Cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội của công cuộc đổi mới đang đặt ra nhiều vấn đề, thách thức gay gắt. Đó là, sự mất cân đối về cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu giai cấp, cơ cấu dân cư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu dân tộc, tôn giáo…; sự phân hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa giàu và nghèo trong phát triển; sự bất bình đẳng giữa các tầng lớp, các giới, các nhóm xã hội…; đặc biệt, sự phân hoá giàu nghèo, sự phân tầng xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Bên cạnh đó là sự xuất hiện những vấn đề mới như: dân số tăng, việc làm và di cư tự do; sự tăng nhanh của giai cấp công nhân và sự giảm sút nguồn lực lao động ở nông thôn; các tệ nạn xã hội; sự bất bình đẳng giới và nguy cơ khủng hoảng gia đình; sự thay đổi chuẩn mực đạo đức và lối sống ở lớp trẻ…
Đối với cơ cấu giai cấp: Giai
cấp công nhân, trí thức ngày càng tăng, trong khi nông dân ngày càng giảm về số
lượng và có sự phân hóa mạnh mẽ. Ngoài ra, cơ cấu giai cấp còn được bổ sung
thêm nhiều tầng lớp và nhóm xã hội mới: đó là đội ngũ các nhà doanh nghiệp,
những tiểu thương, tiểu chủ (kể cả các chủ trang trại lớn), những người lao
động làm thuê, những người Việt
Cơ cấu dân số: Đáng
chú ý là tỷ lệ trẻ em trong các nhóm tuổi (từ 0 đến 14 tuổi) giảm mạnh, trong
khi các nhóm tuổi từ 25 đến 49 và 65 trở lên đang tăng lên khá rõ ràng - điều
góp phần vào sự chuyển đổi từ tỷ số phụ thuộc sang “cơ cấu dân số vàng”. Cơ cấu
dân số theo giới tính thì dần cân bằng nhưng tình trạng mất cân bằng giới tính
ở trẻ sơ sinh tăng lên; tỷ lệ dân số đô thị thấp nhưng đang tăng lên, báo hiệu
tích tụ dân số vào đô thị ngày càng mạnh, v.v...
Cơ cấu nghề nghiệp:
Đang có sự chuyển dịch tích cực từ nông, lâm, ngư nghiệp sang công nghiệp và
dịch vụ, từ các ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao hơn; tỷ lệ
lao động thuộc kinh tế nhà nước giảm xuống, trong khi tỷ lệ lao động ngoài nhà
nước và khu vực đầu tư nước ngoài tăng lên; tỷ lệ lao động ở thành thị tăng
lên, trong khi lao động ở nông thôn giảm xuống, v.v...
Cơ cấu dân tộc: Thành
phần tộc người có xu hướng tăng lên (có thể vượt qua con số 54 dân tộc - do ý
thức tộc người tăng lên, do chính sách ưu đãi của Nhà nước...), sự phân bố về
địa lý giữa các dân tộc thay đổi mạnh (do di dân tự do từ Bắc và Nam, do phát
triển các khu công nghiệp...), đặc biệt là sự biến đổi cơ cấu dân số giữa các
tộc người (tỷ lệ sinh ở các dân tộc thiểu số miền núi cao hơn ở người Kinh và ở
đồng bằng).
Cơ cấu tôn giáo: Ngoài
các tôn giáo chính đang tồn tại, trong giai đoạn đổi mới còn xuất hiện thêm
nhiều tôn giáo mới (từ 50 - 60), trong đó có tôn giáo tách ra từ Phật giáo, có
tôn giáo là được phục sinh từ các lễ hội dân gian và cũng có tôn giáo mới được
du nhập từ bên ngoài vào. Đó là chưa kể trong nội bộ các tôn giáo cũng có sự
thay đổi không chỉ ở số lượng các tín đồ, mà còn ở phương diện tổ chức và nhiều
phương diện khác nữa.
- Những vấn đề đặt ra do biến đổi cơ cấu xã hội:
Thứ nhất,làm gia tăng sự bất bình đẳng giữa nông thôn và đô thị,
giữa miền xuôi và miền núi, giữa người có thu nhập cao và người thu nhập thấp,
giữa lao động trí óc và lao động chân tay.
Thứ hai,làm gia tăng mâu thuẫn và xung đột (đó là mâu thuẫn giữa
chủ và thợ, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ, giữa chủ đầu tư và những người nông
dân mất đất, là xung đột giữa một số tổ chức tôn giáo và chính quyền địa
phương, giữa các bộ phận tộc người di dân tự do và cư dân địa phương.), tạo ra
những nguy cơ tiềm ẩn đối với sự ổn định và phát triển của xã hội
Thứ ba,trong cơ cấu xã hội mới xuất hiện các nhóm yếu thế và dễ bị
tổn thương,
Thứ tư, sự quá tải ở các khu công nghiệp và các thành phố lớn, sự
mất dần bản sắc ở không ít tộc người thiểu số, sự lai căng, mất gốc ở một số
nhóm người, nhất là ở thế hệ trẻ, v.v...
- Cần đánh giá thực trạng, phân tích những tác động, đưa ra
dự báo và đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy sự biến đổi cơ cấu xã hội Việt
Nam theo xu hướng tích cực, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối và
chiến lược phát triển đất nước nhanh, bền vững trong những năm tới
Định hướng, kiểm soát các biến đổi xã
hội
Sự phát triển xã
hội dẫn đến biến đổi xã hội: Phân tầng xã hội, cơ động xã hội, di biến dân số,
di chuyển dân cư, dịch chuyển lao động…
-
Phân tầng xã hội là sự phân chia xã hội thành các tầng lớp với địa vị kinh tế,
chính trị khác nhau xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà trước hết là do bất bình
đẳng xã hội. Ở nước ta hiện nay, tầng
lớp trung lưu lớp dưới tăng nhanh, chiếm tỷ lệ lớn, dễ bị tái nghèo nếu
gặp rủi ro xã hội, thiếu sinh kế bền vững; còn nhóm trung lưu giữa và trung lưu
trên vẫn chưa chiếm số đông.
Định hướng, kiểm soát là để các tầng lớp
trung lưu tăng lên nhưng phải bền vững, hạn chế các rủi ro.
-
Cơ động xã hội ở nước ta đang diễn ra mạnh mẽ theo cả chiều dọc và chiều ngang.
Cơ động xã hội theo chiều dọc là
chuyển đổi mức sống, vị thế, vai trò nhưng vẫn giữ đặc tính giai tầng của nó (nông
dân trở thành chủ trang trại; công nhân cổ xanh trở thành công nhân cổ trắng; doanh
nhân có quy mô vốn nhỏ vươn lên thành doanh nhân có quy mô vốn lớn).
Cơ động xã hội theo chiều ngang là
chuyển đổi mức sống, vị thế, vai trò gắn với thay đổi đặc tính giai tầng (nông
dân cơ động thành công nhân hay trí thức, công nhân cơ động thành trí thức, trí
thức cơ động thành doanh nhân).
Cơ
động xã hội diễn dẫn đến vị thế, vai trò, chức năng của từng giai cấp, nhóm xã
hội thay đổi. Do đó, cần nắm bắt được chuyển biến về mức sống, lối sống, tâm
lý, hành vi tiêu dùng và xu hướng chính trị của từng nhóm xã hội. Từ đó, định hướng, kiểm soát bảo đảm cho cơ động xã hội phù hợp với yêu cầu
phát triển của nền kinh tế bằng các chính sách phù hợp để phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực trong quản trị biến đổi xã hội.
Ví dụ: Hành vi
tiêu dùng của nhóm xã hội khi đã trung lưu hóa hoàn toàn khác với hành vi tiêu
dùng của bản thân họ khi còn ở mức nghèo, với xu hướng được thỏa mãn các hàng
hóa, dịch vụ cao cấp hơn so với hàng hóa, dịch vụ cơ bản, thiết yếu khi thu
nhập thấp. Theo đó, điều chỉnh hành vi tiêu dùng của từng nhóm xã hội không chỉ
có ý nghĩa về phương diện kinh tế, mà còn xây dựng văn hóa tiêu dùng trong một
xã hội văn minh, tránh rơi vào căn bệnh của xã hội tiêu dùng hoặc tiết chế nhu
cầu một cách không cần thiết cản trở kích cầu nội địa phục vụ cho tăng trưởng
kinh tế. Trung lưu hóa, kéo theo nó là những thay đổi của lối sống văn hóa, nhu
cầu và khuynh hướng chính trị,... mà bất cứ thể chế nhà nước nào cũng cần nhận
thức đầy đủ để định hướng phát triển đúng đắn. Khi đã được thỏa mãn các nhu cầu
cơ bản, thiết yếu, tầng lớp trung lưu thường vươn tới các nhu cầu cao hơn, như
nhu cầu khẳng định mình trong xã hội, nhu cầu thụ hưởng các giá trị văn hóa -
tinh thần theo năng lực tài chính tự chi trả, nhu cầu tự do cá nhân... mà quản
trị biến đổi xã hội phải nắm bắt và xử lý thỏa đáng. Đó là chưa kể khi tầng lớp
trung lưu đã chiếm số đông trong xã hội, lá phiếu của họ sẽ quyết định đến các
cuộc bầu cử, mà bất cứ ứng viên nào nếu muốn trở thành đại biểu dân cử trong
các kỳ bầu cử Quốc hội hoặc hội đồng nhân dân các cấp đều phải tính đến nhu cầu
và lợi ích của họ.
Thực
hiện các bảo đảm xã hội (an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, hòa nhập và
tái hòa nhập xã hội)phù hợp với
biến đổi xã hội và điều kiện phát triển mới của đất nước
Đại hội XII
đã đặt ra yêu cầu: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội
phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mở rộng đối
tượng và nâng cao hiệu quả của hệ thống an sinh xã hội đến mọi
người dân; tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu
thế, dễ tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống”(8).
Đại hội XIII của
Đảng chỉ rõ: “Quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, nghiêm minh, bảo đảm an
sinh xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng
môi trươngdf văn hóa, đạo đức xã hội lãnh mạnh, văn minh; trú trọng nâng cao
chất lượng dịch vụ y tế, chất lượng dân số, gắn dân só với phát triển, quan tâm
đến mọi người dân; bảo đảm chính sách lao động, việc làm, thu nhập, thực hiện
tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội. Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân”.(9)
Chính sách an
sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia hướng vào
bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trong trường hợp rủi ro
bị suy giảm hoặc mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất.
Hệ thống an sinh
xã hội tập trung vào 4 nội dung chính sau đây:
1- Tạo cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập
tối thiểu và giảm
nghèo bền vững cho người lao động thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ
gia đình phát triển sản xuất (đào tạo nghề, tín dụng, việc làm có thu nhập, kết
nối thị trường), được thực hiện bằng kết hợp ngân sách của Nhà nước, doanh
nghiệp, xã hội và gia đình.
2- Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm thất nghiệp cho người lao động để chủ động đối phó với tình
huống mất hoặc suy giảm thu nhập do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi
già, được thực hiện bằng nguyên tắc đóng - hưởng, đặc biệt chú ý khu vực lao
động phi chính thức và lao động nông thôn. Thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo nguyên tắc chia sẻ
giữa các thành viên trong xã hội, kết hợp với hỗ trợ của Nhà nước cho đối tượng
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
3- Hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn
cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro
không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động
đất, chiến tranh, đói nghèo...) thông qua các khoản tiền mặt hoặc hiện vật do
ngân sách nhà nước bảo đảm. Đại hội XII chủ trương “Chuyển từ hỗ trợ nhân đạo
sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân”(10).
4- Tăng cường cơ hội tiếp cận của người dân đối
với các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, như giáo dục cơ bản, y tế, nước sạch,
nhà ở, thông tin.
Phấn đấu dịch chuyển từ mô hình quyền an sinh xã hội cơ bản,
nguồn lực hạn chế, phạm vi bao phủ hạn chế, cơ cấu mất cân đối sang mô
hình quyền an sinh xã hội toàn diện, nguồn lực tăng dần phù hợp với
điều kiện đất nước, mở rộng phạm vi bao phủ, cơ cấu hài hòa, toàn
diện4- Tăng cường cơ hội
tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết
yếu, như giáo dục cơ bản, y tế, nước sạch, nhà ở, thông tin.
Phấn đấu dịch
chuyển từ mô hình quyền an
sinh xã hội cơ bản, nguồn lực hạn chế, phạm vi bao phủ hạn chế, cơ cấu
mất cân đối sang mô hình quyền an sinh xã hội toàn diện, nguồn lực tăng
dần phù hợp với điều kiện đất nước, mở rộng phạm vi bao phủ, cơ
cấu hài hòa, toàn diện
Thực thi chính sách xã hội phù hợp với
từng đối tượng, lĩnh vực, địa bàn... nhằm bảo đảm hài hòa xã hội, quan
hệ xã hội giảm thiểu bất công xã hội (ưu đãi xã hội cho người có công, chính
sách với dân tộc thiểu số, chính sách với người có hoàn cảnh khó khăn, chính
sách với người yếu thế, lao động khu vực phi chính thức...).
Đại hội XII
của Đảng chỉ rõ: “Xây dựng, thực hiện các chính sách phù hợp với
các giai tầng xã hội; có các giải pháp quản lý hiệu quả để giải
quyết hài hòa các quan hệ xã hội, ngăn chặn, giải quyết có hiệu
quả những vấn đề xã hội bức xúc, những mâu thuẫn có thể dẫn đến
xung đột xã hội”(4).
Xử lý các vấn đề xã hội nảy sinh (bất bình đẳng xã hội, mâu thuẫn, xung đột
xã hội), ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm xã hội, tệ nạn xã hội, ứng
phó với các mối đe dọa an ninh con người.
Đây là yêu cầu
xuất phát từ thực tế của thời đại xuất hiện không ít mâu thuẫn, nếu xử lý không
tốt sẽ biến thành “điểm nóng”, thậm chí gây nên xung đột xã hội.
Nắm bắt và xử lý một cách cơ bản các yếu tố
có khả năng gây bất ổn xã hội phát sinh từ phân tầng xã hội.
Xử lý hài hòa quan hệ lao động, quan hệ chủ
- thợ trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế
Hình thành kịch bản ứng phó và thích nghi
với biến đổi khí hậu, trong đó đụng chạm đến nhiều tầng nấc về phương diện quản
lý và phát triển xã hội.
Xử lý có hiệu quả với các vấn đề xã hội phát
sinh từ khủng hoảng, rủi ro xã hội (chiến tranh, xung đột; khủng hoảng kinh tế
- tài chính; thảm họa môi trường).
Nhận diện, ngăn ngừa, đấu tranh có hiệu quả
với các biểu hiện lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo,... để xúi giục, kích động,
tập hợp “đám đông”, tạo thành “điểm nóng” xung đột xã hội, thậm chí cả bạo loạn
chính trị
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét