Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

LỜI CUỐI “VỀ NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” CỦA BẢO NINH!

     “Nỗi buồn chiến tranh” là một cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh ra đời năm 1987, của nhà văn Bảo Ninh (tên thật là Hoàng Ấu Phương), xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1990.

Sau khi tạo được tiếng vang, cuốn tiểu thuyết này gặp nhiều chỉ trích do Bảo Ninh hư cấu, hoặc cố tình xuyên tạc ra nhiều tình tiết xúc phạm, cố tình cài cắm những nhận xét mang tính bôi nhọ cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc Việt Nam, bịa đặt về người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam thông qua nhiều yếu tố dung tục, đồi trụy. 

Nhưng, như các bạn biết rồi đấy, tác phẩm nào càng mang mầm độc, càng xuyên tạc về Việt Nam thì sẽ càng được bọn đế cuốc lang sói tài trợ, dung dưỡng và phát tán. 

Cũng trong năm 1991, cán bộ Phan Thanh Hảo (công tác trong Bộ ngoại giao) đã bí mật dịch cuốn Nỗi buồn chiến tranh sang tiếng Anh, điều này thậm chí còn được nhắc tới trong Đại hội VII của Đảng. Ông Lê Mai, khi đó là Thứ trưởng BNG đã về nhắc nhở bà Hảo tự kiểm điểm. 

Bà Hảo khi đó đã nhận sai, ký từ bỏ bản  quyền với bản dịch tiếng Anh, cũng xin điều chuyển công tác từ BNG sang làm báo.

Thế nhưng đến năm 1993, Nỗi buồn chiến tranh vẫn được tài trợ để dịch ra tiếng Anh với tên “The Sorrow of War”, sau đó tiếp tục được chuyển ngữ tại nhiều quốc gia trên thế giới. Và dĩ nhiên, nó sẽ được rất nhiều tổ chức phản động vinh danh, các tờ báo quốc tế ngợi khen như lên đồng. Văn đàn Việt Nam có sự dao động không hề nhẹ về lập trường và quan điểm sáng tác.

Năm 1994, Tạp chí Cộng sản (mà khi ấy Tổng Biên tập là cố TBT Nguyễn Phú Trọng) có đăng bài viết Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Trần Duy Châu, lên án gay gắt về tác giả Bảo Ninh. Bài viết có đoạn:

“Không thể nào thực hiện được bằng những tư tưởng, những suy luận sáng sủa rõ ràng, Bảo Ninh phải cầu viện đến sự rối rắm, mơ hồ, hỗn độn của cái gọi là 'trực giác', 'vô thức' để tạo nên một hình ảnh đảo ngược của hiện thực, chuyển đổi các giá trị, biến trắng thành đen, thay khúc ca khải hoàn của toàn dân tộc thành tiếng hát bi thương của bài ai điếu của những kẻ lạc loài.

Người viết (cũng như nhân vật) phải biến mình thành một kẻ mộng du lang thang chập chờn với cái tâm trí huyền thuật (mentalité magique) của người mơ mộng, đúng hơn là của kẻ mắc bệnh tâm thần, nghĩa là những người được 'miễn truy cứu trách nhiệm' trước tòa án lương tâm thời đại, được miễn trừ sự phán xét của lý trí lành mạnh, tỉnh táo của bạn đọc xa gần”.

Vào năm 1995, trên mặt trận báo chí chính thống đã có một đợt phê bình kịch liệt tác giả Bảo Ninh và cuốn tiểu thuyết. Làn sóng chỉ trích này bùng lên sau khi cuốn sách được dịch ra tiếng Anh, được báo Independent khen ngợi và đặc biệt là sau khi báo The New York Times vào tháng 5/1995 đăng bài viết trong đó có trích dẫn một số phát biểu của Bảo Ninh.

Tờ báo Mỹ dẫn lời Bảo Ninh: “Đó là tuổi trẻ của tôi”.

“Chỉ có mấy vị tướng tá thích nói về chiến thắng và chiến bại. Những người lính bình thường không thích nói về những điều đó. Tôi không cảm thấy vui hay tự hào về cuộc chiến này ; chiến thắng trong chiến tranh, về mặt cá nhân, không hiểu sao tôi lại không cảm thấy được điều đó. Tôi nghĩ rằng tôi đã đánh mất tuổi trẻ của mình”.

Lúc bấy giờ, báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức một chuyên đề phê phán tác giả và tác phẩm. Công an TP.HCM còn nghiêm túc chất vấn các thành viên trong Ban Chấp hành Hội Nhà văn khóa 4, những người đã bỏ phiếu bầu cho Nỗi buồn chiến tranh khi xét giải thưởng năm 1991.

Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh cũng đăng tải những bài viết phê phán nặng nề.

Tác giả Phạm Chí Dũng thậm chí còn gọi  Bảo Ninh là một kẻ bệnh hoạn: “Tôi hiểu, điều tác giả muốn thể hiện ở đây là một quân đội cộng sản lộn xộn, vô kỷ luật, nằm trong một xã hội đầy bất công và nhung nhúc những kẻ tha phương khốn nạn theo kiểu Chí Phèo, một bản năng tình dục theo thuyết hiện sinh vương vấn chút mùi vị vô luân, một cái chết từ từ không tưởng của tất cả những kẻ nào sống bế tắc. Thật tồi bại, đó là một cái nhìn hoàn toàn sai lệch về cuộc chiến tranh của tác giả ! Đối với những chiến sĩ cộng sản đã kinh qua cuộc chiến tranh, đó là cách nhìn bệnh hoạn của những kẻ bệnh hoạn”.

Kể từ đó, bất chấp việc Nỗi buồn chiến tranh được ca ngợi lên mây xanh ở quốc tế, thì ở Việt Nam nó bị phong sát triệt để.

Chỉ đáng tiếc, sức mạnh của các đồng dollar xanh quá mạnh. Năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng chính thức trở thành Thủ tướng, đồng thời tăng cường trao đổi giao lưu hợp tác lại với đế cuốc Huê Cầy, những tác phẩm kiểu như Nỗi buồn chiến tranh dần được gỡ phong sát và bùng nổ trở lại.

Như các bạn biết  rồi đấy, cựu Tổng thống Mỹ là B.Obama đã duyệt chi hàng trăm triệu USD nhằm mục đích “xóa bỏ kí ức chiến tranh Việt Nam”, làm lung lay hệ thống XHCN ở nước ta, đào tạo ra nhiều thủ lĩnh trẻ phản động. Và dĩ nhiên, đám nhà văn nhà thơ nào mang tư tưởng dân chủ cuội, thậm chí phản động đều sẽ là những đối tượng  được chúng dụ dỗ, lôi kéo và tôn vinh.

Tôn chỉ của Obama là: Phản động đi, trở cờ đi, chống phá đi. Chúng tao sẽ cho mày tiền, cho mày danh vọng. Kiểu kiểu thế…

Vậy là trong tập 9 của bộ phim tài liệu “Vietnam War” do Ken Burns và Lynn Novick thực hiện, Bảo Ninh đã trả lời phỏng vấn rằng: 

“Chúng tôi ăn cùng một loại gạo, uống cùng một loại nước, chia sẻ cùng một nền văn hóa, cùng một loại âm nhạc. Chúng tôi đã hèn nhát theo cùng một cách, chúng tôi đã dũng cảm theo cùng một cách, không khác nhau, đó là một cuộc nội chiến”. 

Phát biểu này là sai lầm nghiêm trọng về bản chất lịch sử, nguy hiểm về mặt chính trị, tư tưởng, là phản bội Tổ quốc. Chỉ có điều, nó càng được đám Huê Cầy hoan nghênh và người ta còn mua bản quyền Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh với mục tiêu dựng thành phim, càng nhanh càng dễ để lan truyền những mầm độc.

Phát ngôn hỗn xược, ngu dốt, trơ trẽn và đặc biệt độc hại này của Bảo Ninh từng được chiếu tại Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) khi Bảo Ninh tới thăm nơi đây. Dĩ nhiên rồi, các quỹ NGO sẽ chi tiền, FUV vinh danh Bảo Ninh là nhà văn nổi tiếng, xuất sắc nhất Việt Nam.

Và, không khó hiểu khi Nỗi buồn chiến tranh đã mang về cho tác giả Bảo Ninh nhiều giải thưởng quốc tế như giải thưởng Châu Á trong lĩnh vực văn hóa của Nhật báo Nikkei (Nikkei Asia Prize) năm 2011, giải Simhun của Hàn Quốc năm 2016, giải Văn học Châu Á năm 2018. Thậm  chí, nếu như quãng thời gian ấy Huê Cầy hướng bàn tay cách mạng màu vào Việt Nam, thì khả năng Nỗi  buồn  chiến tranh đã đạt giải Nobel văn học.

Năm 2017, đế cuốc Huê Cầy tuyên bố “hỗ trợ Việt  Nam  80 triệu USD” trong đó 77 triệu USD vốn vay ODA ưu đãi và 3 triệu USD vốn đối ứng của Việt Nam. Mục đích nghe rất nhân văn là để Việt Nam viết lại SGK, cải cách và đổi mới giáo dục. Và thế là, rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh được tay GS trở cờ Đỗ  Ngọc Thống tìm đủ mọi cách đưa vào chương trình giảng dạy cho các em học sinh, bất chấp sự phản đối vô cùng kịch liệt của các CCB.

Càng chua xót hơn nữa, đó là vào tháng 12/2025, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính và Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy đã tặng hoa vinh danh Bảo Ninh. Nỗi buồn chiến tranh được xướng tên đầu tiên, là một trong “50 tác phẩm văn học – nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất”.

Than ôi, khi người ta vinh danh Nỗi buồn chiến tranh, có nghĩa là người ta đang xem lòng tự hào dân tộc là một thứ hư vô mờ mịt, xem thường thậm chí là giẫm đạp lên xương máu cha ông, những người đã chiến đấu, hy sinh và ngã xuống vì độc lập dân tộc.

Giải thưởng vinh danh Bảo Ninh và Nỗi buồn chiến tranh phải bị thu hồi, tác phẩm (thực ra là rác phẩm) này phải bị gỡ ra khỏi SGK trong chương trình học của các em học sinh!

Cám ơn tất cả các bạn!

Dẫn theo nhà văn, nhà phê bình văn học Chu Giang - Nguyễn Văn Lưu.

Môi trường ST.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét