Nhận
thức ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn về quản lý phát triển xã hội
Lần đầu tiên khái niệm “chính
sách xã hội” được nêu trong Văn kiện Đại hội VI,đánh dấu sự đổi mới nhận thức
của Đảng về vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, cốt lõi của
đổi mới là đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy việc phát triển nhân tố con
người làm thước đo hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế, xã hội.
Nội hàm của chính sách xã hội được xác định
rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao
động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp,
quan hệ dân tộc... Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà
nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục
thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).
Đại hội VII (1991) tiếp tục
nhấn mạnh mục tiêu của chính sách xã hội trong mối quan hệ với chính sách kinh
tế: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế,
đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài
hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng
kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính
sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển
kinh tế”.
Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH (ĐH VII) xác định rõ vị trí, phương hướng của
chính sách xã hội:Chính sách xã hộiđúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực
to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội.Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố
con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công
dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất
và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích
lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”[1].
Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá
VII (1994) và Đại hội VIII tiếp tục nhìn nhận chính sách xã hội một cách rõ
ràng hơn: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước phát triển”.
Đại hội X xác định, phát triển
xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không tách rời với phát triển kinh tế. Cụ
thể là: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn
diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc
làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói,
giảm nghèo”[2]và “Thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát
triển”[3].
Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được
thông qua tại Đại hội XI xác định rõvai trò, mục tiêu và nội dung của chính
sách xã hội:
-> Vai trò: Chính sách xã
hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực
sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu và nội dung: Bảo đảm
công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Kết hợp chặt chẽ, hợp
lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.Phát triển hài hòa đời sống
vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành
viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao
thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân
với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.
Đại hội XII, lần đầu tiên khái
niệm “quản lý phát triển xã hội” được đưa vào văn kiện; chỉ rõ vị trí, ý nghĩa,
phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp quản lý phát triển xã hội.
Phát huy
vai trò của Nhà nước - chủ thể quản lý phát triển xã hội, đồng thời huy động
nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội tham gia vào quá trình quản lý phát
triển xã hội
Với tư cách là chủ thể chính
trị, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển, thông qua hệ thống thể chế, chính
sách, cơ chế tạo động lực cho phát triển xã hội tạo ra sự hài hòa trong phát
triển giữa cá nhân và cộng đồng.
Nhân dân và các tổ chức xã hội
có vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia vào quá trình quản lý phát
triển xã hội và đánh giá chính sách phát triển xã hội.
Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn
định đã tạo ra điều kiện vật chất để Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư và đẩy
mạnh việc quản lý phát triển xã hội ngày càng có hiệu quả hơn.
Công tác xóa đói giảm nghèo
đạt kết quả cao. Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán về
chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp; đẩy
mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục
tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều
và khắc phục nguy cơ tái nghèo. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng
thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo chuẩn quốc
gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010, 3%
năm 2020. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo chung
(bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã
giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn 7,8% vào năm 2013, 5,8-6% năm
2014 và phấn đấu đến hết năm 2015 hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%[4].
Như vậy, Việt
Sự nghiệp giáo dục có bước
phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu
học đến cao đẳng, đại học. Theo thống kê năm 2019: Giáo dục phổ thông đã có sự
cải thiện rõ rệt về việc tăng tỷ lệ đi học chung và đi học đúng lứa tuổi. Trong
đó bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất. Tỷ lệ đi học chúng của
cấp tiểu học là 101%; cấp trung học cơ sở là 92,8% và trung học phổ thông là
72,3%. Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp: Tiểu học 98%, trung học cơ sở 92,8%;
trung học phổ thông là 68,3%.Tỷ lệ học vấn cao gia tăng: Hiện nay có hơn 1/3
dân số từ 15 tuổi trở lên đạt trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên
(36,5%), tăng gần 2 lần so với năm 2009. Toàn quốc có 80,8% dân số từ 15 tuổi
trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ dân số có CMKT tăng 5,9 điểm% so
với năm 2009
Các dịch vụ y tế, chăm sóc sức
khoẻ nhân dân đã có những tiến bộ vượt bậc. Tính đến năm 2018, có thẻ bảo hiểm
y tế cho toàn bộ người nghèo, vùng khó khăn, người DTTS, sinh viên sống ở vùng
DTTS. Từ năm 2013, hầu hết tuyến xã đã có trạm y tế, 95,9% số thôn, bản có nhân
viên y tế; 74,9% các trạm y tế xã có bác sỹ, khoảng 96% trạm y tế xã có y sỹ,
nữ hộ sinh... Nhờ đó, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, chữa trị bệnh của người
dân đã được cải thiện.
Bảo
đảm an sinh xã hội ngày càng tốt hơn
Về dân số, lao động và việc làm.
Các chính sách về lao động và
việc làm đã ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bộ
luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm 2002, 2006, 2007 và 2012, đã
tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập
quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan
đến quan hệ lao động. Cụ thể:
Công tác dân số, chuyển chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình
sang chương trình dân số và phát triển, phấn đấu đạt chỉ tiêu về dân số trong Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa
các vùng; xây dựng các quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế
chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị. Đưa công tác dân số, gia
đình và trẻ em ở các cấp đi vào nền nếp, vào từng gia đình, có chiều sâu và
mang tính bền vững.
Về
chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông, lâm,
ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng
lao động xã hội (Phấn đấu tỷ lệ lao động trong công nghiệp dịch vụ sớm đạt
ngưỡng 70% như mục tiêu đã đặt ra trong NQ23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính
trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn 2045. Đồng thời, ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy
động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Về
bảo hiểm xã hội, ở
nước ta hình thành ba bộ phận chính là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bồi
thường tai nạn lao động. Cơ chế, chính sách đối với những đối tượng được hưởng
các loại bảo hiểm này ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, dưới nhiều hình
thức đa dạng. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi, công bằng hơn cho người dân trong
việc tiếp cận các loại hình bảo hiểm, bồi thường.“Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội
bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hơn 9 triệu người
tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hơn 61 triệu người tham gia bảo hiểm y tế(18).
Về ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội
Chính sách ưu đãi người có
công (thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công
với cách mạng, Mẹ Việt
Trợ giúp xã hội là bộ phận
thiết yếu trong hệ thống an sinh xã hội hướng vào nhóm cư dân thiệt thòi, yếu
thế, dễ bị tổn thương (đối tượng hưởng chính sách xã hội; người khuyết tật;
người già, người không nơi nương tựa; trẻ em). Chúng ta đã có nhiều văn bản
pháp luật về chế độ trợ cấp đối với đối tượng chính sách xã hội; luật người
khuyết tật; luật người cao tuổi; luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em…
Bảo
đảm môi trường cho phát triển xã hội. Những kết quả trong quản lý phát triển xã
hội đã tạo ra môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, ổn định chính chính trị - xã hội, tăng cường
củng cố an ninh - quốc phòng
[1]Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991)
[2] Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006,
tr.178-179
[3]Sđd, tr101
[4] Báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới
(1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 (12,13,14, 17,18, 19)
[5]Báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986-2016),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015
