "kế hoạch âm thầm" cũng như xuất đầu lộ diện một cách ngang ngược của chúng.

- Chúng dùng tất cả mọi phương thức, thủ đoạn để đạt được mục đích như: sẵn sàng đầu tư một nguồn tài chính lớn để mua chuộc, thúc đẩy hình thành một chương trình theo ý đồ triển khai và thiết kế của chúng.

- Chúng sử dụng các yếu tố đặc biệt gắn chặt bên lề ngoại giao như hợp tác một số vấn đề có tính cách xã hội dân sự...

- Chúng lợi dụng, cài cắm thủ đoạn thông qua các chương trình hợp tác về văn hóa, giáo dục, môi trường v.v. gắn với các điều kiện nhân danh, mang tính quốc tế hoặc chúng yêu cầu đặt ra...

- Công cụ về văn hóa và các mắc xích nguồn lợi kinh tế là những "vũ khí cơ bản" mà chúng sẽ cố tích cực để tăng cường sự chống phá, hòng lật đổ các nền tảng văn hóa và tư tưởng chính trị của Đảng, Nhà nước ta.

Trong nhiều nội dung và cấu trúc của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói chung, là nơi mà kẻ thù cài cắm, sử dụng các "chiến lược mềm" chống phá nhiều nhất.

=> Loại phẩm văn học suy đồi "Nỗi buồn chiến tranh" của kẻ xuất thân trí thức tiểu tư sản Ấu Phương là một trong những điển hình về "mũi tên chống phá" trận địa văn hóa tư tưởng của Đảng, Nhà Nước ta -> mà kẻ thù đã thành công đến tận "thành trì ý thức hệ" và đã thâm nhập thực sự vào nền giáo dục - âm mưu hạ thấp hệ giá trị nhân văn trên mỗi con người Việt Nam.

Do đó, hơn lúc nào hết, đứng trước sự xâm lăng văn hóa bạo ngược này. Chúng ta rất đáng phải điều nghiên, kiên quyết đấu tranh triệt để và quyết tâm cao hơn nữa để phản bác và diệt trừ tận gốc những loại văn hóa phẩm mang tính dộc hại có tính phản động này.

Chúng ta quyết nêu cao một chính kiến, bảo vệ những giá trị thiêng liêng - trường tồn - bất diệt của văn hóa lịch sử dân tộc; đoàn kết chặt chẽ và quyết mang lại sự trong lành cội gốc cho đời sống văn hóa - lịch sử của đất nước.

Từ đó chúng ta mới có thể đúc kết lại một góc nhìn cảnh giác thâm sâu hơn, sẵn sàng phòng chống trực diện cũng như đập tan mọi thủ đoạn đê hèn, từng ngày đang tìm cách lợi dụng thâm nhập, len lỏi vào các chính sách đổi mới, mở rộng phát triển (tham gia các cơ chế đa phương của chính phủ) và hội nhập toàn cầu của đất nước.

Chúng ta kiên quyết chặn đứng "sự ngang tàng" của kẻ thù đế quốc cũng như các thế lực thù địch khi chúng thường xuyên trá hình, chĩa mũi tên xuyên phá vào mặt trận văn hóa tư tưởng của đời sống nhân dân - đời sống cách mạng của xã hội ta. 

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Một thứ sản phẩm văn hóa suy đồi được ra đời năm 1987 với cái tên ái ố là "Thân phận của tình yêu" đã bị Bộ văn hóa thời đó cấm xuất bản và lưu hành vào năm 1991.

Thế nhưng, sau đó nó được đổi thành cái tên "Nỗi buồn chiến tranh" để biến sự "lưu ý" của độc giả vào những chủ đề lịch sử và chính trị; hòng tiệm cận sâu hơn, thúc đẩy những mưu đồ uốn cong lịch sử và bàn nghiêng nhiều "quan điểm chính trị" của thể chế đất nước. 

=> Điều phản nhân văn nhất là nó xúc phạm thẳng vào hồn cốt của chính người dân Việt Nam, khi bôi nhọ hình tượng người chiến sĩ giải phóng quân - những người lính xả thân vì nghĩa lớn, vì sự trường tồn của lịch sử chân chính, vì sự sống còn và nền độc lập, tự do của cả một dân tộc.

Giai đoạn từ 1986 - 1991 là giai đoạn cực kỳ nhạy cảm với nhiều sự biến đổi căn bản, phức tạp của tình hình chính trị thế giới. 

Một cực của thế giới là khối các nước XHCN và Liên Xô dần bị suy yếu và tan rã. 

Hệ thống chính trị của Chủ nghĩa Cộng sản và toàn thể các mô thức, hình thái phát triển của chủ nghĩa xã hội bị mất khả năng đề kháng trước những "phương thức nọc độc" và thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa tư bản đế quốc.

"Cơn địa chấn chính trị" nhanh chóng xảy ra làm sụp đổ và tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng lên toàn bộ các nước XHCN như Trung quốc, Cu Ba, Lào, Bắc Triều Tiên, một phần "chủ nghĩa xã hội" còn lại của thế giới... và trong đó có sự ảnh hưởng trực tiếp lên nhiều mặt chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam chúng ta.

Tại Việt Nam, song hành với những bước đi phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với người Mỹ là một giai đoạn thể hiện bản lĩnh và khí phách, tầm nhìn sắc sảo trí tuệ và đường lối lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng ta.

Tuy nhiên với bước đi thoát khỏi sự phong tỏa cấm vận này. Chúng ta bắt đầu khó khăn hơn trong lĩnh vực phòng và chống các âm mưu và chiến lược DBHB của địch.

-> kể từ đây kẻ địch cũng đã có nhiều cơ hội hơn để thâm nhập chống phá Việt Nam. Một chiến lược bắn mũi tên vào thành trì văn hóa tư tưởng và tấn công truyền thông từ bên ngoài, có vẻ cũng như những gì đang diễn ra ở Liên Xô và Đông Âu.

"Thân phận của tình yêu" hay "Nỗi buồn chiến tranh" bỗng nhiên xuất hiện trong giai đoạn bắt đầu mở rộng các chương trình tiếp xúc quan trọng, hoạt động không chính thức nhưng đã kết nối hai chiều một số lĩnh vực với người Mỹ, như chương trình Pow/Mia (tù binh và người Mỹ mất tích), tiếp đón các cá nhân, tổ chức nghiên cứu học thuật v.v. 

Mặc dù "Thân phận tình yêu" xuất hiện khá sớm, song hành với tiến triển ngoại giao trên. Nhưng có vẻ không bình thường (có tính ngang tàng) để khiến chúng ta đặt ra một dấu hỏi lớn.

Phải chăng sản phẩm do chính người Mỹ đặt hàng trên tiến trình phát triển các chương trình thăm dò - tiếp xúc, lộ trình phát triển ngoại giao, tiến tới "bình thường hóa" với Mỹ ? 

Đây cũng là một câu hỏi không thừa để ta có thể điều nghiên lại phương lược của chủ nghĩa đế quốc Mỹ. 

▪︎Nhìn lại khái quát tình hình đất nước trong gia đoạn này:

Một tiến trình phát triển ổn định trong bão táp xung đột như vấn đề bị lấn chiếm biển đảo Trường Sa, chiến tranh biên giới phía Bắc (Vị Xuyên - Hà Giang) và chiến tranh biên giới Tây Nam, tình hình Campuchia với nhiều khó khăn và thử thách.

-> Giai đoạn này có thể thấy, nhiều phức tạp về âm mưu "Diễn biến hòa bình" đang lăm le bên rào cản cấm vận cũng như mặt trận an ninh đối ngoại cực kỳ thách thức của đất nước.

Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ta vẫn vững vàng tiến lên phía trước, hoàn thành những mục tiêu xây dựng kinh tế xã hội; quân đội ta anh dũng chiến đấu giữ vững an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương của Tổ quốc và song hành là những đổi mới mang tầm "tư tưởng chiến lược", đảm bảo cho sự phát triển bền vững, không ngừng đi lên từng ngày của đất nước. 

Chúng ta thật tự hào biết bao với giai đoạn lịch sử còn nhiều sóng gió và gian truân ấy.

Một chương sử vàng chói lọi, minh triết của nghìn năm văn hiến, thiêng liêng hồn cốt Việt Nam. Chúng ta rất đỗi tự hào với dáng màu cao cả của một dân tộc anh hùng, một dân tộc nhiều trí tuệ, dũng lược chưa bao giờ chịu chùn bước.

▪︎ "Nỗi buồn chiến tranh"?

Phải chăng vẫn là chiêu bài người Mỹ muốn có một "sắc màu danh dự" trong tiến trình quay lại mối quan hệ song phương với Việt Nam.

Công cuộc bình thường hóa giúp Mỹ có lợi về kinh tế và đặc biệt hơn cả là củng cố vị thế địa chiến lược tại Châu Á, đặt một thách thức ngang bằng giữa Mỹ với Trung quốc trong thời kỳ hậu Xô Viết. 

Chúng ta "gác lại quá khứ" nhưng người Mỹ lại muốn làm mờ quá khứ tội ác và phủ nhận 'tính chất phi nghĩa' mà họ đã gây ra trong cuộc chiến.

Thông qua "Nỗi buồn chiến tranh" một sản phẩm văn học có thể ra đời với âm mưu xây dựng lên một kiểu "chủ nghĩa cá nhân" phản tri, phản hồn, phản cách mạng và hơn nữa là đi ngược lại lý tưởng chung của mỗi con người Việt Nam.

Nó còn vô giá trị hơn trong bất cứ một xã hội văn minh và đang ở xu thế phát triển nào trên toàn cõi thế giới này.

Nó đớn hèn trên một "nhận thức căn bản" mà xu hướng tiến bộ của mỗi cá nhân - lẽ sống và ý thức phụng sự dân tộc, trong bất cứ một xã hội hay đất nước nào cũng đều dễ dàng nhận thấy.

-> Ở Việt Nam chúng ta, khi mà mỗi con người cần phải nhìn nhận đúng nghĩa về quá khứ và quy luật tiến triển mỗi ngày của nó.

Mỗi cá nhân là một "nhận thức tâm hồn" biết nhìn nhận đúng những giá trị thiêng liêng, trường tồn của lịch sử, biết nhận thức về văn hóa cội nguồn, nền tảng đang sống và trách nhiệm cao cả mà chính bản thân mình đang được gắn kết, không thể đứng ngoài những quy luật tất yếu của dòng chảy lịch sử dân tộc.

"Nỗi buồn chiến tranh" xuất hiện chính là âm mưu "Kế hoạch Diễn Biến Hòa Bình" của địch, trong giai đoạn chúng tăng cường các hiệu ứng thâm nhập, chống phá (1987 - 1991).

Thời điểm mà Liên Xô và Đông Âu thiếu coi trọng lĩnh vực phòng chống các âm mưu chiến lược Diễn biến Hòa bình do Mỹ và phương Tây thực hiện.
Có thể nói trên mặt trận văn hóa tư tưởng đã mất tính phân tích và đề cao một lý luận cảnh giác, nên đã bị phá hoại và tiến dần đến sự sụp đổ không thể cứu vãn.

Thực vậy ! Henry Kissinger đã để lại cho Việt Nam một lời tuyên chuyến đầy ngạo mạn và thách thức khi rút khỏi chiến trường miền Nam: 

"Hai mươi năm sau chúng ta sẽ trở lại Việt Nam không phải với xe tăng, đại bác, chiến hạm hay pháo đài bay mà bằng xấp đô la... Những gì bom đạn không thể làm được thì sức mạnh của đồng đô la sẽ giải quyết. Người Việt Nam sẽ đón chúng ta như những vị ân nhân." 

"Diễn Biến Hòa Bình" với nhiều kế hoạch "lặng lẽ và êm dịu" của nó, bằng nhiều cách xâm nhập và mua chuộc tác động, đã âm mưu xúc tiến thành công, để có sự tạo ra vũ khí "Nỗi buồn chiến tranh", âm mưu thực hiện ý đồ như đang diễn ra trước đó ở Liên Xô và Đông Âu.

Từ khi Đại hội VI của Đảng đề ra những đường lối đổi mới toàn diện. Vấn đề văn hóa nghệ thuật, bao gồm cả văn học, nghệ thuật và văn nghệ cũng có nhiều sự thay đổi theo. Nhiều quan điểm tự do học thuật, tự do sáng tác, viết và khai thác những đề tài, góc khuất chưa dám nói đến được đề cập sôi nổi...Bắt đầu từ đây được "tư tưởng đổi mới" của Đảng phát huy sâu rộng, làm thay đổi một chất lượng mới.  

Tóm lại một khuynh hướng tự do tư tưởng trong sáng tác văn học nghệ thuật v.v mà từ trước đó không được chú trọng nhiều đến, từ thời điểm này bắt đầu nổi lên một luồng gió mới.

Tuy nhiên việc lợi dụng vấn đề tôn vinh "tính tự do hay cách hiểu "sự cởi trói trong văn học" đã bị nhiều kẻ "bồi bút" cơ hội, lắm tà tâm mà lại khéo mồm mép văn ngữ, mang nhiều thủ đoạn đê hèn...

=> chúng đã liên tiếp cho ra đời nhiều tác phẩm tự sáng tác hoặc dịch thuật ở đâu đó có tính đồi mạt tư tưởng, thị dục ương hèn, nuôi dưỡng những "cái tôi thấp kém", gieo cấy sự ích kỷ tràn lan trên mọi phạm trù lối sống, vực dậy những thứ "chủ nghĩa cá nhân" hoàn toàn tanh tưởi v.v.

Liên tiếp những năm sau đó là xuất hiện một số tác phẩm, truyện ẩn chứa các "ý đồ chính trị", bôi nhọ tính chiến thắng, các sự kiện chiến đấu, nhân vật lịch sử, nhà lãnh đạo v.v khiến lĩnh vực văn hóa, tự do học thuật của Việt Nam ta trở thành một môi trường phức tạp.

Chúng tạo ra những diễn đàn, chương trình, lĩnh vực nghiên cứu mở rộng không được thẩm định theo chiều hướng giác ngộ "chủ nghĩa nhân văn" một cách bao hàm nhiều phạm trù tích cực về nhân triết và đạo lý mà chúng đã tạo ra sự "pha loãng về ý thức hệ", làm xô lệch nhiều tư tưởng nhân văn mang tính định hướng những giá trị bất biến của con người cũng như thủ đoạn làm biến đổi nghiêm trọng một "góc nhìn về văn hóa lịch sử lên nhân tố con người Việt Nam". 

Thế hệ trẻ ngày nay ít nhiều đã bị ảnh hưởng và có xu hướng thay đổi nhận thức, khi những vấn đề trọng tâm và cốt lõi bị mài mòn và có xu hướng chịu sự xâm thực, lấn át.

Những điều đáng lo ngại như thế không thể không nghĩ bàn trong vấn đề chính trị và điều hành của đất nước.

Rất mong những điều này được các cấp lãnh đạo quan tâm, nhất là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 

"Sự nghiệp trồng người" nếu mỗi ngày mất đi những giá trị về sự hun đúc được nhân lên trên một tổng quan tinh thần soi sáng, đúng đắn về nội dung văn hóa và lịch sử. ->Tất yếu dân tộc đó sẽ dần suy yếu, con đường củng cố, quay lại sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức.

SỰ HƯ CẤU NHẪN TÂM VÀ ÁC ĐỘC CÙNG TƯ TƯỞNG TỰ SỰ MỘT CÁCH BỆNH HOẠN LÝ TRÍ CỦA "NỖI BUỒN CHIẾN TRANH" CHO TA NHỮNG CÁI NHÌN NHƯ SAU:

Tác phẩm phi tính văn học và phản nghịch với những gì thuộc về nhân sinh trừu tượng của con người (kể cả cái nhìn về mặt sai trái, suy đồi hay cái ác) cũng như những giá trị thường thấy mà văn học cho dù thể loại gì cũng phải khoác trên mình một nghĩa vụ là phục vụ cho đời sống thẩm mỹ và đạo đức của con người. 

Văn học phải được nhìn ra tính đúc kết và một góc nhìn phê bình những giá trị do nó mang lại đối với cuộc sống. 

Tính hiện thực hay chiều sâu triết lý của một tác phẩm luôn là "khái niệm hồn cốt" giúp con người nhìn ra lẽ phải và chân lý, biết đi đúng hướng và tạo lập những giá trị sống cho riêng mình.

=> "Nỗi buồn chiến tranh" là một tác phẩm vô hồn, không có trí tuệ, chỉ là sự quái thai của "văn hồn tính cách" một con người.

Nội dung tác phẩm là một "thể tính văn học" rất rỗng, lợi dụng "tính hư cấu" trong văn học một cách bừa bãi, không có tính chân hiện của đời sống con người. "Tính văn học" nghĩa là một khái thể nhận thức không bao giờ bị tách rời bởi thần thái, lương tri của con người trong văn học => nó không có "tính văn học" đúng nghĩa mà chỉ là một diễn ngôn của "hình thức nhân văn suy đồi" vô giá trị.

Phản nghịch với quan điểm vị nghệ thuật:

Văn học có trách nhiệm "chuyển ngữ" từ đời sống nội tâm đến tô điểm hồng hơn một lý tưởng chung của đời sống cộng đồng xã hội và đời sống văn hóa, lịch sử, tạo ra sự phát triển một tư duy sáng tạo của con người nói chung chứ không phải chỉ là tính đơn thuần văn học giải trí. Và cho dù thế nào thì về mặt "nghệ thuật văn chương" cũng biểu lộ được "tính chân" và nói lên một giá trị hàm triết tổng thể, một đoạn văn, một câu thơ cũng tỏa sáng những điều đó. Thế nhưng nghệ thuật trong "Nỗi buồn chiến tranh" hay "giá trị thẩm mỹ" của nó là không có. 

Nghệ thuật được đánh giá một phần trên bề hiện nội dung. Khẳng định ở góc nhìn thuần túy văn học, nó chỉ là sự nổi bật "cái xấu" về hình ảnh ngôn ngữ, mạch truyện khúc mắc từ đầu tới cuối về mặt nghệ thuật (bao gồm kỹ thuật trần thuật, phân cảnh tuyến tính, tính hư cấu tự sự và cách tạo dựng hình ảnh diễn ngôn v.v). Về phương diện ngôn ngữ rất xấu xí và ngữ nghĩa (nhìn qua tính thẩm thụ ngôn từ) hiện lên một cách tật nguyền khối óc.

Song hành với một nội dung hư cấu bệnh hoạn, phản nhận thức, cho ta thấy nó là một "Quái thai nghệ thuật" làm thui chột một nhận thức sống; có tính bôi bẩn lên tâm hồn người và kỳ phản tối đen tính văn học; bên cạnh những tính cách phản văn hóa, đi ngược lại chủ nghĩa nhân văn đích thực và mục tiêu duy nhất chỉ là sự hư cấu thái quá, biểu lộ một dị tật tâm hồn, chỉ nhằm hướng mục đích bôi xấu hình tượng và phẩm chất kiên cường, trí tuệ quả cảm của người lính - anh chiến sĩ giải phóng quân Việt Nam.

Ở "Nỗi buồn chiến tranh" nó bộc lộ một nhận thức đui mù của tác giả và phản "tư tưởng khoa học" trước cái nhìn thực tiễn chiến đấu và sự tương tác gian truân của người lính.v.v Tác giả là người rối loạn cảm xúc và không có vốn sống. 

Trong văn học cách mạng, chúng ta vẫn thường thấy những gian nan, thử thách vô bờ bến của người lính, người chiến sĩ cách mạng, những đau thương và chịu đựng cùng những mất mát hy sinh không gì bù đắp nổi nhưng " phẩm chất và hình tượng người lính" vẫn luôn là những viên ngọc phách chói lòa trong lòng nhân dân và sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Rác văn học "Nỗi buồn chiến tranh" là sự phỉ báng đến lạnh lùng, vô cảm, một kiểu khua trống xét lại, bỏ lại đằng sau với bao người đồng đội anh em thương tích, làm tổn thương những người đang sống và xúc phạm bao người con ưu tú của dân tộc đã hiến thân, anh dũng ngã xuống vì hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc và sự trường tồn vẹn nguyên của Tổ quốc.

Thậm chí nó không tồn tại nổi một "tính cách văn học", theo tôi đọc được viết lên trong cái "phẩm chất người" đã được ít nhiều thụ hưởng giáo dục và tôi luyện trên chính "nội dung được dựng lên". Và tư tưởng tác giả muốn hàm chứa đến thì cực kỳ tối tăm và hạn chế xuẩn động..., nó cực kỳ bôi bẩn lên "đời sống văn học" và phủ nhận mọi "lý trí sáng suốt của con người"...

Khi viết một tác phẩm tiểu thuyết văn học, tác giả có quyền hư cấu theo ý mình muốn để đạt được mục đích trình diễn và những điều mình muốn nói. Tuy nhiên ông tác giả Bảo Ninh không thể tự cho mình có đặc quyền để tự do hư cấu bừa bãi, phản khoa học và thường thức trí tuệ con người, đánh tráo sự chân thật của hồn cách con người và bản chất của cái đẹp v.v. xúc phạm đến những gì thiêng liêng, cao cả và cốt cách chân mỹ, trí tuệ của người Việt Nam. 

Ở đây Bảo Ninh với chút trình độ văn chương khoa ngữ của mình đã tạo ra một tác phẩm sặc mùi phản đạo đức và hình thái nhân đạo của văn học. 

Chúng ta không thể tìm thấy ở tác phẩm những giá trị hàm nguyên, phong cách, lối sống mà văn học luôn cần tải đựng hoặc gián tiếp mô tả để góp phần phát triển một chủ nghĩa nhân văn theo góc nhìn thuần túy văn học.

Nó không thể có được một ảnh hưởng mang tính giá trị về triết lý sống hay tạo sức thẩm mỹ gì hơn lên đời sống con người...

-> "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ là chuỗi ngôn ngữ suy đồi nhận thức, công cụ phản văn hóa và lịch sử, nó không thể có được cái "đặc quyền hư cấu" như thế trong nền văn học và cả không gian - kho tàng văn học nghệ thuật của thế giới đương đại.

Kết luận, ca ngợi "Nỗi buồn chiến tranh" chỉ có ở tư duy kẻ thù và hạng người ấu trĩ về văn hóa, lệch lạc một bản năng tâm hồn và nhận thức ngu dốt nhưng thích học đòi để thể hiện mình "yêu văn học", a dua với bản ngã thị dục và tâm thức của cái ác, cái chiều hướng suy đồi và thiển cận hồn óc.

Nhưng có lẽ "Nỗi buồn chiến tranh" là "món ngon" mà ông ta sẵn sàng bán rẻ lương tri, phẩm cách để đánh đổi với rượu ngon, tiền tài và danh tiếng ảo được "thế giới kẻ thù thất bại nhục nhã" đã ban tặng, cũng như ông ta đã ra sức "vặn xuýt" ngôn từ để bợ đỡ "danh dự", xóa mờ tội ác cho bè lũ tay sai và kẻ thù đế quốc.

"Nỗi buồn chiến tranh" lạc loài và dị hợm được dịch ra 15 thứ tiếng, để thế giới này hiểu về cái gọi là "chiến tranh Việt Nam" ư ? Và được lắm kẻ văn đàn quốc tế ca tụng ư?

Chúng ta coi họ là một lũ thất bại nhục nhã, vô liêm sỉ nhất, chúng sẽ băng hoại chết chùm cùng sự ấu trĩ, tăm tối của loại văn học ương thối này. 

"Nỗi buồn chiến tranh" sẽ bị đào thải và trôi dạt như những thứ bèo bọt rác rưởi cùng với cả hệ thống "phản nhân văn" của chúng. 

Nó sẽ có một ngày phải "tự biến mất", bị loại thải bởi sự phát triển tinh tế trên đại đồng thế giới nhân văn nghệ thuật và những bể hồn giá trị văn học chân chính; đồng thời với tính thẩm mỹ nghệ thuật đang gắn thiết lịch sử sẽ loại trừ nó để dựng xây phồn thịnh hơn, đẹp đẽ hơn toàn thể cuộc sống đương đại trong cấu trúc của thế giới văn minh này./.












Môi trường ST.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét