Chủ Nhật, 7 tháng 3, 2021

Tự do mạng xã hội: Tỉnh táo trong tiếp nhận thông tin

Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, tự do internet nói chung và MXH nói riêng. Điều này đã được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013, được cụ thể hóa trong nhiều luật, nghị định cùng nhiều văn bản pháp luật khác và được biểu hiện sinh động trên thực tế. Mặt khác, cũng cần thấy rằng nhận thức, quan điểm về internet, MXH và tham gia MXH của một số người chưa đúng, chưa đầy đủ. Không ít người dùng nghĩ rằng tự do internet, tự do MXH là vô hạn, không thấy rõ sự gắn bó giữa quyền lợi với nghĩa vụ và trách nhiệm của mình khi tham gia MXH. Do cách nhìn thiên về mặt trái của MXH nên vẫn có người nhìn nhận MXH với thái độ thành kiến. Đi kèm với tốc độ phát triển mạnh mẽ của internet, MXH, Việt Nam cũng là quốc gia có nguy cơ xảy ra các hành vi phạm pháp từ MXH. Đặc biệt, tình trạng tin giả, lừa đảo, xuyên tạc, bịa đặt qua MXH là một trong những vấn đề nhức nhối nổi lên thời gian qua. Nguyên nhân của tình trạng này do đâu? Phân tích chúng ta thấy dư luận phản ứng rất mạnh mẽ trước những vấn đề thuộc giá trị đạo đức truyền thống hoặc các vấn đề nóng, vấn đề có tính thời sự cao trong đời sống xã hội. Lợi dụng yếu tố tâm lý này, nhiều người đã tạo ra các tin giả, tin lừa đảo, tin bóp méo, xuyên tạc sự thật với động cơ và mục đích cá nhân. Vì mục đích kinh tế mà một bộ phận bán hàng online cố tình tạo ra tin giả và lan truyền tin giả nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng vào trang MXH của mình. Sự bùng phát của tin giả, tin xuyên tạc cũng một phần do chính những người tiếp cận thông tin, những người tham gia MXH. Do nhận thức hạn chế, thiếu kiến thức và kinh nghiệm cần thiết nên không ít người không biết thông tin mình tiếp cận là đúng hay sai, có cơ sở khoa học hay không, tác động, ảnh hưởng đến người khác, đến xã hội như thế nào nên đã đăng tải, chia sẻ, bình luận một cách tùy tiện, vô trách nhiệm... Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch, phản động tạo ra rất nhiều thông tin giả, thông tin xấu độc nhằm tuyên truyền xuyên tạc, kích động, làm nhiễu loạn thông tin, gây hoang mang trong dư luận, tạo sự bất ổn về an ninh trật tự để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Một số đối tượng mang danh “thực hiện quyền tự do ngôn luận” thông qua MXH để “bày tỏ quan điểm cá nhân” nhưng thực chất là tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và đã bị xử lý trước pháp luật. Sau mỗi trường hợp bị xử lý, các thế lực thù địch, phản động lại lu loa rằng “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận”, “vi phạm tự do internet”... Cần khẳng định rõ rằng giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là bao che, dung túng, tiếp tay cho những hành vi vi phạm pháp luật và sâu xa là chống phá Việt Nam. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do MXH là nhiệm vụ của mọi quốc gia trên thế giới. Nhưng cũng như các quyền cơ bản khác, quyền tự do MXH chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào mục đích đúng đắn và phục vụ lợi ích chung của cộng đồng. Mọi hành vi lợi dụng quyền này để vi phạm pháp luật thì không chỉ có Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phải xử lý nghiêm minh.

Lật tẩy những chiêu trò chống phá Đảng của các thế lực thù địch

Hiện nay, các thế lực phản động, thù địch chống phá Đảng ngày càng có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn rất tinh vi, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ đơn thuần là vấn đề lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, các hoạt động chống phá luôn được các thế lực thù địch chủ động tiến hành trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ, dưới nhiều hình thức. Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các thế lực thù địch lập ra các hội nhóm online, tổ chức livestream, hội thảo trực tuyến, đăng tải các bài viết... với nội dung xoay quanh chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và cố tình vẽ ra các bất cập nảy sinh. Thời điểm tiến hành của chúng luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, các thời điểm chuẩn bị và tổ chức tiến hành đại hội đảng, bầu cử, ban hành luật, nghị định... Cách làm phổ biến của chúng là: Khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (cả với chủ trương ở cấp cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình, phản đối; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và thông qua một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền. Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên, liên tục, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Thực hiện phương châm “nói nhiều sẽ tin”, các trang mạng, blog cá nhân, các kênh YouTube... liên tục tiến hành các hoạt động chống phá bằng các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm. Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Khi các thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay. Thứ ba, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. Hiện nay, với sự phát triển mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với các phương thức, chiêu trò, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cả trong lịch sử và hiện tại. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng. Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả. Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm thù địch”. Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của Đảng (do Đảng chưa tính tới, chưa kịp thời cập nhật...) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có lợi cho đất nước và nhân dân, thì cần nghiên cứu tiếp thu. Còn nếu “quan điểm khác” nhưng ngược với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần phải kiên quyết lên án và đấu tranh bác bỏ.

Tự do tôn giáo ở Việt Nam: Sự thật không thể xuyên tạc

Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, quyền tự do tôn giáo đều phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, chứ không thể có sự tự do vô chính phủ, tự do vô nguyên tắc. Và dĩ nhiên, ở Việt Nam cũng vậy! Nói về điều này, trước hết phải nhắc lại Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, trong đó nêu rõ, quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình phải chịu các giới hạn, chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác. Nói cách khác, quyền tự do tôn giáo hay bất cứ một quyền nào khác trên phương diện pháp lý đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Cần phải thấy rằng, quyền tự do tôn giáo là vấn đề gắn với thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội ở từng quốc gia cụ thể, không thể tồn tại một khái niệm quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng. Cũng không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng, đo lường hoặc đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Trên phương diện đối ngoại giữa các quốc gia, không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc các quốc gia khác phải tuân theo. Trở lại với âm mưu, luận điệu vu cáo rằng Việt Nam có các hoạt động đàn áp tôn giáo, một lần nữa cần nhìn vào thực tế để thấy mặt thật của vấn đề. Chẳng hạn, lâu nay tại Việt Nam đã xuất hiện không ít hoạt động tôn giáo trái pháp luật của một số tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp phép, điển hình là các tổ chức tà giáo mang danh nghĩa Tin lành truyền vào Việt Nam như Hội thánh của Đức Chúa Trời mẹ, Tân Thiên Địa... Hoạt động của đa phần các tổ chức này đều trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, nhuốm màu mê tín dị đoan, hoạt động lén lút, có dấu hiệu trục lợi và nhìn chung là vi phạm pháp luật, bị dư luận lên án. Tuy nhiên, đối với các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật của các tổ chức tà giáo như vậy, lực lượng chức năng Việt Nam chủ yếu nhắc nhở, chấn chỉnh và xử lý dựa trên quy định pháp luật. Như vậy, một lần nữa chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là đàn áp tôn giáo. Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò mà các thế lực thù địch lợi dụng, sử dụng để nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều đáng mừng là trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế, chúng ta đã có thêm nhiều kênh quan trọng để đưa ra tiếng nói và khẳng định thực tế tình hình tự do tôn giáo ở đất nước mình. Thông qua các cơ chế và diễn đàn song phương, đa phương, khu vực và quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc, có một sự thật rõ ràng đang được thừa nhận, đó là Việt Nam đang tích cực cùng các quốc gia khác trên thế giới đấu tranh bảo vệ, phát huy các nguyên tắc, nội dung tiến bộ về tự do tôn giáo, và vẫn sẽ kiên trì bảo vệ lẽ phải trong lĩnh vực này.

Trọn niềm tin yêu và tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam!

 Trong suốt 91 năm qua (1930-2021), sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.



Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử và thời đại, làm thay đổi cuộc đời mỗi con người và vận mệnh cả một dân tộc./.

Mai Năm Mới (ST)

Khát vọng phải gắn liền với con đường đúng

Những định hướng nêu trên có những điều tưởng như quen thuộc, tưởng như đã cũ nhưng chính là “cẩm nang” của chúng ta, là bài học đúc kết đằng đẵng qua biết bao biến cố của thời cuộc trên thế giới, là “chặng đường vinh quang và khổ ải”, là những trả giá thậm chí cả bằng máu và nước mắt để có được sự ổn định và phát triển. Trong những từ khóa của Đại hội XIII, một nét rất mới nổi lên lần này nằm ở hai chữ “khát vọng”. Khát vọng, theo từ điển tiếng Việt là sự mong muốn những điều lớn lao, tốt đẹp với một sức thôi thúc mạnh mẽ. Đây có lẽ cũng là lần đầu tiên trong một văn kiện của Đảng ta, từ khát vọng được đề cập nhiều đến như vậy, ngay từ một đoạn trong tiêu đề đại hội: “... phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước...” Trên thế giới này, có dân tộc nào, đất nước nào không có khát vọng, mong muốn được phát triển, được ấm no, tự do và hạnh phúc? Nhưng chỉ có khát vọng thôi thì chưa đủ. Đi kèm với đó phải có tầm nhìn, bước đi đúng đắn, đừng để sai một ly, đi một dặm. Jonathan Swift, một nhà văn trào phúng nổi tiếng thế giới từng cho rằng: “Tầm nhìn là nghệ thuật nhìn thấy được những gì mà người khác không nhìn thấy”. Tầm nhìn, bước đi mà Đảng ta xác định cho đất nước cùng với khát vọng mạnh mẽ nhưng không thể phiêu lưu, mạo hiểm; không thể thiếu tính cách mạng, biện chứng để dễ dãi đi theo những khuyến nghị đa nguyên, đa đảng, từ bỏ CNXH, đi theo mô hình dân chủ phương Tây... Bài học nhãn tiền từ không ít đất nước, dân tộc trong trào lưu "Mùa xuân Ả rập" cách đây tròn 10 năm đã cho thấy chỉ với khát vọng phát triển nhưng thiếu tỉnh táo, thiếu sự lãnh đạo sáng suốt của những chính đảng và thiếu con đường cách mạng đúng đắn, cái gọi là phong trào cách mạng "Mùa xuân Ả rập" đã biến thành mùa đông của đau thương, chiến tranh và ly tán. Điều rút ra từ những sự kiện trên là hơn lúc nào hết, trong những sự kiện quan trọng như các kỳ đại hội đảng, các hội nghị Trung ương, ở vào những thời điểm lịch sử quan trọng hay trong bất cứ nhiệm vụ quan trọng nào, không cho phép Đảng được sai lầm về đường lối lãnh đạo. Kể từ sau Đại hội VI của Đảng, nhất là từ Đại hội XI đến nay, đây đó xuất hiện nhiều lời kêu gọi cho rằng, Đảng ta phải “cải tổ” và nếu coi Đại hội VI là đổi mới lần 1 thì chúng ta phải đổi mới lần 2, lần 3 mạnh mẽ hơn, thậm chí phải đổi mới bằng một con đường khác. Thực tế, theo đánh giá các chuyên gia kinh tế, đất nước ta trải qua 3 thời kỳ phát triển chiến lược. Lần thứ nhất là giai đoạn 1991-2000, Đảng lãnh đạo đất nước vượt ra khỏi khủng hoảng, tăng trưởng kinh tế bình quân 7,56%/năm. Lần thứ hai, Đảng lãnh đạo đưa đất nước ra khỏi nước có thu nhập trung bình thấp. Lần thứ ba, Đảng lãnh đạo tạo tiền đề xây dựng đất nước thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hiện nay chúng ta đang thực hiện. Trong giai đoạn 2021-2030 tới, trên cơ sở thành công của 3 giai đoạn chiến lược, bây giờ là lúc chúng ta hướng tới một khát vọng phát triển nhanh và bền vững hơn. Xét riêng ở khía cạnh kinh tế, chúng ta đã đi qua thời kỳ phát triển theo chiều rộng, rồi cả chiều rộng và chiều sâu, để bây giờ phát triển theo hướng tập trung vào chiều sâu, phát triển nhanh và bền vững dựa vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 3 đột phá chiến lược, gồm: Thể chế, kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực được xác định từ Đại hội XII sẽ tiếp tục được thực hiện với nội hàm mới, sâu sắc hơn. Thực tiễn đó cho thấy, những kiến nghị, khuyến nghị đổi mới, phát triển hơn nữa luôn được Đảng ta trân trọng và thực tiễn suốt hơn 35 năm qua cũng là hành trình 35 năm liên tục đổi mới. Nhưng “nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lý luận về đường lối đổi mới, về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”. Cho nên, đổi mới không có nghĩa là đổi màu, là thay đổi thể chế chính trị, mới có thể tạo ra sự phát triển.

Đừng mãi dựa hơi những kẻ mang danh “tù nhân lương tâm”

Gần đây, một số người thiếu thiện chí với Việt Nam lại đưa ra luận điệu cho rằng, vì sợ sứt mẻ lợi ích kinh tế, vì sự thành bại của các hiệp định thương mại mà Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) và một số quốc gia khác đang phớt lờ các vụ việc vi phạm nhân quyền đối với các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam. Trong khi đó, ai cũng thừa biết rằng, thông qua các cuộc đối thoại nhân quyền thường niên, Việt Nam đã cùng Mỹ hay EU trao đổi thẳng thắn, cởi mở và xây dựng về tình hình thực tế cũng như các thách thức của mỗi bên trong việc thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này cũng đã được cộng đồng quốc tế và các đối tác ghi nhận. Bằng cách rêu rao rằng, các “tù nhân lương tâm” tại Việt Nam hiện như “cá nằm trên thớt”, thời gian qua, các cá nhân, tổ chức có quan điểm thù địch với Việt Nam liên tục kêu gọi phải thả các tù nhân này ngay lập tức. Liệu đó có phải là đòi hỏi chính đáng? Năm qua, không ít lần trên mạng xã hội xuất hiện những thông tin đại loại như: Các tù nhân lương tâm trong các trại giam ở Việt Nam thường xuyên bị ngược đãi, đe dọa, thậm chí bị đánh đập, thiếu đồ ăn thức uống... Dường như chưa đủ để bẻ lái dư luận, các thế lực thù địch giở thêm “bài cùn” bằng lập luận rằng đại dịch Covid-19 đang gây nhiều tác động mạnh tới sức khỏe cộng đồng, trong đó có cả tác động và nguy cơ lây lan tới các nhà tù, trại giam, trại tạm giam ở Việt Nam và do đó, "chính quyền Việt Nam phải đặc xá, thả tất cả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm". Họ cố tình quên rằng, đặc xá là chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và thể hiện truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam đối với những người phạm tội, khuyến khích họ hối cải, rèn luyện và lao động để hoàn lương. Nếu như các bản án là minh chứng cho tội danh của các phạm nhân, thì việc đặc xá, tha tù trước thời hạn là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy trại giam của phạm nhân. Mỗi đợt đặc xá là dịp để các phạm nhân nhìn nhận, suy xét lại những lỗi lầm đã phạm phải, tự mỗi người đánh giá kết quả cải tạo của mình, kiên quyết dứt bỏ quá khứ và sẵn sàng phấn đấu để tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội. Sau khi Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Đặc xá năm 2007, những năm qua, Chủ tịch nước đã quyết định nhiều đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho nhiều người bị kết án phạt tù có thời hạn. Thường thì các đợt đặc xá diễn ra nhân các sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Hiệu quả của công tác đặc xá cũng được chứng minh bằng tỉ lệ tái phạm thấp, đại đa số phạm nhân được đặc xá sau khi ra tù đều nhận thấy và đi theo con đường hướng thiện, thậm chí nhiều người còn trở thành những tấm gương người tốt, việc tốt. Qua đó càng chứng minh rằng, đặc xá là chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước ta và trên thực tế đã được cộng đồng trong nước, dư luận quốc tế và những người quan tâm đến tình hình nhân quyền ở Việt Nam thừa nhận, đồng tình. Tuy nhiên, đặc xá thể hiện tính nhân văn, nhân đạo, song không phải với mọi đối tượng. Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại, các phạm nhân chỉ có thể được đặc xá, trả tự do sớm nếu họ thừa nhận những sai phạm của mình và chứng minh quyết tâm hướng thiện bằng cách cải tạo tốt, chấp hành nghiêm các nội quy của trại giam. Nói cách khác, việc đặc xá phụ thuộc vào quá trình tu dưỡng, rèn luyện bản thân của các phạm nhân, chứ không thể phụ thuộc vào những lời kêu gọi hay đòi hỏi phi lý từ bất cứ cá nhân hay tổ chức nào. Từ đó cũng dễ dàng nhận thấy rằng, các thế lực phản động, cơ hội chính trị không hề sẵn lòng thừa nhận những thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, mà trái lại chỉ nhăm nhe xỉa xói, tận dụng mọi cơ hội và mánh khóe để phủ nhận các thành tựu ấy. Với riêng những người trót bị gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”, họ thực chất chỉ là một công cụ nhất thời trong tay những kẻ đang âm mưu chơi ván bài nhân quyền nhằm vào Việt Nam.

TỔ CHỨC “TRIỀU ĐẠI VIỆT” ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO DANH SÁCH TỔ CHỨC KHỦNG BỐ

 


Trong thông báo về tổ chức khủng bố "Triều đại Việt", Bộ Công an cho biết tổ chức này đã gửi hàng chục ngàn USD, hàng trăm triệu đồng cho số đối tượng trong nước mua sắm vũ khí, chế tạo bom, mìn, may cờ, in truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo về Tổ chức đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố có tên gọi "Triều đại Việt". Theo đó, tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" do các đối tượng nguyên là thành viên Tổ chức khủng bố "Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời" thành lập tháng 1-2018. Trụ sở đặt tại Canada; trang web và các kênh truyền thông: "Triều đại Việt", "Free Bibet", "Hoàng Kỳ", "Giải độc chính trị", "Việt Nam today", "Việt tự do", "Radio tiếng nói quốc dân", "Phung Nguyen", "Scott Huynh", "Jeffrey Thai", "Tin tức hàng ngày TV24".

Các đối tượng cầm đầu, chỉ huy gồm: Ngô Văn Hoàng Hùng, sinh 1952 tại Tiền Giang, quốc tịch Canada, tự xưng là "Tổng tư lệnh Triều đại Việt"; Trần Thanh Đình, sinh 1957 tại Nam Định, quốc tịch Đức, tự xưng là "Phó Thủ tướng"; Ngô Mạnh Cương, sinh ngày 1961 tại TP HCM, quốc tịch Pháp, tự xưng là "Tổng cục trưởng Tổng cục đặc nhiệm"; Huỳnh Thanh Hoàng, sinh 1976, quốc tịch Mỹ, "phát ngôn viên Triều đại Việt".

Bộ Công an cho biết phương thức hoạt động của tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" bao bồm: Bạo động vũ trang, với phương châm "Đốt sạch", "Giết sạch", "Phá sạch", "Cướp sạch"; hỗ trợ tiền, chỉ đạo số cơ sở trong nước tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại; kích động người dân xuống đường biểu tình, bạo loạn cướp chính quyền. Tổ chức khủng bố "Triều đại Việt" đã gửi hàng chục ngàn USD, hàng trăm triệu đồng cho số đối tượng trong nước mua sắm vũ khí, chế tạo bom, mìn, may cờ, in truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Bộ Công an cũng nêu rõ "Triều đại Việt" là tổ chức khủng bố, do đó, người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của "Triều đại Việt"; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do "Triều đại Việt" tổ chức; hoạt động theo chỉ đạo của "Triều đại Việt"… là phạm tội "Khủng bố", "Tài trợ khủng bố" và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Qua nghiên cứu nội dung trên, mỗi cán bộ, Đảng viện cần nhận thức rõ âm mưu thâm độc của tổ chức “Triều đại Việt” chủ động làm tốt công tác tuyên truyền vận động gia đình, người thân và Nhân dân nơi cư trú, kiên quyết đấu tranh bảo vệ Đảng, Tổ quốc, Nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

 

NHỮNG BƯỚC TIẾN TRONG VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 

Ngày 10/12/1948, tại Thủ đô Pari, nước Pháp, Đại hội đồng Liên hiệp quốc (LHQ) đã chính thức thông qua Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. Hơn 70 năm qua, “Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền” (Universal Declaration of Human Rights) có ý nghĩa nhân văn cao cả vẫn còn nguyên giá trị, đã và đang là mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân loại. Hòa vào dòng chung ấy, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước; con người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội; thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp CNH và HĐH đất nước.

Bộ Y tế đề nghị khẩn với người đang cách ly y tế tại nhà

 Bộ Y tế đề nghị các hộ gia đình đang có người cách ly y tế tại nhà thực hiện tốt các điểm sau đây:

Một số quan điểm, chính sách về dân tộc, tôn giáo ở Việt nam hiện nay

 


1)Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc Việt Nam

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”[1]. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản mà chúng tôi coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Điều 24 Hiến pháp (2013) Việt Nam quy định:

1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.

-> Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng phải tuân thủ pháp luật, không đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc. Mọi người được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc.

-> Nhà nước bằng pháp luật bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các tôn giáo về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

-> Các hành vi bị nghiêm cấm[2]:

 Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo nhằm (Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau); Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi.

Như vậy, vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

2) Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

 “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc’[3].

Vì sao?

Một là, đồng bào dân tộc theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào dân tộc theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Hai là, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 3) Đoàn kết đồng bào dân tộc theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào dân tộc  theo tôn giáo và đồng bào dân tộc không theo tôn giáo.

Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[4].

Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc.

-> Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

-> Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

- Nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng

+ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng là bởi: Việt Nam có 54 dân tộc, với khoảng 24 triệu tín đồ các tôn giáo. Đây là lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam và là quần chúng của Đảng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Cốt lõi của công tác dân tộc, tôn giáo là tuyên truyền, giáo dục

Mục đích để đồng bào nhận thức đúng quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước và mục tiêu của cách mạng Việt Nam; tin tưởng và thực hiện theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

4) Công tác dân tộc, tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước:

-> Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

-> Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 Về trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội:

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 Về trách nhiệm của lực lượng vũ trang nhân dân:

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

5) Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam  phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

 Đối với tín đồ các tôn giáo: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành: có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. Việc thành lập, hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc tuân theo luật pháp Việt Nam.

 Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến cơ quan chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh nơi mở lớp.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb CTQG, Hà Nội, 1994, tập 3, tr. 431.

[2] Điều 5 Luật tín ngưỡng, tôn giáo

[3] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ Bẩy BCHTUW khoá IX, Nxb CTQG, H. 2003, tr.48.

[4]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.

Những thành tựu nổi bật thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

 


 Quyền dân tộc tự quyết, quyền tự do tôn giáo, quyền bình đẳng giữa các dân tộc, các tôn giáo được bảo đảm

Mọi người dân Việt Nam được pháp luật bảo đảm để tự do theo hoặc không theo tôn giáo; mọi hành vi cản trở việc thực hiện quyền tự do tôn giáo của người dân đều bị trừng trị.

Phật giáo: Số lượng tín đồ Phật giáo được thống kê vào năm 1999 là 7,1 triệu người, hiện nay là 10 triệu người;

Các dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển; ngày nay đó chính là việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo là nguyên tắc cơ bản trong quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo.

 Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc và miền núi, đồng bào tôn giáo được tăng cường và củng cố, nhất là ở cấp cơ sở. Tình hình chính trị, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi, vùng tôn giáo cơ bản ổn định. Quốc phòng, an ninh được giữ vững.

 Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, miền núi và đồng bào tôn giáo được cải thiện[1].

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được hình thành, phát triển. Đã hình thành nhiều vùng chuyên canh các loại cây công nghiệp như: cà phê, chè, hồ tiêu, điều với số lượng lớn. Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả to lớn, hàng năm tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu và miền núi giảm đáng kể. 

 Trình độ dân trí của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo từng bước được nâng lên, đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ; văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số, các tôn giáo được tôn trọng, bảo tồn và phát huy; Việc khám chữa bệnh cho người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ngày càng được quan tâm.



[1] Tổng cục Thống Kê: Tổng điều tra dân số 1.4.2019. Tình trạng hộ không có nhà ở đang dần được cải thiện trong hai thập kỷ qua, từ mức 6,7 hộ/10.000 hộ vào năm 1999 xuống còn 4,7 hộ/10.000 hộ năm 2009 và đến nay là 1,8 hộ/10.000 hộ.

Những cái nhìn thiển cận về bình đẳng giới ở Việt Nam

 

Hôm nay (8-3) là Ngày Quốc tế phụ nữ, cũng là ngày mà cả nhân loại tôn vinh phụ nữ và hành động vì mục tiêu bình đẳng giới. Trong lúc nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế và đại đa số người dân trong nước đánh giá cao sự tiến bộ vượt bậc về bình đẳng giới của chúng ta thì vẫn còn có những cái nhìn thiển cận, sai lệch về vấn đề này ở Việt Nam.

Một số đặc điểm nổi bật dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay

 


 Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù

 Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; cũng có thể được hiểu là một hình thức tổ chức của xã hội, một hình thức tổ chức nhà nước trong đó quyền lực thuộc về nhân dân. Ở đây, dân chủ được hiểu là quyền làm chủ của nhân dân với tư cách là quyền con người.

Nhân quyền hay còn gọi là quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.

 Tính phổ biến và tính đặc thù của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam:

+ Tính phổ biến của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang giá trị chung toàn nhân loại. Dân chủ, nhân quyền thuộc về tất cả mọi người, không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế, lãnh thổ, khu vực địa lý v.v... "Trên thực tế tính phổ biến là bản chất của quyền con người”[1]

Tính phổ biến của quyền con người đã được luật pháp quốc tế công nhận. Do vậy, nó đòi hỏi các nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ tôn trọng ở khắp mọi nơi, tuân thủ và bảo vệ tất cả các quyền cho mọi người, mọi công dân, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật nhân quyền quốc tế và các văn kiện quốc tế khác liên quan đến quyền con người.

+ Tính đặc thù của dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

Ở Việt Nam dân chủ, nhân quyền phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị và truyền thống văn hóa Việt Nam. Tính đặc thù biểu hiện:

Thứ nhất, dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ của đa số nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đảng duy nhất cầm quyền, vì vậy dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc.

Thứ hai, ở Việt Nam, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là công cụ, phương tiện bảo đảm cho đa số nhân dân thực hiện quyền làm chủ, quyền con người của mình.

Thứ ba, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam phản ánh truyền thống văn hóa của  dân tộc Việt Nam, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước trong từng thời kỳ lịch sử.

Do đó, Việt Nam tôn trọng những giá trị chung về quyền con người mà nhân loại đã thừa nhận, cam kết thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết; đồng thời phản đối việc áp đặt quan điểm dân chủ, nhân quyền của bất kỳ quốc gia nào đối với Việt Nam.

 Quyền con người gắn với độc lập và chủ quyền quốc gia

+ Việt Nam khẳng định rằng, “quyền con người gắn với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia”[2]. Quyền con người gắn với độc lập và chủ quyền quốc gia, bởi vì:

+ Việc giải phóng con người Việt Nam gắn liền với việc giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội của Việt Nam. Độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia là điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ và bảo đảm quyền con người. Nếu không có độc lập dân tộc, không có chủ quyền quốc gia thì không thể có dân chủ và nhân quyền. chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Quyền con người của mỗi cá nhân gắn liền với quyền thiêng liêng của cả dân tộc.

+ Sự thống nhất giữa dân chủ, nhân quyền và chủ quyền

Khi viết Bản Tuyên ngôn độc khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945, Hồ Chí Minh đã trích những lời bất hủ trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776) là: “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp (1789): “Người ta sinh ra tự do bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn dược tự do bình đẳng về quyền lợi”. Trên cơ sở khẳng định những quyền đó là chân lý, Hồ Chí Minh đã suy luận: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền được sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong các văn kiện pháp lý của Liện Hợp quốc về quyền con người đều khẳng định: bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia; không quốc gia nào, kể cả Liên Hợp quốc có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Do vậy, nếu ai đó cho rằng, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” là không thực tế, là sự xuyên tạc.

Thực tế lịch sử Việt Nam chứng tỏ rằng khi đất nước là thuộc địa, mất độc lập thì nhân dân mất quyền dân chủ, mỗi người dân đều mất nhân quyền. Vì vậy, giành độc lập dân tộc trở thành điều kiện tiên quyết để thực hiện dân chủ, nhân quyền.

 Dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2013) và các văn bản pháp luật của Việt Nam, quyền làm chủ, quyền con người được thể hiện trên các lĩnh vực: các quyền về dân sự, chính trị; các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa; các quyền của nhóm dề bị tổn thương.

* Các quyền về dân sự, chính trị, được thể hiện ở các quyền cơ bản sau:

+ Quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm

+ Quyền được bảo vệ khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện

+ Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những người bị bắt, giam, giữ

+ Quyền được xét xử công bằng

+ Quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử

+ Quyền được bảo vệ bí mật đời tư

+ Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở

+ Quyền tự do đi lại và cư trú

+ Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo

+ Quyền tham gia quản lý nhà nước (quyền bầu cử, ứng cử; tham gia thảo luận, kiến nghị với các cơ quan nhà nước; tham gia trưng cầu dân ý; khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm tiếp công dân của nhà nước)

* Các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa

+ Quyền về việc làm

+ Quyền tự do kinh doanh

+ Quyền sở hữu

+ Quyền có mức sống thích đáng

+ Quyền thành lập và gia nhập công đoàn

+ Quyền được hưởng an sinh xã hội

+ Quyền được chăm sóc sức khỏe

+ Quyền về giáo dục; quyền về văn hóa

*  Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương

+ Quyền của phụ nữ; quyền của trẻ em: quyền của người khuyết tật; quyền của người cao tuổi

+ Quyền của các nhóm dễ bị tổn thương khác: Người nghèo; người dân tộc thiểu số; người có công; người bị nhiễm chất độc; người nhiễm HIV/AIDS

 



[1] Viện Nghiên cứu quyền con người: Tài liệu tham khảo luật quốc tế về quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, H. 2005, tr298

[2] Tài liệu tổng kết Chỉ thị 12 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta”, Nxb CTHC, H.2012, tr13

 

Nắm vững đặc điểm dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam để hoạch định chính sách, dân tộc, tôn giáo cho phù hợp

 

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo

  Về dân tộc: Hiện nay Việt có 54 dân tộc (tộc người)[1]. Theo kết quả Tổng điều tra dân số ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người. Trong đó, người Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm 14,7% dân số. Các dân tộc ở Việt Nam c­ư trú xen kẽ với nhau, đây chính là yếu tố tạo nên tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau. Mỗi dân tộc ở Việt Nam vừa mang đặc điểm chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam vừa có bản sắc văn hóa riêng.

Đặc điểm nổi bật nhất của các dân tộc ở Việt Nam là truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. truyền thống đó hình thành, phát triển từ yêu cầu chinh phục thiên nhiên để lao động sản xuất và đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ, trở thành một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Về tôn giáo: Việt Nam có 16 tôn giáo với 43 tổ chức và hệ phái tôn giáo khác nhau[2], trong đó có 6 tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành, Đạo Cao đài, phật giáo Hoà hảo; các tôn giáo lớn chủ yếu du nhập từ nước ngoài như: Phật giáo, Công giáo, Đạo Hồi, Đạo Tin lành. Sở dĩ Việt Nam có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo là do:

Một là, Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, đó là yếu tố khách quan để hình thành nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau.

Hai là, do vị trí địa lý Việt Nam tiếp giáp với với nhiều địa tôn giáo, đó là điều kiện thuận lợi để các tôn giáo bên ngoài tiếp cận, xâm nhập vào Việt Nam.

Ba là, lịch sử Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, các thế lực ngoại xâm luôn sử dụng tôn giáo như là công cụ để thực hiện mục đích xâm lược, thống trị của chúng.

Một số đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam

Thứ nhất, có tính dung hợp, đan xen, hoà đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các tôn giáo khác.  

Thứ hai, các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội đều du nhập từ bên ngoài vào và nhiều, ít được “Việt hóa”. Các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, dù “tự nhiên” như Phật giáo hay “áp đặt” như Thiên Chúa giáo vẫn hoà quyện với văn hóa dân tộc, tạo nên một nền văn hóa thống nhất nhưng phong phú.

Thứ ba, nhìn chung tôn giáo ở Việt Nam có sự hoà hợp, chung sống hoà bình, các tôn giáo khác nhau nhưng đều có chung mục đích sống “tốt đời, đẹp đạo”, tích cực góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, ở một số thời điểm lịch sử nhất định, giữa các tôn giáo cũng có sự “bất hoà” do các thế lực thù địch âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị.  

Đồng bào dân tộc ít người ở Việt Nam phần lớn đều có đạo 

Cộng đồng người Khơme Nam Bộ, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh miền Tây Nam bộ theo Phật giáo Nam tông. Đó là trường phái chịu ảnh hưởng từ Phật giáo Ấn Độ. Khối người Chăm, sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung bộ theo đạo Hồi. Người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, chủ yếu theo đạo Tin lành. Cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía Bắc (chủ yếu là người Mông, Dao) theo đạo Tin lành. Thực tế này cho đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ trong việc giải quyết vấn đề dân tộc với vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.

Các thế lực thù thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam

Trong lịch sử các thế lực thù địch đã luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo như là một công cụ để xâm lược, thống trị Việt Nam (như đã đề cập về sự du nhập tôn giáo và thủ đoạn chia rẽ các dân tộc và tôn giáo ở phần trên).

Hiện nay, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn sau:

- Lợi dụng những khó khăn về kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc, tôn giáo và những hạn chế, yếu kém trong giải quyết vấn dân tộc, tôn giáo của chính quyền để  chống phá Việt Nam

Mặc dù Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội ở các vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo sinh sống, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, đời sống đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo vẫn còn nhiều khó khăn. Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng thực tế đó để chống phá cách mạng Việt Nam:

+ Tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, vu khống chính quyền phân biệt đối xử, “đàn áp dân tộc thiểu số”, “đàn áp tín đồ tôn giáo”, nhằm chia rẽ, tạo sự đối lập giữa đồng bào dân tộc, tôn giáo với Đảng và chính quyền.

+ Kích động các phần tử chống đối, lừa gạt quần chúng tụ tập đông người tiến hành biểu tình, gây bạo loạn chống đối chính quyền...

+ Lợi dụng sinh hoạt tôn giáo để biểu dương lực lượng, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân; đòi “tự do hoạt động tôn giáo” ngoài vòng pháp luật

- Xuyên tạc các vấn đề về lịch sử dân tộc, vấn đề tôn giáo gây ra nhiều “điểm nóng” về chính trị - xã hội

Sự xuyên tạc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, tập trung ở một số vấn đề như:

Xuyên tạc lịch sử, đòi Việt Nam phải công nhận một số dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Nam bộ là dân tộc bản địa và thực hiện những yêu sách theo công ước quốc tế về người bản địa.

Tôn giáo hoá các dân tộc thiểu số để chống phá cách mạng Việt Nam, là thủ đoạn rất nguy hiểm và thâm độc. Tr­ước mắt, chúng đang tiến hành trên 3 vùng , đó là:

Đối với vùng Tây Nguyên: Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc thiểu số kết hợp với tổ chức phản động Tin lành Đề Ga để  nhằm thực hiện chủ trương “Tin lành hoá các dân tộc Tây Nguyên”;

Đối với vùng Tây Nam Bộ: Các thế lực thù địch tiếp tục kích động, gây hằn thù chia rẽ ng­ười Khơme với ng­ười Kinh. Chúng chỉ đạo bọn phản động tiến hành kích động, lôi kéo quần chúng đấu tranh đòi ly khai, thành lập nhà nước Khơme Crôm.

Đối với vùng Tây Bắc: Các thế lực thù địch tăng cường đư­a ng­ười từ n­ước ngoài về, dùng tiền mua chuộc, dụ dỗ đồng bào ng­ười Mông di cư, phá rừng bất hợp pháp, truyền đạo Tin lành trái phép vào các tỉnh miền núi, lừa dối đồng bào là “Vua Mèo” đã về.

- Tìm cách quốc tế hoá vấn đề dân tộc, tôn giáo để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

Các thế lực thù địch luôn ra sức tuyên truyền cho cái gọi là “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, nhân danh các công ước quốc tế để quốc tế hóa vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm can thiệp vào nội bộ các dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam, như: “Quyền dân tộc tự quyết”, Dự luật “Quyền tự do tôn giáo không bị đàn áp”, “Luật tự do tôn giáo quốc tế”. Nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền”, họ lớn tiếng đòi Đảng và Nhà nước Việt Nam phải cho các tổ chức tôn giáo hoạt động độc lập, tách khỏi sự quản lý của Nhà nước và tìm mọi cách để cho ra đời các tổ chức tôn giáo phản động ở nước ngoài và trong nước như: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, “Tin lành Đề ga”... và tuyên truyền cho tính “hợp lý”, “đại diện” của các tổ chức đó đối với tôn giáo Việt nam.

- Sử dụng bọn phản động người Việt Nam ở nước ngoài móc nối với các phần tử cơ hội, chống đối  trong nước để chống phá Việt Nam

Đáng quan tâm hiện nay đối với Việt Nam là các phần tử phản động đội lốt các tôn giáo đang tăng cường tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc quần chúng theo đạo, gây thanh thế, hoạt động ngoài vòng kiểm soát của Nhà nước; kích động tín đồ chống lại chính sách của Đảng, Nhà nước (không chấp hành nghĩa vụ quân sự, không nộp thuế kinh doanh...). Chúng còn tăng cường phát triển tà đạo, mua chuộc kích động người Khơme theo Phật giáo Nam tông đòi ly khai tách khỏi Giáo hội Phật giáo Việt Nam và mưu đồ đòi thành lập nhà nước Khơme Crôm ở Nam bộ; nhà nước Đề Ga ở Tây Nguyên.

 



[1] Phụ lục 1

[2] Phụ lục 2

THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO, DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN LÀ MỤC TIÊU CỦA CÁCH MẠNG XHCN Ở VIỆT NAM

 


Dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội.

Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, phát huy dân chủ và bảo đảm nhân quyền, coi thực hiện dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản lâu dài, vừa là mục tiêu, vừa là tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền đã được cụ thể hóa thành cương lĩnh, nghị quyết, chính sách, pháp luật và đã được thực hiện trên thực tế và đi vào cuộc sống. Cho đến nay Việt Nam đã trở thành quốc gia có nhiều chỉ số phát triển đứng trong tốp đầu thế giới: Tuy là một quốc gia đa dân tộc, đa tín ngưỡng tôn giáo nhưng các dân tộc, các tôn giáo luôn bình đẳng, đoàn kết gắn bó yêu thương, đùm bọc lẫn nhau; quyền tham chính của các dân tộc trên các lĩnh vực ngày càng nâng lên; mọi quyền lực thuộc về nhân dân; quyền con người được bảo dảm trên thực tế. Trong xã hội bình đẳng, bình quyền; dân tin Đảng, Đảng yêu dân; trong xã hội không có sự bóc lột, bất công, an ninh chính trị luôn được bảo đảm. Như Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nói: Việt Nam chưa bao giờ có vị thế, uy tín, tiềm lực, cơ đồ như ngày hôm nay. Uy tín của Việt Nam hiện nay không ngừng tăng trên chính trường quốc tế (đứng thứ 47 thế giới”

Với những nét khái quát trên, có thể nói thiời gian vừa qua, Việt nam đã thực hiện tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền. Vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền vừ là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội Việt Nam phát triển.

HOÀN CẦU THỜI BÁO VỀ 'HUNG THẦN' Ở BIỂN ĐÔNG

     Tờ Hoàn Cầu thời báo, vừa đăng bài viết ngụy biện về dự luật cho phép lực lượng hải cảnh nước này dùng vũ khí nhằm vào tàu nước ngoài, trong đó có Biển Đông. Cụ thể, tối 5.11, tờ Hoàn Cầu thời báo đăng bài: Foreign media stir trouble by hyping China's draft coast guard law (tạm dịch: Truyền thông nước ngoài gây rắc rối bằng cách thổi phồng dự thảo luật hải cảnh Trung Quốc). Nguy cơ rủi ro cho ngư dân Việt Nam làm ăn đánh bắt cá trên ngư trường truyền thống

Trước đó, truyền thông quốc tế đã dẫn lời đặt ra lo ngại về việc Bắc Kinh vừa công bố dự luật cho phép hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào tàu nước ngoài ở vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Sau đó, tờ Hoàn Cầu thời báo đăng tải bài viết trên để bao biện rằng Trung Quốc có quyền bảo vệ các vùng biển thuộc chủ quyền nước này, các nước khác như Mỹ hay Nhật cũng làm như vậy thì tại sao Trung Quốc không được làm. Việc bảo vệ chủ quyền của một quốc gia thì không sai, nhưng vấn đề đặt ra đâu là vùng biển thuộc chủ quyền hợp pháp của Trung Quốc, đâu là vùng biển mà hải cảnh Trung Quốc được thực thi pháp luật hợp pháp? Trên thực tế là suốt thời gian qua, hải cảnh Trung Quốc liên tục có nhiều hoạt động phi pháp ở Biển Đông. Đây là vùng biển mà tuyên bố chủ quyền do Trung Quốc đưa ra đã bị Tòa trọng tài quốc tế bác bỏ vào năm 2016. Thế nhưng, suốt thời gian qua, không chỉ phớt lờ phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế, Bắc Kinh còn thường xuyên điều động tàu hải cảnh tiến hành các hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Điển hình, 1 tàu hải cảnh của Trung Quốc đã vô cớ đâm chìm 1 tàu cá Việt Nam đang hoạt động hợp pháp ở khu vực gần quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm nay. Hải cảnh Trung Quốc liên tục hành động như “hung thần” ở Biển Đông.

Khi chưa được “bảo kê” quyền nổ súng mà như thế! Nên nếu dự luật mới có hiệu lực, thì nguy cơ đặt ra là hải cảnh Trung Quốc có thể dùng vũ khí tấn công tàu cá Việt Nam đang đánh bắt hợp pháp ở vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. Chính vì thế, lo ngại của giới chuyên gia và truyền thông quốc tế hoàn toàn hợp lý, chứ không hề “thổi phồng”, “gây rắc rối” như Hoàn Cầu thời báo chỉ trích. Nguy cơ khơi mào xung đột.

Nhiều chuyên gia quốc tế đã đặt ra những lo ngại như vậy khi trả lời Thanh Niên. Tương tự, hôm qua 6.11, trả lời Thanh Niên, TS Satoru Nagao (Viện Nghiên cứu Hudson, Mỹ) cũng cho rằng dự luật trên đặt ra nhiều nguy cơ cho các nước khác. “Thời gian qua, Bắc Kinh không ngừng củng cố quyền kiểm soát ở các vùng biển mà họ tuyên bố chủ quyền, đồng thời điều động tàu hải cảnh đến các vùng biển này. Khi tàu hải cảnh Trung Quốc hiện diện càng nhiều thì các nước trong khu vực cũng phải điều động tàu tuần duyên ứng phó. Trong bối cảnh như vậy, rủi ro đụng độ càng trở nên cao hơn. Và nếu dự thảo luật trên có hiệu lực, thì nguy cơ đụng độ bằng vũ khí lại càng dễ xảy ra”, ông Nagao lo ngại. Qua đó, ông đặt vấn đề: “Tại sao Bắc Kinh đưa ra dự thảo luật trên? Có khả năng họ muốn leo thang căng thẳng ở các vùng biển trong khu vực. Trung Quốc đang tăng cường hiện đại hóa quân sự và muốn thể hiện chiếm ưu thế về quân sự. Để tăng thêm áp lực nhằm vào các nước khác, Trung Quốc đang loại bỏ dần các vùng đệm vốn để phòng ngừa rủi ro xung đột ở các vùng biển tranh chấp”.