Thứ Năm, 11 tháng 3, 2021

 

Nâng cao ý thức, trách nhiệm để xây dựng không gian mạng lành mạnh

Không gian mạng, nơi diễn ra các hoạt động trao đổi thông tin, một mạng lưới toàn cầu; một môi trường mới, nơi diễn ra tất cả các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội… một thế giới ảo, tồn tại và tương tác, đan xen, gắn kết mạnh mẽ với thế giới thực của con người. 

Sử dụng không gian mạng là nhu cầu không thể thiếu của mỗi chúng ta hiện nay và trở thành xu hướng của thời đại. Vai trò to lớn của không gian mạng đối với sự phát triển của xã hội loài người là không thể phủ nhận. Vì vậy, không gian mạng cũng đã trở thành môi trường tác chiến mà các quốc gia trên thế giới không thể đứng ngoài. Theo đó, trong môi trường ấy đã diễn ra các hình thái chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng đã xuất hiện và đang tác động đến tới tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… thậm chí đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc. 

Thực tiễn đã từng diễn ra nhiều cuộc binh biến chính trị như: năm 2014, làn sóng cách mạng xã hội và các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông và Hồng Kông có sự đóng góp không nhỏ của các phương tiện truyền thông trên không gian mạng; năm 2016 ở Thổ Nhĩ Kỳ, chính phủ đã dập tắt cuộc đảo chính của quân đội nhờ mạng xã hội; năm 2016, Donal Trump thắng cử trong cuộc bầu cử Tổng thống nước Mỹ cũng có sự đóng góp to lớn của mạng xã hội… 

Hiện nay, thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cho Việt Nam một kỷ nguyên mới với nhiều cơ hội thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cùng với cơ hội phát triển đất nước là nguy cơ, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới đất nước một cách quyết liệt. Chúng đã trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ quyền, an ninh, an toàn của đất nước và đời sống của Nhân dân ta

Trên không gian mạng mà trực tiếp là truyền thông mạng là công cụ đắc lực của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động để thúc đẩy “tự diễn biến”“tự chuyển hóa” trong lòng xã hội Việt Nam. Các thế lực này chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, tư tưởng - văn hóa, tôn giáo - dân tộc, quốc phòng - an ninh, đối ngoại với đủ các chiêu trò và thủ đoạn khác nhau. Vậy, chúng ta phải làm gì trước mặt trái của truyền thông trên không gian mạng? 

Nhìn ra thế giới: Để đối phó với các mặt trái của truyền thông, mạng xã hội, đa phần các quốc gia đều coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn, kết hợp với tuyên truyền và xây dựng các biện pháp, chế tài pháp lý trong quản lý, kiểm soát hoạt động truyền thông. Để ngăn chặn sự chống phá của phương Tây và lực lượng thù địch, đặc biệt là sự tác động vào ý thức của những người trẻ. Điển hình như:

Trung Quốc đã đưa ra “7 giới hạn đỏ” yêu cầu cán bộ, đảng viên và nhân dân thực hiện. Khi xảy ra các sự cố trong nước, Trung Quốc cho lập “tường lửa vạn lý Trường Thành”, thậm chí chặn toàn bộ các mạng xã hội, đồng thời chỉ đạo các cơ quan truyền thông tập trung tuyên truyền, đấu tranh mang tính hệ thống.

Mỹ cũng lập riêng một tiểu ban để phân tích và kiểm tra các thông tin trên báo chí khi xảy ra các biến cố an ninh trong nước, bên cạnh đó, Cục Điều tra Liên bang còn thành lập một lực lượng chuyên kiểm soát thông tin trên internet, cũng như các liên lạc bằng điện thoại di động. 

Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu về Internet nhưng đất nước này cũng có những qui định rất chặt chẽ về quản lý truyền thông đặc biệt là internet như: để gửi bài viết, kể cả bình luận trên mạng buộc người gửi phải có số chứng minh nhân dân; những bài viết liên quan đến phản đối nghĩa vụ quân sự, ủng hộ Triều Tiên đều bị cơ quan quản lý gỡ bỏ.

Chính phủ Nga đã ngăn cấm các công ty nước ngoài phát triển mạng xã hội trong nước. Nga rất coi trọng biện pháp sử dụng kỹ thuật để ngăn chặn những luồng thông tin xấu, đồng thời còn đẩy mạnh phát triển lực lượng tác chiến mạng và coi đó là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia. 

Ở nước ta, cùng với hàng loạt giải pháp kỹ thuật, quản lý Nhà nước, Việt Nam còn sử dụng chính truyền thông trên không gian mạng để làm công tác đấu tranh chống lại âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, tổ chức phản động. Tiêu biểu là sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng đã được Bộ Quốc phòng công bố ngày 08/01/2018. Công bố này cho thấy sự quyết tâm và chủ động về chủ trương nhằm thực hiện đầy đủ các mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược, phương thức bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong tình hình mới. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng có chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng và công nghệ thông tin trong toàn quân. Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng sẽ đóng vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc cả trên đất liền, trên không, trên biển và trên không gian mạng. 

Trong thời gian qua, hoạt động chống các tư tưởng, quan điểm sai trái, thông tin sai sự thật trên không gian mạng đã cho chúng ta thấy sự cần thiết phải đấu tranh trên không gian mạng, đặc biệt là truyền thông nhằm thực hiện nhiệm vụ chiến lược của đất nước trong tình hình mới – nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Mỗi công dân Việt Nam, khi tham gia vào không gian mạng, có thể nhận diện các thế thực thù địch, phản động thông qua các thủ đoạn trên cũng như cần cảnh giác với các trang web, blog, trang thông tin truyền thông như: VOA tiếng Việt, “Quan làm báo”, “Dân làm báo”, “Chân dung quyền lực”… Đồng thời, nhân dân cũng cần biết rằng các tổ chức như: Việt Tân, Hội anh em dân chủ và Hoàng Sa, đảng “Dân chủ nhân dân”, “Phong trào Lao động Việt”, “Viễn tưởng Việt Nam”, “Đảng Vì dân”… là các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và cách mạng Việt Nam.

Thiết nghĩ, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ ở Học viện Lục quân khi tham gia vào không gian mạng cần:

Nghiên cứu, hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung của Luật An ninh mạng, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm khi tham gia hoạt động trên không gian mạng.

Tự trau dồi kỹ năng nhận diện âm mưu, thủ đoạn gây nguy cơ mất an ninh mạng, nhất là âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, nhận diện được các tổ chức chống đối hoạt động trên không gian mạng như đã nêu ở trên.

Nâng cao ý thức phòng tránh, tự vệ khi tham gia mạng xã hội. Nghiên cứu kỹ trước khi like hoặc chia sẻ các file, các bài viết hoặc đường link, cảnh giác với các trang web lạ, email chưa rõ danh tính và đường dẫn nghi ngờ, tuyệt đối không a dua, hiếu kỳ, hoặc tham tiền bạc cùng với những lời kích động, xúi giục của các đối tượng xấu. Kịp thời cung cấp thông tin, thực hiện yêu cầu và hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có trách nhiệm.

Tận dụng, sử dụng mạng xã hội một cách đúng đắn và hiệu quả, biến mạng xã hội thành một phương tiện, một kênh hữu ích để mở mạng kiến thức, cùng nhau xây dựng môi trường văn hoá mạng xã hội lành mạnh, tránh bị các thông tin ảo chi phối tác động, góp phần phòng chống, ngăn chặn những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

Phổ biến, tuyên truyền đến đồng chí đồng đội, gia đình, người thân, bạn bè và Nhân dân các quy định của Luật An ninh mạng để mọi người nắm, hiểu và không thực hiện các hành vi vi phạm liên quan đến an ninh mạng, “góp phần xây dựng không gian mạng lành mạnh từ cơ sở”.

 Với đặc tính không biên giới, không gian mạng có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và đã, đang tác động đến mỗi chúng ta. Những nguy cơ từ không gian mạng gia tăng tỷ lệ thuận đối với sự phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin vào trong đời sống xã hội. Vì vậy, đảm bảo an ninh mạng đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể, từ việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước, sự sáng tạo, tự chủ trong sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ trên không gian mạng bảo đảm an toàn, an ninh mạng của các cơ quan, đơn vị đến ý thức tham gia xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh của mỗi người./.

Lòng Dân- sức mạnh nội sinh tạo nên sức bật Việt Nam

 

Cơ đồ của đất nước, niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân với Đại hội XIII của Đảng chính là động lực, là nguồn cảm hứng, là sức mạnh nội sinh tạo nên sức bật, sự cất cánh của một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc trong tương lai.

 Niềm tin chính trị trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Niềm tin chính trị là yếu tố hết sức quan trọng trong hoạt động chính trị. Niềm tin chính trị được hình thành và củng cố dựa trên cơ sở tri thức khoa học cùng với tình cảm và lý tưởng chính trị.

 

Nhận thức khoa học càng sâu sắc thì niềm tin chính trị càng vững chắc, khi đó, niềm tin chính trị sẽ là nhân tố cốt lõi để đảm bảo sự ổn định về tư tưởng chính trị, giúp cho con người giữ được sự kiên định, không hoang mang, dao động trước những khó khăn, thử thách ngay cả khi đời sống chính trị thuận lợi hay có nhiều biến động.

Trước lúc đi xa, với niềm tin chính trị sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc những diễn biến, kết quả mà nhân dân ta sẽ giành được trong tương lai: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn... Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà...”.

Di chúc được Người viết trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đang trong giai đoạn ác liệt ở cả hai miền Nam, Bắc, Mỹ ồ ạt đổ quân viễn chinh cùng các phương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng lực lượng không quân và hải quân; đồng bào, chiến sĩ cả nước đang chịu nhiều tổn thất, hi sinh. Vậy, dựa trên cơ sở nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Di chúc niềm tin tất thắng?

Có thể thấy, niềm tin của Người dựa trên những cơ sở sau:

- Thứ nhất, niềm tin Hồ Chí Minh bắt nguồn từ niềm tin vào sức mạnh to lớn, vô địch của nhân dân và truyền thống yêu nước của dân tộc. Người khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Đó là truyền thống của dân tộc, cội nguồn tạo nên niềm tin Hồ Chí Minh. Với nền tảng vững chắc của niềm tin chính trị như vậy nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù thử thách cam go đến đâu, Bác vẫn tin rằng nhân dân là người chiến thắng, cách mạng cuối cùng sẽ thắng lợi vì có sức mạnh vô địch của nhân dân, truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc.

- Thứ hai, Người tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của Nhân dân Việt Nam.

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra Cương lĩnh, đường lối đúng đắn, xác định: Cách mạng Việt Nam phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc rồi tiến lên CNXH. Với đường lối đúng đắn, Đảng đã tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, làm nên những thành tựu vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) đã xóa bỏ chế độ thực dân nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân chiến đấu và chiến thắng đế quốc Pháp xâm lược, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954. Cho đến thời điểm Người để lại Di chúc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã trải qua 15 năm, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chiến đấu anh dũng, lần lượt đánh bại các âm mưu, chiến lược của đế quốc Mỹ, tạo thế và lực ngày càng vững mạnh. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta. Đồng thời, chính trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta không ngừng được tôi luyện, trưởng thành và đã xây dựng nên những truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng. Đó là: Bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng cách mạng; nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH; kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin; trung thành với lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân; kiên định nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế… Những truyền thống quý báu của Đảng là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân quốc tế, là sức mạnh bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Những truyền thống đó có ý nghĩa dân tộc và quốc tế sâu sắc, thể hiện tinh thần cách mạng triệt để, trình độ trí tuệ ngày càng được nâng cao của Đảng ta.

- Thứ ba, tin vào tính tất yếu của thắng lợi chính nghĩa và sự thất bại không thể tránh khỏi của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa, trái đạo lý, phản nhân văn mà đế quốc Mỹ gây ra. Trong cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam bảo vệ nền độc lập dân tộc, Người nêu chân lý nổi tiếng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân là mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam và cũng là lẽ sống thiêng liêng nhất của Người: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh là khát vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam, đã thực sự trở thành lời hiệu triệu, thành mệnh lệnh của trái tim mỗi người dân; là nguồn sức mạnh, động lực của cách mạng Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền, đánh bại kẻ thù xâm lược.

- Thứ tư, nhãn quan chính trị nhạy bén, sắc sảo và tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chí Minh là cơ sở quan trọng để Người tin tưởng vào sự thắng lợi của cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập của dân tộc. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn chưa kết thúc, Người đã nhận định: “Sớm hay muộn, Mỹ sẽ trực tiếp tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương… Mỹ đang tìm cách thay thế Pháp xâm lược Việt Nam”. Sau thắng lợi ở Điện Biên Phủ (7-1954), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chiến thắng Pháp rồi, phải nhớ trước mặt ta còn có kẻ địch hùng mạnh hơn, hung ác hơn, đó là đế quốc Mỹ”.

Nhãn quan chính trị sâu sắc, vốn tri thức sâu rộng và những trải nghiệm thực tiễn phong phú đã giúp Hồ Chí Minh có cơ sở khoa học để khẳng định niềm tin tất thắng của nhân dân Việt Nam. Đã từng hoạt động trên đất Mỹ, am tường văn hóa Mỹ, Hồ Chí Minh biết rất rõ sức mạnh cũng như những chỗ yếu của Mỹ. Những hiểu biết về Mỹ ở tầng sâu thẳm nhất chính là cứ liệu thực tế để Người đi đến khẳng định: Việt Nam biết đánh và nhất định thắng Mỹ! Thực tế cũng đã chứng minh, tại thời điểm Người viết bản Di chúc, quân dân hai miền Nam Bắc luôn kề vai sát cánh bên nhau đánh thắng hết chiến lược chiến tranh này đến chiến lược chiến tranh khác: Từ chiến tranh đơn phương (1954-1960) đến chiến tranh đặc biệt (1961-1965), chiến tranh cục bộ (1966-1968) và sau này là Việt Nam hóa chiến tranh (1969-1972). Kết quả thắng lợi từng phần của cách mạng là căn cứ thực tiễn sinh động để Hồ Chí Minh tin vào chiến thắng của cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập cho dân tộc, thống nhất đất nước. Nói về thiên tài của Hồ Chí Minh, cố Bộ trưởng Huỳnh Thúc Kháng đã viết: Hồ Chí Minh “Là bậc yêu nước đại chí sĩ, là nhà lịch nghiệm cách mạng đại chuyên gia. Chân đi khắp năm châu, mắt trông xa vạn dặm; nhận rõ thời cuộc, lặng dò thời cơ”. Và “Về bằng cấp thì ông Hồ không tiến sĩ, phó bảng gì cả. Nhưng nói về tri thức và sự nghiệp cách mạng thì chắc chắn lớp chúng ta cũng như lớp trước chúng ta, không ai bì kịp. Sự thấu hiểu của ông Hồ rất xa, rất rộng, chẳng những việc trong nước và cả việc thế giới nữa kia. Nước này tương lai sẽ về đâu? Nước kia rồi đây sẽ thay đổi như thế nào? Ông nói rất rành rọt, mạch lạc, nghe không chán!”.

Có thể thấy, niềm tin Hồ Chí Minh được xây dựng trên cơ sở vững chắc của lý luận khoa học Mác- Lênin, sự am hiểu văn hóa dân tộc, vốn kiến thức uyên thâm về lịch sử cũng những trải nghiệm phong phú trong trong quá trình hoạt động cách mạng và lòng yêu nước cháy bỏng đã giúp Người nắm bắt được quy luật vận động của lịch sử và xu thế phát triển của thời đại, vạch ra các bước đi của cách mạng, nhờ đó đưa đất nước vượt qua những thách thức. Niềm tin ấy là kết quả của quá trình tích lũy thông tin, phân tích sự kiện trong nước và thế giới, tổng kết lịch sử và thực tiễn, khái quát quy luật vận động của hiện thực, rồi vận dụng để phán đoán diễn biến, xu hướng phát triển.

Trong bối cảnh cuộc kháng chiến còn nhiều gian khổ, hy sinh, chính niềm tin chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong bản Di chúc có ý nghĩa hết sức to lớn. Đó là trụ cột tinh thần, là nguồn cổ vũ, động viên vững chắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đoàn kết một lòng quyết đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc, đi đến thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thắng lợi trong công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 

 Những đóng góp của thanh niên Việt Nam trong chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử

Ngày 07/5/1953, thực dân Pháp cử tướng Nava làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Sau khi sang Đông Dương, Nava đã đề ra kế hoạch quân sự mới với hy vọng kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng và giành lấy thắng lợi quyết định để “kết thúc chiến tranh trong danh dự”. Khi Kế hoạch bước đầu phá sản, đầu tháng 12/1953, Nava quyết định xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, sẵn sàng cho một cuộc quyết chiến chiến lược tại đây, với mục tiêu “nghiền nát” bộ đội chủ lực của ta.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và xác định nơi đây trở thành tâm điểm của kế hoạch đông - xuân năm 1953 - 1954 của ta, một trận quyết chiến chiến lược giữa ta với Pháp. Nhận định về tính chất và quy mô của chiến dịch Điện Biên Phủ, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp kết luận: “Chiến dịch này là chiến dịch lớn nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay... Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, nhất định chúng ta phải thắng”(1).

Đối với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, thanh niên Việt Nam đã nắm giữ vai trò quan trọng, là lực lượng chủ yếu trực tiếp chiến đấu để quyết định đến thắng lợi của chiến dịch này.

Chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy trưởng, kiêm Bí thư Đảng ủy mặt trận, lực lượng chuẩn bị bao gồm: 4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông tin, vận tải, quân y... huy động được 55 000 quân, trong đó phần lớn là thanh niên từ các vùng hậu phương.

Với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”“Tất cả để chiến thắng”, hàng vạn thanh niên các tỉnh vùng tự do Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc... và các tỉnh vùng giải phóng ở khu 3 đã tham gia lực lượng bộ đội chủ lực và thanh niên xung phong trực tiếp chiến đấu ở lòng chảo Điện Biên Phủ. Tuyển chọn đến đâu thì tổ chức thành đơn vị đại đội đến đó, đồng thời với việc lập chi bộ đảng là thành lập chi đoàn thanh niên cùng cấp, cứ 10 đại đội trở lên thành lập một liên chi ủy và liên chi đoàn thanh niên.

Trên chiến trường, sự hy sinh của những thanh niên Việt Nam đã tiếp thêm sức mạnh cho ngọn lửa yêu nước trong trái tim những người đồng đội trên tiền tuyến và cả triệu người nơi hậu phương. Lịch sử không thể nào quên tấm gương anh dũng hy sinh của anh hùng Phan Đình Giót, người đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau khi nâng súng tiểu liên bắn vào lỗ châu mai, người thanh niên ấy hô to: “Quyết hy sinh...Vì Đảng... Vì dân”. Lịch sử cũng ghi danh người anh hùng Tô Vĩnh Diện, người đã lấy thân mình chèn thân pháo, khi cả đơn vị kéo pháo ra tập kết ở Bắng Hôm để chờ lệnh mới... Tấm gương sáng của người anh hùng Trần Can, mặc dù bị thương, anh vẫn tập hợp những thương binh hạng nhẹ, chấn chỉnh tổ chức và tham chiến trước yêu cầu nhanh chóng kết thúc chiến dịch, xiết chặt vòng vây tấn công vào phân khu trung tâm của thực dân Pháp. Trên thân mình vẫn còn không ít những vết thương, người thanh niên ấy đã gạt đi nỗi đau về thể xác để chống trả quyết liệt, quyết tâm bảo vệ cánh cửa Mường Thanh, tạo thế mở cửa cho bộ đội tấn công vào phân khu trung tâm. Anh đã hy sinh vào sáng ngày 07/5/1954, khi mà chỉ còn mấy tiếng nữa là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi vang dội. Lúc ngã xuống trên cây cầu Mường Thanh, Trần Can mới tròn 23 tuổi. Năm 1956, anh trở thành một trong 16 người được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhiều thanh niên đã trở thành những tổ viên hăng hái của các tổ “bắn bia sống”, phong trào “bắn tỉa, săn Tây”, thi đua giữa các lực lượng bộ binh, pháo binh, pháo cao xạ, đánh chắc, tiến chắc, từng bước siết chặt vòng vây, tiến tới tiêu diệt và bắt gọn toàn bộ quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Trong suốt 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”, “máu trộn bùn non”, những người thanh niên Việt Nam có mặt trong chiến dịch Điện Biên Phủ “gan không núng, chí không mòn”. Những chiến công hiển hách của các anh đã làm tỏa rạng chân lý “Đâu cần, thanh niên có; việc gì khó, thanh niên làm” và tô thắm thêm truyền thống kiên cường, dũng cảm, xung kích, anh hùng của thanh niên Việt Nam.

Thanh niên Việt Nam là lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ thuốc men, đạn dược, lương thực, thực phẩm, giao thông thông suốt cho chiến dịch, làm kho tàng, lán trại, canh gác bảo vệ, tải thương, tải đạn... Quân địch cho rằng, mặt trận xa hậu phương gần 600km nên ta không thể cung cấp cho bộ đội đủ súng đạn, lương thực, thực phẩm bằng việc tổ chức vận chuyển bằng thủ công. Theo kinh nghiệm vận tải đã tổng kết ở chiến dịch Tây Bắc (năm 1952), để có 1 kg gạo đến đích phải có 24 kg ăn dọc đường. Vậy, nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên phải huy động từ hậu phương hơn 60 vạn tấn và phải huy động gần 2 triệu dân công để gánh. Do đó, để đánh giá mức độ quan trọng của công tác hậu cần, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét rằng, “việc đảm bảo cung cấp lương thực, đạn dược cho Điện Biên Phủ là một nhân tố vô cùng quan trọng, quan trọng không kém các vấn đề chiến thuật từng ngày, từng giờ... không kém tình hình chiến đấu”.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy Trung ương đã đưa ra giải pháp: một mặt, động viên nhân dân Tây Bắc ra sức tiết kiệm để đóng góp tại chỗ, mặt khác đẩy mạnh làm đường, sửa đường, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực thực phẩm tiêu thụ dọc đường do phải đưa từ xa tới.

Để đáp ứng yêu cầu hậu cần của chiến dịch, 1,5 vạn thanh niên tình nguyện đã được bố trí thành Đội Thanh niên xung phong, biên chế như tổ chức quân đội. Đội 38 làm đường 1B từ biên giới Lạng Sơn - Trung Quốc đến Thái Nguyên để tiếp nhận hàng viện trợ của các nước, làm đường 13 từ Yên Bái sang Sơn La. Đội 34 và Đội 40 trực tiếp bảo đảm giao thông từ Mộc Châu đến gần Điện Biên Phủ, dài trên 200km. Trừ các đại đội phục vụ hỏa tuyến, các đại đội còn lại phục vụ Hội đồng cung cấp mặt trận T100 (tên mật của chiến dịch Điện Biên Phủ). Các đại đội còn lại đóng rải rác trên đường 6 nhưng tập trung nhất là ở Ngã ba Cò Nòi, đèo Chiềng Đông, đèo Chiềng Pắc, đèo Sơn La, đèo Pha Đin, Ngã ba Tuần Giáo, cầu Tà Vài, Yên Châu...

Lực lượng thanh niên xung phong đã sửa chữa, mở rộng, làm mới hàng nghìn ki-lô-mét đường, cầu mở đường cho các đoàn vận tải bằng ô tô, xe đạp thồ, ngựa thồ, gánh bộ, thuyền gỗ, thuyền nan từ các miền tập trung về hướng Điện Biên Phủ. Máy bay địch càng tăng cường đánh phá các tuyến đường vận tải của ta thì lực lượng thanh niên càng ra sức nối lại các tuyến đường huyết mạch. Sau các trận đánh chỉ vài tiếng đồng hồ là đường lại thông. Một trong những lực lượng quan trọng phục vụ hậu cầu cho chiến dịch là đội xe đạp thồ trên 2 vạn người, trong đó phần lớn là ở độ tuổi thanh niên. Mỗi xe đạp thồ trung bình chở khoảng 200 - 300kg, trong đó, kỷ lục xe đạp thồ chở tới 345,5 kg thuộc về dân công Trịnh Ngọc. Xe đạp được cải tiến có thể thồ cao gấp hơn 10 lần dân công gánh bộ, đồng thời giảm được mức tiêu hao gạo ăn dọc đường cho người chuyên chở. Tổng kết chiến dịch, đã có khoảng 26 vạn dân công tham gia tiếp tế cho chiến dịch Điện Biên Phủ, đóng góp 2 triệu ngày công để phục vụ chiến dịch. Từng đoàn người, đa phần đều ở độ tuổi thanh niên nối đuôi nhau trên các con đường vận tải, tất cả đều hướng về Điện Biên Phủ. Mặc cho máy bay Pháp cứ ném bom, những vũ khí, khí tài của chúng không thể nào cản được bước tiến của quân và dân ta hiên ngang mà tiến về phía trước. Xúc động trước hình ảnh ấy, nhà thơ Tố Hữu trong bài thơ “Hoan hô chiến sỹ Điện Biên” đã viết:

          “...Dốc Pha Đin, chị gánh anh thồ

          Đèo Lũng Lô, anh hò chị hát

          Dù bom đạn, xương tan thịt nát

          Không sờn lòng, không tiếc tuổi xanh...”

Tuy nhiên, đã có hàng ngàn thanh niên hy sinh anh dũng tại nhiều tuyến đường dẫn vào Điện Biên Phủ. Đồng chí Nguyễn Văn Trân, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng cung cấp mặt trận đánh giá: “Việc vận chuyển từ hậu phương ra tiền phương biết bao hy sinh. Phải nói rằng thanh niên xung phong là lực lượng nòng cốt không những vận tải mà còn đảm bảo giao thông trên bộ, trên sông. Ở các điểm nóng của chiến dịch đều có mặt thanh niên xung phong”.

Có thể nói rằng, lực lượng thanh niên đã trở thành lực lượng chủ lực đảm bảo cung cấp đầy đủ hậu cần, giao thông thông suốt phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong thư ngày 08/5/1954, Bác Hồ đã gửi lời khen ngợi: “Bác và Chính phủ thân ái gửi lời khen ngợi cán bộ, chiến sỹ, dân công, thanh niên xung phong... đã làm tròn nhiệm vụ một cách vẻ vang”. Bức thư là sự ghi nhận những đóng góp của thanh niên Việt Nam nói chung và lực lượng thanh niên xung phong nói riêng.

Nhờ có sự lao động quên mình của nhân dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng mà vùng hậu phương không những đảm bảo nhu cầu cuộc sống mà còn đáp ứng được nhu cầu lớn về vật chất cho chiến trường. Thanh niên Việt Nam đã chiến đấu kiên cường, đập tan âm mưu lấn chiếm, mở rộng càn quét vùng đồng bằng đông dân, thọc sâu vào hậu phương kháng chiến làm cản trở việc chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã diễn ra cách đây 65 năm, những đóng góp của thế hệ thanh niên năm ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị, trở thành động lực thôi thúc thế hệ trẻ hôm nay tiến bước noi theo thế hệ đi trước và kế tục sự nghiệp cách mạng của cha anh.


Quyền bầu cử của công dân theo Hiến pháp 2013

Quyền bầu cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền bầu cử không chỉ là quyền bỏ phiếu, mà còn bao gồm quyền đề cử. Đây là quyền chính trị quan trọng bảo đảm cho công dân có thể tham gia vào việc thành lập ra những cơ quan quan trọng nhất của mỗi quốc gia. 

CƠ HỘI CHÍNH TRỊ, NHẬN DIỆN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG 

Cơ hội, cơ hội chính trị, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cơ hội hiện đại... là những lực lượng xã hội nảy sinh từ thực tiễn đấu tranh và phân hóa trong nội bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nó là sản phẩm tất yếu của đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản

Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh và thời cuộc cụ thể của cách mạng mỗi nước, xu thế phát triển của thời đại mà tính chất, mức độ và biểu hiện của các loại cơ hội thể hiện khác nhau, nhưng xét về tổng thể đều phương hại không nhỏ đến cách mạng vô sản và sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội của mỗi nước.

Ở Việt Nam, theo nhận thức của chúng tôi, các phần tử cơ hội, cơ hội chính trị chưa đủ lớn mạnh để trở thành trào lưu như một chủ nghĩa, nhưng sự xuất hiện cơ hội chính trị đang có xu hướng bùng phát và lan tỏa nhanh như hiện nay, rất cần phải được nhận diện đúng và có những biện pháp ngăn chặn hiệu quả.

Trong giới hạn của  bài viết này, chúng tôi chỉ xin tiếp cận một số khía cạnh của cơ hội chính trị và những hệ lụy khôn lường của cơ hội chính trị ở nước ta.

Cơ hội chính trị - họ là ai?

Lâu nay, trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, thông thường tham nhũng được xác định là những người có chức có quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản của các tổ chức và cá nhân để trục lợi phi pháp.

Với ý nghĩa ấy, người ta thường quy kết tham nhũng là căn bệnh của quan chức, nhưng thực tế cho thấy, tham nhũng không chỉ giới hạn ở những phần tử thoái hóa, biến chất trong nội bộ các tổ chức Đảng, nhà nước, đoàn thể, tổ chức xã hội thuộc hệ thống chính trị, mà còn bao gồm cả những vị có chức sắc trong các tổ chức hội đoàn, đoàn thể bên ngoài hệ thống chính trị xã hội, nếu có các hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản của tổ chức và cá nhân khác.

Hiện nay, ở nước ta khi nói đến cơ hội chính trị và các phần tử cơ hội chính trị, thông thường cũng giới hạn cơ hội chính trị là tất cả những ai có quá trình tham gia hoạt động cách mạng, ít nhiều có những đóng góp và công lao nhất định đối với cách mạng, nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng vì những điều kiện hoàn cảnh lịch sử khác nhau, lợi ích cá nhân của bản thân họ không được đáp ứng, họ tỏ ra bất mãn, bi quan, dao động, xuất hiện tư tưởng, quan điểm mơ hồ, lệch chuẩn.

Thậm chí nảy sinh cả tư tưởng chống đối, hoặc làm trái với chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, ủng hộ và cổ xúy cho những quan điểm sai trái thù địch, ngấm ngầm hoặc công khai tiếp tay cho các tổ chức chính trị phản động nhằm thỏa mãn cái tôi ích kỷ và tham vọng của cá nhân...

Tiếp cận và nhìn nhận về cơ hội chính trị như nêu trên tuy rất đúng, trúng nhưng chưa đầy đủ, chưa bao quát được những biểu hiện rất đa dạng và các khuynh hướng phát triển của các phần tử cơ hội chính trị hiện nay.

Vì vậy, theo chúng tôi, nếu cơ hội là phạm trù rộng dùng để chỉ tất cả những kẻ vì bản thân mình mà tìm mọi cách thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh sống nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bất chấp lợi ích của cộng đồng, của xã hội, lấy việc suy tôn lợi ích cá nhân làm lý tưởng và lẽ sống thì cơ hội chính trị phải là khái niệm dùng để chỉ tất cả những ai dù có hay không có địa vị nhưng sống xu thời, vụ lợi, nặng đầu óc cá nhân chủ nghĩa, không có chính kiến, quan điểm rạch ròi, hoang mang dao động, dễ thỏa hiệp sẵn sàng thay đổi, luôn luôn biết cách khai thác và triệt để lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để thỏa mãn nhu cầu và lợi ích cá nhân, bất chấp các hậu quả đối với xã hội.

Vì vậy đối tượng cơ hội chính trị không chỉ giới hạn ở những cán bộ lãnh đạo Đảng, nhà nước và các đoàn thể trong hệ thống chính trị bị tha hóa mà còn cả những phần tử chống đối, phản cách mạng đã từng bị xử lý nuôi tham vọng chờ cơ hội phục thù, những nhân sỹ, trí thức, các chức sắc tôn giáo, văn nghệ sỹ, thậm chí có cả một bộ phận trí thức trẻ, có nguồn gốc xuất thân từ các thành phần xã hội phức tạp, thiếu tu dưỡng rèn luyện, nặng về hưởng thụ, lãng quên trách nhiệm với cộng đồng… Có thể khái quát cơ hội chính trị ở nước ta có một số nhóm nổi bật sau đây:

- Nhóm cơ hội chính trị đang là cán bộ công chức, viên chức, sỹ quan Quân đội, Công an, văn nghệ sỹ, trí thức, nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà sử học,... hiện đang làm việc trong các cơ quan Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, cơ quan đoàn thể... được nhà nước trả lương từ ngân sách.

- Nhóm thứ hai họ cũng là đối tượng nêu trên nhưng đã nghỉ hưu sống bằng lương hưu, thậm chí có người bỏ Đảng, bỏ chế độ hưu, sống tự do, công khai đối lập với Đảng, ra mặt công kích chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, lợi ích của xã hội...

- Nhóm thứ ba bao gồm các phần tử chống đối, bất mãn (có cả những người của hai nhóm trên); các đối tượng có hận thù với cách mạng, viên chức chế độ cũ đã bị cách mạng cải tạo, xử lý nhưng vẫn nuôi tham vọng phục thù, lợi dụng các yếu tố thời cuộc bất lợi, cấu kết với các thế lục thù địch tìm mọi cách kết nối thành hội, nhóm, manh nha hình thành các tổ chức phản động chống phá sự nghiệp cách mạng.

- Nhóm thứ tư là thủ lĩnh các dân tộc, bộ tộc ít người, các chức sắc tôn giáo có tư tưởng chính trị cực đoan, họ thường tìm cách triệt để khai thác các vấn đề chính trị xã hội trong nước, kết hợp móc nối, tranh thủ sự hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài, tìm cách phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, mưu toan tạo phản, lật đổ chế độ, đưa tôn giáo vào chính trị và nuôi ý tưởng lập nhà nước riêng.

Tuy nhiên các nhóm cơ hội chính trị nói trên không phải lúc nào cũng đồng nhất, đồng thuận về mục đích, mục tiêu và phương thức hoạt động. Mỗi nhóm có cách tiếp cận riêng, có các hình thức tổ chức tập hợp lực lượng và phản kháng ở nhiều cấp độ khác nhau.

Một số biểu hiện cụ thể, tính chất và hệ lụy khôn lường của cơ hội chính trị hiện nay:

Cơ hội chính trị có nhiều cấp độ biểu hiện, có những người do hạn chế về nhận thức, thiếu thông tin hoặc tiếp nhận thông tin từ những kênh không chính thống, bị kẻ xấu lợi dụng, đứng trước các sự kiện phức tạp về chính trị xã hội thường tỏ ra dao động, thiếu tự chủ, mất niềm tin, mất phương hướng, hành động lệch chuẩn, gián tiếp tiếp tay cho các thế lực thù địch. Bộ phận khác do “công thần”, sống vụ lợi ích kỷ, thiếu tu dưỡng rèn luyện, khi lợi ích cá nhân không được đáp ứng, thể hiện và biểu lộ công khai quan điểm bất mãn. Họ thường nói và là trái với quan điểm của Đảng, gây xáo trộn và phân tâm trong xã hội, tạo môi trường xấu.

Tuy chưa câu kết móc nối với các phần tử cơ hội cực đoan, bọn phản động và các thế lực thù địch nhưng bộ phận này xét về cả trước mắt và lâu dài, nếu không có biện pháp ngăn chặn hiệu quả sẽ rất bất lợi cho sự nghiệp chung.

Đáng chú ý là nhóm cơ hội chính trị cực đoan. Nhóm này thường bộc lộ công khai tư tưởng bất mãn, chống đối. Họ triệt để khai thác các khiếm khuyết của cơ chế, chính sách, lợi dụng những người có địa vị, uy tín cá nhân nhưng bất mãn hoặc đã từng bị xử lý, nhằm tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng, công kích chính diện vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của chế độ ta với động cơ và mục đích không lành mạnh, gieo rắc tâm trạng hoài nghi, tư tưởng bất mãn, chống đối, tạo hạ tầng xã hội bất lợi phục vụ cho mưu toan bạo loạn, lật đổ khi có đủ các điều kiện.

Nhóm đặc biệt nghiêm trọng là nhóm có khuynh hướng tạo phản. Nhóm này gồm các phần tử cơ hội chính trị cực đoan cộm cán. Họ thường là những nhân sỹ trí thức lớn, những cán bộ lãnh đạo cấp cao và tướng lĩnh Quân đội, Công an bất mãn, thủ lĩnh các dân tộc và tôn giáo ở những vùng đặc biệt nhạy cảm. Họ âm thầm nhen nhóm, tập hợp lực lượng, tạo dựng ngọn cờ tìm cách móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài công khai chống phá cách mạng; đối lập với sự nghiệp của nhân dân, của Đảng.

Trong các nhóm nêu trên theo chúng tôi nguy hại hơn cả là những phần tử cơ hội chính trị đang đương chức. Bởi cơ hội chính trị đương chức gồm nhiều thành phần, nhiều cấp bậc chức vụ, nhiều độ tuổi và trình độ khác nhau. Có người có trình độ cao, chuyên môn sâu, hiểu biết và quan hệ rộng không chỉ ở trong nước mà cả ngoài nước. Không ít người do đảm nhận vị trí nhạy cảm nên có nhiều thông tin cơ mật cả tích cực và tiêu cực. Thậm chí là cả những bí mật quốc gia và các khiếm khuyết trong lãnh đạo điều hành của Đảng, chính phủ.

Do cơ hội, bất mãn, họ tìm cách khai thác các thông tin xấu. Đây là những đối tượng rất dễ bị các thế lực bên ngoài móc nối, lôi kéo. Vì thế, cơ hội và phản bội là rất gần nhau. Thực tiễn lịch sử chỉ rõ, trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước, chống thù trong bao giờ cũng là nhiệm vụ cực kỳ gian khó, kẻ thù bên trong luôn luôn là những kẻ vô hình. Giữ nước từ bên trong, củng cố sức mạnh bên trong là tiền đề vững chắc chống lại các thế lực từ bên ngoài.

Hiện nay, đất nước đang đứng trước những vận hội chưa từng có để đẩy mạnh hội nhập và phát triển sâu rộng. Chưa bao giờ chúng ta có được thế và lực tốt với nhiều ưu thế như hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế, chúng ta vẫn phải đang đối mặt với nhiều thách thức không nhỏ.

Do xuất phát điểm thấp, trình độ khoa học công nghệ chưa cao, năng lực quản lý điều hành còn nhiều hạn chế;… nên khoảng cách về năng xuất lao động, thu nhập bình quân đầu người và sức cạnh tranh của nền kinh tế giữa Việt Nam và các nước vẫn còn một khoảng cách.

Trong lúc đang phải tập trung giải quyết bài toán lớn về kinh tế, Việt Nam cũng đồng thời phải đối mặt với những mưu toan thâm độc và nham hiểm của các thế lực thù địch, mặt trái của kinh tế thị trường và sự suy thoái xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ các cán bộ, đảng viên. Đây được xem là “cơ hội vàng” để các phần tử cơ hội nói chung, cơ hội chính trị nói riêng bùng phát và lan tỏa mạnh mẽ.

Ngăn chặn và đẩy lùi cơ hội chính trị - Một số kiến nghị và đề xuất

“Diễn biến hòa bình” và cuộc đấu tranh phòng chống “diễn biến hòa bình” giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ không thể tách rời với cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống các phần tử cơ hội chính trị. Đây phải được xem là một trong những nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn trong giai đoạn hiện nay. Để góp phần hoàn thành sứ mệnh trọng đại này, theo chúng tôi cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng yếu sau đây:

Thứ nhất: Cần có lộ trình, bước đi cụ thể và giải pháp hợp lý đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống chính trị xã hội. Một mặt huy động năng lực trí tuệ và nguồn lực của cả xã hội, tập trung củng cố, nâng cấp và từng bước hoàn thiện những giá trị cốt lỗi nhất của chủ nghĩa xã hội, kiên quyết đấu tranh gìn giữ và bảo vệ sự nguyên vẹn của những giá trị đích thực ấy trước mọi mưu toan chống phá.

Mỗi chế độ chính trị đều có những giá trị tinh thần bất khả xâm phạm làm nền tảng cho sự tồn tại của chế độ. Mặt khác chúng ta cũng cần phải thừa nhận, trong quá trình phát triển, không có tiêu chuẩn nào là vĩnh cửu, tuyệt đối đúng. Mọi sự vật, hiện tượng vừa có tuyệt đối vừa tương đối. Tuyệt đối chính là sự tập hợp của nhiều cái tương đối.

Trong khuôn khổ của định hướng giá trị sống và luật pháp - nền tảng pháp lý cho sự tồn tại của xã hội, mọi công dân phải được thẳng thắn và công khai trình bày các chính kiến và quan điểm của mình. Được sống và theo đuổi các định hướng giá trị mà họ lựa chọn với điều kiện tuyệt đối không được làm phương hại đến lợi ích của người khác, lợi ích của xã hội và sự an nguy của chế độ. Nghĩa là phải thực sự tự do tư tưởng, tự do sáng tạo; theo đuổi đam mê, có các cơ hội được giãi bày quan điểm, chính kiến, không bị áp đặt, cưỡng chế dưới bất kỳ hình thức nào. Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự nghiệp chính nghĩa – Giá trị đích thực mà công cuộc đổi mới đem đến sẽ có sức cảm hóa và thu phục mạnh mẽ.

Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài việc phục vụ vô điều kiện lợi ích của nhân dân. Đó là chân lý được thực tiễn kiểm nghiệm. Chúng ta sẵn sàng tiếp nhận đối thoại trên tinh thần cầu thị, xây dựng với tất cả mọi ý kiến nếu đó là các ý nghĩa không nhằm chống phá và lật đổ chế độ.

Thứ hai: Cần nhanh chống sàng lọc và sớm đưa ra khỏi bộ máy những phần tử cơ hội chính trị. Đây là những phần tử cực kỳ nguy hại. Do hoạt động lâu năm trong nội bộ ta, họ là người hiểu rất rõ ta mạnh yếu thế nào. Họ có kinh nghiệm giấu mình và đối phó với các cơ quan chức năng của ta. Đối với phần tử cốt cán, cực đoan, quá khích cần tạo điều kiện để các tổ chức chính trị xã hội và quần chúng nhân dân công khai vạch mặt chỉ rõ dã tâm đen tối của họ, xử lý nghiêm đúng người, đúng tội theo đúng quy định của pháp luật. Các phần tử cơ hội chính trị khác tùy thuộc vào vị trí đảm nhận, địa bàn công tác, hoàn cảnh và điều kiện sống cụ thể mà có các hình thức xử lý thích hợp. Những ai do thiếu hiểu biết, nhận thức chưa tới, dao động bất mãn, chúng ta kiên trì giáo dục thuyết phục. Những ai nhất thời bị kẻ xấu lôi kéo dụ dỗ, công khai bộc lộ thái độ, công thần, ra mặt chống phá chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, nói và làm thiếu nhất quán... chúng ta cũng vẫn phải bằng tin thần nhân văn cộng sản, tìm mọi giải pháp hợp lý, lấy thu phục cảm hóa là chính, giúp họ nhận ra sai lầm, tìm đường trở về lại với chính nghĩa.

Nói chung, xử lý các phần tử cơ hội chính trị rất cần thấu triệt tư duy biện chứng, lấy khoan hồng hòa hiếu làm trọng tâm và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Nghiêm trị đúng người đúng tội cũng là cách để cảnh tỉnh, cảnh báo răn đe nhằm thu phục cảm hóa, lôi kéo những người lầm lối trở về. Loại trừ những kẻ cực đoan chọn con đường đối lập “một mất một còn”, bộ phận còn lại vẫn phải lấy vị tha làm phương thức thu phục cảm hóa. Đó là tinh thần lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, thu hẹp bất đồng, phấn đấu vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Thứ ba: Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, bố trí sử dụng hợp lý cán bộ trong điều kiện mới. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, trong tổ hợp nguyên nhân làm xuất hiện và nảy sinh các phần tử cơ hội chính trị, không loại trừ có nguyên nhân từ những bất cập của công tác tuyển chọn, bố trí không hợp lý cán bộ.

Tình trạng bất công, bất bình đẳng và thiên vị trong công tác cán bộ theo kiểu “cả họ làm quan”, “nhất thân nhì quen”... thời gian qua đã làm xuất hiện và nảy sinh tâm trạng bất mãn, tích lũy lâu dần dẫn đến thái độ chống đối. Nếu không kiên quyết khắc phục về cả trước mắt và lâu dài, đây vẫn là điểm nghẽn rất nguy hại.

Nhiều cán bộ thực sự có năng lực nhưng vì nhiều nguyên nhân, họ không được bố trí sử dụng hợp lý, thậm chí còn bị thải loại trong việc tái bố trí cán bộ. Công tâm, công bằng, khách quan dựa trên những tiêu chuẩn đích thực khoa học và một số cơ chế kiểm tra, rà soát bố trí cán bộ đúng sẽ là giải pháp hiệu quả ngăn ngừa xu hướng xuất hiện và nảy sinh cơ hội chính trị.

Thứ tư: Đẩy mạnh và kiên trì giải pháp giáo dục chính trị tư tưởng và tăng cường công tác quản lý giám sát cán bộ, đảng viên cả trong và ngoài hệ thống chính trị. Những phần tử cơ hội chính trị phần đông đều xuất phát từ tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, đề cao và tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ dạy: Chủ nghĩa cá nhân là căn bệnh nguy hại nhất làm tha hóa cán bộ.

Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, một khi lợi ích vật chất được lựa chọn làm thang giá trị sống của không ít cán bộ đảng viên thì vấn đề “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” phải trở thành nội dung quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Đảng phải có trọng trách bảo đảm bằng cơ chế chính sách hợp lý để không một cán bộ đảng viên nào của Đảng được phép đặt lợi ích cá nhân mình trên lợi ích của Đảng, của đất nước. Cơ chế để thực thi trọng trách lớn lao này là phương thức góp phần ngăn chặn xu hướng phát triển của các phần tử cơ hội chính trị.

Thứ năm: Kiên trì thực hiện nhất quán chính sách tôn vinh và đãi ngộ thỏa đáng những người có công với cách mạng. Lâu nay, Đảng, nhà nước và nhân dân đã có rất nhiều nỗ lực làm tốt chính sách đối với người có công. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, thậm chí có cả nguyên nhân từ phía những cơ quan có trách nhiệm, không ít những người có công bị lãng quên hoặc đãi ngộ không thỏa đáng. Bên cạnh đó, chính sách đối với cán bộ hưu trí, những người về hưu cũng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa được khắc phục. Nhiều thắc mắc, khiếu kiện của những người về hưu liên quan đến chế độ chính sách của bản thân họ không được xử lý thỏa đáng. Thái độ của một bộ phận cán bộ trẻ tiếp xúc ứng xử giải quyết chế độ chính sách đối với người về hưu cũng chưa thật sự làm cho các cụ hài lòng. Đãi ngộ thỏa đáng, tôn vinh đúng mức, ứng xử chân thành với đội ngũ cán bộ hưu trí, những người có công theo đúng đạo lý uống nước nhớ nguồn cũng là một trong những giải pháp cần đặc biệt quan tâm.

Thứ sáu: Gắn cuộc đấu tranh ngăn chặn các phần tử cơ hội chính trị với cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực thi triệt để nội quy kiểm soát về quyền lực, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách, nâng cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên. Kiên quyết khắc phục khoảng cách giữa nói và làm. Thực tế cho thấy, tham nhũng là một kênh quan trọng làm cho cán bộ tha hóa, biến chất, một khi đã tha hóa biến chất họ sẽ là lực lượng bổ sung cho “đội quân cơ hội chính trị”. Cơ hội trong hoàn cảnh này dẫn đến phản bội là không có khoảng cách.

Cùng với tham nhũng, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống nghiêm trọng kéo dài, buông lỏng việc kiểm soát quyền lực cũng là những tác nhân tạo cớ cho sự nảy nở phát triển của các phần tử cơ hội chính trị. Đảng phải thật sự trong sạch, trong sạch của Đảng là nhân tố ngăn chặn có hiệu quả các khuynh hướng nảy sinh cơ hội chính trị.

Chúng tôi cho rằng giải pháp của mọi giải pháp là tập trung xây dựng Đảng. Cùng với đó là sự hoàn thiện cơ chế chính sách, sự đồng bộ giữa cơ chế và hệ thống pháp luật. Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật hiện đại và đồng bộ. Đội ngũ cán bộ đảng viên là những người gương mẫu và tiêu biểu. Đó sẽ thực sự là pháo đài bất khả chiến bại trong cuộc đấu tranh phòng chống và loại trừ các phần tử cơ hội chính trị ra khỏi đời sống chính trị xã hội hiện nay. 
                                                                                                                                                              PVV (st)

NHẬN DIỆN HÀNH ĐỘNG CHỐNG PHÁ BẦU CỬ QUỐC HỘI

 Bằng việc xuyên tạc thông tin, đưa ra những bình luận, nhận xét, đánh giá thiếu trung thực, phiến diện, một chiều, quy chụp, các đối tượng xấu đang hướng lái dư luận theo hướng tiêu cực, kích động tư tưởng hoài nghi về công tác bầu cử, gieo rắc nhận thức sai lầm liên quan đến hoạt động bầu cử. Trong đó, những nội dung chống phá chính mà các đối tượng xấu đang tiến hành có thể kể đến là:

Thứ nhất, chúng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử

Thời gian vừa qua, ngoài các website, trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành, một số trang báo nước ngoài có cái nhìn thiếu thiện cảm đối với Việt Nam cũng liên tục tung ra những bài viết, bài phỏng vấn chứa đựng nội dung tiêu cực, thiếu chính xác về công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp tại nước ta. Các đối tượng xấu đưa ra luận điệu hết sức sai lệch và thâm hiểm như: “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”, “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”, “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử” v.v…

Căn cứ những nhận định phiến diện trên, các đối tượng xấu quy kết cho rằng cuộc bầu cử do Đảng Cộng sản lãnh đạo là không chính danh, không đúng quy định của pháp luật, ngăn cản quyền bầu cử của công dân. Từ đây, các đối tượng đưa ra yêu sách đòi Đảng Cộng sản không được tham gia vào công tác bầu cử, không được thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo công tác bầu cử; phải “tự rút lui” và từ bỏ quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, chấp nhận sự cạnh tranh với những đảng phái khác để thúc đẩy dân chủ v.v…

Những luận điệu, nhận định mà các đối tượng đang rêu rao như trên là hoàn toàn sai sự thật. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Tại Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp nước ta quy định rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam-Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo đối với công tác bầu cử là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật.

Về mặt thực tiễn, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là cơ sở quan trọng để bảo đảm sự thống nhất trong công tác bầu cử; góp phần lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, bảo đảm đủ tiêu chuẩn, đủ số lượng, có cơ cấu hợp lý đối với đội ngũ đại biểu; tạo nền tảng cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu không có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, về mọi mặt của Đảng Cộng sản, chắc chắn nhiều vấn đề bất ổn sẽ nảy sinh, là mầm mống cho sự suy yếu của đất nước. Đảng lãnh đạo bầu cử không phải là làm thay, không bao biện, không khuynh loát trong bầu cử. Ngày 20-6-2020, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Bộ Chính trị xác định rõ công tác bầu cử diễn ra trong bối cảnh hết sức khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức như: sự ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; những diễn biến phức tạp, khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, công nghệ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế; hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta của các thế lực thù địch v.v… Vì vậy, việc Đảng lãnh đạo công tác bầu cử là điều cần thiết để củng cố, đoàn kết thống nhất sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhằm tận dụng mọi thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

Thứ hai, các phần tử chống phá thực hiện chiêu trò “tự ứng cử”, hô hào các hội nhóm dân chủ trên mạng xã hội ký tên ảo, tung hô, ủng hộ cho các “nhà dân chủ” để gây rối, phá hoại cuộc bầu cử.

Không phải đến thời điểm hiện tại các đối tượng chống phá mới tiến hành chống đối bằng chiêu trò “tự ứng cử”. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, chúng ta cũng đã được chứng kiến một “làn sóng” tự ứng cử của các “nhà dân chủ” và một số văn nghệ sĩ biến chất. Khi không đủ điều kiện và bị loại qua các vòng hiệp thương, các đối tượng này lên mạng xã hội rêu rao những luận điệu hết sức sai trái như: chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải trải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội v.v…

Có thể thấy mục đích cơ bản nhất của chiêu trò “tự ứng cử” mà các “nhà dân chủ” đang thực hiện là nhằm phá hoại bầu cử. Đồng thời, thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, các đối tượng đánh bóng tên tuổi của bản thân trong giới “dân chủ”.

Ngoài ra, những thông tin được các đối tượng xấu đưa ra đã trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch bên ngoài xuyên tạc, biến tướng, vu khống, công kích công tác bầu cử của Việt Nam. Pháp luật nước ta quy định công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND các cấp. Quyền bầu cử và ứng cử là của công dân, là quyền được hiến định. Không ai có quyền cản trở việc công dân thực hiện những quyền này.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND.

Chính vì vậy, những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Trong đó, các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm…

Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20-6-2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Thứ ba, các đối tượng chống phá ra sức xuyên tạc công tác tổ chức bầu cử, tung ra các kiến nghị vô căn cứ

Trên nhiều trang mạng xã hội do các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối, cơ hội chính trị điều hành đang lan truyền những bài viết“xếp ghế” cho nhân sự trong Quốc hội. Các đối tượng rêu rao những luận điệu vô cùng độc hại, tiêu cực, cho rằng bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe nhóm” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”. Những luận điệu này đã tiếp cận đến không ít người dùng mạng xã hội. Ngoài ra, trước vấn đề về số lượng, cơ cấu đại biểu Quốc hội, đặc biệt là về số lượng đại biểu là người ngoài Đảng, các đối tượng cơ hội chính trị cũng tích cực chọc ngoáy, xuyên tạc, biến tướng bản chất vấn đề.

Tại Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/1/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu là người ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu cử, các đối tượng xấu đã biến tướng, xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu hướng lái, cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng… Thậm chí, có đối tượng còn đòi xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản.

Nhìn lại lịch sử, có thể thấy chiêu trò “đòi ghế” trong Quốc hội không phải là điều mới. Ngay trong lần tổng tuyển cử đầu tiên khi đất nước mới giành được độc lập, trong bối cảnh trong nước và quốc tế có những diễn biến vô cùng phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội (Việt quốc, Việt cách) đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.

Cũng cần cảnh giác rằng, hiện nay, các thế lực phản động, chống đối cũng tìm mọi thủ đoạn để phá hoại bầu cử, không loại trừ việc cài cắm các “mầm mống dân chủ” vào Quốc hội nhằm biến nghị trường trở thành diễn đàn để cách đối tượng thực hiện hoạt động chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình”, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong.

Do vậy, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 thì ngay lúc này, việc nâng cao cảnh giác, nhận diện và chủ động đấu tranh, quyết liệt làm thất bại những thủ đoạn xuyên tạc, gây rối, bôi nhọ, phá hoại của các thế lực thù địch và các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị là điều rất cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.

                                                                                                                                                                             TĐT (ST)

Việt Nam nêu quan điểm trước báo cáo của Freedom House cho rằng Việt Nam không có tự do

 

Việt Nam nêu quan điểm trước báo cáo của Freedom House cho rằng Việt Nam không có tự do

Trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước báo cáo của tổ chức Freedom House cho rằng Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm quốc gia không có quyền tự do, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là thúc đẩy quyền con người, trong đó có các quyền tự do cơ bản được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật liên quan. Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật để triển khai nhiều biện pháp cụ thể, đảm bảo tốt hơn quyền con người, quyền công dân, tích cực tham gia hợp tác quốc tế về quyền con người.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu một ví dụ điển hình là trong khuôn khổ Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ lần thứ III của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc vào năm 2019, các nước quan tâm đã tham gia đông đảo tại phiên họp. Đại đa số ý kiến các nước đã đánh giá cao nỗ lực và thành tựu, ủng hộ cách tiếp cận của Việt Nam, cũng như là đưa ra các kiến nghị có tính chất xây dựng.

Trước đó, vào ngày 5/3/2021, tổ chức nhân quyền Freedom House đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam được chấm 19/100 điểm.

Chỉ số tự do Internet của Việt Nam chỉ đạt 22/100 điểm. Freedom House xuyên tạc Việt Nam không có tự do Internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...