Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

Một số thành tựu trong quản lý phát triển xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

 


 Nhận thức ngày càng cụ thể và đầy đủ hơn về quản lý phát triển xã hội

Lần đầu tiên khái niệm “chính sách xã hội” được nêu trong Văn kiện Đại hội VI,đánh dấu sự đổi mới nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, cốt lõi của đổi mới là đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy việc phát triển nhân tố con người làm thước đo hiệu quả của mọi hoạt động kinh tế, xã hội.

 Nội hàm của chính sách xã hội được xác định rõ: “Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hoá, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc... Cần thể hiện đầy đủ trong thực tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”(1).

Đại hội VII (1991) tiếp tục nhấn mạnh mục tiêu của chính sách xã hội trong mối quan hệ với chính sách kinh tế: “Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt chính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (ĐH VII) xác định rõ vị trí, phương hướng của chính sách xã hội:Chính sách xã hộiđúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.Phương hướng lớn của chính sách xã hội là: phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”[1].

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (1994) và Đại hội VIII tiếp tục nhìn nhận chính sách xã hội một cách rõ ràng hơn: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”.

Đại hội X xác định, phát triển xã hội phải được đặt trong mối quan hệ không tách rời với phát triển kinh tế. Cụ thể là: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo”[2]và “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển[3]

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI xác định rõvai trò, mục tiêu và nội dung của chính sách xã hội:

-> Vai trò: Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu và nội dung: Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân. Kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách.Phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.

Đại hội XII, lần đầu tiên khái niệm “quản lý phát triển xã hội” được đưa vào văn kiện; chỉ rõ vị trí, ý nghĩa, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp quản lý phát triển xã hội.

 Phát huy vai trò của Nhà nước - chủ thể quản lý phát triển xã hội, đồng thời huy động nhân dân và các tổ chức chính trị, xã hội tham gia vào quá trình quản lý phát triển xã hội

Với tư cách là chủ thể chính trị, Nhà nước xây dựng chiến lược phát triển, thông qua hệ thống thể chế, chính sách, cơ chế tạo động lực cho phát triển xã hội tạo ra sự hài hòa trong phát triển giữa cá nhân và cộng đồng.

Nhân dân và các tổ chức xã hội có vai trò hết sức quan trọng trong việc tham gia vào quá trình quản lý phát triển xã hội và đánh giá chính sách phát triển xã hội.

 Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế khá cao và ổn định đã tạo ra điều kiện vật chất để Đảng và Nhà nước ta quan tâm đầu tư và đẩy mạnh việc quản lý phát triển xã hội ngày càng có hiệu quả hơn.

Công tác xóa đói giảm nghèo đạt kết quả cao. Trong gần 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán về chính sách giảm nghèo bền vững đi đôi với khuyến khích làm giàu hợp pháp; đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng chính sách giảm nghèo đa chiều và khắc phục nguy cơ tái nghèo. Đã tiến hành điều chỉnh chuẩn nghèo theo từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992 xuống khoảng 9,5% năm 2010, 3% năm 2020. Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Tổng cục Thống kê, tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn 7,8% vào năm 2013, 5,8-6% năm 2014 và phấn đấu đến hết năm 2015 hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%[4]. Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên Hợp quốc đã đề ra.

Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển mới về quy mô, đa dạng hóa về loại hình trường lớp từ mầm non, tiểu học đến cao đẳng, đại học. Theo thống kê năm 2019: Giáo dục phổ thông đã có sự cải thiện rõ rệt về việc tăng tỷ lệ đi học chung và đi học đúng lứa tuổi. Trong đó bậc trung học phổ thông có sự cải thiện rõ ràng nhất. Tỷ lệ đi học chúng của cấp tiểu học là 101%; cấp trung học cơ sở là 92,8% và trung học phổ thông là 72,3%. Tỷ lệ đi học đúng tuổi các cấp: Tiểu học 98%, trung học cơ sở 92,8%; trung học phổ thông là 68,3%.Tỷ lệ học vấn cao gia tăng: Hiện nay có hơn 1/3 dân số từ 15 tuổi trở lên đạt trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (36,5%), tăng gần 2 lần so với năm 2009. Toàn quốc có 80,8% dân số từ 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Tỷ lệ dân số có CMKT tăng 5,9 điểm% so với năm 2009

Các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã có những tiến bộ vượt bậc. Tính đến năm 2018, có thẻ bảo hiểm y tế cho toàn bộ người nghèo, vùng khó khăn, người DTTS, sinh viên sống ở vùng DTTS. Từ năm 2013, hầu hết tuyến xã đã có trạm y tế, 95,9% số thôn, bản có nhân viên y tế; 74,9% các trạm y tế xã có bác sỹ, khoảng 96% trạm y tế xã có y sỹ, nữ hộ sinh... Nhờ đó, việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc, chữa trị bệnh của người dân đã được cải thiện.

Bảo đảm an sinh xã hội ngày càng tốt hơn

Về dân số, lao động và việc làm.

Các chính sách về lao động và việc làm đã ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bộ luật Lao động được sửa đổi nhiều lần qua các năm 2002, 2006, 2007 và 2012, đã tạo hành lang pháp lý cho việc hoàn thiện các tiêu chuẩn lao động, thiết lập quan hệ lao động giữa các chủ thể, điều chỉnh các quan hệ xã hội có liên quan đến quan hệ lao động. Cụ thể:

Công tác dân số, chuyển chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình sang chương trình dân số và phát triển, phấn đấu đạt chỉ tiêu về dân số trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng; xây dựng các quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị. Đưa công tác dân số, gia đình và trẻ em ở các cấp đi vào nền nếp, vào từng gia đình, có chiều sâu và mang tính bền vững.

Về chuyển dịch cơ cấu lao động, tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng lao động xã hội (Phấn đấu tỷ lệ lao động trong công nghiệp dịch vụ sớm đạt ngưỡng 70% như mục tiêu đã đặt ra trong NQ23/NQ-TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Đồng thời, ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

Về bảo hiểm xã hội, ở nước ta hình thành ba bộ phận chính là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bồi thường tai nạn lao động. Cơ chế, chính sách đối với những đối tượng được hưởng các loại bảo hiểm này ngày càng được hoàn thiện và mở rộng, dưới nhiều hình thức đa dạng. Do đó, tạo điều kiện thuận lợi, công bằng hơn cho người dân trong việc tiếp cận các loại hình bảo hiểm, bồi thường.“Đến năm 2014, cả nước có hơn 11 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, 190 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, hơn 9 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp và hơn 61 triệu người tham gia bảo hiểm y tế(18).

Về ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội

Chính sách ưu đãi người có công (thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng…) được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. “Cả nước hiện có khoảng 8,8 triệu người có công, chiếm khoảng 10% dân số, có khoảng 1,4 triệu người được hưởng trợ cấp thường xuyên. Bảo đảm mức sống của người có công bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn cư trú[5].

Trợ giúp xã hội là bộ phận thiết yếu trong hệ thống an sinh xã hội hướng vào nhóm cư dân thiệt thòi, yếu thế, dễ bị tổn thương (đối tượng hưởng chính sách xã hội; người khuyết tật; người già, người không nơi nương tựa; trẻ em). Chúng ta đã có nhiều văn bản pháp luật về chế độ trợ cấp đối với đối tượng chính sách xã hội; luật người khuyết tật; luật người cao tuổi; luật bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em…

Bảo đảm môi trường cho phát triển xã hội. Những kết quả trong quản lý phát triển xã hội đã tạo ra môi trường thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế, ổn định chính chính trị - xã hội, tăng cường củng cố an ninh - quốc phòng



[1]Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991)

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.178-179

[3]Sđd, tr101

[4] Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm  đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015 (12,13,14, 17,18, 19) 

[5]Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm  đổi mới (1986-2016), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2015

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét