Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

Một số thành tựu trong quản lý phát triển xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

 


 Nhận thức ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn về quản lý phát triển xã hội

Lần đầu tiên khái niệm “chính sách xã hội” được nêu trong Văn kiện Đại hội VI,đánh dấu sự đổi mới nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, cốt lõi của đổi mới là đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy việc phát triển nhân tố con người làm thước đo hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế, xã hội.

 Nội hàm của chính sách xã hội được xác định rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc... Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

Đại hội VII (1991) tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu của chính sách xã hội trong mối quan hệ với chính sách kinh tế: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (ĐH VII) xác định rõ vị trí, phương hướng của chính sách xã hội:Chính sách xã hộiđúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”[1].

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) và Đại hội VIII tiếp tục nhìn nhận chính sách xã hội một cách rõ ràng hơn: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.

Đại hội X xác định, phát triển xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không tách rời với phát triển kinh tế. Cụ thể là: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”[2]và “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển[3]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI xác định rõvai trò, mục tiêu và nội dung của chính sách xã hội:

-> Vai trò: Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu và nội dung: Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.Phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.

Đại hội XII, lần đầu tiên khái niệm “quản lý phát triển xã hội” được đưa vào văn kiện; chỉ rõ vị trí, ý nghĩa, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp quản lý phát triển xã hội.

 Phát huy vai trò của Nhà nước - chủ thể quản lý phát triển xã hội, đồng thời huy động nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội tham gia vào quá trình quản lý phát triển xã hội

Với tư cách là chủ thể chính trị, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển, thông qua hệ thống thể chế, chính sách, cơ chế tạo động lực cho phát triển xã hội tạo ra sự hài hòa trong phát triển giữa cá nhân và cộng đồng.

Nhân dân và các tổ chức xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia vào quá trình quản lý phát triển xã hội và đánh giá chính sách phát triển xã hội.

 Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định đã tạo ra điều kiện vật chất để Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư và đẩy mạnh việc quản lý phát triển xã hội ngày càng có hiệu quả hơn.

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả cao. Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp; đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010, 3% năm 2020. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn 7,8% vào năm 2013, 5,8-6% năm 2014 và phấn đấu đến hết năm 2015 hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%[4]. Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên Hợp quốc đã đề ra.

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Theo thống kê năm 2019: Giáo dục phổ thông đã có sự cải thiện rõ rệt về việc tăng tỷ lệ đi học chung và đi học đúng lứa tuổi. Trong đó bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất. Tỷ lệ đi học chúng của cấp tiểu học là 101%; cấp trung học cơ sở là 92,8% và trung học phổ thông là 72,3%. Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp: Tiểu học 98%, trung học cơ sở 92,8%; trung học phổ thông là 68,3%.Tỷ lệ học vấn cao gia tăng: Hiện nay có hơn 1/3 dân số từ 15 tuổi trở lên đạt trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (36,5%), tăng gần 2 lần so với năm 2009. Toàn quốc có 80,8% dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ dân số có CMKT tăng 5,9 điểm% so với năm 2009

Các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã có những tiến bộ vượt bậc. Tính đến năm 2018, có thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, vùng khó khăn, người DTTS, sinh viên sống ở vùng DTTS. Từ năm 2013, hầu hết tuyến xã đã có trạm y tế, 95,9% số thôn, bản có nhân viên y tế; 74,9% các trạm y tế xã có bác sỹ, khoảng 96% trạm y tế xã có y sỹ, nữ hộ sinh... Nhờ đó, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, chữa trị bệnh của người dân đã được cải thiện.

Bảo đảm an sinh xã hội ngày càng tốt hơn

Về dân số, lao động và việc làm.

Các chính sách về lao động và việc làm đã ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bộ luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm 2002, 2006, 2007 và 2012, đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động. Cụ thể:

Công tác dân số, chuyển chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình sang chương trình dân số và phát triển, phấn đấu đạt chỉ tiêu về dân số trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng; xây dựng các quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị. Đưa công tác dân số, gia đình và trẻ em ở các cấp đi vào nền nếp, vào từng gia đình, có chiều sâu và mang tính bền vững.

Về chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng lao động xã hội (Phấn đấu tỷ lệ lao động trong công nghiệp dịch vụ sớm đạt ngưỡng 70% như mục tiêu đã đặt ra trong NQ23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đồng thời, ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

Về bảo hiểm xã hội, ở nước ta hình thành ba bộ phận chính là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bồi thường tai nạn lao động. Cơ chế, chính sách đối với những đối tượng được hưởng các loại bảo hiểm này ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, dưới nhiều hình thức đa dạng. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi, công bằng hơn cho người dân trong việc tiếp cận các loại hình bảo hiểm, bồi thường.“Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hơn 61 triệu người tham gia bảo hiểm y tế(18).

Về ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội

Chính sách ưu đãi người có công (thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng…) được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. “Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, có khoảng 1,4 triệu người được hưởng trợ cấp thường xuyên. Bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn cư trú[5].

Trợ giúp xã hội là bộ phận thiết yếu trong hệ thống an sinh xã hội hướng vào nhóm cư dân thiệt thòi, yếu thế, dễ bị tổn thương (đối tượng hưởng chính sách xã hội; người khuyết tật; người già, người không nơi nương tựa; trẻ em). Chúng ta đã có nhiều văn bản pháp luật về chế độ trợ cấp đối với đối tượng chính sách xã hội; luật người khuyết tật; luật người cao tuổi; luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em…

Bảo đảm môi trường cho phát triển xã hội. Những kết quả trong quản lý phát triển xã hội đã tạo ra môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, ổn định chính chính trị - xã hội, tăng cường củng cố an ninh - quốc phòng



[1]Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991)

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178-179

[3]Sđd, tr101

[4] Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm  đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 (12,13,14, 17,18, 19) 

[5]Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm  đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015

Nhiệm vụ của quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam

 

Cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội của công cuộc đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề, thách thức gay gắt. Đó là, sự mất cân đối về cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu giai cấp, cơ cấu dân cư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu dân tộc, tôn giáo…; sự phân hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa giàu và nghèo trong phát triển; sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp, các giới, các nhóm xã hội…; đặc biệt, sự phân hoá giàu nghèo, sự phân tầng xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Bên cạnh đó là sự xuất hiện những vấn đề mới như: dân số tăng, việc làm và di cư tự do; sự tăng nhanh của giai cấp công nhân và sự giảm sút nguồn lực lao động ở nông thôn; các tệ nạn xã hội; sự bất bình đẳng giới và nguy cơ khủng hoảng gia đình; sự thay đổi chuẩn mực đạo đức và lối sống ở lớp trẻ…

Đối với cơ cấu giai cấp: Giai cấp công nhân, trí thức ngày càng tăng, trong khi nông dân ngày càng giảm về số lượng và có sự phân hóa mạnh mẽ. Ngoài ra, cơ cấu giai cấp còn được bổ sung thêm nhiều tầng lớp và nhóm xã hội mới: đó là đội ngũ các nhà doanh nghiệp, những tiểu thương, tiểu chủ (kể cả các chủ trang trại lớn), những người lao động làm thuê, những người Việt Nam lao động ở nước ngoài, v.v...

Cơ cấu dân số: Đáng chú ý là tỷ lệ trẻ em trong các nhóm tuổi (từ 0 đến 14 tuổi) giảm mạnh, trong khi các nhóm tuổi từ 25 đến 49 và 65 trở lên đang tăng lên khá rõ ràng - điều góp phần vào sự chuyển đổi từ tỷ số phụ thuộc sang “cơ cấu dân số vàng”. Cơ cấu dân số theo giới tính thì dần cân bằng nhưng tình trạng mất cân bằng giới tính ở trẻ sơ sinh tăng lên; tỷ lệ dân số đô thị thấp nhưng đang tăng lên, báo hiệu tích tụ dân số vào đô thị ngày càng mạnh, v.v...

Cơ cấu nghề nghiệp:  Đang có sự chuyển dịch tích cực từ nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, từ các ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao hơn; tỷ lệ lao động thuộc kinh tế nhà nước giảm xuống, trong khi tỷ lệ lao động ngoài nhà nước và khu vực đầu tư nước ngoài tăng lên; tỷ lệ lao động ở thành thị tăng lên, trong khi lao động ở nông thôn giảm xuống, v.v...

Cơ cấu dân tộc: Thành phần tộc người có xu hướng tăng lên (có thể vượt qua con số 54 dân tộc - do ý thức tộc người tăng lên, do chính sách ưu đãi của Nhà nước...), sự phân bố về địa lý giữa các dân tộc thay đổi mạnh (do di dân tự do từ Bắc và Nam, do phát triển các khu công nghiệp...), đặc biệt là sự biến đổi cơ cấu dân số giữa các tộc người (tỷ lệ sinh ở các dân tộc thiểu số miền núi cao hơn ở người Kinh và ở đồng bằng).

Cơ cấu tôn giáo: Ngoài các tôn giáo chính đang tồn tại, trong giai đoạn đổi mới còn xuất hiện thêm nhiều tôn giáo mới (từ 50 - 60), trong đó có tôn giáo tách ra từ Phật giáo, có tôn giáo là được phục sinh từ các lễ hội dân gian và cũng có tôn giáo mới được du nhập từ bên ngoài vào. Đó là chưa kể trong nội bộ các tôn giáo cũng có sự thay đổi không chỉ ở số lượng các tín đồ, mà còn ở phương diện tổ chức và nhiều phương diện khác nữa.

- Những vấn đề đặt ra do biến đổi cơ cấu xã hội:

Thứ nhất,làm gia tăng sự bất bình đẳng giữa nông thôn và đô thị, giữa miền xuôi và miền núi, giữa người có thu nhập cao và người thu nhập thấp, giữa lao động trí óc và lao động chân tay.

Thứ hai,làm gia tăng mâu thuẫn và xung đột (đó là mâu thuẫn giữa chủ và thợ, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ, giữa chủ đầu tư và những người nông dân mất đất, là xung đột giữa một số tổ chức tôn giáo và chính quyền địa phương, giữa các bộ phận tộc người di dân tự do và cư dân địa phương.), tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn đối với sự ổn định và phát triển của xã hội

Thứ ba,trong cơ cấu xã hội mới xuất hiện các nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương,

Thứ tư, sự quá tải ở các khu công nghiệp và các thành phố lớn, sự mất dần bản sắc ở không ít tộc người thiểu số, sự lai căng, mất gốc ở một số nhóm người, nhất là ở thế hệ trẻ, v.v...

- Cần đánh giá thực trạng, phân tích những tác động, đưa ra dự báo và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam theo xu hướng tích cực, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối và chiến lược phát triển đất nước nhanh, bền vững trong những năm tới

Định hướng, kiểm soát các biến đổi xã hội 

Sự phát triển xã hội dẫn đến biến đổi xã hội: Phân tầng xã hội, cơ động xã hội, di biến dân số, di chuyển dân cư, dịch chuyển lao động…

- Phân tầng xã hội là sự phân chia xã hội thành các tầng lớp với địa vị kinh tế, chính trị khác nhau xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà trước hết là do bất bình đẳng xã hội. Ở nước ta hiện nay, tầng lớp trung lưu lớp dưới tăng nhanh, chiếm tỷ lệ lớn, dễ bị tái nghèo nếu gặp rủi ro xã hội, thiếu sinh kế bền vững; còn nhóm trung lưu giữa và trung lưu trên vẫn chưa chiếm số đông.

Định hướng, kiểm soát là để các tầng lớp trung lưu tăng lên nhưng phải bền vững, hạn chế các rủi ro.

- Cơ động xã hội ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ theo cả chiều dọc và chiều ngang.

Cơ động xã hội theo chiều dọc là chuyển đổi mức sống, vị thế, vai trò nhưng vẫn giữ đặc tính giai tầng của nó (nông dân trở thành chủ trang trại; công nhân cổ xanh trở thành công nhân cổ trắng; doanh nhân có quy mô vốn nhỏ vươn lên thành doanh nhân có quy mô vốn lớn). 

Cơ động xã hội theo chiều ngang là chuyển đổi mức sống, vị thế, vai trò gắn với thay đổi đặc tính giai tầng (nông dân cơ động thành công nhân hay trí thức, công nhân cơ động thành trí thức, trí thức cơ động thành doanh nhân).

Cơ động xã hội diễn dẫn đến vị thế, vai trò, chức năng của từng giai cấp, nhóm xã hội thay đổi. Do đó, cần nắm bắt được chuyển biến về mức sống, lối sống, tâm lý, hành vi tiêu dùng và xu hướng chính trị của từng nhóm xã hội.  Từ đó, định hướng, kiểm soát bảo đảm cho cơ động xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế bằng các chính sách phù hợp để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong quản trị biến đổi xã hội.

Ví dụ: Hành vi tiêu dùng của nhóm xã hội khi đã trung lưu hóa hoàn toàn khác với hành vi tiêu dùng của bản thân họ khi còn ở mức nghèo, với xu hướng được thỏa mãn các hàng hóa, dịch vụ cao cấp hơn so với hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu khi thu nhập thấp. Theo đó, điều chỉnh hành vi tiêu dùng của từng nhóm xã hội không chỉ có ý nghĩa về phương diện kinh tế, mà còn xây dựng văn hóa tiêu dùng trong một xã hội văn minh, tránh rơi vào căn bệnh của xã hội tiêu dùng hoặc tiết chế nhu cầu một cách không cần thiết cản trở kích cầu nội địa phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Trung lưu hóa, kéo theo nó là những thay đổi của lối sống văn hóa, nhu cầu và khuynh hướng chính trị,... mà bất cứ thể chế nhà nước nào cũng cần nhận thức đầy đủ để định hướng phát triển đúng đắn. Khi đã được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, thiết yếu, tầng lớp trung lưu thường vươn tới các nhu cầu cao hơn, như nhu cầu khẳng định mình trong xã hội, nhu cầu thụ hưởng các giá trị văn hóa - tinh thần theo năng lực tài chính tự chi trả, nhu cầu tự do cá nhân... mà quản trị biến đổi xã hội phải nắm bắt và xử lý thỏa đáng. Đó là chưa kể khi tầng lớp trung lưu đã chiếm số đông trong xã hội, lá phiếu của họ sẽ quyết định đến các cuộc bầu cử, mà bất cứ ứng viên nào nếu muốn trở thành đại biểu dân cử trong các kỳ bầu cử Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân các cấp đều phải tính đến nhu cầu và lợi ích của họ.

Thực hiện các bảo đảm xã hội (an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, hòa nhập và tái hòa nhập xã hội)phù hợp với biến đổi xã hội và điều kiện phát triển mới của đất nước

Đại hội XII đã đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống”(8).

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng môi trươngdf văn hóa, đạo đức xã hội lãnh mạnh, văn minh; trú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân só với phát triển, quan tâm đến mọi người dân; bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”.(9)

Chính sách an sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia hướng vào bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trong trường hợp rủi ro bị suy giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất.

Hệ thống an sinh xã hội tập trung vào 4 nội dung chính sau đây:

1- Tạo cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu  giảm nghèo bền vững cho người lao động thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất (đào tạo nghề, tín dụng, việc làm có thu nhập, kết nối thị trường), được thực hiện bằng kết hợp ngân sách của Nhà nước, doanh nghiệp, xã hội và gia đình.

2- Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động để chủ động đối phó với tình huống mất hoặc suy giảm thu nhập do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già, được thực hiện bằng nguyên tắc đóng - hưởng, đặc biệt chú ý khu vực lao động phi chính thức và lao động nông thôn. Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo nguyên tắc chia sẻ giữa các thành viên trong xã hội, kết hợp với hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

3- Hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo...) thông qua các khoản tiền mặt hoặc hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm. Đại hội XII chủ trương “Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân”(10).

4- Tăng cường cơ hội tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục cơ bản, y tế, nước sạch, nhà ở, thông tin.

Phấn đấu dịch chuyển từ mô hình quyền an sinh xã hội cơ bản, nguồn lực hạn chế, phạm vi bao phủ hạn chế, cơ cấu mất cân đối sang mô hình quyền an sinh xã hội toàn diện, nguồn lực tăng dần phù hợp với điều kiện đất nước, mở rộng phạm vi bao phủ, cơ cấu hài hòa, toàn diện4- Tăng cường cơ hội tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục cơ bản, y tế, nước sạch, nhà ở, thông tin.

Phấn đấu dịch chuyển từ mô hình quyền an sinh xã hội cơ bản, nguồn lực hạn chế, phạm vi bao phủ hạn chế, cơ cấu mất cân đối sang mô hình quyền an sinh xã hội toàn diện, nguồn lực tăng dần phù hợp với điều kiện đất nước, mở rộng phạm vi bao phủ, cơ cấu hài hòa, toàn diện

Thực thi chính sách xã hội phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực, địa bàn... nhằm bảo đảm hài hòa xã hội, quan hệ xã hội giảm thiểu bất công xã hội (ưu đãi xã hội cho người có công, chính sách với dân tộc thiểu số, chính sách với người có hoàn cảnh khó khăn, chính sách với người yếu thế, lao động khu vực phi chính thức...). 

Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến xung đột xã hội”(4).

Xử lý các vấn đề xã hội nảy sinh (bất bình đẳng xã hội, mâu thuẫn, xung đột xã hội), ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm xã hội, tệ nạn xã hội, ứng phó với các mối đe dọa an ninh con người. 

Đây là yêu cầu xuất phát từ thực tế của thời đại xuất hiện không ít mâu thuẫn, nếu xử lý không tốt sẽ biến thành “điểm nóng”, thậm chí gây nên xung đột xã hội.

Nắm bắt và xử lý một cách cơ bản các yếu tố có khả năng gây bất ổn xã hội phát sinh từ phân tầng xã hội. 

Xử lý hài hòa quan hệ lao động, quan hệ chủ - thợ trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Hình thành kịch bản ứng phó và thích nghi với biến đổi khí hậu, trong đó đụng chạm đến nhiều tầng nấc về phương diện quản lý và phát triển xã hội. 

Xử lý có hiệu quả với các vấn đề xã hội phát sinh từ khủng hoảng, rủi ro xã hội (chiến tranh, xung đột; khủng hoảng kinh tế - tài chính; thảm họa môi trường). 

Nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo,... để xúi giục, kích động, tập hợp “đám đông”, tạo thành “điểm nóng” xung đột xã hội, thậm chí cả bạo loạn chính trị

Nắm vững vai trò của quản lý phát triển xã hội là cơ sở để thực hiện tốt phát triển xã hội ở Việt Nam

 

Bảo đảm hài hoà xã hội:Bảo đảm cho mọi người trong xã hội đều được hưởng sự công bằng xã hội và bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Công bằng xã hội, bình đẳng xã hội: 1- về cơ hội (bình đẳng trong việc tiếp cận với các cơ hội); 2- Được hưởng như nhau cho những đóng góp bằng nhau; 3- Các quyền bình đẳng. Tóm lại là phải kết hợp hài hòa lợi ích của toàn xã hội, lợi ích của tập thể và lợi ích riêng của từng người lao động.

Bảo đảm an sinh xã hội: An sinh xã hội là sự bảo đảm thu nhập và đời sống cho công dân trong trường hợp họ gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống.Bao gồm các bảo đảm vềlao động và việc làm; bảo hiểm xã hội;trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội.

Về dân số, lao động và việc làm. Công tác dân số, chuyển chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình sang chương trình dân số và phát triển, phấn đấu đạt chỉ tiêu về dân số trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng; xây dựng các quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị. Đưa công tác dân số, gia đình và trẻ em ở các cấp đi vào nền nếp, vào từng gia đình, có chiều sâu và mang tính bền vững.

Về chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và đặc biệt là lao động ở khu vực dịch vụ trong tổng lao động xã hội. Đồng thời, ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

Về bảo hiểm xã hội, ở nước ta hình thành ba bộ phận chính là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bồi thường tai nạn lao động. Cơ chế, chính sách đối với những đối tượng được hưởng các loại bảo hiểm này ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, dưới nhiều hình thức đa dạng. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi, công bằng hơn cho người dân trong việc tiếp cận các loại hình bảo hiểm, bồi thường.

Ưu đãi xã hội, thực hiện các chế độ, chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng…

Trợ giúp xã hội là bộ phận thiết yếu trong hệ thống an sinh xã hội hướng vào nhóm cư dân thiệt thòi, yếu thế, dễ bị tổn thương (đối tượng hưởng chính sách xã hội; người khuyết tật; người già, người không nơi nương tựa; trẻ em). Chúng ta đã có nhiều văn bản pháp luật về chế độ trợ cấp đối với đối tượng chính sách xã hội; luật người khuyết tật; luật người cao tuổi; luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em…

Bảo đảm môi trường cho phát triển xã hội (trong mối quan hệ với phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh - quốc phòng, đối ngoại và với vấn đề phát triển môi trường). Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi, trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng… một cách vững chắc cho sự phát triển xã hội bền vững.

Vai trò của lực lượng vũ trang trong chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Vai trò của lực lượng vũ trang trong chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới đối với lực lượng vũ trang là rất quan trọng trong bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành của Đảng, Tổ quốc và nhân dân, lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong thời bình, lực lượng vũ trang nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, thời gian qua, dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Chính phủ, được sự giúp đỡ của nhân dân, sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của các cơ quan, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương, lực lượng vũ trang nhân dân đã thực hiện và hoàn thành tốt nhiều nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động, tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, góp phần hoàn thiện cơ sở chính trị, pháp lý cho việc triển khai các mặt công tác, chiến đấu; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập trong nước; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh trên phương diện tư tưởng, lý luận, nhất là phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Việc lực lượng vũ trang nhân dân tham gia đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục, nhất là công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, để xảy ra một số vụ, việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, của ngành, làm giảm niềm tin trong nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và trong chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống. Bởi vậy, cùng với việc thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, lực lượng vũ trang nhân dân cần xác định việc tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là một giải pháp quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng lực lượng vũ trang trong giai đoạn hiện nay. Trong thời gian tới, để đấu tranh có hiệu quả trong chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII; Nghị quyết XIII của Đảng lực lượng vũ trang cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau: Một là, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Theo đó, phải tăng cường công tác đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các lực lượng vũ trang, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chống địch cài cắm; đề cao tinh thần cảnh giác, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ của các thế lực thù địch nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, ngăn chặn mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần xây dựng hình ảnh đẹp của người cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang trong lòng nhân dân. Hai là, chủ động tham mưu với các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự và tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân. Phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự, trọng tâm là các địa bàn chiến lược, vùng có đông đồng bào các tôn giáo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” trên mọi địa bàn, mọi lĩnh vực; xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kịp thời phát hiện những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị và đề xuất biện pháp xử lý phù hợp, không để các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng. Làm tốt hơn nữa vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp trong việc giải quyết dứt điểm các vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự. Ba là, tăng cường phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Công an nhân dân, các ban, ngành ở Trung ương và địa phương trong việc chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, dự báo sát, đúng những tình huống phức tạp có thể xảy ra để kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành và chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Lực lượng vũ trang cũng cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trong phòng ngừa, đấu tranh, không để kẻ địch, phần tử xấu xâm nhập, lôi kéo, móc nối, tác động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; bảo đảm mọi chủ trương, đường lối của Đảng phải được thực hiện có hiệu quả trong thực tế. Đề cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch, sai trái; vạch trần những âm mưu và hành động lợi dụng một số vụ án, vụ việc tiêu cực để làm tổn hại tới khối đại đoàn kết toàn dân, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân. Trong đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cần quán triệt phương châm “Lấy chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính”; đồng thời phải tỏ rõ dũng khí của lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch./.

Thứ Năm, 4 tháng 3, 2021

Nhận thức rõ hơn về Chống “diễn biến hòa bình”,“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Nhận thức rõ hơn về Chống “diễn biến hòa bình”,“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Hiện nay, cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đang đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới đối với lực lượng vũ trang nhân dân, với trọng trách quan trọng là bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân và chế độ XHCN. Hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Bước sang giai đoạn cách mạng mới, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi để phát triển, chúng ta cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, trong đó “các nguy cơ mà các kỳ Đại Hội của Đảng đưa ra vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp, như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng in-tơ-nét để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ...”(1). Thực tế cho thấy, những năm qua, các thế lực thù địch đã ra sức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại, với trọng tâm là cổ xúy hệ tư tưởng tư sản, âm mưu xóa bỏ nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng ta - chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội... Mục tiêu cuối cùng mà các thế lực thù địch hướng tới là làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Mặc dù âm mưu “diễn biến hòa bình” của chúng là nhất quán, nhưng trong bối cảnh mới, nó được thực hiện với những phương thức, thủ đoạn mới tinh vi, xảo quyệt hơn. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông và mạng in-tơ-nét để tiến hành các hoạt động chống phá ta, đồng thời thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thực chất là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, đi ngược với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn ra trước hết trong cá nhân cán bộ, đảng viên và nếu không được ngăn chặn kịp thời, có thể dẫn đến sự suy thoái của tổ chức, và về lâu dài, sẽ dẫn đến chuyển hóa chế độ chính trị. Bởi vậy, Đảng ta xác định, cùng với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng là nguy cơ không thể xem thường đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Có thể thấy, “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có mối liên hệ chặt chẽ, không tách rời nhau, trong đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vừa là thủ đoạn, vừa là mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Do đó, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, mà còn là giải pháp quan trọng, chiến lược lâu dài đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước./.

Phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch-trách nhiệm của Thanh niên quân đội

Phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong đó, thanh niên quân đội là lực lượng xung kích đi đầu trong hoạt động này Hiện nay các thế lực thù địch không ngừng chống phá về tư tưởng chính trị, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, với những quan điểm đối lập với nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc tình hình mọi mặt của đất nước nhằm gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán nản, dẫn đến mất phương hướng chính trị, giảm sút lòng tin vào Đảng, vào chế độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo nguy cơ “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. chúng, “tấn công” mạnh hơn, nhanh hơn, sâu hơn trên mọi phương diện tới mọi tầng lớp nhân dân; trong đó có lực lượng thanh niên quân đội. Vì vậy, để nâng cao khả năng tự miễn dịch; đồng thời, phát huy vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch của thanh niên quân đội vừa là yêu cầu khách quan, vừa là yếu tố căn bản để tôi luyện bản lĩnh, phẩm chất, năng lực của thanh niên, xây dựng tổ chức vững mạnh, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Để đạt được điều đó, thanh niên quân đội cần phải: Không ngừng nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao bản lĩnh chính trị tư tưởng, nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Qua đó, củng cố niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; giá trị truyền thống dân tộc, truyền thống quân đội, lý tưởng chiến đấu, nhận thức đúng bản chất sự việc, không mơ hồ, dao động, làm cơ sở vững chắc để đấu tranh, phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch. Luôn đi đầu trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, vô hiệu hóa những thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, nhất là sự chống phá trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nhằm lôi kéo, kích động tụ tập đông người, gây mất trật tự, an ninh xã hội và bất ổn về chính trị của các thế lực thù địch.Tập trung đấu tranh bằng những bài viết, bình luận có tính khoa học, chứng cứ rõ ràng, lập luận sắc bén; qua đó, chỉ rõ đúng - sai, thật - giả; tránh kiểu đấu tranh thiếu văn hóa, không có tính thuyết phục. Tích cực tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, biết “gạn đục, khơi trong”, lên tiếng bảo vệ cho cái tốt, để cái tốt được lan tỏa, đồng thời tích cực tuyên truyền cho gia đình, người thân, bạn bè và cộng đồng về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; để mọi người tin tưởng, noi theo. Tích cực tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội, chấp hành nghiêm kỷ luật, nhất là kỷ luật quan hệ quân dân, kỷ luật phát ngôn, lễ tiết tác phong; luôn nêu cao cảnh giác, có ý thức phòng gian, bảo mật, không để lộ, lọt thông tin khi sử dụng internet; không chia sẻ vị trí, chụp ảnh, đăng các thông tin, hoạt động của cá nhân và đơn vị lên mạng xã hội. Luôn giữ vững và nêu cao phẩm chất, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, đó chính là biểu tượng và là sức mạnh to lớn để đập tan mọi âm mưu, hành động xuyên tạc của các thế lực thù địch. Góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích của quốc gia, dân tộc./. TMT

Duy ý chí-căn bệnh cần phải loại bỏ

Duy ý chí là một trong những biểu hiện của căn bệnh “kiêu ngạo cộng sản” dễ làm người cách mạng tự sa ngã, biến chất. Những người duy ý chí thường xem xét, nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan của riêng mình, coi ý kiến của mình luôn đúng, thậm chí “duy nhất đúng”, luôn có tư tưởng nóng vội, tinh thần lạc quan thái quá, muốn nhanh chóng đạt kết quả, mục tiêu mà không xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, thấu đáo mọi vấn đề, mọi khía cạnh, dễ ảo tưởng về sức mạnh chủ quan mà không tiên lượng được hết những khó khăn, trở ngại do cả yếu tố khách quan và chủ quan gây ra, nên ít nhiều bị vấp váp, sai lầm trên con đường cách mạng và trong hoạt động thực tiễn. Trong xã hội hiện nay bên cạnh những nhận thức đúng đắn về sự phát triển của xã hội vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên mắc phảibệnh "duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình, không chịu lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác” đây là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra.Nếu bệnh duy ý chí xảy ra đối với những cá nhân có quyền quyết định (ban thường vụ, cấp ủy, ban cán sự đảng…) mà không nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình thực tế, ban hành những quyết sách không phù hợp có thể dẫn đến hậu quả khôn lường về kinh tế-xã hội cho địa phương, đất nước… Để phòng, chống, ngăn chặn, đẩy lùi bệnh duy ý chí thì mỗi cán bộ, đảng viên phải có tư tưởng tiến bộ để tự mình ngăn ngừa, loại bỏ những tàn dư lạc hậu trong suy nghĩ, thái độ, việc làm ảnh hưởng đến quy luật, chiều hướng phát triển tích cực của tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương. Có tinh thần cầu thị để khiêm tốn học hỏi, lắng nghe, tiếp thu những ý kiến đóng góp, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân Các cơ quan, tổ chức phải thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, tăng cường kiểm soát quyền lực cá nhân người đứng đầu và những người có thẩm quyền ban hành quyết định về chủ trương, cơ chế, chính sách; kịp thời phát hiện, kiên quyết xử lý nghiêm minh những biểu hiện duy ý chí, áp đặt ý kiến cá nhân gây tổn hại đến lợi ích chung. Quan tâm giáo dục, bồi đắp tinh thần phấn đấu bền bỉ, thường xuyên, liên tục cho cán bộ, đảng viên; động viên mọi người nêu cao ý thức tự rèn, tự học tập để chủ động cập nhật thông tin, kiến thức mới, không ngừng làm giàu tri thức, năng lực trí tuệ cho bản thân. Bất cứ một sự “ru ngủ” nào trên vinh quang quá khứ không chỉ khiến cán bộ, đảng viên dễ nảy sinh tâm lý tự kiêu, tự mãn, mà còn dễ tự đào thải chính mình trước sự phát triển mau lẹ của mọi mặt đời sống xã hội./. TMT

Hiệu quả cuộc đấu tranh tư tưởng

Sau thành công đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định được sự đoàn kết thống nhất toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng với các thế lực thù địch hiện nay. Thành công đó thể hiện sự thắng lợi của thực tiễn về sự ổn định chính trị, xã hội, sự phát triển kinh tế đất nước, vượt qua mọi thử thách..., đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, củng cố vững chắc thắng lợi của chúng ta trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Hiệu quả của cuộc đấu tranh này thể hiện ở việc chúng ta đã thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ. Với các hình thức như: tuyên truyền cổ động, thông tin đại chúng, văn hóa văn nghệ với những quan điểm sắc bén, cảnh giác đã mạnh dạn tổ chức cuộc đấu tranh trực diện với những người có quan điểm sai trái một cách thuyết phục để có thể làm cho họ tỉnh ngộ...góp phần làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”. Sau Đại hội, Đất nước ta đang tiến hành chuẩn bị bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp để tiếp tục tìm ra nhân tài phục vụ dân tộc, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đẳng lần thứ XIII, các thế lực thù địch coi đây là thời cơ để chúng ra sức tấn công trên mặt trận tư tưởng nhằm tiếp tục thay đổi kết quả bầu cử theo ý chúng. Tuy nhiên với bề dày truyền thống và kinh nhiệm gần 90 năm lãnh đạo đất nước, chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng, các thế lực thù địch chắc chắn sẽ thất bại, Đảng ta tiếp tục kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, kiên quyết lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh./. TMT

Quy tụ những tấm lòng hảo tâm



Tại bản Huồi Cáng 1, xã Bắc Lý, huyện biên giới Kỳ Sơn (Nghệ An), Đồn Biên phòng Mỹ Lý, Bộ đội Biên phòng Nghệ An phối hợp với các nhà hảo tâm, tổ chức thiện nguyện và chính quyền địa phương khai trương đưa vào sử dụng “Ngôi nhà thiện nguyện-Ai cần đến lấy, ai có sẻ chia” trên địa bàn.

Quân đội ta giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19

Hiện nay, dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, Quốc phòng, an ninh và sức khỏe của nhân dân,. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội luôn luôn giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19. ý thức sâu sắc về sự cần thiết, tự hào và luôn tự giác làm chủ bản thân, tự giác tu dưỡng rèn luyện trong phòng, chống dịch COVID-19 trong mọi điều kiện hoàn cảnh. Thực biến quá trình bồi dưỡng, rèn luyện thành quá trình tự bồi dưỡng, rèn luyện tu dưỡng, có ý chí phấn đấu vươn lên, luôn nghiêm khắc và yêu cầu cao với chính mình, luôn biết đặt cho mình những mục tiêu rèn luyện, tu dưỡng. Xây dựng niềm tin vào khả năng của bản thân, tinh thần lạc quan, không ngại khó khăn, gian khổ trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19. Đặc biệt, mỗi cán bộ, chiến sĩ cần tích cực, chủ động tự đối chiếu, tự đánh giá kết quả rèn luyện, tu dưỡng của bản thân so với yêu cầu đặt ra để liên tục phấn đấu thực hiện. Các tổ chức, các lực lượng cần kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện lười học tập, rèn luyện, phấn đấu cầm chừng, thỏa mãn, dừng lại; động viên, phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh với mọi suy nghĩ, hành động, việc làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong phòng, chống dịch COVID-19, hình ảnh người quân nhân cách mạng trong tình hình mới.

Human Rights Watch: tổ chức đội lốt nhân quyền

Tiền thân của Tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) là tổ chức Helsinki Watch do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích "giám sát" Liên Xô (trước đây) bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này.

Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức quốc tế khác có cùng tôn chỉ, mục đích, từ đó đổi tên thành Human Rights Watch (HRW). Tuy nhiên, căn cứ vào hoạt động của HRW lại thấy tổ chức này đang đi lệch tôn chỉ, mục đích ban đầu và trở thành "con rối" đội lốt nhân quyền phục vụ mục đích chính trị.

Một trong những "sứ mệnh" HRW tự phong cho mình là "điều tra và đưa ra ánh sáng các vi phạm nhân quyền và buộc những đối tượng vi phạm phải thừa nhận trách nhiệm"; "tiến hành nghiên cứu thực tế và điều tra các vi phạm nhân quyền, báo cáo một cách công tâm về tình hình nhân quyền tại khoảng 90 quốc gia". Tuy nhiên, không hiểu HRW "nghiên cứu thực tế" như thế nào, các báo cáo có độ tin cậy đến đâu, khi tổ chức này ngày càng phải chịu sự chỉ trích từ chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức truyền thông và ngay cả nhà sáng lập là cựu Chủ tịch HRW Robert L.Bernstein về phương pháp, năng lực nghiên cứu. Ông trùm truyền thông Rupert Murdoch cũng đã từng chỉ trích đội ngũ chuyên gia của HRW không đủ kiến thức chuyên sâu, trong khi đó thì Robert L.Bernstein, người sáng lập HRW, lại cáo buộc tổ chức này áp dụng phương pháp nghiên cứu "nghèo nàn", dựa vào các nhân chứng mà không kiểm chứng những lời kể của họ, hoặc có đưa ra bằng chứng thì cũng vì mục đích chính trị. Viện nghiên cứu Monitor cáo buộc HRW áp dụng phương pháp luận sai lầm, hiểu sai luật pháp quốc tế.

HRW luôn tự khẳng định là tổ chức phi chính phủ độc lập, không lệ thuộc vào bất cứ chính phủ nào và các báo cáo nhân quyền của mình là công tâm, không vì mục đích chính trị. Tuy nhiên, cách đưa tin thiên lệch, có dụng ý nhằm vào các nước đang hướng theo các giá trị trái ngược với ý thức hệ tư bản, các nước theo chủ nghĩa xã hội, và các nước theo đạo Hồi...; đồng thời tâng bốc các giá trị "tự do, dân chủ" kiểu Mỹ khiến nhiều người đặt ra câu hỏi về tính "công tâm", "độc lập" của HRW. Nhiều học giả Mỹ la-tinh cho rằng, về hình thức, HRW không lệ thuộc vào Chính phủ Mỹ nhưng các báo cáo của tổ chức này về tình hình nhân quyền tại Mỹ la-tinh, đặc biệt là tại Vê-nê-xu-ê-la, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những toan tính của Washington. Bằng chứng là tháng 9-2008, Vê-nê-xu-ê-la đã trục xuất hai nhân viên HRW là Jose Miguel Vivanco và Daniel Wilkinson với lời cáo buộc họ tiến hành "các hoạt động chống phá nhà nước". Tổng thống Vê-nê-xu-ê-la Hugo Chavez cho rằng, HRW đã câu kết với chính quyền Bush tiến hành một chiến dịch nhằm lật đổ chính quyền của ông, đồng thời phủ nhận các thành tựu mà chính phủ của ông đã đạt được trong cuộc chiến chống đói nghèo. Bộ trưởng Ngoại giao Vê-nê-xu-ê-la cáo buộc HRW là tổ chức đội lốt bảo vệ nhân quyền được Mỹ tài trợ nhằm thực hiện chính sách tấn công các nước đang xây dựng các mô hình kinh tế kiểu mới. Ngày 17-9-2008, trong một thư ngỏ gửi Ban giám đốc HRW để phản đối báo cáo của tổ chức này về tình hình nhân quyền tại Vê-nê-xu-ê-la, đã có 118 học giả của Ác-hen-ti-na, Ô-xtrây-li-a, Bra-xin, Mê-hi-cô, Vê-nê-xu-ê-la, Mỹ, Anh cùng một số quốc gia khác đã chỉ trích HRW đưa thông tin sai lệch để chống Chính phủ Vê-nê-xu-ê-la. Theo các học giả, báo cáo của HRW "không đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu nhất về phương pháp nghiên cứu, sự công bằng, chính xác và tin cậy"; cáo buộc người chắp bút chính cho báo cáo này, Jose Miguel Vivanco, có "động cơ chính trị". Cáo buộc trên càng có cơ sở khi báo cáo tài chính của HRW năm 2009 cho thấy, 75% mức đóng góp đến từ Bắc Mỹ, 25% đến từ Tây Âu và chỉ chưa đầy 1% từ các khu vực khác. Mặc dù HRW đã phải "rào đón", trấn an dư luận rằng tổ chức này "chỉ nhận đóng góp từ các nguồn tư nhân, không nhận bất cứ đóng góp của chính phủ nào, trực tiếp hay gián tiếp" nhưng có ai dám chắc các tổ chức tư nhân ủng hộ tài chính cho HRW không chịu sự thao túng từ chính phủ của một số nước lớn vì mục đích chính trị?

Những năm qua, trong các nước mà HRW "quan tâm" một cách đặc biệt có Việt Nam. Một trong những thủ đoạn HRW thường triển khai là tuyên truyền, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam qua báo cáo nhân quyền thường niên, hoặc ra thông cáo báo chí, gửi thư tới lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức quốc tế. Hằng năm, HRW công bố cái gọi là "báo cáo nhân quyền" phản ánh tình hình nhân quyền tại gần 100 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Gần đây nhất, trong báo cáo năm 2012, HRW xuyên tạc, vu cáo "Chính phủ Việt Nam đàn áp một cách có hệ thống các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa". HRW trắng trợn vu khống Việt Nam sử dụng các điều luật "mơ hồ" (Ðiều 79, Ðiều 87, Ðiều 88 Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam) để bắt giữ, xét xử các "nhà bất đồng chính kiến", "nhà vận động tôn giáo và chính trị" mà thực chất là các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam một cách có hệ thống như Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Bá Ðăng, Phan Thanh Hải,... Lần nào cũng vậy, báo cáo của HRW luôn phủ nhận các thành tựu phát triển nhân quyền ở Việt Nam; và thực chất các thông tin đó chỉ là sự cóp nhặt những thông tin sai sự thật, một chiều và có dụng ý xấu về tình hình nhân quyền ở Việt Nam do các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tán phát trên mạng in-tơ-nét hoặc rêu rao trên vài tờ báo lá cải ở hải ngoại. Rồi mỗi khi các cơ quan chức năng Việt Nam bắt giữ hay xét xử một số đối tượng với tội danh "tuyên truyền chống nhà nước", "phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc", hoặc "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền" HRW lại nhanh chóng ra thông cáo báo chí chỉ trích, lên án, yêu cầu Chính phủ Việt Nam thả ngay lập tức và vô điều kiện các đối tượng này! Không dừng lại ở đó, HRW còn gửi thư cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và một số tổ chức quốc tế để kêu gọi Việt Nam cải thiện nhân quyền, thả các "tù nhân lương tâm", những "nhà bất đồng chính kiến", các blogger.

Cùng với chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc tình hình "dân chủ, nhân quyền và tự do ngôn luận" ở Việt Nam, HRW còn hậu thuẫn tài chính, kích động một số đối tượng chống Nhà nước Việt Nam dưới hình thức trao "Giải thưởng Hellman - Hammett" vắng mặt. "Giải nhân quyền Hellman - Hammett" do HRW lập ra cách đây hơn 20 năm để hỗ trợ về tài chính cho các nhân vật được gán cho nhãn hiệu là "nhà văn đấu tranh cho nhân quyền phương Tây". Nhưng gần đây, HRW đã lái việc trao "giải" này cho cả những nhân vật chống chính quyền, gây mất an ninh trật tự ở Việt Nam. Ðọc danh sách những người được HRW "trao giải thưởng" từ năm 2001 đến 2011 sẽ thấy mục đích của HRW cụ thể là gì, bởi từ Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài,... đến Trần Khải Thanh Thủy, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Khắc Toàn,... đều là công dân Việt Nam có nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Trong số họ chẳng có người nào là "nhà văn" như tiêu chí để xét trao "Giải thưởng nhân quyền Hellman - Hammett". Những người này có điểm chung là bán rẻ danh dự, nhân phẩm, tự nguyện trở thành công cụ trong tay thế lực xấu để chống phá đất nước, chống phá chế độ. Vì thế, "Giải thưởng nhân quyền Hellman - Hammett" chẳng qua chỉ là một màn kịch dựng sẵn một cách vụng về trên sân khấu chính trị, mượn cái lốt "dân chủ, nhân quyền" để phá hoại xu hướng phát triển tiến bộ của các quốc gia luôn giữ vững độc lập và tự chủ, tự chọn con đường phát triển của mình, trong đó có Việt Nam. Ðó cũng là lý do để khẳng định HRW chưa bao giờ quan tâm đến nhân quyền, tổ chức này chỉ quan tâm đến lợi ích của những người đang muốn chi phối thế giới này bằng các giá trị do họ sản xuất và áp đặt mà thôi.

Quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng hiện nay

Tham nhũng ở Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân nguồn cội, nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là quá trình tha hóa của những người thực hiện hành vi này bắt đầu từ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ góp phần giảm thiểu, ngăn ngừa tệ nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay. Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI, XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định tình trạng suy thoái là nghiêm trọng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân dẫn đến tham nhũng. Vì vậy, đấu tranh chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống được xem là giải pháp trọng yếu ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp sau: Một là, tăng cường công tác lý luận và giáo dục chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và quần chúng theo định hướng Đại hội XII của Đảng đặt ra. Hai là, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, tăng cường bảo vệ chính trị nội bộ. Ba là, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước cùng với thực hiện dân chủ XHCN. Bốn là, coi trọng công tác thanh tra, kiểm tra trong Đảng và Nhà nước, xử lý nghiêm minh, kịp thời những vi phạm. Năm là, kịp thời đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch. Sáu là, gắn chặt đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền gắn với đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống Bảy là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược

TIẾNG NÓI LẠC LÕNG CỦA HRW

Nhân quyền là quyền con người mà trước hết là quyền được sống, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được bảo vệ… Hơn ai hết, người dân Việt Nam là những người cảm nhận được những giá trị nhân quyền mà Đảng, Nhà nước mang lại. Trong hơn một năm qua, đại dịch Covid - 19 bất ngời tràn về làm đảo lộn cuộc sống của mọi người dân. Nhưng không như một số nước "tự do" khác, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc với tinh thần "không ai bị bỏ lại"; "chấp nhận hy sinh lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khoẻ, tính mạng của nhân dân"…. sự hết mình trong bảo vệ tính mạng, chăm sóc sức khoẻ người dân của các cấp chính quyền, của đội ngũ y, bác sỹ và sự đồng lòng của toàn xã hội trong cuộc chiến chống đại dịch không chỉ khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ mà còn thể hiện rõ bản chất nhân quyền tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Kết quả phòng chống dịch Covid - 19 của Việt Nam từ khi đại dịch bùng phát cho đến nay luôn được cộng đồng quốc tế đánh giá là một hình mẫu kiểm soát dịch bệnh có hiệu quả và để lại nhiều kinh nghiệm cho các quốc gia khác. Ngay trong tuần qua, các báo quốc tế lớn tiếp tục có cái nhìn rất toàn diện, cô đúc lại những kinh nghiệm quý giá nhất từ Việt Nam. Với tiêu đề "Việt Nam chỉ xếp thứ hai về công tác chống dịch", tờ Business Insider của Mỹ dành lời ngợi khen cho cuộc chiến chống dịch nhanh và mạnh mẽ của Việt Nam. Bài báo dẫn lời ông Kamal Malhotra, Trưởng Đại diện LHQ tại Việt Nam, theo đó, 3 yếu tố được coi là chìa khóa quyết định thành công của Việt Nam đó là truy vết, xét nghiệm và truyền thông đến từng người dân. Ông Malhotra cũng khẳng định rằng: Luôn có định kiến chống lại thành công của Việt Nam, nghi ngờ tính xác thực của những thông tin, dữ liệu được công bố nhưng thực tế là, tất cả các dữ liệu được ghi lại theo thời gian thực và không hề có ép buộc nào trong các biện pháp được thực hiện ở Việt Nam. Cũng đề cập tới cuộc chiến chống Covid - 19 tại Việt Nam, nhưng tờ L'humanite (Nhân đạo) của Pháp đi vào sự kết hợp giữa chống Covid - 19 và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Trong bài báo có tiêu đề "Diệt Virus là động lực của tăng trưởng", tờ này cho rằng, Việt Nam đang dựa chính vào thành tích chống dịch để thúc đẩy vị thế và sự phát triển công nghiệp. Trang tin của Credendo, một tập đoàn bảo hiểm - tín dụng lớn của châu Âu, đã đăng tải một nghiên cứu rất chi tiết. Niềm tin của các nhà đầu tư chính là sự khẳng định cho đường lối chống dịch đúng đắn và hiệu quả của Việt Nam. Thành quả chống dịch của Việt Nam được lan tỏa đến khắp nơi trên thế giới, đặc biệt có cả tiếng nói của đại diện của Liên Hợp Quốc. 

Tuy nhiên, đi ngược lại với những nhận định này, vừa qua, Tổ chức theo dõi nhân quyền, có trụ sở tại Hoa Kỳ, đã liên tiếp cáo buộc Việt Nam dù chống dịch thành công nhưng đã lợi dụng Covid - 19 để biện minh cho các hành động vi phạm nhân quyền. Thậm chí là xuyên tạc khi cho rằng "Việt Nam đang lợi dụng COVID-19 để vi phạm nhân quyền". Lố bịch hơn, bản Báo cáo của Tổ chức theo dõi nhân quyền mới đây cho rằng, việc Việt Nam triệu tập và xử phạt các cá nhân, tổ chức phát tán thông tin sai lệch liên quan đến đại dịch Covid - 10 đã vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, gia tăng vi phạm nhân quyền!?

Trong khi mọi nỗ lực của Việt Nam đang được tập trung để bảo đảm cuộc chiến chống Covid - 19 thành công, trong đó có việc triệt tiêu nạn tin giả thì đây thực sự là những đánh giá thô thiển, lố bịch, đi ngược lại các tiêu chí bảo đảm quyền con người. Việc áp dụng biện pháp nào đó để xóa bỏ những thông tin không chính xác thì chính phủ nào cũng phải áp dụng. Càng đông người tụ tập, virus càng phát tán nhanh, thế nhưng Tổ chức theo dõi nhân quyền vẫn ôm khư khư cái đòi hỏi phi lý về quyền được tụ tập. Họ cho rằng Việt Nam đã cản trở và vi phạm "quyền được hội họp ôn hòa của người dân". Thế mà mới tháng 2 vừa qua thôi, tại châu Âu, cảnh sát đã phải giải tán nhiều đám đông, bắt giữ hàng trăm người biểu tình phản đối các quy định cấm tụ tập và lệnh giới nghiêm, phong tỏa. Còn tại Hoa kỳ đầu năm 2021, số ca nhiễm mỗi ngày đã giảm xuống chỉ còn 1/5 chỉ sau 2 tuần khi người dân chấp hành tốt việc giãn cách và ở nhà nhiều hơn. Việt Nam với cách làm "chống dịch như chống giặc" đã khẳng định là cách làm đúng và được cả thế giới ghi nhận, đã giúp ngăn chặn hiệu quả nguồn lây dịch bệnh, với chỉ 35 người chết và gần 2.500 ca nhiễm tính đến nay. Ông Moribe Hiroyuki, Chủ tịch Viện nghiên cứu kinh tế Việt Nam tại Nhật Bản cho biết: "Ở những quốc gia tự do như Mỹ hay châu Âu đã không thể thực hiện các biện pháp mạnh, khiến số người nhiễm và tử vong rất cao. Tuy nhiên, ở Việt Nam, dịch bệnh đã được kiểm soát. Tôi nghĩ những biện pháp đang được triển khai hiện nay là phù hợp". "Các phương án giãn cách, cách ly chỉ thể hiện sự quyết đoán, quyết tâm của nhà nước để dập dịch, đảm bảo an ninh xã hội và sức khỏe người dân" - Anh Daniel Nguyễn Hoài Tiến, kiều bào Việt Nam tại Hoa Kỳ nói.

Tổ chức theo dõi nhân quyền còn vu cho Việt Nam "bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của Chính phủ" mà không biết rằng, quan điểm "Không ai bị bỏ lại phía sau" mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện ngay từ khi đại dịch Covid - 19 xuất hiện tại Việt Nam. Đầu năm 2020, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện hàng trăm các chuyến bay giải cứu cho hàng chục nghìn công dân từ vùng dịch về nước an toàn. Theo ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam: "Có 2 khảo sát ở cấp độ toàn cầu về mức độ hài long của người dân với Chính phủ. Việt Nam nằm trong nhóm đầu bảng vì người dân cho rằng Chính phủ đã chỉ đạo và đưa ra các giải pháp rất hiệu quả. Đây chính là câu trả lời rõ nhất vì sao Việt Nam đang rất thành công trong công tác dập dịch. Vì Chính phủ Việt Nam có được sự đồng thuận và niềm tin của người dân Việt Nam".

Thực tế cho thấy trong những đợt bùng phát Covid - 19 tại Việt Nam, quan điểm của Đảng và Nhà nước luôn nhất quán coi con người là yếu tố quan trọng nhất và thực hiện mọi biện pháp để bảo vệ sức khoẻ, tính mạng công dân của mình. Không chỉ trong đại dịch COVID-19 mà trước đó, khi Việt Nam lần đầu tiên tham gia hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng đã có những đóng góp tích cực, được quốc tế đánh giá cao. Năm 2013, Việt Nam đã lần đầu tiên trúng cử với số phiếu cao nhất trong số các nước thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Trong 3 năm tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực và đã để lại những dấu ấn rõ nét. Ngày 22/2 vừa qua, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025. Việc Việt Nam lần thứ hai tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã khẳng định cộng đồng quốc tế đánh giá cao và ghi nhận những nỗ lực của Việt Nam đã mang lại nhiều tiến bộ đáng kể trong thúc đẩy quyền con người cả về chính sách và thực tiễn. Bà Caitlin Wiesen - Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam khẳng định: "Những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phát triển con người gần đây là rất đáng tự hào. Điều ấn tượng là Việt Nam, một quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhưng lại đạt kết quả cao cho xếp hạng chỉ số phát triển con người trên thế giới".

Những nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy và đảm bảo thực thi quyền con người rõ ràng được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Các biện pháp phòng chỗng Covid - 19 của Đảng và Nhà nước đã nhận được sự tin tưởng, đồng lòng của người dân. Đây không chỉ là yếu tố quan trọng cho thành công trong cuộc chiến chống lại đại dich Covid - 19 mà còn là lời đáp trả đanh thép đập tan những luận điệu, tiếng nói lạc lõng, xuyên tạc sự thật của một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí trong đó có tổ chức nhân danh nhân quyền HRW để phục vụ mưu đồ chính trị chống phá Việt Nam và những quốc gia khác.

Tiếp tục nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các thủ đoạn lợi dụng đại dịch Covid-19 để chống phá Việt Nam

        Ngay từ khi dịch Covid-19 lan tới nước ta thì những thông tin xấu độc ăn theo dịch bệnh cũng xuất hiện tần suất ngày càng nhiều và tinh vi, với mục đích cuối cùng là gây mất ổn định kinh tế, chính trị, xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng chế độ mà các thế lực thù địch đã theo đuổi từ nhiều năm qua.

Những thủ đoạn lợi dụng dịch Covid-19 để chống phá ta thời gian qua rất đa dạng. Đó là, tung lên mạng xã hội những thông tin giả, xuyên tạc về quan điểm, chủ trương, chính sách, các giải pháp và kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam; bới móc đời tư của bệnh nhân Covid-19, suy diễn về lối sống, đạo đức, từ đó kích động người dân không chấp hành các biện pháp phòng dịch, thậm chí chống phá Đảng và Nhà nước vv...

Hiện nay tình hình dịch Covid - 19 đang diễn ra ở một số tỉnh, nhất là tỉnh Hải Dương, tuy nhiên theo báo cáo của các tỉnh cơ bản đã khống chế và dập được dịch. Do đó, việc các thế lực thù địch lợi dụng dịch bệnh để chống phá Việt Nam trong thời gian tới sẽ tiếp tục diễn ra với những chiêu trò cũ, mới đan xen, nhất là trong điều kiện các cấp các ngành đang tập trung quán triệt, nghiên cứu học tâp và tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các thủ đoạn của các thế lực thù địch, chúng ta cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:

Một là, thường xuyên tuyên truyền, giáo dục để mọi tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới do Đảng và Nhà nước đề ra.

Hai là, tuyên truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về công tác tiêm chủng vắc xin theo hướng dẫn của Bộ y tế và thực hiện tốt biện pháp 5k về phòng chống dịch.

Ba là, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách trong đấu tranh phản bác những thông tin sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Bốn là, kịp thời động viên khen thưởng, nhân rộng những tấm gương người tốt, việc tốt; những tấm lòng hảo tâm trong “cuộc chiến” chống dịch Covid-19.

Không nên chủ quan lơ là với dịch bệnh Covid-19 dù có Vaccine

    Trong công cuộc phòng chống dịch COVID-19, việc tiêm vaccine được xem là giải pháp căn cơ. Thực tế cho thấy, các nước bắt đầu triển khai tiêm vaccine ngừa COVID-19 đã có hiệu quả. Còn ở Việt Nam, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế đã tích cực đàm phán, mua vaccine từ nước ngoài, nhận tài trợ vaccine của các tổ chức quốc tế, chuẩn bị tổ chức tiêm chủng đại trà cho dân.

    Bên cạnh việc đặt mua vaccin từ nước ngòai, các nhà khoa học của Việt Nam cũng chạy đua với thời gian để cho ra đời loại vaccine “made in Vietnam”. Việc phát triển thành công vaccine trong nước không chỉ khẳng định năng lực, niềm tự hào của đội ngũ khoa học y tế, đáp ứng kỳ vọng, sự tin tưởng của người dân, mà còn giúp chủ động trong phòng, chống dịch, với kinh phí thấp hơn nhiều so với vaccine nhập khẩu.

    Phải thấy rằng, ngay từ giai đoạn đầu dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam đã chủ động đối phó với dịch bệnh với tâm thế chủ động, không chủ quan, với tinh thần quyết liệt “chống dịch như chống giặc”, người dân được yêu cầu đeo khẩu trang, thực hiện các biện pháp theo dõi lịch trình, khai báo y tế, cách ly tập trung, thực hiện giãn cách toàn xã hội...

    Nhưng thật đáng tiếc, trong những ngày vừa qua, khi ngành y tế, các địa phương đang nỗ lực kiểm soát dịch bệnh, thì đâu đó vẫn có biểu hiện lơ là chủ quan, không chấp hành các quy định về phòng chống dịch. Rõ ràng, việc coi thường kỷ cương, không chấp hành nghiêm các quy định về phòng chống dịch của một vài đơn vị, cơ sở kinh doanh, cá nhân nếu không được phát hiện, xử lý kịp thời, chắc chắn sẽ để lại hậu quả khó lường.

    Việt Nam đã được bạn bè quốc tế đánh giá là một trong những điểm sáng trong phòng chống dịch COVID-19. Nhưng những gì mà Việt Nam đã làm được trong thời gian vừa qua không phải là bảo đảm chắc chắn cho an toàn sắp tới. Ngay cả khi đã có vaccine phòng dịch, thì chiếc lá chắn an toàn nhất vẫn là ý thức phòng chống dịch bệnh của mỗi người dân và của toàn xã hội. Nếu chủ quan, lơ là, bỏ qua các biện pháp kiểm soát dịch bệnh, nhất là ở những giai đoạn nhạy cảm, thì chúng ta sẽ phải trả giá.

    Dịch bệnh đã và đang khiến cả thế giới phải thay đổi cách sống, cách làm việc. Tuy nhiên, nếu mỗi người, mỗi nhà cùng chung tay góp sức, chắc chắn dịch bệnh sẽ sớm được đẩy lùi. Chủ động, quyết liệt phòng, chống dịch, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, tiếp tục nâng cao ý thức, trách nhiệm thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch, chắc chắn chúng ta sẽ thành công trong thực hiện mục tiêu kép: Vừa chống dịch vừa phát triển kinh tế - xã hội và hoàn thành những mục tiêu đề ra.

Theo Báo tin tức

Bảo đảm cử tri cả nước được tham gia ứng cử, bầu cử một cách dân chủ, công bằng

 


Từ nay đến ngày bầu cử không còn nhiều thời gian, công việc còn lại rất lớn, do đó cần rất khẩn trương, thận trọng, tạo cơ sở chắc chắn để triển khai công tác lãnh đạo, chỉ đạo cuộc bầu cử trên phạm vi cả nước đạt được mục đích, yêu cầu, bảo đảm nhân dân, cử tri cả nước được tham gia ứng cử, bầu cử một cách dân chủ, công bằng theo đúng quy định của pháp luật.

Nhận diện và đấu tranh với các hoạt động chống phá bầu cử

 

 

          Hiện nay, công tác chuẩn bị cho bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND đang được các cơ quan chức năng tích cực tiến hành. Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá bầu cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị đang tiến hành nhiều hoạt động chống phá với tính chất hết sức quyết liệt. Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử: