Hôm qua nay, một số bạn đặt một số vấn đề khi mình chia sẻ status về tình trạng "báo chí vả nhau". Không phải vô cớ mình dùng từ mạnh vậy; bởi đằng sau những bài viết, phóng sự trái chiều là một căn bệnh sâu hơn, đó là sự thiếu thống nhất trong định hướng tuyên truyền của một số cơ quan truyền thông - những người lẽ ra phải đứng mũi chịu sào trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ. Để thấy rõ gốc rễ, chúng ta cần nhìn lại bản chất của xã hội chủ nghĩa, vai trò của báo chí cách mạng, và những quy định pháp luật, văn kiện của Đảng đã đặt ra đường ranh rõ ràng nhưng lại đang bị xô lệch.
Một số người biện hộ cho hiện tượng báo chí đối lập nhau bằng lập luận “tự do báo chí” và tự do ngôn luận. Họ quên rằng xã hội chủ nghĩa không phải là trạng thái hỗn mang, mà là một xã hội được định hướng cụ thể. Hiến pháp 2013 quy định quyền con người, quyền công dân, nhưng nhấn mạnh những quyền này có thể bị hạn chế bằng luật vì quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Điều 15 nhấn mạnh việc thực hiện quyền tự do của mỗi người không được xâm hại lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và quyền của người khác. Điều 25 bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng yêu cầu việc thực hiện phải theo quy định của pháp luật.
Luật Báo chí cũng chỉ rõ là báo chí Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu của đời sống xã hội, là diễn đàn của nhân dân và tiếng nói của tổ chức Đảng, Nhà nước, có nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Đồng thời, luật nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Nói cách khác, tự do báo chí trong xã hội ta là tự do trong khuôn khổ định hướng, chứ không phải tự do vô tổ chức.
Ngược dòng thời gian, Đề cương văn hóa Việt Nam 1943 cũng khẳng định ba nguyên tắc là... văn hóa là một mặt trận, Đảng lãnh đạo văn hóa, và phải gắn văn hóa với kháng chiến – kiến quốc. Nghị quyết 33-NQ/TW (2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam nhấn mạnh mục tiêu xây dựng con người toàn diện trên nền tảng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, hình thành lối sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Nghị quyết 35-NQ/TW (2018) xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân; đồng thời kêu gọi chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch và ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tuyên truyền, giáo dục và truyền thông.
Thế nhưng trên thực tế hiện nay, những nguyên tắc này đang bị xem nhẹ hoặc bị diễn giải tùy tiện. Việc một số địa phương vẫn đặt tên đường, trường học theo những nhân vật lịch sử còn tranh cãi như Gia Long, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký,... bất chấp chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương rằng không đặt tên đường với các nhân vật lịch sử còn nhiều ý kiến trái chiều cho thấy sự bất nhất giữa chủ trương và thực thi. Khi báo chí, đài truyền hình ở một nơi kịch liệt phê phán nhân vật bán nước, nơi khác lại làm phóng sự ca ngợi vị ấy “được dân thờ cúng”, người dân sẽ hỏi... rốt cuộc đâu là định hướng chính thức của Đảng?
Trường hợp Hoàng Duy Hùng mới lên VTV1 – một nhân vật lưu vong từng tham gia Mặt trận Việt Nam Tự Do, kêu gọi lật đổ chế độ, bị bắt tại Việt Nam vì liên quan âm mưu đặt bom – là ví dụ sống động cho sự bất nhất định hướng. Trong sách Cách mạng trắng, Hùng kêu gọi vận động theo kịch bản “cách mạng màu” để thay đổi chế độ. Báo chí chính thống từng xác định ông ta là đối tượng phản động, khủng bố. Vậy mà sau đó lại cũng có những chương trình, bài báo chính thống ca ngợi ông, một số quan chức cấp cao lại gọi ông ta là “đảng viên chân chính ngoài Đảng”. Kết quả là dân chúng không biết dựa vào đâu để nhận định, Hoàng Duy Hùng là kẻ phá hoại hay một “bậc trí thức hải ngoại” như một số bài viết tâng bốc? Sự bất nhất này không chỉ làm rối loạn nhận thức mà còn vô tình tiếp tay cho những kẻ từng gieo rắc bạo lực, chống phá nay có cơ hội “tẩy trắng”.
Cũng trong tháng qua, dư luận dậy sóng về việc tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được đưa vào danh sách 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu sau 1975 và đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa. Nhiều bài báo ngợi ca, xem đây là “niềm tự hào văn học”, trong khi Hội Cựu chiến binh và các cựu chiến binh lại gửi công văn phản đối, coi tác phẩm này là xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ người lính Bộ đội Cụ Hồ, mô tả cuộc kháng chiến chống xâm lược Mỹ như một bi kịch vô nghĩa. Lập luận “văn chương có quyền hư cấu” được lặp lại đi lặp lại để biện minh, nhưng như bài trước tôi đã phân tích, hư cấu không thể trở thành chiếc ô che đậy việc biến một biểu tượng cao quý thành hình ảnh u ám, suy đồi. Khi báo chí ca ngợi một tác phẩm bị xem là xúc phạm danh dự người lính, còn tạp chí của Đảng và Hội CCB lại cảnh báo ngược lại, thì người đọc không chỉ hoang mang mà còn nghi ngờ chủ đích của việc vinh danh này.
Vấn đề mình trăn trở nhất không chỉ nằm ở một cuốn tiểu thuyết, mà nằm ở chỗ... khi đưa tác phẩm vào nhà trường, chúng ta giới thiệu tác giả với học sinh bằng “chuẩn đạo đức” nào? Với những thông tin của GS Nguyễn Cảnh Toàn rằng Bảo Ninh từng dính tới vụ việc phá hoại mẫu thí nghiệm của đồng nghiệp ở Viện Sinh học, khiến cơ quan chức năng phải vào cuộc, và sau đó bị kỷ luật, bị khai trừ khỏi Đảng, buộc rời cơ quan… thì câu hỏi đặt ra là... một nhân cách đang bị đặt dấu hỏi như vậy sẽ được “đóng khung” ra sao trong bài học? Học sinh sẽ học được điều gì? rằng cứ viết “hay” là được tôn vinh bất chấp chuẩn mực? rằng sai phạm rồi cũng có thể “rửa” bằng hào quang văn chương? Hay tệ hơn, có em sẽ ngộ nhận rằng chống đối, phá hoại cũng có thể được cổ vũ nếu biết khoác áo “nghệ thuật”?
Sự nghi ngại ấy càng sâu sắc khi ta nhìn vào bối cảnh chính trị của những người thúc đẩy tác phẩm. Nhóm Kiến nghị 72 đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp đã được báo chí liệt kê, gồm các tên tuổi như Nguyễn Minh Thuyết, Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc. Đây lại chính là những người giữ vai trò quan trọng trong việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa, ông Nguyễn Minh Thuyết là tổng chủ biên chương trình GDPT 2018 và chủ biên bộ sách Cánh Diều; GS Trần Đình Sử là tổng chủ biên SGK Ngữ văn nâng cao. Báo chí chính thống và tạp chí nghiên cứu chỉ ra nguy cơ “tự diễn biến – tự chuyển hoá” khi những người ký kiến nghị đòi đa đảng đồng thời nắm giữ vị trí quyết định nội dung giáo dục. Khi họ cổ vũ việc đưa một tác phẩm gây tranh cãi chính trị vào sách giáo khoa, người dân có quyền đặt câu hỏi về động cơ chính trị của hành động này.
Hậu trường lịch sử an ninh Việt Nam từng ghi nhận những âm mưu cài cắm. Trong kế hoạch CM‑12 những năm 1980, tổ chức Lê Quốc Túy – Mai Văn Hạnh tuyển mộ biệt kích, cung cấp vũ khí và tiền giả nhằm phối hợp trong–ngoài lật đổ chính quyền. Lực lượng an ninh đã dùng chính điện đài của địch để điều khiển, bắt trọn ổ. Trong bộ máy, cũng từng có cán bộ cấp cao như Nguyễn Hà Phan bị khai trừ vì phản bội. Những bài học ấy cho thấy, kẻ thù luôn tìm cách leo cao, chui sâu; chúng khai thác sự lỏng lẻo trong tổ chức để cài người, “bật lửa” từ bên trong.
Chính vì vậy, khi thấy truyền thông bất nhất – lúc tôn vinh, lúc đả kích – chúng ta không nên coi đó chỉ là chuyện “khác biệt góc nhìn”. Đằng sau có thể là hệ quả của sự suy thoái tư tưởng, sự thâm nhập của quan điểm lệch lạc vào các cơ quan ngôn luận, hoặc ít nhất là sự buông lỏng trách nhiệm định hướng. Nếu không chấn chỉnh, chẳng những người dân hoang mang mà còn tạo kẽ hở cho chiến tranh thông tin len lỏi, nuôi dưỡng những mầm mống “cách mạng màu” mà ta đã thấy ở Đông Âu, Liên Xô.
Để giải quyết căn bệnh “báo chí vả nhau”, trước hết phải khẳng định lại vai trò trung tâm của Ban Tuyên giáo trong việc định hướng, thẩm định và uốn nắn nội dung truyền thông. Tôi xin đề xuất một số kiến nghị cụ thể sau:
Cần thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước về báo chí. Bộ Thông tin và Truyền thông, Ban Tuyên giáo cần kiên quyết xử lý các cơ quan truyền thông đưa tin trái quan điểm, phủ nhận chính nghĩa cách mạng, ca ngợi nhân vật phản diện. Song song, cần khuyến khích những sản phẩm báo chí sâu sắc, bám sát đường lối, góp phần củng cố niềm tin nhân dân.
Hai là, phải tăng cường phổ biến văn kiện của Đảng, pháp luật về văn hóa – tư tưởng. Các đài, báo phải thường xuyên tuyên truyền Đề cương văn hóa 1943, Nghị quyết 33 và Nghị quyết 35, để người làm báo hiểu rõ phương châm “văn hóa là mặt trận” và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng.
Nữa là, cần rà soát lại việc đặt tên đường, xây dựng biểu tượng. Thực hiện nghiêm hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về không đặt tên đường với nhân vật lịch sử còn tranh cãi. Việc “vinh danh” một con người hay tác phẩm phải dựa trên tiêu chí phù hợp với đường lối, không chiều theo phong trào hoặc áp lực dư luận.
Cần phải minh bạch quy trình chọn tổng chủ biên, chủ biên sách giáo khoa. Ngăn chặn nguy cơ cài cắm quan điểm lệch lạc trong chương trình giáo dục. Những người tham gia soạn sách cần được kiểm tra lập trường chính trị, tránh tình trạng ký kiến nghị đòi đa đảng nhưng vẫn nắm trọng trách quản lý nhà nước về giáo dục.
Cuối cùng là cần phải đẩy mạnh giáo dục lịch sử và tuyên truyền phòng chống “tự diễn biến, tự chuyển hoá”. Nghị quyết Trung ương 4 đã coi đây là một trong những nguy cơ lớn, cần được nhận diện và xử lý sớm. Đưa nội dung này vào đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phóng viên và phổ biến tới quần chúng nhân dân nắm vững, nắm rõ.
Là người từng làm công tác Đoàn và làm dư luận viên ở cơ sở, mình hiểu người dân rất nhạy với sự bất nhất. Khi báo chí, truyền hình của Đảng và Nhà nước lúc phê phán, lúc ca ngợi cùng một đối tượng; khi định hướng văn hóa – giáo dục mơ hồ hoặc bị chi phối bởi những người có quan điểm lệch lạc, thì niềm tin xã hội bị xói mòn. Đến lúc ấy, những luận điệu “cách mạng màu”, “đa nguyên đa đảng” sẽ dễ dàng len lỏi vào tâm trí nhân dân.
Có người mỉa mai như vậy là hạn chế tự do của nhân dân. Nhưng xin thưa, Tuyên giáo là tuyên truyền và định hướng chứ không phải là cấm đoán hay “bịt miệng”; Tuyên giáo là định hướng, dẫn dắt và bảo vệ nền tảng tư tưởng. Làm tốt công tác này nghĩa là đưa nhân dân đến cái đẹp – cái đúng của văn hóa cách mạng, đồng thời kiên quyết vạch mặt những âm mưu lợi dụng văn chương, lịch sử, truyền thông để phủ nhận chính nghĩa. Đó vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là bổn phận của mỗi người làm báo, mỗi cán bộ, mỗi công dân yêu nước./.
Khuyết danh ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét