Thứ Hai, 15 tháng 3, 2021

VẠCH MẶT TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG UỶ BAN CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN -BPSOS

Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) do Phan Lạc Tiếp (SN 1933), nguyên là sĩ quan hải quân Nguỵ quân Sài Gòn và Nguyễn Hữu Xương, nguyên giáo sư Đại học San Diego, thành lập năm 1980, có trụ sở tại Sandiego, Carlifornia (Mỹ) với mục đích giúp đỡ người Việt “tị nạn” tại Mỹ. Năm 1990, Phan Lạc Tiếp và Nguyễn Hữu Xương đã chuyển giao cho Nguyễn Đình Thắng (SN 1958, tại TP Hồ Chí Minh, quốc tịch Mỹ), tiếp tục điều hành BPSOS. Sau khi tiếp nhận, Thắng đã dời trụ sở của BPSOS đến bang Falls, Church, Viginia (Mỹ) và hướng lái các hoạt động chuyển sang việc lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chống phá Việt Nam.

BPSOS là gì?
Quá trình hoạt động, Nguyễn Đình Thắng triệt để lợi dụng danh nghĩa của một tổ chức hoạt động trên lĩnh vực “cứu trợ thuyền viên”, “người tị nạn”, “chống buôn người” để xin kinh phí hoạt động. Ngoài ra, đối tượng còn thường xuyên tổ chức các buổi vận động gây quỹ trong cộng đồng người Việt tại Mỹ, Canada.
Với sự hậu thuẫn của một số chính khách thiếu thiện chí với Việt Nam và nguồn kinh phí như trên, BPSOS đã trở thành một tổ chức phản động lưu vong chống đối quyết liệt ở cả trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia. BPSOS xây dựng “Ban điều hành” gồm 3 cấp: Hội đồng quản trị, Đội ngũ điều hành, quản lý các chi nhánh, phạm vi hoạt động tại Mỹ và một số nước lân cận Việt Nam; móc nối, tuyển mộ nhân viên và các tình nguyện viên ở một số nước.
Tại Việt Nam, Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn đã xây dựng các kế hoạch hoạt động với mưu đồ “chuyển hóa nền dân chủ Việt Nam” theo mô hình phương Tây. Chúng đề ra mục tiêu sẽ lôi kéo, tập hợp lực lượng trong nước hình thành khoảng 1.000 “cộng đồng” (thực chất là các hội, nhóm xã hội dân sự) với đa dạng thành phần (các dân tộc, tôn giáo, công nhân, công chức, tri thức...), tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam, nhằm chuyển hóa thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở bên ngoài, Nguyễn Đình Thắng cùng số đối tượng cầm đầu đã huy động các chiến dịch như “Thỉnh nguyện thư”, “Người Mỹ gốc Việt đòi tài sản”..., lợi dụng các sự kiện quốc tế, diễn đàn nhân dân ASEAN; Hội nghị tự do tôn giáo quốc tế..., để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền; tích cực vận động chính giới các nước, thông qua dự luật nhân quyền nhằm gây sức ép, yêu cầu Việt Nam phải trả tự do cho số đối tượng chống đối trong nước đang bị bắt và xử lý. Lợi dụng danh nghĩa hoạt động nhân đạo “chống buôn người” “bảo vệ người tị nạn”..., thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc các nhóm người Việt lao động bất hợp pháp, ngư dân đánh bắt cá trái phép bị bắt tại một số nước Đông Nam Á để tìm chọn, đào tạo đội ngũ cốt cán đưa về nước hoạt động chống phá, đồng thời, thành lập “Trung tâm phối hợp” tại Thái Lan nhằm liên kết “lực lượng dân chủ khu vực ASEAN” hoạt động chống phá ta; hỗ trợ Việt kiều thuộc thế hệ thứ 2 và thứ 3..., hỗ trợ số đối tượng vượt biên sang Mỹ, Canada; móc nối tuyển lựa số này tham gia các hoạt động chống phá Việt Nam. Đồng thời, hỗ trợ số đối tượng trong nước vượt biên, định cư tại Mỹ, Canada..., sau đó, móc nối và tuyển lựa số này tham gia các hoạt động chống phá Việt Nam.
Những hoạt động chống đối của BPSOS
Ở trong nước, BPSOS tập trung vào các hoạt động tổ chức huấn luyện cho số đối tượng trong nước nhằm móc nối, lôi kéo xây dựng đội ngũ cốt cán, thúc đẩy “phong trào xã hội dân sự” hình thành các “Cộng đồng tôn giáo độc lập tại Việt Nam”. Từ năm 2016 đến nay, BPSOS đã tổ chức các khóa huấn luyện cho các đối tượng ở trong nước chủ yếu là số trí thức, thành viên có nhận thức lệch lạc về chính trị, pháp luật, số đối tượng chính trị cực đoan trong tôn giáo, dân tộc. Qua huấn luyện, BPSOS đã hướng dẫn số đối tượng này viết báo cáo về vấn đề dân chủ, nhân quyền với mục đích tuyên truyền chống Việt Nam.
Cùng với đó, các đối tượng đã liên kết, hỗ trợ tiền cho số đối tượng trong nước thành lập các hội nhóm trá hình dưới danh nghĩa hoạt động “dân chủ” “nhân quyền” để tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Tăng cường liên kết, móc nối với các tổ chức “xã hội dân sự” để triển khai các hoạt động chống phá từ bên ngoài. BPSOS tuyên bố đã liên kết với các hội nhóm chống đối trong nước, để thu thập thông tin, xây dựng báo cáo xuyên tạc về tình hình Việt Nam nhằm đưa vấn đề này ra các cuộc họp; hội thảo do các cơ quan có thẩm quyền đứng ra tổ chức.
Mặc dù hoạt động với danh nghĩa “hỗ trợ tị nạn” song thực chất BPSOS đã triệt để lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền, chống phá Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế cũng như gây phức tạp tình hình ANTT tại một số địa phương trong nước. Các đối tượng lập văn phòng tại Bangkok và thành lập một số “tổ chức dân sự”, “ngoại vi chuyên hoạt động trong lĩnh vực cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan như ACF, PSPF; móc nối, liên kết với một số tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền và tị nạn Thái Lan để tiếp tay cho số đối tượng người Việt vượt biên trái phép đối phó với các biện pháp bắt giữ, điều tra, xét xử của chính quyền Thái Lan (và) tác động các tổ chức lên tiếng đòi trả tự do cho số đối tượng trên trong trường hợp bị bắt giữ. Không dừng lại ở đó, BPSOS còn chỉ đạo nhóm ACF tại Thái Lan và NEXT GEN (tổ chức do BPSOS lập ra, tập hợp số thanh niên gốc Việt tại Mỹ, từng tham gia hội nghị “Thượng đỉnh lãnh đạo thanh niên 2019” được BPSOS hướng lái, hoạt động chống Việt Nam.
Cùng với đó, BPSOS tổ chức các hoạt động đào tạo, huấn luyện cho các đối tượng tị nạn Thái Lan, Campuchia cũng như một số đối tượng thuộc các hội nhóm dân tộc, tôn giáo trong nước về kỹ năng thu thập tin tức, viết báo cáo hoạt động “vi phạm nhân quyền” của giới chức một số địa phương tại Việt Nam; lấy thông tin này làm tài liệu tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế. Cụ thể, tại Hội nghị tự do tôn giáo, tín ngưỡng Đông Nam Á lần thứ V (SEA FORBV) được tổ chức tại Bangkok từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 11 năm 2019 đã có khoảng hơn 20 đối tượng trong các hội, nhóm trong nước cũng như đang “tị nạn” tại Thái Lan được BPSOS huấn luyện về kỹ năng viết “báo cáo vi phạm nhân quyền” và tiếp cận với giới chức phương Tây.
Nhóm NEXT GEN tìm cách kết nối với số người vượt biên tại Campuchia, Thái Lan để mở lớp đào tạo tiếng Anh cho số này qua các ứng dụng trực tuyến... Khai thác thông tin từ các đối tượng vượt biên trái phép để tập hợp hồ sơ vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ, nhân quyền” tại các diễn đàn quốc tế. Hiện, BPSOS đã tập hợp được khoảng 100 hồ sơ về các vụ việc chúng cho là “vi phạm nhân quyền” tại Việt Nam trong 15 năm gần đây để trình Bộ Ngoại giao Mỹ xem xét, áp dụng biện pháp chế tài với một số cán bộ, chính quyền theo luật “Magnistsky”
Đồng thời, khai thác thông tin từ các đối tượng vượt biên trái phép để tập hợp hồ sơ vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ, nhân quyền” tại các diễn đàn quốc tế. Hàng trăm hồ sơ về các vụ việc được các đối tượng cho là “vi phạm nhân quyền” tại Việt Nam trong khoảng 15 năm gần đây. Để phô trương thanh thế, các đối tượng liên tục “quảng bá” về thành tích “cứu trợ người tị nạn” ở Thái Lan của BPSOS thông qua các trang mạng, báo và đài hải ngoại như RFA, VOA, Mạch sống Media..., cũng như các lớp đào tạo, huấn luyện một số đối tượng trong nước. Trong đó, nêu bật những vấn đề BPSOS đã và đang trợ giúp người tị nạn nhất là vấn đề tài chính, pháp lý để sang định cư tại các nước phương Tây. Qua đó, tạo ảo tưởng, kích động hoạt động vượt biên của các đối tượng trong nước.
Song, thực tế đã chứng minh những vấn đề nảy sinh trong hoạt động “cứu trợ người tị nạn” của BPSOS. Trong quá trình hoạt động, “cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan, Campuchia, BPSOS đã bộc lộ nhiều vấn để bất minh, mâu thuẫn trong nội bộ và với các tổ chức phản động khác. Trong khi BPSOS tiến hành các hoạt động “cứu trợ người tị nạn” thì các tổ chức phản động như “Việt Tân”, VOICE,... cũng đang có các hoạt động “cứu trợ người tị nạn” tại Thái Lan, Campuchia. Không dừng lại ở đó, số đối tượng này lại bị chính người tị nạn ở Thái Lan tố cáo việc mang danh “cứu trợ người tị nạn” tại Mỹ (trong đó có BPSOS) để bỏ rơi, không triển khai bất cứ hoạt động trợ giúp nào như lời hứa hẹn ban đầu cũng như xét duyệt trợ cấp thiếu minh bạch.
Ngoài ra, chúng còn bị thành viên trong tổ chức tố cáo việc sử dụng ngân quỹ “cứu trợ người tị nạn” không rõ ràng. Trường hợp của Nguyễn Đình Thắng, từng bị Holly Huệ Ngô (cựu nhân viên của BPSOS) tố cáo chi tiêu ngân quỹ trong quá trình hoạt động tại Thái Lan là một bằng chứng rõ ràng, làm rõ bản chất của Nguyễn Đình Thắng.
Việc BPSOS lợi dụng vấn đề người Việt tị nạn tại các địa bàn cận kề, đặc biệt là Thái Lan và Campuchia để chống phá Việt Nam đã gián tiếp kích động hoạt động vượt biên trái phép của một bộ phận người dân tộc thiểu số tại các tỉnh Tây Nguyên, Tây Nam Bộ sang Campuchia, Thái Lan với ảo tưởng sớm được các tổ chức quốc tế cho định cư tại các nước phương Tây. Những người này, sẽ có cuộc sống vô cùng khó khăn ở nơi đất khách quê người nếu nhẹ dạ, cả tin vào những lời đường mật của các đối tượng.

Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Một số quy định đối với quân nhân chuyên nghiệp có hiệu lực từ hôm nay (15-3)

Theo Thông tư số 12/2021/TT-BQP ngày 28-1-2021 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 170/2016/TT-BQP ngày 30-10-2016, quy định về cấp bậc quân hàm quân nhân chuyên nghiệp (QNCN) tương ứng với mức lương, phong, thăng, giáng cấp bậc quân hàm trong trường hợp bị kỷ luật hạ bậc lương; trình tự, thủ tục, thẩm quyền quyết định đối với QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng (CN&VCQP), bắt đầu từ hôm nay (15-3-2021), một số quy định đối với QNCN có sự thay đổi. Theo đó, về đối tượng kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ của QNCN được xác định gồm: QNCN có trình độ cao đẳng trở lên đang đảm nhiệm các chức danh: Kỹ thuật viên, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện viên, nghệ sĩ, nhạc sĩ, diễn viên làm việc đúng chuyên ngành đào tạo ở các cơ sở nghiên cứu, nhà trường, bệnh viện, trung tâm thể dục thể thao, đoàn nghệ thuật, nhà máy, doanh nghiệp quốc phòng; đơn vị đóng quân ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đang làm việc thuộc các chuyên ngành hẹp được đào tạo công phu hoặc chuyên ngành quân đội chưa đào tạo được; thợ bậc cao; đang đảm nhiệm chức vụ chỉ huy, quản lý ở các nhà máy, doanh nghiệp quốc phòng. Các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định. QNCN thuộc các đối tượng nêu trên được kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ khi có đủ các điều kiện sau: Đơn vị có biên chế và nhu cầu sử dụng; hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất theo cấp bậc quân hàm quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng; chưa có người thay thế; tự nguyện tiếp tục phục vụ tại ngũ; có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao; có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ giỏi; tay nghề cao; chất lượng, hiệu quả công tác tốt. Về thời hạn kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ không quá 5 năm so với hạn tuổi phục vụ tại ngũ cao nhất theo cấp bậc quân hàm nhưng không quá tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh tăng theo lộ trình của Bộ luật Lao động. Thông tư số 12/2021/TT-BQP còn quy định rõ về thẩm quyền nâng lương, nâng loại, chuyển nhóm, thăng hạng, phong, thăng cấp bậc quân hàm; hạ bậc lương, loại, nhóm, hạng, giáng cấp bậc quân hàm; kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ và cho thôi phục vụ đối với QNCN, công nhân và viên chức quốc phòng; trình tự, thủ tục nâng lương, nâng loại, chuyển nhóm, thăng hạng, kéo dài tuổi phục vụ tại ngũ...

Đập tan chiêu trò bịa đặt về nhân sự đại hội Đảng

Từ trước thềm Hội nghị Trung ương (HNTƯ) 12 (khóa XII), đến nay, trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành (BCH) Trung ương nhiệm kỳ 2021-2026. Các luận điệu hồ đồ quy chụp rằng, công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối quyết định bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức Trung ương, ép buộc vận hành theo một kịch bản đã được lên sẵn. 1. Mặc dù Đại hội XIII của Đảng đến đầu năm 2021 mới diễn ra, vậy mà, không biết từ nguồn tin nào, bằng cách gì, những kẻ hiềm khích, giả danh yêu nước đã sớm tung tin về kết quả của đại hội như thể họ là người trong cuộc, được có mặt tại nghị trường ở thì tương lai? Từ đầu tháng 5-2020, không khó để tiếp cận các bài viết trên mạng xã hội nước ngoài tung tin đồn, suy đoán về “nhân sự tứ trụ” sẽ được Đại hội XIII của Đảng tín nhiệm tiến cử, lựa chọn. Có nghĩa, nhân sự cho các chức danh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã được định sẵn một cách thiếu dân chủ, khách quan, vì lợi ích nhóm trong CTCB. Tác giả của các bài viết nêu trên “lo rằng”, sự “quy hoạch mặc định” ấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là gây mất đoàn kết trong Đảng, do các phe cánh bày mưu tính kế, hạ bệ lẫn nhau... Cùng với đó, các bài viết còn chủ ý bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng; cố tình đưa ra các luận cứ cho thấy sự phân chia phe cánh, hình thành các đường dây đối lập trong nội bộ Đảng ở thời điểm trước và trong đại hội đảng. Đập tan chiêu trò bịa đặt về nhân sự đại hội Đảng Cần nhận diện đúng đắn rằng: Những thông tin nêu trên là hòng gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, cố ý bôi nhọ tình cảm đồng chí, đồng đội trong tập thể lãnh đạo của Đảng; mưu đồ hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc. Bởi chính sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là sức mạnh nội sinh để toàn đảng, toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; cũng là bức tường thành vững chắc đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Do vậy, không lấy gì làm khó hiểu khi các thế lực thù địch luôn lăm le chống phá cho kỳ được thành trì đoàn kết của Đảng ta! Và sự bịa đặt trắng trợn ấy, ngay lập tức bị bóc mẽ, nhận diện, khi mà HNTƯ 12, khóa XII diễn ra thành công tốt đẹp, một lần nữa công khai rộng rãi chủ trương về công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, việc giới thiệu quy hoạch cán bộ (QHCB) chiến lược được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XII nhất quán xuyên suốt phương châm "làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó" với lộ trình cụ thể: Quy hoạch BCH Trung ương trước; sau đó làm quy hoạch tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cuối cùng là quy hoạch các chức danh chủ chốt: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, chứ không tiến hành cùng lúc như những nhiệm kỳ trước đây. Như vậy, xét theo tiến trình, đến HNTƯ 12, khóa XII, Trung ương chỉ mới xem xét, quyết nghị những vấn đề có tính định hướng lớn trong công tác nhân sự BCH Trung ương; thậm chí chưa bàn, quyết nghị đến nhân sự cụ thể giới thiệu dự bầu BCH Trung ương khóa mới, nên chưa thể đưa ra phương án nhân sự cụ thể cho các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước như những kẻ hiềm khích đã và đang lớn tiếng rêu rao, suy diễn, bịa đặt. Xin nhắc lại một cách làm mới mẻ và khoa học như vậy của BCH Trung ương khóa XII để nhận diện rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của những kẻ hiểm ác; nhận biết quy luật hoạt động chống phá có tính chất chu kỳ của các thế lực thù địch với những chiêu trò đổi trắng, thay đen, không từ bất kể thủ đoạn nào. Và tất nhiên, dã tâm của những kẻ thiếu kiến thức, sự hiểu biết thực tiễn sẽ khiến những luận điệu mà chúng phơi ra dư luận trở thành những chiếc gậy tự đập vào lưng chính mình, đúng như bài học “gậy ông đập lưng ông” mà người xưa đã chỉ dạy, cảnh báo cho những kẻ cố tình đi ngược lại đạo lý, quy luật hiển nhiên. 2. Ngoài trò hề quen thuộc nêu trên, trước HNTƯ 12, khóa XII, những kẻ hiềm khích còn suy diễn, cho rằng: Công tác quy hoạch và lựa chọn, giới thiệu cán bộ Trung ương khóa XIII lần này là do Trung ương lên sẵn kịch bản theo lối “chỉ mặt, điểm tên”, bắt buộc các cấp thực thi bằng các giải pháp dân chủ hình thức để “mị dân” và chỉ nhằm phục vụ lợi ích nhóm của một bộ phận quan chức cầm quyền. Thực tế CTCB trong Đảng nói chung, công tác giới thiệu, lựa chọn QHCB chiến lược nhiệm kỳ Đại hội XIII nói riêng lại hiện hữu một bức tranh khác biệt và đối lập. Tất nhiên, những chủ trương lớn về CTCB do Trung ương ban hành, hoạch định và trực tiếp lãnh đạo, nhưng việc lựa chọn “hiền tài” được vận hành đồng bộ ở mọi cấp trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của cấp ủy, tổ chức đảng từ cấp nhỏ nhất đến cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương. Mới đây nhất, trong bài viết định hướng công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp và phát biểu khai mạc, bế mạc HNTƯ 12, khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đều thẳng thắn chỉ rõ yêu cầu phải lựa chọn bằng được cán bộ đủ tiêu chuẩn cho Trung ương và phần việc đó thuộc trách nhiệm của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đặc biệt, với tinh thần làm việc nghiêm túc, HNTƯ 12, khóa XII vừa qua tiếp tục khẳng định tinh thần xuyên suốt của cả nhiệm kỳ Đại hội XII về hai nội dung, giải pháp hết sức quan trọng đối với công tác lựa chọn, phát hiện, giới thiệu nhân sự cho BCH Trung ương Đảng khóa XIII, đó là: Trao quyền lựa chọn, giới thiệu nhân sự Trung ương cho cơ sở và đảng bộ trực thuộc; đồng thời đề cao trách nhiệm, quy trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử cán bộ quy hoạch chiến lược. Thực tiễn CTCB cũng minh chứng sống động cho tính đúng đắn của những giải pháp lớn ấy. Theo đó, dưới sự điều hành của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Ban Chỉ đạo xây dựng QHCB cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026, tập trung cao điểm vào tháng 11-2018, 100% đảng bộ các tỉnh, thành phố và cơ quan, đơn vị, địa phương trực thuộc Trung ương đã tổ chức tốt hội nghị cán bộ chủ chốt để phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch BCH Trung ương khóa XIII. Với tinh thần ủy quyền và đặt niềm tin đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương của BCH Trung ương đã thật sự mở ra cơ chế và điều kiện thuận lợi nhất để tất cả cấp ủy, tổ chức đảng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện nghiêm túc quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị theo 4 bước; quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước. Cũng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, hội nghị ban thường vụ, hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh, thành phố đều tiến hành bỏ phiếu giới thiệu nhân sự tham gia Trung ương khóa XIII. Kết quả lấy phiếu được tiến hành đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc với quan điểm đặc biệt coi trọng tiêu chuẩn giới thiệu vào quy hoạch, coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp yêu cầu. Đặc biệt, khi Trung ương trao quyền và gắn trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử giới thiệu cán bộ đã giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nhiều cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm, thực sự nêu gương, kiên quyết chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch; không để có sự can thiệp không đúng nguyên tắc, sai thẩm quyền, thiếu trách nhiệm, trái quy định vào CTCB, nhất là quy trình giới thiệu QHCB chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026. Với quy trình chặt chẽ, kết quả giới thiệu nhân sự BCH Trung ương Đảng khóa XIII đến nay đã đáp ứng yêu cầu và tiến độ đặt ra. Những cán bộ được cơ sở “chọn mặt, gửi vàng”, góp tên vào danh sách đề nghị quy hoạch gửi về Trung ương, trở thành căn cứ quan trọng để BCH Trung ương xem xét, quyết nghị tại những hội nghị tiếp theo của BCH Trung ương khóa XII. Như vậy, cách làm nêu trên cho thấy: BCH Trung ương là cơ quan tối cao thẩm định, xem xét, quyết nghị cuối cùng về nhân sự Trung ương khóa mới trên cơ sở lựa chọn, giới thiệu nhân sự cụ thể ở từng đảng bộ trực thuộc Trung ương. Hơn thế, việc chiêu mộ hiền tài cho Đảng, Nhà nước được Trung ương kêu gọi, khuyến khích toàn đảng, toàn dân phát hiện, giới thiệu để kịp thời bổ sung và sàng lọc, chứ không cứng nhắc về phương án, áp đặt về số lượng, chất lượng hay rơi vào nạn cửa quyền, mệnh lệnh theo lối áp đặt. Điều đó càng khẳng định, những thông tin bịa đặt xoay quanh vấn đề nhân sự đại hội đảng thực chất là những thủ đoạn trá hình của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chia rẽ nội bộ trong Đảng và chĩa mũi nhọn công kích vào sự kiện chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, chống phá quyết liệt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Thế nhưng, tất cả những chiêu trò đó chỉ như chút bóng tối lập lờ, sẽ nhanh chóng bị ánh sáng sự thật đẩy lùi, xua tan!

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

Hiện nay, có một số người băn khoăn về nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa thuộc về những thành phần nào, hay nói cách khác là nhiệm vụ đó thuộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nào. Cần phải khẳng định rằng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên phong. Để đấu tranh, bảo vệ thành công nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ vững chắc nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Vì thế, việc đầu tiên là cần có biện pháp đấu tranh, khắc phục thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ phai nhạt lý tưởng mà còn thiếu niềm tin vào con đường xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên Quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong mỗi cá nhân, tổ chức thường bắt đầu từ mất niềm tin, mất phương hướng, từ bỏ lý tưởng, mục tiêu cách mạng, tiến tới du nhập tư tưởng, lý luận phi mác-xít, sẵn sàng "trở cờ" phản bội, đưa đất nước đi theo hướng khác, con đường khác phi xã hội chủ nghĩa. Thực tế là nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong cả nhận thức và hành động của một số người. Nhận thức đó có thể bắt nguồn từ những vấn đề còn chưa tỏ tường về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kết hợp với sự xuất hiện những thế mạnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong quá trình toàn cầu hóa. Những điều đó đã tác động mạnh tới nhận thức của một số người, trong đó có một số văn nghệ sĩ, trí thức, làm cho nhận thức của họ trở nên mông lung, như người "đứng giữa ngã ba đường". Để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán triệt để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, cần có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm, tư tưởng và ý đồ thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Phát hiện, xử lý kịp thời những âm mưu phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng từ các thế lực thù địch, vạch mặt những phần tử cơ hội chính trị, ngăn chặn những hành vi xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, ngăn chặn sự chia rẽ mối đoàn kết gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và lực lượng vũ trang. Phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, cụ thể là của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn những mâu thuẫn nội bộ trong các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ, tạo tâm lý bất bình và các "điểm nóng" về an ninh trật tự trong xã hội. Đồng thời đẩy mạnh việc đấu tranh, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quyết tâm làm trong sạch từ nhận thức đến hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên-đội ngũ vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", để tạo cơ sở nền tảng đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn hoạt động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Quân đội nhân dân Việt Nam mãi xứng đáng là điểm tựa, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Với mục tiêu vấy bẩn, hòng bôi nhọ hình ảnh cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, thời gian gần đây các thế lực thù địch, chống phá cố tình lấy cớ một số sự vụ, sự việc vi phạm đơn lẻ (mà bất cứ tổ chức rộng lớn nào trên thế giới cũng không thể tránh khỏi) để thổi phồng và quy chụp rằng: Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam đang dần bị biến chất, không còn kiên định mục tiêu tối thượng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân... Thực chất, các chiêu trò nêu trên không nằm ngoài mưu đồ cố tình bóp méo, hạ bệ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ và bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam. Đây cũng chính là một chiêu trò “tung hỏa mù”, hướng vào chống phá Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Thế nhưng, sự vụng về khi ngụy biện, cộng với chiêu thức chống phá cũ kỹ sẽ không khó để chúng ta nhận diện, lật tẩy thông qua việc nêu lên một vài ví dụ về đời sống thường nhật và hoạt động quân sự của bộ đội, để “ánh sáng sự thật” sẽ tự thân đẩy lùi “bóng tối bịa đặt xấu xa” theo đúng quy luật khách quan. Còn nhớ, khi bắt đầu xuất hiện dịch Covid-19, xã hội Việt Nam xuất hiện “tâm trạng phản vệ” và có một bộ phận người dân hoang mang, lo sợ. Cũng vì đó, tình trạng qua lại biên giới, nhất là các đường mòn, lối mở diễn ra rất nhiều. Thực hiện mệnh lệnh “chống dịch như chống giặc” để bảo vệ nhân dân với lực lượng y tế làm nòng cốt, Quân đội ta đã chỉ đạo các đơn vị quân y tích cực tham gia phòng, chống dịch và đặc biệt là chỉ đạo Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tăng cường tuần tra, chốt chặn, kiểm soát chặt chẽ xuất nhập cảnh, nhằm ngăn chặn dịch xâm nhập vào nội địa qua đường biên giới... Theo chủ trương đó, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ BĐBP đã tình nguyện lên đường nhận nhiệm vụ; tham gia ứng trực 24/24 giờ tại các khu vực cửa khẩu, đường mòn, lối mở, bờ sông suối... nơi con người có thể qua lại trên khắp dải biên cương, kết thành “bức tường ngăn dịch” vững chắc, suốt từ đầu năm 2020 đến nay. Làm nhiệm vụ tại miền biên viễn ấy, BĐBP không chỉ đối diện với nguy cơ dịch bệnh mà còn đương đầu với rất nhiều khó khăn, thiếu thốn; đối diện cả với những khoảng lặng tình cảm và sự hy sinh cao độ về mặt tinh thần mà chỉ những con người mang trong mình phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mới đủ khả năng chịu đựng và mạnh mẽ vươn lên. Ấy là trong khoảng 300 ngày qua, khi đất nước có những thời điểm thực hiện trạng thái "bình thường mới" (sau hai đợt cao điểm bùng phát dịch), thì 100% cán bộ, chiến sĩ BĐBP trên các tuyến biên giới vẫn bám trụ, căng mình bám chốt làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát. Cũng trong quãng thời gian ấy, gần 20 đồng chí đã không thể nghỉ phép về quê để đưa tiễn người thân đến nơi an nghỉ cuối cùng; hơn 50 đồng chí hoãn cưới vợ, hoãn cưới con; 50 đồng chí không thể ở nhà lúc vợ trở dạ, sinh con;... Cũng bắt đầu từ khi xuất hiện dịch Covid-19 ở Việt Nam, hàng loạt đơn vị quân đội đã cơ động lực lượng, dồn dịch nơi ăn ở, nhường hệ thống doanh trại phục vụ công tác cách ly công dân có nguy cơ nhiễm dịch Covid-19. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ ở những đơn vị này lại trực tiếp thực hiện nhiệm vụ phục vụ, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Sau khi hoàn thành thời gian cách ly y tế ở các đơn vị quân đội, rất nhiều công dân đã bày tỏ lòng biết ơn, xúc động và thán phục về sự chịu đựng gian khó, mẫn cán, hết lòng phục vụ nhân dân của bộ đội. Người dân cảm kích, khâm phục, bởi công dân bị cách ly vốn mang nhiều nguy cơ dịch bệnh, nhưng cán bộ, chiến sĩ quân đội vẫn trực tiếp, tận tình phục vụ và hướng dẫn từng người thực hiện các biện pháp y tế theo đúng quy định; trực tiếp an ủi, động viên họ yên tâm cách ly, lạc quan vươn lên trong thời điểm khó khăn nhất. Đặc biệt, khi dịch Covid-19 xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, bộ đội hóa học và các lực lượng chức năng đều có mặt sớm nhất, tiến hành phun khử trùng phục vụ dập dịch, bảo vệ người dân... Quân đội nhân dân Việt Nam mãi xứng đáng là điểm tựa, niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân Tất cả những chi tiết ấy cho thấy sự hy sinh quên mình của Bộ đội Cụ Hồ. Họ lặng lẽ công tác, thầm lặng cống hiến vô điều kiện để bảo vệ, phục vụ nhân dân. Đó chính là sự kế tục truyền thống của QĐND Việt Nam anh hùng-đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”; minh chứng rõ rành về sự giác ngộ cao độ và tinh thần sẵn sàng xả thân vì nước, vì dân của Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới. 2. Tất nhiên, phẩm chất vì nhân dân phục vụ của Bộ đội Cụ Hồ không chỉ thể hiện, minh chứng sinh động thông qua cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 mà luôn được hiện hữu trong suốt gần 76 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành; trở thành giá trị truyền thống quý báu của QĐND Việt Nam. Đặc biệt trong 5 năm qua, dưới sự lãnh đạo của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn hoàn thành tốt sứ mệnh bảo vệ, chăm lo và gắn bó máu thịt với nhân dân; viết thêm những giá trị mới trong hệ chuẩn mực nhân cách của quân nhân cách mạng. Đó là hình ảnh về những sĩ quan QĐND Việt Nam tự tin, trách nhiệm trong đội quân Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tham gia bảo vệ sự bình yên, hạnh phúc cho nhân loại tiến bộ và thực hiện nghĩa cử quốc tế cao đẹp. Đó là những quân nhân cách mạng giàu trí tuệ, làm chủ khoa học kỹ thuật tân tiến, điều khiển, sử dụng thuần thục phương tiện, vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại canh giữ vùng đất, vùng trời, vùng biển, đảo Tổ quốc, bảo vệ sự bình yên và nền hòa bình bền vững cho nhân dân. Và còn nữa là những đoàn quân đến với vùng sâu, vùng xa, nơi gian khó... để giúp dân xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Đặc biệt, khi bất cứ nơi đâu xảy ra thiên tai, địch họa thì ở đó luôn có Bộ đội Cụ Hồ sẵn sàng xả thân bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân. Quân đội luôn là lực lượng có mặt trước tiên, gắn bó mật thiết và là "tấm chắn" bảo vệ nhân dân trước mọi hiểm nguy do thiên tai gây ra... Trong quá trình đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, trở thành biểu trưng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong điều kiện mới. Nghĩ cho dân, lo cho dân, hướng dẫn và đồng hành cùng nhân dân, trong 5 năm qua, toàn quân đã sáng tạo và duy trì hoạt động hiệu quả hơn 7.000 tổ công tác dân vận, hơn 14.000 điển hình “Dân vận khéo”, “Đơn vị dân vận tốt” hoạt động hiệu quả. Ở tất cả các quân chủng, binh chủng, lực lượng trong quân đội đều có phong trào, cách thức giúp dân hiệu quả, thiết thực, được nhân rộng ra toàn quân và các cấp trong hệ thống chính trị. Nói về những kết quả trong công tác giúp dân, bảo vệ dân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ từng ghi nhận sâu sắc: QĐND Việt Nam đã, đang, sẽ và mãi xứng đáng là điểm tựa niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân! Bởi lẽ, thành quả lớn nhất của quân đội là làm cho dân tin, dân yêu, dân kính trọng và tự nguyện giúp đỡ quân đội, tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đắp bồi thế trận lòng dân ngày càng vững chắc. Trong nhiệm kỳ qua, trước nhiều tác động đa chiều của đời sống xã hội hiện tại, nhưng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ ở cán bộ, chiến sĩ quân đội và truyền thống QĐND Việt Nam anh hùng luôn được giữ vững, phát huy, tỏa sáng. Trước mọi diễn biến tình hình, toàn quân luôn thống nhất ý chí và hành động, kiên định mục tiêu: Vì nhân dân phục vụ! Trước sự mời gọi của lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm do tác động, ảnh hưởng của mặt trái xã hội, cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn mạnh mẽ đấu tranh, quyết liệt tẩy trừ các biểu hiện xuống cấp về đạo đức lối sống, vi phạm kỷ luật; giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân-tập thể, cống hiến hết mình cho đất nước, cơ quan, đơn vị... Đó là cơ sở tạo nên niềm tin vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với QĐND Việt Nam. 3. Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam lại có thể nêu cao ý thức trách nhiệm, tự giác hành động vì dân mà không hề quản ngại gian khổ, hy sinh? Câu hỏi thật khó lý giải theo cách ngắn gọn, bởi nội hàm đặt ra khá rộng lớn. Thế nhưng, có một điều mà ai cũng nhận thấy, là mỗi sĩ quan, cán bộ quân đội cũng chính là một đảng viên và tất cả quân nhân trong QĐND Việt Nam đều thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng cao cả của Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế mà tuyệt đại đa số quân nhân đều tự giác cao độ, luôn trân quý nhân dân, yêu quý công việc và sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì nước, vì dân. Đó cũng chính là bản chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ. Với đặc thù hoạt động quân sự, nhiều đơn vị đóng quân phân tán, hoạt động nhỏ lẻ, bởi thế vai trò của tổ chức đảng cơ sở, nhất là của chi bộ càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chi bộ đảng được thành lập và “có mặt” ở tất cả các loại hình đơn vị, lĩnh vực công tác, địa bàn đóng quân. Chi bộ trực tiếp lãnh đạo hoạt động của bộ đội ở mọi điểm chốt biên cương, về từng điểm đảo, cụm đảo, nhà giàn DK; “đồng hành” và “dẫn dắt” những chiến hạm, con tàu vươn khơi trên biển, cáng đáng hải trình tuần tra, thực hiện nhiệm vụ hộ tống, cứu hộ, cứu nạn...; “chỉ dẫn” cho nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ ở các môi trường học viện, nhà trường, viện nghiên cứu trong quân đội... Dù thực hiện chức năng lãnh đạo ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào, thì nền nếp chế độ sinh hoạt Đảng của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội cũng đều được duy trì chặt chẽ, hiệu quả, tính chiến đấu, năng lực lãnh đạo và tinh thần tự phê bình, phê bình luôn được nêu cao. Bởi thế mà mạch chảy của công tác lãnh đạo luôn được thông suốt, kết nối một cách hệ thống, chặt chẽ, liên hoàn. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đến với mọi cấp trong quân đội chính là nguyên nhân mấu chốt, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân để đưa đến thành công trong thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, cũng như hoàn thành sứ mệnh “Vì nhân dân phục vụ” của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Chính những quân nhân cách mạng, với tình yêu Tổ quốc mãnh liệt phấn đấu theo lý tưởng cao đẹp của Đảng, kiên định mục tiêu cao nhất của QĐND Việt Nam đã tạo nên những mạch ngầm nhiệt huyết không ngơi nghỉ cho những nỗ lực cống hiến, hy sinh quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân của cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam. Sự thật ấy, dẫu những kẻ xấu và các thể lực thù địch có trăm nghìn “mưu hèn, kế bẩn”, dẫu thủ đoạn chống phá có tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì cũng không thể phủ nhận, không thể bôi xấu hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ!

Tấm khiên trong đại dịch và một đảng biết lo cho dân

Với việc nhanh chóng nhập những lô vaccine đầu tiên và triển khai kế hoạch tiêm phòng Covid-19 đại trà nhanh hơn nhiều so với dự kiến, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá rất cao về chiến lược phòng, chống dịch, sớm tạo tấm khiên vững chắc trong cuộc chiến với đại dịch. Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Ấy vậy mà vừa qua, lại xuất hiện những tiếng loa rè lạc lõng xuyên tạc những nỗ lực đầy tính nhân văn của Đảng, Nhà nước ta. Trang mạng xã hội của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã có bài viết thể hiện tâm địa đen tối khi cố tình bôi nhọ phong trào vận động đóng góp tiền mua vaccine do một số cơ quan báo chí, đoàn thể xã hội tổ chức. Họ so sánh đây là một dạng phong trào “kế hoạch nhỏ kiểu mới” với hàm ý hạ thấp ý nghĩa nhân văn cao cả của các phong trào, để rồi chê bai những việc làm tốt đẹp của các em bé 7-8 tuổi hay cụ già trên 90 tuổi góp sức vì cộng đồng. Họ tầm thường hóa những việc làm rất đáng trân trọng, có thể khơi dậy mạnh mẽ tinh thần cộng đồng, góp phần lan tỏa niềm tin và sự chung tay chiến thắng đại dịch với những ngôn từ đầy ích kỷ, nhỏ nhen khi cho rằng: Phải chăng chính quyền túng thiếu tới độ phải ngửa tay nhận tiền của người già và trẻ nhỏ? Họ đưa ra luận điệu: Mua vaccine, chăm lo sức khỏe cho dân đã đóng thuế nuôi cả bộ máy công quyền là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước chứ không phải để... đẩy qua cho dân! Rồi họ lập luận kể cả có tiền như nhiều nước Âu, Mỹ cũng không mua được vaccine ngay nếu không đặt hàng sớm. Họ đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước đã chậm trễ trong cuộc chiến lo vaccine cho dân. Trắng trợn hơn, cái gọi là Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW) có trụ sở tại Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc xuyên tạc sự thật, xếp Việt Nam vào số các chính phủ lợi dụng Covid-19 vi phạm nhân quyền, Việt Nam “bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và hỗ trợ của Chính phủ”. Ngày 8-3 vừa qua, tham dự buổi tiêm vaccine Covid-19 đầu tiên của Việt Nam tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương (Hà Nội), Tiến sĩ Kidong Park, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam đã đánh giá: Những mũi tiêm phòng đầu tiên này đánh dấu chiến lược chống dịch đúng đắn của Việt Nam. Việt Nam cũng đã ghi tên mình vào chiến dịch tiêm chủng lớn nhất lịch sử nhân loại. Hiện nay, nguồn cung cấp vaccine Covid-19 trên toàn cầu hiện vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu được chủng ngừa của tất cả mọi người, chiến lược tiêm chủng mà Việt Nam đã xây dựng là rất đúng đắn, phù hợp với đánh giá, tư vấn của WHO. Chiến lược đúng đắn của Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh và tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân mà sinh thời Bác Hồ từng căn dặn: “...Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”. Khó khăn, thách thức do đại dịch Covid-19 đặt ra chưa từng có trong lịch sử nhân loại cũng như lịch sử Đảng ta. Đại hội XIII của Đảng cũng là lần đầu tiên, danh từ "Covid-19" xuất hiện trong văn kiện đại hội. Cũng chưa bao giờ tại một đại hội của Đảng diễn ra nhiều cuộc họp bên lề ngay tại nơi tổ chức đại hội để bàn giải pháp cấp bách khi làn sóng Covid-19 thứ 3 xuất hiện tại Việt Nam. Trong những quyết sách lớn được quyết định tại đại hội, có một quyết định kịp thời, đúng đắn, công bố ngay ở phiên bế mạc sáng 1-2. Quyết sách ấy đã trở thành một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm (nhiệm vụ thứ 2), được ghi trong nghị quyết Đại hội XIII: "Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...". Có thể nói đây là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm, thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân khi mà trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nhận thức về vaccine Covid-19 còn khác nhau. Với quyết định đó, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân. Trước đó, vào quý II-2020, báo chí đã đăng tải thông tin cho biết Việt Nam chủ động đàm phán mua số lượng vaccine Covid-19 rất lớn từ nước ngoài. Ngày 24-2 vừa qua, hơn 117.000 liều vaccine Covid-19 đầu tiên về tới sân bay Tân Sơn Nhất, sớm hơn 4 ngày so với kế hoạch, được các cơ quan chức năng tạo điều kiện nhập khẩu với tốc độ rất nhanh. Báo cáo với Thủ tướng Chính phủ gần đây, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, trong năm 2021, Việt Nam sẽ có khoảng 90 triệu liều vaccine, bảo đảm đủ tiêm cho hầu hết người dân. Nguồn vaccine từ chương trình COVAX (cơ chế vaccine quốc tế toàn cầu do WHO đứng đầu và các đối tác) có thể cung cấp cho Việt Nam 30 triệu liều, nguồn nhập khẩu của hãng AstraZeneca với số lượng 30 triệu liều, của hãng Pfizer 30 triệu liều, vaccine của Nga 60 triệu liều. Đối với vaccine do Việt Nam sản xuất theo tiến độ đến năm 2022 thì Việt Nam sẽ có vaccine. Như vậy, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở đáp ứng mục tiêu đủ vaccine sử dụng cho toàn dân trong năm 2021-2022. Việt Nam thực sự đã có một chiến lược đúng đắn ngay từ khi thế giới chưa có vaccine Covid-19, các nhà khoa học, trong đó có cả nhà khoa học y tế quân sự đã chủ động vào cuộc nghiên cứu. Theo Giáo sư Đặng Đức Anh, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, thông thường theo cách làm cũ, chúng ta mất đến 5-10 năm mới có thể cho ra đời một vaccine mới. Lần này với vaccine Covid-19, quá trình nghiên cứu và sản xuất thần tốc cũng chưa có tiền lệ ở cả trên thế giới và Việt Nam. Trong lịch sử phát triển vaccine thì vaccine Covid-19 phát triển nhanh nhất, ra đời nhanh nhất và đưa vào sử dụng nhanh nhất, do đó cần thêm thời gian theo dõi, đánh giá đầy đủ hiệu quả của vaccine này. Chính vì vậy, Việt Nam đã và đang có một chiến lược hết sức phù hợp, khoa học, không vội vàng, ồ ạt trong việc mua và tiêm vaccine, cũng không phụ thuộc vào một loại vaccine nào mà tiếp tục nghiên cứu, đàm phán với nhiều nhà sản xuất. Song song việc nhập khẩu vaccine, Việt Nam cũng đồng thời nghiên cứu phát triển vaccine Covid-19 nội địa... Những người đưa ra thông tin người nghèo không được tiêm vaccine đã cố tình nói lấy được và bất chấp sự thật: Trong Nghị quyết số 21/NQ-CP về mua và sử dụng vaccine phòng Covid-19 có quy định đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí đã nêu rõ: Người nghèo, các đối tượng chính sách xã hội ở vị trí thứ 7 trên tổng số 9 nhóm đối tượng. Quan điểm "không ai bị bỏ lại phía sau" đã luôn được Đảng, Nhà nước ta thực hiện ngay từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam. Tổng kết những bài học kinh nghiệm sau một năm chiến đấu với Covid-19, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã rút ra bài học kinh nghiệm: “Từ thực tiễn công tác phòng, chống dịch Covid-19, muốn thành công phải khơi dậy được tinh thần đoàn kết, nhân ái của nhân dân cả nước, cộng đồng doanh nghiệp, cùng chung tay hành động, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân, an ninh nhân dân, quốc phòng toàn dân và các giá trị văn hóa dân tộc ta”. Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cũng nêu quan điểm: “Chúng ta cần huy động thêm các nguồn xã hội hóa để đẩy nhanh tiến độ cung ứng vaccine, giúp bảo đảm ngân sách nhà nước, tăng độ bao phủ tiêm vaccine”. Với tinh thần đó, việc các cơ quan báo chí, tổ chức, đoàn thể xã hội kêu gọi chung tay phòng, chống dịch Covid-19, xã hội hóa thêm các nguồn lực vì đây là cuộc chiến lâu dài, còn nhiều cam go phức tạp, thiết nghĩ cũng là điều bình thường. Chủ trương của Đảng, Nhà nước là sẽ tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân, ngân sách, nguồn lực và lộ trình đã có nhưng trong cuộc chiến đầy thách thức này không phải vì thế mà không cần phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng thế trận lòng dân đẩy lùi dịch bệnh. Chính vì thế, cùng với những nỗ lực của Chính phủ và các bộ, ngành ở Trung ương, nhiều địa phương cũng đã chủ động chung tay vào cuộc từ rất sớm. Hải Phòng là địa phương đi đầu cả nước. Chiều 29-1, đồng chí Lê Văn Thành, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng đang dự Đại hội XIII của Đảng tại Hà Nội đã chủ trì họp khẩn trực tuyến Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về phòng, chống dịch Covid-19, đi tới quyết định trích ngân sách địa phương mua đủ vaccine loại tốt nhất, tiêm phòng cho hơn 2 triệu dân thành phố. Ngày 3-2, đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã đề xuất trích ngân sách thành phố mua vaccine cho toàn dân Thủ đô. Tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh ngày 8-2, đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngân sách các cấp, hạn chế mua sắm tài sản, cắt giảm chi phí hội họp, đào tạo, tham quan học tập, cắt giảm các nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết để dành toàn bộ nguồn lực này kết hợp với các nguồn lực khác mua vaccine Covid-19 cho người dân Quảng Ninh. Vì vậy, những tiếng nói hẹp hòi rằng chống dịch Covid-19 hay mua vaccine là chuyện của Nhà nước, không cần sự chung tay của toàn xã hội chẳng những đi ngược lại truyền thống "tương thân tương ái", "tắt lửa tối đèn có nhau" của dân tộc ta mà còn nguy hiểm như chính loài virus độc hại, cần phải bị loại bỏ! Bác Hồ từng căn dặn: “...Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”. Với việc Đại hội XIII của Đảng sớm quyết định chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân và thực tiễn triển khai tiêm vaccine nhanh chóng, phấn đấu năm 2021-2022 đủ vaccine tiêm cho toàn dân đã thể hiện bản lĩnh, tầm nhìn của một đảng biết lo cho dân.

Biển Đông dậy sóng

 Trong những ngày biển Đông dậy sóng, không ít người tỏ ra lo lắng cho rằng  nào là “Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc”, nào là “chênh lệch về sức mạnh vũ khí, sức người sức của”. Thậm chí cho rằng “hèn với giặc”.


Gã hàng xóm xấu bụng, lâu nay quen thói bắt nạt tư tưởng đại Hán, thấy Việt Nam nhẫn nhịn càng lấn tới. Nhưng, Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn đang kiềm chế một cách khôn ngoan tỉnh táo.


Nếu Trung Quốc bước qua “lằn ranh đỏ”, phát động chiến tranh, lòng kiên nhẫn của người Việt bị dập tắt, như chiếc lò xo bị nén lại để bung ra, thì kẻ xâm lược sẽ bị quân đội nhân dân Việt Nam can trường giáng những đòn táo bạo bất ngờ nhất như đã từng từ 1979-1989.


Kẻ thù dù có vũ khí tối tân đến đâu cũng không khuất phục được cả dân tộc vốn hiền lành nhưng có truyền thống chống ngoại xâm. Tinh thần “Còn cái lai quần cũng đánh” sẽ dạy cho kẻ thù về sức mạnh Việt Nam.


Những trận Bạch Đằng, Như Nguyệt, trận Đông Bộ Đầu, Thăng Long, Hàm Tử - Tây Kết, trận Chương Dương Độ, Chi Lăng, Xương Giang, trận Rạch Gầm – Xoài Mút, trận Ngọc Hồi - Đống Đa và hàng trăm ngàn trận chiến lớn nhỏ, đã có biết bao thế hệ đã ngã xuống để dân tộc trường tồn.


Bị ví “châu chấu đá voi”, Pháp đã dồn người Việt tới đường cùng, buộc cả dân tộc phải vùng dậy, nhờ hơn hẳn khát vọng độc lập và ý chí quật cường, dân tộc Việt đã tiến hành “Cuộc chiến giữa hổ và voi” nghiền nát đội quân kẻ thù, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đặt dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân, là nguồn cổ vũ giành độc lập cho các dân tộc thuộc địa khắp thế giới lúc ấy.


Cuối năm 1972, Mỹ đã quyết định chơi đòn sinh tử, né.m poom hủy diệt miền Bắc Việt Nam bằng tất cả vũ khí tối tân nhất, nghiến răng tuyên bố: “Sẽ đẩy Bắc Việt Nam vào thời kỳ đồ đá”. Nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam không phải là Thỏ mà là Cóc tía.


Boom đạn chỉ hù dọa được những kẻ yếu bóng vía. Dân tộc Việt Nam xưa nay chỉ cúi đầu trước lẽ phải chứ chưa bao giờ khiếp nhược trước kẻ thù. Dù bom rơi, đạn trút, trẻ em vẫn tung tăng đến lớp học mái hình chữ A. Quân đội nhân dân Việt Nam đối đầu với những siêu pháo đài bay B52, những máy bay tàng hình cánh cụp cánh xòe cỡ F111…. và lại rụng như sung. Nhân dân Việt Nam lại làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972.


Đã có Điện Biên Phủ trên mặt đất, dưới hầm sâu năm 1954 và “Điện Biên Phủ trên không” xé toang bầu trời năm 1972. Cả dân tộc Việt Nam nếu cần, sẵn sàng một “Điện Biên Phủ trên biển”, đập tan mọi tham vọng ngông cuồng muốn bá chủ biển Đông.


Người Việt ta có đầy lòng vị tha, bao dung, khi đất nước bị xâm lăng thì dẹp qua mọi thứ, gan góc, đoàn kết một lòng, kiên cường bảo vệ Tổ quốc. Đây là lúc để mỗi người dân Việt nhìn lại mình, sửa những thói hư tật xấu, bỏ qua mọi hiềm khích, làm việc nhiều hơn vì một Tổ quốc Việt Nam cường thịnh.


Không một ai đủ tư cách dạy người Việt về lòng yêu nước! Không một ai đủ tư cách dạy bộ đội Việt Nam về lòng dũng cảm và gan dạ ! Đừng nhân danh bất kỳ cái gì để kích động chiến tranh. Quân đội Nhân dân Việt Nam không phải là người rút gươm ra trước, nhưng sẽ là người tra gươm vào vỏ sau cùng!


ĐẤT NƯỚC NIỀM TIN



Đất nước nào nhỏ bé mảnh mai

Dáng rồng phục chạy dài biển cả

Hàng nghìn năm vẫn không bị đồng hoá

Mười bẩy lần đánh trả giặc ngoại bang.


Đất nước nào từ máu dựng thành làng

Xây Tổ quốc bằng tiếng vang nhân loại

Hàng nghìn năm chưa một lần thất bại

Trước quân thù sống mãi để lưu danh.


Đất nước nào vang liệt hùng anh

Xăm sát thát để trở thành sức mạnh

Hội nghị Diên Hồng tiếng hô quyết đánh

Lừng lẫy Nguyên Mông cũng phải tan tành.


Đất nước nào mà sử sách lưu danh

Gậy tầm vông cũng trở thành vũ khí

Huyền thoại Điện Biên chuyển rung thế kỷ

Khiến Á, Âu, Phi, Mỹ ngước nhìn.


Đất nước nào mà dân vững niềm tin

Từ đứa trẻ cũng giữ gìn đất nước

Khối đoàn kết luôn hướng về phía trước

Vai sát vai cùng tiến bước dưới cờ.


Đất nước nào đẹp những vần thơ

Khiến đứa trẻ cũng mơ thành Thánh Gióng

Vì độc lập luôn khát khao cháy bỏng

Quyết xông lên từ sức nóng tim mình.


Đất nước nào mà dám nguyện hi sinh

Đốt cả Trường Sơn vì hoà bình độc lập

Già trẻ gái trai tim chung nhịp đập

Dưới quân kỳ rầm rập bước tiến quân.


Đất nước nào mà sức mạnh toàn dân

Tay liềm, búa tiến quân lên chiến thắng

Hũ gạo đồng tâm, triệu người cố gắng

Bớt phần ăn để chiến thắng quân thù.


Đất nước nào trong lửa đạn mịt mù

Vùng đứng dậy giữa trời thu hửng sáng 

Tất cả đồng tâm dưới ngọn cờ của Đảng

Từ tay không giáng đế quốc hung tàn.


Đất nước nào tuy nhỏ lại to gan

Vũ khí thô xơ vẫn đánh tan đế quốc

Nhất tề đứng lên không chịu đời lệ thuộc

Vì hoà bình đốt đuốc đấu tranh.


Đất nước nào mà sử sách ghi danh

Đến đứa trẻ cũng trở thành dũng sĩ

Đưa đất nước vươn ngang tầm thế kỷ

Thu phục năm châu thành đồng chí của mình.


Việt Nam đó đất nước Hồ Chí Minh

Từ nô lệ đã vùng mình toả sáng

Dưới chân lý ngọn cờ của Đảng

Đã vươn lên đúng dáng Tiên Rồng.


Việt Nam đó đất nước của cha ông

Mặt hướng biển đông chân rồng ôm đảo

Lưng dựa Trường Sơn thế bền kiến tạo

Ưỡn ngực hiên ngang gió bão đẩy lùi.


Việt Nam đó đất nước của niềm vui

Từ chiến tranh dập vùi đổ nát

Cân thóc, hạt ngô ta gom gieo hạt

Giờ đã vươn lên đạt nước dẫn đầu.


Việt Nam đó với những hố bom sâu

Ta san phẳng bằng cái đầu yêu nước

Bao nhiêu năm luôn hướng về phía trước

Với mục tiêu đất nước mạnh giầu.


Việt Nam đó “Cánh chim ưng" dẫn đầu

Khu vực ASEAN ta dẫn đầu tốp trước

Hoà hiếu ngoại giao gần hai trăm nước

Thân thiện thị trường kết nối giao bang.


Đất nước đó đang rạng rỡ hào quang

Vùng đột phá rồng vàng khởi sắc

Đang vươn tới tầm cao vững chắc

Lên kỳ đài sánh bước năm châu.


Đất nước mình vinh quang chẳng xa đâu

Bởi có cháu con rất giầu nghị lực

Hào sảng, đồng tâm lòng người hợp sức

Văn hoá thăng hoa đúng mức xứng tầm.


Đất nước đó là con Lạc cháu Rồng

Yêu núi sông qua từng trang sử Đảng

Nên thăng hoa đang vung mình tỏa rạng

Ngàn năm sau vẫn chói sáng hôm nay.


Bởi đất nước đang chắp cánh rồng bay

Đang đột phá từng ngày lột xác

Đảng dẫn đường ta vững tin theo Bác 

triệu con tim hoà nhạc đồng hành.


Một đất nước có truyền thống vang danh

Có cháu con học hành vươn tới

Ngay vinh quang đâu còn xa vời vợi

Sánh bước năm châu ngày mới sẽ về.

Gạc Ma 33 năm trước

 64 chiếc bát, 64 đôi đũa, hình tượng chiếc tàu 604 và mâm giỗ chung 64 liệt sỹ

33 năm trước, ngày 14/3/1988, tại vùng biển Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, 64 cán bộ, chiến sĩ hải quân, những người con kiên trung của dân tộc, đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của nhiều tàu chiến Trung Quốc.

Ngày 14/3/1988 chứng kiến tr.ận ch.iến không cân sức giữa Hải quân Nhân dân Việt Nam và hải quân Trung Quốc tại cụm đảo Cô Lin - Len Đao - Gạc Ma.

3 tàu vận tải Việt Nam phải đối đầu với nhiều tàu hộ vệ và khu trục hạm tên lửa của Trung Quốc. Cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam chỉ có cuốc xẻng, súng AK, RPD, B-41 để đối đầu với pháo hạm 30-100mm và hàng trăm tên địch. 

Chúng ta không có khu trục hạm và tuần dương hạm với pháo to súng lớn, không có 120 tiêm kích F-5E sẵn sàng hủy diệt cả hạm đội Trung Quốc. 

Chúng ta cũng không có căn cứ kiên cố trên các đảo với lực lượng tiếp vận đường biển và đường không hùng hậu.

Những người lính hải quân và công binh phải đổ bộ lên các ghềnh đá nửa chìm nửa nổi, lấy chính thân mình làm cột mốc giữ đảo.

Cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã chiến đấu đến người cuối cùng, quyết không đầu hàng trước lực lượng áp đảo mọi mặt của Trung Quốc. Chúng ta kiềm chế KHÔNG NỔ SÚNG TRƯỚC, chứ không có chuyện giơ tay xin hàng để địch chiếm trọn cả quần đảo, hay tệ hơn là chiến hạm pháo to súng lớn tự bắn vào nhau rồi trốn sang Philippines.

64 cán bộ chiến sĩ đã nằm lại quần đảo Trường Sa trong ngày 14/3/1988. Trung Quốc chiếm được Gạc Ma, nhưng chúng ta đã đóng giữ thành công trên đảo Cô Lin và Len Đao. Khi giải phóng quần đảo Trường Sa vào tháng 4/1975, chúng ta chỉ có 5 đảo nổi. Kết thúc chiến dịch CQ-88, Việt Nam đã kiểm soát 21 đảo chìm và đảo nổi với 33 điểm đóng quân.

Tách rời Gạc Ma khỏi cụm Cô Lin và Len Đao là hành vi đánh tráo lịch sử, cố tình lờ đi sự hi sinh của nhiều người lính hải quân ở cụm đảo này nói riêng và toàn bộ quần đảo Trường Sa nói chung. Đó không phải yêu nước, mà nhẹ là thiếu hiểu biết còn nặng là lũ phá hoại!

Ngày này là để chúng ta tưởng nhớ anh linh những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong chiến dịch CQ-88, cảm phục tinh thần chiến đấu của các lực lượng đã tham gia bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa khi đó và toàn Biển Đông suốt bao năm qua. 

Nhớ đến sự kiện này để hiểu rằng cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên Biển Đông rất khốc liệt và chưa có hồi kết. Không phải chỉ chửi bới với hô hào đòi đánh Trung Quốc là xong, mà phải kết hợp giữa đấu tranh ngoại giao, quân sự và thực thi pháp luật. Chứ chửi mồm mà giành được đảo thì Philippines giờ kiểm soát toàn bộ Trường Sa rồi.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

 Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (1-1-1914-1-1-2019) chúng ta có dịp ôn lại những đóng góp to lớn của Đại tướng, nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam. Cuộc đời, sự nghiệp của Đại tướng đã để lại nhiều bài học sâu sắc, quý giá, trong đó có bài học về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.



Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (bên phải) và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
đang trao đổi tình hình chiến sự ở miền Nam ngày 5-7-1967. 

Trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của toàn dân ta bước vào giai đoạn chuyển biến quan trọng và quyết liệt, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điều động đồng chí Nguyễn Chí Thanh vào quân đội và giao trọng trách Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Tổng Quân ủy (năm 1950). Trong thời kỳ này, trên cương vị mới, đồng chí đã mang hết tâm lực cùng mọi người trong Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, chiến đấu giành thắng lợi ngày càng to lớn, thắng lợi vĩ đại trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và can thiệp của Mỹ.

Với trình độ hiểu biết sâu rộng, tư duy biện chứng và khoa học, sự mẫn cảm đặc biệt về chính trị, nhuần nhuyễn trong gắn liền lý luận với thực tiễn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã nắm vững và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang. Trên cương vị nhiệm vụ mới, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó Bí thư Tổng Quân ủy, quan điểm xuyên suốt của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đồng chí khẳng định: “Đảng là linh hồn, là đội tiên phong của Quân đội, Đảng mạnh thì mọi việc đều thành, Đảng yếu thì mọi việc đều không bảo đảm” và “Sự lãnh đạo của Đảng là sinh mệnh của Quân đội nhân dân”. Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối quân đội thể hiện thấm nhuần nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh và quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Quân đội phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch.

Do vậy, phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; bồi dưỡng, phát huy bản chất cách mạng của quân đội; xây dựng nền nếp hoạt động công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ,CTCT) trong Quân đội. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tập trung nhiều tâm huyết, công sức, cho việc xây dựng cơ chế lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội; đưa hoạt động CTÐ, CTCT đúng vị trí và phát huy vai trò trong thực tiễn đảm bảo thật sự “... là linh hồn và mạch sống của Quân đội ta, làm cho Quân đội ta thực sự trở thành một quân đội của dân tộc, của giai cấp, một quân đội bách chiến, bách thắng”. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo triển khai thành lập hệ thống cơ quan chính trị và thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên từ Tổng Cục chính trị xuống đến các quân khu, đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội. Nhờ đó, CTÐ - CTCT ngày càng đi vào cuộc sống, thấm đậm vào mọi tổ chức, lực lượng, con người, thích nghi với mọi hoàn cảnh, ở các cấp của quân đội. Cũng với tinh thần ấy, theo chỉ đạo của đồng chí, trong mỗi chiến dịch, bên cạnh Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Tổng Cục chính trị tổ chức cơ quan Tổng cục ở tiền phương, có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Tổng cục ở hậu phương trực tiếp chỉ đạo CTÐ - CTCT trong tác chiến. Nhờ đó, CTÐ - CTCT trong các chiến dịch, đặc biệt là trong Chiến dịch lịch sử Ðiện Biên Phủ, đã kịp thời động viên tinh thần, kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ huy liên tục trong chiến đấu; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, tạo nên sức mạnh tổng hợp để phục vụ chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi.

Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học
"Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nhà lãnh đạo tài năng, đức độ".

Thời gian đã lùi xa, song những vấn đề mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đặt ra trong tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; trong hoạt động CTĐ- CTCT nói chung và lãnh đạo công tác tư tưởng nói riêng, vẫn còn nguyên giá trị. Nhờ vận dụng hiệu quả, linh hoạt các nguyên tắc, phương pháp khoa học mà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra, hoạt động CTĐ - CTCT trong quân đội đã giành được những thắng lợi to lớn, góp phần tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Trong xây dựng Đảng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn quán triệt và nắm vững nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng lãnh đạo tập thể, đồng thời luôn gắn bó với quần chúng, lắng nghe ý kiến của cán bộ, chiến sĩ; phát huy dân chủ nội bộ. Đồng chí xác định trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải “lấy dân chủ tập trung làm chế độ, lấy lãnh đạo tập thể làm nguyên tắc cao nhất của sự lãnh đạo của Đảng”; đồng thời khẳng định:“Thực tế đã chứng minh, nhờ thi hành nghiêm chỉnh nguyên tắc đó, nên chúng ta đã đoàn kết nội bộ Đảng và trên cơ sở đó đoàn kết được quân đội, chúng ta đã phát huy được trí tuệ của đảng viên và quần chúng, giảm bớt sự chủ quan, phiến diện trong lãnh đạo, tránh và ngăn chặn được tệ nạn phát triển uy quyền cá nhân, độc đoán, vô chính phủ”. Đặc điểm của nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng là ở chỗ phát huy tinh thần tích cực và chủ động của mỗi người, mỗi tổ chức và từng đảng viên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng; làm cho đường lối của Đảng được thực thi trong cuộc sống.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn lấy việc xây dựng quân đội về chính trị và tư tưởng là nội dung công tác quyết định, quan trọng nhất. Bởi, việc lãnh đạo tư tưởng làm cho cán bộ, chiến sĩ có lập trường quan điểm, mục tiêu lý tưởng cách mạng đúng đắn, đây là cơ sở quan trọng để thống nhất tư tưởng và hành động thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Từ sự chỉ đạo thực tế tại chiến trường và sự phân tích tinh tế những hạn chế, yếu kém và chỉ ra nguyên nhân trong công tác tư tưởng của các đơn vị, đồng chí đã có những chỉ đạo sáng suốt, kịp thời để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quân đội. Ðồng chí khẳng định công tác tư tưởng phải đi sâu vào việc bồi dưỡng nhận thức, ý chí, tình cảm, hình thành ý thức giác ngộ cách mạng và bản lĩnh chính trị sâu sắc cho cán bộ, chiến sĩ; trang bị cho cán bộ, chiến sĩ thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học để hành động đạt hiệu quả cao nhất. Theo Đại tướng Nguyễn Chí Thanh: Vấn đề cốt lõi của việc xây dựng quân đội ta về chính trị là xây dựng bản chất giai cấp công nhân của quân đội. Quân đội ta do Đảng Cộng sản thành lập, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, cho nên bản chất giai cấp công nhân của quân đội là sự quán triệt bản chất giai cấp công nhân của Đảng; là sự quán triệt chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng Cộng sản trong Quân đội, phù hợp với các đặc điểm, chức năng tổ chức của một tổ chức quân sự.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nêu rõ: Tinh thần chiến đấu của bất cứ một quân đội nào cũng bắt nguồn từ sự giác ngộ chính trị của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đó. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người đã đưa CTĐ -CTCT vào trong Quân đội, trở thành một bộ phận rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội. Từ thực tiễn cách mạng trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã nêu lên những vấn đề có tính nguyên tắc trong lãnh đạo công tác tư tưởng, đó là: lãnh đạo tư tưởng cần có tinh thần tích cực và ý thức tự giác và tính xây dựng; phải giải quyết vấn đề tận gốc có cơ sở khoa học; phải chủ động, nhìn xa thấy trước vấn đề, theo phương châm phòng bệnh kết hợp với chữa bệnh; phải có tính nguyên tắc và tinh thần đấu tranh sắc bén; lãnh đạo tư tưởng là một công việc khó khăn, lâu dài, hết sức phức tạp, cho nên lãnh đạo tư tưởng cần phải căn cứ vào thực tiễn, hoàn cảnh cụ thể, tình hình nhiệm vụ, đặc điểm của đối tượng mà kịp thời đề ra nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ khác nhau. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn coi trọng đề cao yếu tố con người, yếu tố tinh thần, tư tưởng kế thừa tư tưởng quân sự đậm tính nhân văn Hồ Chí Minh với phương châm: “chính trị trọng hơn quân sự”; “người trước, súng sau”.

Trên cơ sở những vấn đề có tính nguyên tắc nói trên, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đưa ra phương pháp lãnh đạo công tác tư tưởng, đó là: luôn nắm chắc và hiểu rõ tình hình tư tưởng, phân tích nguyên nhân; biết động viên khen thưởng kịp thời,  kiên trì bền bỉ, tăng cường tính thuyết phục; phát huy tác dụng tự phê bình và phê bình, trên tinh thần xây dựng khách quan, tự giác, đảm bảo tính chất quần chúng; hướng mọi hình thức, công cụ giáo dục chính trị vào mục đích lãnh đạo tư tưởng; kết hợp lãnh đạo tư tưởng với lãnh đạo tổ chức; kết hợp lãnh đạo tư tưởng với lãnh đạo thực thi chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ. Ðồng chí yêu cầu làm công tác tư tưởng phải kết hợp giữa “xây” và “chống”, kiên trì, bền bỉ, lấy thuyết phục là chính, nhưng cũng phải kiên quyết giữ vững nguyên tắc, tôn trọng kỷ cương, kỷ luật và pháp luật. Xây dựng nền nếp, chế độ công tác chính trị và phát huy sức mạnh của công tác chính trị trong lực lượng vũ trang nhân dân, làm cho công tác chính trị thực sự là linh hồn của quân đội.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh coi trọng việc xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh, mấu chốt là xây dựng đội ngũ cán bộ. Ðồng chí quán triệt rõ quan điểm xây dựng cán bộ xuất thân từ công, nông, bởi đây là lực lượng chủ lực của cách mạng; song, cũng rất khách quan trong nhận xét, đánh giá, sử dụng cán bộ thuộc các thành phần xuất thân khác. Ðồng chí là người dám chịu trách nhiệm để bảo vệ cán bộ, bảo vệ cái đúng, không sợ khuyết điểm, bởi ở đồng chí có một lòng tin vững chắc vào sự giác ngộ và xu hướng phát triển của con người. Thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân đội “Vừa hồng, vừa chuyên”, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ đức, tài, phẩm chất và năng lực cho quân đội ta, bảo đảm đúng đường lối giai cấp của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng. Đồng chí rất chú trọng giáo dục cán bộ về lý tưởng cách mạng, công tác quần chúng, về dân chủ, kỷ luật, đoàn kết và nhiều lần nhắc nhở cán bộ phải thật sự bình đẳng về chính trị với chiến sĩ, hết lòng thương yêu, chăm sóc, tận tình dìu dắt, giúp đỡ coi nhau như người một nhà. Cán bộ phải phát huy không ngừng và cao độ tinh thần tự giác cách mạng, gương mẫu trước quần chúng để khơi dậy tinh thần sáng tạo của quần chúng. Rất nhiều cán bộ dưới quyền được đồng chí phát hiện, trọng dụng, bố trí vào những vị trí công tác phù hợp đã phát triển trở thành những cốt cán của Ðảng, Nhà nước và quân đội.

Quan tâm chỉ đạo xây dựng chế độ và công tác Đảng ủy trong Quân đội, khi xác định chế độ Đảng ủy trong Quân đội nghĩa là phải thành lập các cấp ủy viên hội của Đảng, từ cấp tiểu đoàn trở lên để làm hạt nhân lãnh đạo thống nhất trong bộ đội và định rõ chế độ thủ trưởng phân công phụ trách, dưới sự lãnh đạo của tập thể và thống nhất của đảng ủy, để thực hiện chế độ lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Đồng chí đặc biệt coi trọng việc xây dựng chi bộ đại đội, nơi được xem là cầu nối giữa Ðảng với quần chúng, hạt nhân đoàn kết ở cơ sở và lãnh đạo trong đại đội. Ðồng thời, luôn đặt ra yêu cầu, đòi hỏi các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên toàn diện cả về giác ngộ chính trị, giác ngộ giai cấp, đạo đức cách mạng, năng lực và phương pháp, tác phong công tác.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có công lớn trong việc củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng của quân đội ta, xây dựng nền nếp CTĐ - CTCT, không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân.

Thường xuyên quan tâm củng cố và kiện toàn xây dựng chế độ và công tác đảng ủy trong quân đội; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng; xác lập chế độ đảng ủy để làm hạt nhân lãnh đạo thống nhất trong quân đội và định rõ chế độ thủ trưởng phân công phụ trách dưới sự lãnh đạo tập thể và thống nhất của đảng ủy. Đồng chí cho rằng, kiện toàn chế độ đảng ủy là để thống nhất và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với quân đội.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với quân đội, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã cùng Tổng Quân ủy tập trung mọi nỗ lực vào việc nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Ðảng đối quân Quân đội. Từ nắm bắt thực tiễn, đồng chí đã đề xuất thay thế chế độ chính ủy tối hậu quyết định (được áp dụng từ tháng 8-1949) bằng chế độ đảng ủy. Vấn đề này đã được Ðại hội lần thứ II của Ðảng (2-1951) thảo luận, thông qua và ghi rõ trong Ðiều lệ Ðảng. Sự ra đời của chế độ đảng ủy là một thành công lớn, ghi dấu ấn đóng góp quan trọng của Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, góp phần khắc phục được những hạn chế của cơ chế cũ; đồng thời hình thành một cơ chế mới: “Lấy Ðảng ủy làm hạt nhân của hạt nhân lãnh đạo, đồng thời xác định chế độ thủ trưởng chính trị và thủ trưởng quân sự phân công phụ trách dưới sự lãnh đạo tập thể của Ðảng ủy”. Có thể nói đến nay, trải qua những giai đoạn khác nhau của cách mạng, chế độ đó vẫn được khẳng định là đúng đắn, khoa học, phù hợp với đặc điểm và bản chất cách mạng của quân đội ta. Những cống hiến to lớn của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về lý luận và thực tiễn chỉ đạo hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị đối với việc xây dựng quân đội ta là những bài học quý giá.

Trong điều kiện hiện nay đòi hỏi chúng ta không ngừng học tập rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, chống các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”. Học tập tấm gương sáng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh về lập trường giai cấp kiên định vững vàng, tinh thần cách mạng triệt để, tiến công kiên quyết và liên tục đối kẻ thù, để giành thắng lợi cho cách mạng, để bảo vệ Đảng, khó khăn không lùi bước; về lòng trung thành vô hạn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, lòng yêu Tổ quốc, yêu nhân dân.

Luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động thực hiện “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lập đổ; làm thất bại các luận điệu sai trái cho rằng quân đội là phi Ðảng, phi chính trị, phi giai cấp, thực chất chúng muốn hạ thấp, loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò của công tác chính trị trong quân đội./.

Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta trong thời kỳ hội nhập ngày nay

 Bên cạnh các yêu cầu về tri thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy, giảng viên lý luận chính trị còn cần có những phẩm chất và năng lực đặc thù để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe và đa dạng, phong phú của thực tiễn quá trình giảng dạy trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.

Hội thi giảng viên lý luận giỏi toàn quốc năm 2018 nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị.


1. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, những chủ trương, đường lối chính trị của Đảng được phổ biến, lan tỏa, thực hiện sâu rộng trong xã hội là minh chứng thiết thực cho sự nhân văn, tiến bộ của Đảng ta, cho tinh thần chung sức đồng lòng xây dựng, phát triển đất nước của nhân dân ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này có được bởi nhiều lý do, trong đó có phần quan trọng là do Đảng ta đã đề ra, vận dụng các biện pháp, hình thức tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị một cách đa dạng, phong phú. Đặc biệt, là có sự phát huy hiệu quả vai trò của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị với tư cách là những người truyền giảng, định hướng các tư tưởng, đường lối lý luận chính trị đến các đối tượng người học, đến người dân.     

Nhìn tổng thể, giảng viên lý luận chính trị không chỉ là người thầy truyền dạy những tri thức lý luận chính trị cho người học, mà sâu xa hơn, còn là người hoạt động chính trị (nhà chính trị) một cách cả trực tiếp và gián tiếp thông qua việc cung cấp và phổ biến những quan điểm, đánh giá, nhận xét về các vấn đề lý luận chính trị và các hoạt động, lĩnh vực xã hội. Đồng thời, là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa của Đảng, người cung cấp thông tin và người phản hồi diễn biến tình hình tư tưởng – chính trị trong xã hội, trong Nhân dân đến Đảng và từ Đảng đến Nhân dân. Họ còn là người góp phần tham gia vào công tác tham mưu lý luận chính trị cho Đảng thông qua các bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học, các ý kiến nhận xét, đánh giá… mang tính lý luận chính trị của mình. Do đó, bên cạnh các yêu cầu về tri thức chuyên môn và kỹ năng giảng dạy, giảng viên lý luận chính trị còn cần có những phẩm chất và năng lực đặc thù để đáp ứng những yêu cầu ngày càng khắt khe và đa dạng, phong phú của thực tiễn quá trình giảng dạy trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng.

Ở nước ta hiện có đội ngũ giảng viên lý luận chính trị ở khắp các cơ sở đào tạo, các trường đại học, các trung tâm giáo dục lý luận chính trị… Đội ngũ này đa phần đã được chuẩn hóa về bằng cấp, có năng lực và trình độ chuyên môn, nhiệt huyết với nghề, lập trường tư tưởng chính trị vững vàng. Không ít người đã khẳng định được vị trí, tên tuổi của mình trong nghề nghiệp và xã hội nhờ những bài giảng hấp dẫn, thuyết phục, các công trình nghiên cứu khoa học, bài viết được đăng tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hội thảo khoa học trong và ngoài nước có giá trị cao về lý luận và thực tiễn… Song, vẫn có một bộ phận giảng viên lý luận chính trị sa vào giảng dạy lý luận mà chưa có sự liên hệ, kết nối với thực tiễn, với yêu cầu và nguyện vọng chính đáng của người học, khiến bài giảng khô khan, thiếu tính hấp dẫn và thuyết phục. Một bộ phận giảng viên chưa thực sự ý thức được hết tầm quan trọng của việc giảng dạy lý luận chính trị, nên “đánh đồng” với giảng dạy các môn học khác, chưa chủ động tìm tòi, nắm bắt bản chất, đặc trưng của việc giảng dạy lý luận chính trị để tìm phương pháp, hình thức tiếp cận, giảng dạy hiệu quả, phù hợp, khiến người học cảm thấy nhàm chán…

Xuất phát từ thực trạng trên, những yêu cầu về phẩm chất, năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta đang dần trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong đánh giá, nhận xét cán bộ giảng dạy lý luận chính trị. Đồng thời, là yêu cầu cấp bách đặt ra của thực tiễn hoạt động giảng dạy lý luận chính trị, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập với nhiều thời cơ và thách thức mới đan xen. 

2. Nhìn nhận, đánh giá, tìm hiểu những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đặc thù của giảng viên lý luận chính trị nước ta trong thời kỳ hội nhập hiện nay cần chú ý bảo đảm những tiêu chí cơ bản: Không tách rời các yêu cầu về xây dựng và phát triển con người, đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới. Đồng thời, gắn liền với việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa chính trị Việt Nam, phục vụ sự phát triển bền vững nền lý luận chính trị nước ta.

Bên cạnh những yêu cầu về trình độ tri thức, trình độ chuyên môn và kỹ năng, kinh nghiệm giảng dạy nói chung vốn là những yếu tố tiên quyết cần có ở giảng viên lý luận chính trị, giảng viên lý luận chính trị cần bảo đảm những yêu cầu về phẩm chất đặc thù sau: Về tri thức: Có tri thức lý luận chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về con đường và định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Về phẩm chất đạo đức, lối sống: Có đạo đức, lối sống trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính, chủ động và gương mẫu học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Về phẩm chất chính trị: Luôn kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng; không bị dao động, lung lay trước cám dỗ vật chất, tinh thần hay chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, không lôi kéo người học vào ý thức tự do dân chủ quá trớn, hoặc đòi đa nguyên, đa đảng… Về phẩm chất kỷ luật: Nghiêm chỉnh chấp hành kỷ luật do nhà trường và đơn vị đề ra, nghiêm túc và gương mẫu, kỷ luật trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác.

Đồng thời, giảng viên lý luận chính trị cũng cần có những năng lực đặc thù, trước hết là năng lực truyền giảng lý luận chính trị một cách hấp dẫn, không khô khan, tránh sa vào hình thức, chủ quan, duy ý chí… trên cơ sở nền tảng tri thức lý luận chính trị vững vàng, có khả năng đánh giá, vận dụng hợp lý và thường xuyên cập nhật, bổ sung cái nhìn, cách tiếp cận mới với các vấn đề lịch sử, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…, các tình huống, quan điểm lý luận chính trị trong cả lý luận và thực tiễn. Năng lực sáng tạo và vận dụng sáng tạo trong quá trình tìm hiểu, tiếp thu kinh nghiệm giảng dạy, truyền đạt lý luận chính trị từ các nước bạn, từ trong lịch sử cũng là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với đội ngũ giảng viên lý luận chính trị hiện nay để truyền bá tri thức lý luận chính trị đến người học vừa bảo đảm yêu cầu về chính trị, vừa thu hút được sự quan tâm, chú ý, vận động và lôi kéo người học có nhận thức lý luận chính trị đúng đắn.

Giảng viên lý luận chính trị cũng rất cần có sự nhạy bén, tỉnh táo và chủ động trong tư tưởng, lập trường chính trị để trang bị kịp thời cho bản thân và cho người học các tri thức, kỹ năng đối phó, miễn nhiễm với các hoạt động, chiêu bài “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm vào đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, vào người học cũng như vào đời sống xã hội nước ta. Cũng cần khéo léo, tế nhị để tránh sa vào quan điểm chính trị cực đoan, hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ chính trị giữa nước ta với các nước khác, giữa mối quan hệ con người với con người… trong quá trình giảng dạy, truyền bá tri thức lý luận chính trị, để nhìn nhận, đánh giá, hóa giải và định hướng một cách nhẹ nhàng, thấu đáo các vấn đề, tình huống tư tưởng chưa đúng đắn (nếu có) ở người học. 

Năng lực hoạt động thực tiễn cũng là một yêu cầu không thể thiếu đối với giảng viên lý luận chính trị để có thể học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn, làm cho bài giảng trở nên phong phú, sinh động và thực tế hơn. Gắn với đó là khả năng hòa nhập tốt với môi trường giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị quốc tế nhằm tăng cường sự giao lưu, tương tác giữa các môi trường học thuật lý luận chính trị để làm giàu cho nhận thức lý luận chính trị của bản thân, tăng cơ hội giao lưu, học hỏi các vấn đề lý thuyết và thực tiễn giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị với thế giới.

3. Để các phẩm chất và năng lực đặc thù của đội ngũ giảng viên lý luận chính trị được tăng cường và phát huy, gắn với nâng cao chất lượng giảng viên lý luận chính trị, cũng là góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, đào tạo lý luận chính trị, ở tầm vĩ môcần không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị nhằm tạo sự nối tiếp giữa các thế hệ giảng viên lý luận chính trị ở các cấp, các địa bàn. Có cơ chế, chính sách tiền lương và tạo điều kiện làm việc thuận lợi hơn nữa cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị, đặc biệt là những người công tác ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, nông thôn… Kịp thời khen thưởng, biểu dương các tấm gương giảng viên lý luận chính trị vừa có đức vừa có tài, có thành tích tiêu biểu trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu. Đồng thời, xử lý nghiêm minh một bộ phận giảng viên vi phạm kỷ luật nghề nghiệp, đạo đức lối sống, hoặc có biện pháp thuyên chuyển công tác đối với những trường hợp giảng dạy lý luận chính trị không đạt hiệu quả, yêu cầu chuyên môn đề ra.

Bản thân đội ngũ giảng viên lý luận chính trị cần không ngừng trau dồi, tu dưỡng đạo đức, lối sống, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách đức Hồ Chí Minh; thường xuyên có ý thức nâng cao tri thức lý luận chính trị trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, cập nhật các kiến thức lý luận chính trị, kiến thức văn hóa – xã hội… nhằm tạo nền tảng tri thức rộng, sâu. Tích cực học hỏi, rèn luyện, đổi mới các phương pháp, hình thức giảng dạy lý luận chính trị để nâng cao chất lượng giảng dạy. Cần biết thông thạo ngoại ngữ (đặc biệt là tiếng Anh) để có thể đọc, nghiên cứu được các tài liệu lý luận chính trị nước ngoài, trực tiếp tham gia trao đổi, bàn luận các vấn đề lý luận chính trị với các đồng nghiệp quốc tế giảng dạy trong lĩnh vực này. Đồng thời, nâng cao khả năng sử dụng thành thạo công nghệ thông tin hiện đại, đặc biệt là máy vi tính để tìm kiếm tài liệu trên mạng in-tơ-net, soạn bài giảng điện tử… nhằm đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy, góp phần nâng chất lượng giáo dục – đào tạo lý luận chính trị lên một tầm cao mới trong thời kỳ hội nhập ngày nay.   


Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên

 


Để góp phần nâng tầm lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; khắc phục những cản trở, rào cản trong quá trình phát triển đất nước, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trọng sạch, vững mạnh, thì vấn đề nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên đang thực sự cấp thiết.

Văn hóa chính trị và những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên.

Văn hóa chính trị là một bộ phận cấu thành của văn hóa, kết tinh trong đó tri thức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin, tạo thành ý thức chính trị, biểu hiện ở thái độ, hành vi và năng lực hoạt động chính trị của các chủ thể chính trị. Văn hóa chính trị được hình thành từ lịch sử văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa chính trị hiện đại, dưới sự chi phối của hệ tư tưởng chính trị của đảng cầm quyền.

Chính trị có văn hóa là chính trị vì nhân dân, vì con người, triệt để giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công. Chính trị không có văn hóa là chính trị tàn bạo, dã man, phi nhân tính. Do đó, việc đưa văn hóa vào chính trị là một đòi hỏi tất yếu khách quan, Đảng ta đã nhiều lần nói về vấn đề này. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên thường được hiểu là, trình độ hiểu biết và giác ngộ chính trị tham gia vào thực tiễn hoạt động chính trị. Đó là ý thức chính trị, thái độ, hành vi và lập trường, quan điểm chính trị; mức độ nhận thức, đánh giá các sự kiện, các diễn biến chính trị; sự lựa chọn tham gia của cán bộ, đảng viên vào hoạt động thực tiễn; thái độ và mức độ phản ứng hay hưởng ứng trước một tình huống nào đó trong đời sống chính trị. Văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên vừa góp phần tạo lập các giá trị, vừa góp phần hình thành dư luận xã hội tích cực đấu tranh chống những hành vi gây tổn hại tới lợi ích chung. Những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên gồm:

Tri thức và kinh nghiệm chính trị. Đây được coi là giá trị nền tảng của văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, con người khi tham gia vào đời sống, hoạt động chính trị phải có những hiểu biết chính trị.  Chính trị là trí tuệ, không có tri thức chính trị thì khó có thể đạt tới trình độ tự giác, tích cực. Trình độ học vấn giúp cho cán bộ đảng viên hiểu biết và nhận thức rõ hơn về những giá trị văn hóa, từ đó xác định những nguyên tắc, lý tưởng sống cho bản thân. Trình độ học vấn của cán bộ, đảng viên trở thành một khía cạnh của nhân cách văn hóa. Ngược lại, văn hóa khẳng định những giá trị xã hội của học vấn. Nếu ai đó, dù có trình độ học vấn nhưng không cống hiến cho xã hội, thậm chí phá hoại xã hội, thì học vấn đó đứng ngoài văn hóa.

Tri thức chính trị và kinh nghiệm chính trị là hai mặt thống nhất, nằm trong chủ thể nhân cách văn hóa chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong đó, tri thức chính trị - lý luận chính trị - càng đạt tới tính khách quan, khoa học bao nhiêu thì càng có vai trò to lớn, mở đường cho hành động thực tiễn hoạt động chính trị trở nên đúng đắn bấy nhiêu. Nó giúp cho cán bộ, đảng viên nhận thức rõ bản chất các quá trình, quy luật và các lợi ích chính trị. Kinh nghiệm chính trị sẽ là những giá trị tăng thêm sức mạnh cho tri thức chính trị, nhưng nó chỉ trở thành giá trị văn hóa chính trị khi nó kết hợp với tri thức, tình cảm, lý tưởng, niềm tin và năng lực hành động chính trị của bản thân cán bộ, đảng viên. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên, trong thực tiễn hoạt động chính trị không được coi nhẹ hoặc tuyệt đối hóa mặt nào. Nếu tuyệt đối hóa tri thức chính trị - lý luận chính trị - mà coi nhẹ kinh nghiệm chính trị sẽ dẫn đến lý luận suông, rơi vào chủ nghĩa giáo điều. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa mặt kinh nghiệm chính trị, coi thường lý luận chính trị sẽ dẫn đến chủ nghĩa kinh nghiệm, hành động mù quáng, cảm tính. Việc thường xuyên bồi dưỡng và tự bồi dưỡng tri thức chính trị và kinh nghiệm chính trị không còn là chuyện bắt buộc, mà đã trở thành nhu cầu và động lực tự thân mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình vươn lên hoàn thiện nhân cách chính trị.

Tình cảm và niềm tin chính trị. 
Tình cảm và niềm tin chính trị, tuy có khác nhau ở cấp độ, phạm vi nhưng lại thống nhất ở mục tiêu, con đường và tuân theo quy luật từ thấp đến cao, từ tình cảm đến niềm tin. Sự hình thành và phát triển của tình cảm và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên không thể là tự phát, cảm tính. Tình cảm và niềm tin khi được hình thành bằng con đường tự giác, khoa học sẽ tạo nên động lực chính trị ổn định, mạnh mẽ, giúp người cán bộ, đảng viên vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách, vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Ngược lại, nếu tình cảm và niềm tin chính trị được hình thành ở ai đó một cách tự phát, cảm tính, thiếu cơ sở khoa học, thì dễ dẫn đến dao động, bế tắc, đổ vỡ, thậm chí dẫn đến cơ hội, phản bội khi gặp khó khăn.

Năng lực hành động chính trị.
 Tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên, cuối cùng phải được biểu hiện bằng hành động. Chính trị không phải chỉ là nói mà phải làm: chỉ có làm và thông qua việc làm cụ thể và thiết thực để biến các chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược, nghị quyết, chỉ thị… thành các chương trình, kế hoạch, biện pháp, để đưa chính trị vào cuộc sống, thực hiện bằng được mục tiêu đề ra.

Năng lực hoạt động chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bao gồm nhiều mặt, nhưng quan trọng nhất là khả năng phân tích đặc điểm tình hình (trong nước, thế giới, đặc điểm cơ quan, đơn vị, địa phương, tình hình dân cư…) để đề ra kế sách, bước đi, cách làm đúng quy luật, hợp lòng dân, phù hợp với thực tiễn địa phương, cơ sở, có khả năng tổ chức đội ngũ cấp dưới thành một tập thể đoàn kết, nhất trí, thu hút và lôi cuốn, truyền cảm hứng để họ cùng với mình quyết tâm thực hiện bằng được các mục tiêu, chương trình đã đề ra. Biết điều chỉnh chủ trương, kế hoạch cho sát hợp với thực tế, biết ứng phó thành công với mọi tình huống, rủi ro từ khách quan tác động. Phải có tác phong dân chủ, gần dân, lắng nghe cấp dưới, có thói quen đi vào quần chúng, có khả năng đối thoại, cảm hóa, thuyết phục, lôi cuốn quần chúng đi theo, ủng hộ.

Những nội dung biện pháp nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên.

Trước hết, cần nâng cao nhận thức về văn hóa chính trị. 
Cơ sở và nội dung để nâng cao văn hóa chính trị là nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin quan trọng nhất là học tập tinh thần, lập trường, quan điểm; cốt lõi nhất là học được phương pháp biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác. Đây là cơ sở khoa học để xem xét và giải quyết, xử trí mọi vấn đề, tình huống chính trị thực tiễn đặt ra. Phương pháp học là gắn chặt giữa lý luận với thực tiễn và không ngừng tổng kết thực tiễn; tránh lối học tập kiểu đối phó cốt để cho xong, nhưng học xong rồi không biết vận dụng vào thực tiễn.

Tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ là học tập tư tưởng lý luận mà phải chú ý học tập cả phương pháp, phong cách, đạo đức và lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phải đi sâu học tập phong cách - nổi bật là phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt (nói và viết), phong cách ứng xử, phong cách sống của Người.

Cùng với việc nâng cao trình độ nhận thức Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, cần nắm vững Cương lĩnh chính trị và đường lối đổi mới  của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng, trực tiếp nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên. Bất kỳ một sự dao động, ngả nghiêng, hành động và phát ngôn nào trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng không chỉ dẫn đến tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên, mà còn gây tổn hại cho Đảng.

Hai là
, tăng cường bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về khoa học chính trị và truyền thụ kinh nghiệm thực hành chính trị cho cán bộ, đảng viên. Đây được coi là nội dung cốt lõi của văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên và là một trong những tiêu chuẩn, thước đo đánh giá văn hóa chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải trang bị kiến thức toàn diện cho cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Những kiến thức về chính trị là những nguyên lý, quy luật  đã có sự phát triển mới, trong điều kiện mới (kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế); những kiến thức về khoa học lãnh đạo cần phải được mỗi cán bộ, đảng viên cập nhật và bổ sung thường xuyên. Coi trọng bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng nắm, phân tích các sự kiện, các tình huống chính trị và có những quyết sách kịp thời, hiệu quả.

Ba là, phát huy tính tự giác, tích cực tự học, tự rèn phong cách công tác và đạo đức, lối sống. 
Phát huy tính tự giác, tích cực tự học, tự rèn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự đặt kế hoạch phấn đấu cho chính mình. Những nội dung tri thức, kinh nghiệm chính trị và phong cách hoạt động chính trị sẽ được lĩnh hội từ quá trình học tập ở các lớp học, tập huấn đều nằm trong kế hoạch tự học, tự rèn của bản thân họ và được diễn ra thường xuyên, liên tục. Để việc tự học, tự rèn đạt kết quả cao thì kế hoạch phải được xây dựng một cách khoa học và phải luôn đặt ra yêu cầu cao với bản thân; phải kiên quyết thực hiện kế hoạch và phải lấy hiệu quả làm thước đo, có sự phối hợp, giám sát của tổ chức. Tránh lối học tập, rèn luyện nửa vời, đặt ra kế hoạch một đằng, làm một nẻo, “đầu voi đuôi chuột”.

Bốn là,
 xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Môi trường văn hóa ở mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương là cơ sở xã hội và là điều kiện nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên. Tập trung xây dựng và phát triển ý thức dân chủ trong mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương và cơ sở. Quán triệt và thực hiện nghiêm quy chế dân chủ cơ sở. Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ ở tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là thực hiện dân chủ trong Đảng, trong mỗi cấp ủy, tổ chức đảng để cán bộ, đảng viên phát huy dân chủ và nêu cao trách nhiệm xã hội của bản thân. Nhưng dân chủ phải có nguyên tắc, không phải dân chủ quá trớn, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách. Đề phòng và khắc phục cả hai khuynh hướng: dân chủ hình thức hoặc tập trung quan liêu.

Như vậy
, để góp phần nâng tầm lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; khắc phục những cản trở, rào cản trong quá trình phát triển đất nước, xây dựng hệ thống chính trị thực sự trọng sạch, vững mạnh, thì vấn đề nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên đang thực sự cấp thiết. Những yếu tố cấu thành văn hóa chính trị, được đề cập trên đây mới chỉ là nội dung cơ bản, bước đầu, cần tiếp tục được nghiên cứu bổ sung; tích cực tạo điều kiện để dần hình thành những giá trị mới, làm cho văn hóa chính trị của cán bộ, đảng viên không ngừng phát triển, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mớ