Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

Xuyên tạc về dịch bệnh Covid-19 tại Việt Nam

Những ngày qua, kể từ khi những ca nhiễm Covid-19 đầu tiên ở Việt Nam, chúng ta đã liên tục đưa công khai thông tin về tình hình dịch bệnh, về những chỉ đạo của Chính phủ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành… Tuy nhiên, bất chấp sự thật đó, một bộ phận kẻ xấu ở trong và ngoài nước vẫn lu loa rằng, Việt Nam không phán ánh đúng sự thật về dịch bệnh và các biện pháp của Chính phủ là “mị dân”. Vậy mục đích của họ là gì?

Vấn đề phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch Covid-19 là vấn đề hết sức nhạy cảm, có liên quan trực tiếp đến sức khỏe của mọi người nên đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của quần chúng nhân dân trong thời gian qua. Lợi dụng điều này, những kẻ xấu, những phần tử cơ hội chính trị đã tìm cách tuyên truyền, chống phá, gây bất ổn về trật tự xã hội, gây hoang mang dư luận, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước Việt Nam đối với công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân. Các quyết sách mà Đảng và Chính phủ đưa ra đều rất nhân văn, hướng đến mục đích cao nhất là đảm bảo tính mạng con người và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đã cố tình bóp méo và cho rằng, đó là “mị dân”. Những nội dung thông tin do các cơ quan chính thống cung cấp bị chúng xuyên tạc là “không phản ánh đúng sự thật”. Từ đó chúng tìm cách thổi phồng tình hình dịch bệnh, thổi phồng những thiếu sót khuyết điểm để bóp méo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước.

Nghiêm trọng hơn, các thế lực thù địch lợi dụng việc phòng chống dịch bệnh Covid-19 để chia rẽ chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam với các nước, đặc biệt là các nước láng giềng trong khu vực và trên thế giới. Từ câu chuyện “đóng cửa biên giới hay không đóng cửa biên giới”, đến việc các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn ở Việt Nam như thế nào trong điều kiện dịch bệnh phức tạp đều bị chúng lợi dụng xuyên tạc, bóp méo để chống phá. Hệ lụy từ các hành vi xuyên tạc, bịa đặt và thông tin sai sự thật của các thế lực thù địch là hết sức nghiêm trọng đối với xã hội. Những thông tin như thế này đã gây ra những bất ổn về an ninh, trật tự xã hội thể hiện rất rõ trong thời gian qua khiến người dân hoang mang, đổ xô đi vào cửa hàng, siêu thị tích trữ hàng hóa, lương thực thực phẩm để phòng chống dịch bệnh lâu dài dẫn đến hệ lụy về việc thổi giá, tăng giá, đầu cơ hàng hóa.

Hơn thế nữa, các thế lực thù địch, tổ chức phản động, lưu vong ở trong nước và nước ngoài còn cố tình lợi dụng thông tin giả, thông tin xuyên tạc và bịa đặt nhằm xâm phạm bí mật đời tư, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lòng tự trọng của con người để lại những hệ lụy nghiêm trọng liên quan đến những cá nhân chịu tác động của những thông tin này.

Để phòng chống nạn tin tức giả mạo, xấu độc trong đợt dịch Covid-19 này, công tác tuyên truyền hiện nay rất quan trọng, làm sao cho người dân hiểu đúng, có kiến thức về dịch bệnh và có thái độ ứng xử phù hợp để không tin vào những luận điệu sai trái, những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vững vàng, không hoang mang xao động trước những thông tin bịa đặt.

Bên cạnh sự tích cực vào cuộc của các cơ quan truyền thông thì chính mỗi người dân cũng phải đóng vai trò tuyên truyền, định hướng cho những người thân của mình. Người dân có hiểu biết, có kiến thức, khi tham gia vào không gian mạng sẽ luôn là một “người tiêu dùng thông thái” biết lựa chọn “những sản phẩm tốt nhất” cho mình”.

Muốn chống lại tin tức giả, xấu độc, các nhà báo cũng phải liên tục sàng lọc, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau đồng thời cung cấp thông tin chính thống có độ chính xác, tin cậy cao để phản bác lại những thông tin xấu độc, sai sự thật. Trước “ma trận” thông tin giả, thông tin xấu độc, cần tỉnh táo và chấp nhận lùi lại một chút để có được cái nhìn khách quan hơn về nguồn cung cấp thông tin. Người đọc cũng cần tìm đến những nguồn thông tin chính thống từ các cơ quan truyền thông có uy tín, đưa tin thận trọng, khách quan không gây hoang mang dư luận nhưng cũng không khiến người tiếp cận thông tin chủ quan về dịch bệnh.

Trước những hoài nghi về việc liệu các cơ quan chính thống có tìm cách bưng bít thông tin hay giấu dịch hay không, nhà báo Đỗ Đức Hoàng cho rằng: “Khi đặt câu hỏi nghi vấn, hãy đặt câu hỏi ngược lại là bưng bít thông tin thì có lợi ích gì, và vì mục đích gì, nếu không trả lời được câu hỏi đó, thì việc bưng bít là không cần thiết.

Trên thực tế, cộng đồng quốc tế, trong đó có Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đều đánh giá cao sự công khai minh bạch thông tin của Việt Nam. Thậm chí, ngay khi có bất kỳ ca nhiễm bệnh mới nào, chúng ta cũng đều công khai chi tiết thông tin. Chúng ta tin tưởng, tất cả những gì chúng ta đang làm đã là câu trả lời thuyết phục, không cần giải thích với những người luôn có định kiến rằng, những thông tin đến từ các cơ quan truyền thông chính thống là giả mạo.


Tăng cường hoạt động đấu tranh, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng


Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”.

Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ XHCN, đến vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Do vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(2). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước được xây dựng trên cơ sở khoa học; có quan điểm, đường lối và chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội và hợp lòng dân, giữ vững được sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chính quyền cũng như trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo được lòng tin và sự ủng hộ của toàn dân. Đồng thời, xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Do tính chất hệ trọng và nhạy cảm của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phải coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp đấu tranh trên mặt trận này. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Cần công khai hóa các thông tin cần thiết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận trước hết trong cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng, để định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. 

Đừng tự đánh mất trí khôn của mình

Lười học tập, nghiên cứu nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước là vấn đề tồn tại trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngay từ năm 1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”. Theo đó, Người cảnh báo đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ việc chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu nghị quyết của Đảng. Trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung triển khai thực hiện Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 9/3/2021 của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, thì đây là vấn đề cần được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên hết sức lưu tâm.

Theo quy định của Đảng, hằng năm tùy vào tình hình cụ thể, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đều xây dựng kế hoạch tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Phương pháp, hình thức tổ chức học tập, nghiên cứu cũng được tiến hành phù hợp với điều kiện thực tế, trong đó cần đặt chất lượng học tập, nghiên cứu lên hàng đầu. Đặc biệt, những năm gần đây, 100% cán bộ, đảng viên sau mỗi kỳ học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đều phải tiến hành viết bài thu hoạch hoặc làm bài kiểm tra. Kết quả kiểm tra nhận thức sau mỗi đợt học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng trở thành tiêu chí trong xem xét, đánh giá trình độ, năng lực của từng cán bộ, đảng viên. Về hình thức tổ chức học tập cũng có sự đổi mới đáng kể, nhất là trong điều kiện công nghệ thông tin phát triển nhanh. Không ít lớp học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã được tổ chức bằng hình thức trực tuyến với sự tham gia của hàng chục nghìn cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở.

Soi chiếu vào thực tế, tuy việc tổ chức học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng được tiến hành rất công phu với những quy định chặt chẽ và rất cụ thể, nhưng điều rất đáng bàn là chất lượng lại chưa đạt như mong muốn. Không ít cán bộ, đảng viên tham gia học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã có sẵn tư tưởng mang theo một số cuốn truyện, hay một số tờ báo để “nghiên cứu”, nên sau mỗi buổi học hoàn toàn không hay biết báo cáo viên đề cập vấn đề gì, thậm chí tiêu đề cũng không nhớ mà chưa nói tới nội dung. Đặc biệt, ở hầu hết các lớp học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng, phần lớn cán bộ, đảng viên chỉ nghe, rất ít người ghi chép. Quả thật, nếu ai đó có biệt tài nghe rồi nhớ thì thật đáng nể phục, nhưng sự thật là nhiều người... quên. Vậy nên, dù việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng có được tổ chức công phu đến mức nào, nếu tư tưởng học tập như trên thì vẫn chỉ là việc học thì thật, nhưng kiến thức là giả.

Khi nêu vấn đề này, không ít người cho rằng, nói thế chưa thật chính xác, vì qua kiểm tra, đánh giá sau mỗi đợt học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của cán bộ, đảng viên do cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiến hành cho thấy kết quả khá cao; tỷ lệ cán bộ, đảng viên có bài thu hoạch hoặc bài kiểm tra đạt điểm khá, giỏi chiếm phần lớn. Đúng là vậy, nhưng điểm số trong từng bài thu hoạch chưa hẳn đã phản ánh thực chất chất lượng học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của mỗi cán bộ, đảng viên khi mà phần lớn các bài viết thu hoạch đều được sao chép gần như nguyên xi so với nghị quyết. Trước thực trạng này, không ít cán bộ, đảng viên “lý luận” rằng: Đã là nghị quyết của Đảng thì viết thu hoạch không thể khác được. Điều này không sai, nhưng quan trọng hơn là sau khi nghiên cứu, học tập nghị quyết thì yêu cầu đặt ra đối với từng cán bộ, đảng viên không chỉ là chuyện thuộc nghị quyết, mà cần phải hiểu nghị quyết và vận dụng hiệu quả vào đời sống thực tế trên cương vị công tác của mình. Căn cốt của việc học tập nghị quyết là để thực hành nghị quyết. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế... Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế”. Người chia lý luận làm hai loại: “Lý luận suông, vô ích” và “lý luận thiết thực, có ích”. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là “lý luận suông”. “Lý luận thiết thực” là những vấn đề do thực tế nảy sinh đòi hỏi phải giải quyết trên cơ sở lý luận, chẳng hạn “muốn biết ta tiến lên chủ nghĩa xã hội như thế nào thì trước hết... phải biết chủ nghĩa xã hội là gì”. Dẫn lại lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy rằng, việc nghiên cứu, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng là rất quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên; nhưng điều quan trọng hơn, cần thiết hơn là việc vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn với mục đích nâng cao chất lượng công tác để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chỉ khi nào và lúc nào mọi cán bộ, đảng viên có nhận thức đầy đủ như vậy thì việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng mới khắc phục được tình trạng: Học thật nhưng kiến thức giả.

Đặt vấn đề như vậy để thấy rằng, việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở mỗi cán bộ, đảng viên cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Thực tế, hiện sự chủ động trong nghiên cứu, học tập chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở nhiều cán bộ, đảng viên hoàn toàn phụ thuộc vào các lớp học tập trung do cấp ủy, tổ chức đảng ở từng cấp triệu tập. Chất lượng, việc tổ chức học tập tập trung như phần trên bài viết này đã phân tích. Do không thường xuyên học tập, nghiên cứu nên có không ít cán bộ, đảng viên hiểu và vận dụng chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa đúng với thực tiễn, thậm chí cá biệt có trường hợp vận dụng trái ngược với nghị quyết. Tình trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng công việc của cá nhân, đơn vị mà còn gây ra rất nhiều hệ lụy cho người dân, gây rối bận cho tổ chức. Tình trạng đơn thư vượt cấp kéo dài có một phần nguyên nhân chính từ việc đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ở cơ sở không nắm vững chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để giải quyết trước những đòi hỏi chính đáng của người dân. Nói về vai trò của lý luận, Bác Hồ từng ví đó như “trí khôn của con người”.

Sẽ chẳng ai có thể đọc một lần nghị quyết là hiểu ngay, nhớ ngay. Vì vậy, nếu chỉ phụ thuộc vào việc học tập, nghiên cứu nghị quyết của Đảng theo hình thức tập trung, điều chắc chắn là sẽ không mang lại hiệu quả. Bởi vậy, sự chủ động, tích cực, tự giác trong học tập, nghiên cứu nghị quyết của từng cán bộ, đảng viên chính là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Lý luận về giáo dục và quá trình nhận thức đã được các nhà khoa học phân tích kỹ, xin không nhắc lại nhưng ai cũng hiểu rằng: Tự học, tự nghiên cứu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình tiếp nhận tri thức và sử dụng tri thức. Khi và chỉ khi nào từng cán bộ, đảng viên hiểu được thực chất của vấn đề, nắm vững vấn đề thì khi đó mới biết cách để vận dụng hiệu quả vào thực tiễn. Hiểu phương phưởng, đại khái, không nắm được bản chất sẽ không bao giờ hy vọng có được kết quả tốt trong hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nghiên cứu lý luận chính trị không chỉ dừng ở phạm vi trường lớp mà phải nêu cao tinh thần tự học, học ở mọi nơi, mọi lúc: “Học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân”.

Nêu lại một vài hiện tượng, vấn đề từ thực tiễn và vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên suy ngẫm, tự kiểm điểm lại những việc mà mình đã làm, đang làm và sẽ làm. Chúng ta đều biết, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng chỉ ra một trong số biểu hiện để nhận diện sự suy thoái về tư tưởng chính trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng thẳng thắn thừa nhận: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức”.

Như vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức một cách đầy đủ rằng: Lười học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng chính là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đặc biệt là tự đánh mất “trí khôn” của mình. Bởi vậy, nếu không sớm nhận diện, sớm có giải pháp khắc phục thì sự suy thoái này sẽ gây nguy hại khôn lường, không chỉ ảnh hưởng đến một cá nhân, một tập thể, một địa phương, đơn vị mà còn ảnh hưởng đến uy tín, năng lực, sức chiến đấu của Đảng. Bởi, "Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do đảng viên đều tốt". Theo đó, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tiến hành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng về tổ chức học tập, nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, hy vọng mỗi cấp ủy, tổ chức đảng sẽ có nhiều cách thức đổi mới trong tổ chức học tập, nghiên cứu, nhưng điều quan trọng và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng học tập, nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Đảng hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự giác của từng cán bộ, đảng viên.

 


Tăng cường hoạt động đấu tranh, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng

 

Trong chiến lược chống phá Việt Nam, âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là “mũi đột phá” hòng làm tan rã niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những “khoảng trống” để dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhằm chuyển hóa, xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn... Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”.

Do đó, nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận trở thành mặt trận nóng bỏng hàng đầu của công tác tư tưởng, lý luận, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng, sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước, sự mất còn của chế độ XHCN, đến vận mệnh của dân tộc. Vì vậy, trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay phải kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm, tư tưởng sai trái của các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị, khắc phục những nhận thức lệch lạc; đồng thời, tích cực bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ và phát triển những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, chủ động định hướng giá trị đúng đắn đối với sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam. Do vậy, phải quán triệt sâu sắc quan điểm: “Gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là cơ bản, “chống” phải quyết liệt, hiệu quả. Kết hợp giữa nhiệm vụ trước mắt và nhiệm vụ lâu dài; nâng cao khả năng tự phòng, chống của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước âm mưu, thủ đoạn và hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, cơ hội chính trị”(2). Phải kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện thụ động, bị động, hoặc chỉ hô hào chung chung, nhưng trên thực tế không đấu tranh. Trong điều kiện bình thường, nếu chúng ta chủ quan, lơ là, không thường xuyên quan tâm đầy đủ, thấu đáo đến công tác tư tưởng, thì khi xuất hiện những tình huống bất thường, những biến động về kinh tế-xã hội... sẽ rất dễ dẫn đến sự phân tâm, hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

Cần nhận rõ công tác tư tưởng, lý luận có vai trò quan trọng hàng đầu trong hoạt động lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định bảo đảm cho Đảng có nền tảng tư tưởng vững chắc, có cương lĩnh chính trị và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của đất nước được xây dựng trên cơ sở khoa học; có quan điểm, đường lối và chính sách đúng đắn, phù hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội và hợp lòng dân, giữ vững được sự đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, chính quyền cũng như trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị, tạo được lòng tin và sự ủng hộ của toàn dân. Đồng thời, xây đắp nền tảng chính trị-tinh thần của chế độ và sự đồng thuận xã hội, định hướng và quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Do tính chất hệ trọng và nhạy cảm của nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phải coi trọng việc giáo dục, động viên, phát huy vai trò, trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên, tạo nên lực lượng đông đảo, rộng khắp đấu tranh trên mặt trận này. Thực tiễn luôn vận động, phát triển, theo đó lý luận cũng luôn phát triển với những nội dung mới. Mặt khác, các thế lực thù địch luôn tìm cách đưa ra những chiêu thức mới, những luận điệu và cách thức chống phá mới. Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên được giáo dục, cập nhật tình hình. Cần công khai hóa các thông tin cần thiết liên quan đến đấu tranh tư tưởng, lý luận trước hết trong cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng, để định hướng dư luận, tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong toàn xã hội, góp phần đấu tranh vạch trần các quan điểm sai trái, thù địch. 

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

 


Đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ở mọi thời kỳ, trước bất cứ nhiệm vụ gì, đều phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”.

Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy; là thứ vi trùng độc hại sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó

Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. ...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót, song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt.

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới, nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; để Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát tài, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi.

Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực.

Phê phán các quan điểm sai trái về bầu cử

Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Cũng như các kỳ Đại hội và bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, trước thềm cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm chống phá, như: “Đảng lãnh đạo bầu cử là không dân chủ”, “Bầu cử Quốc hội ở Việt Nam là hình thức”; “Đảng cử - dân bầu”; “Bầu cử chỉ là “màn kịch dân chủ” do Đảng đạo diễn, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “Đảng Cộng sản đang độc diễn trong bầu cử”; “Không thể có cuộc bầu cử dân chủ khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cuộc bầu cử”; “Cuộc bầu cử Quốc hội chỉ là hình thức, quyền lực trong Quốc hội đã được các “phe cánh” của Đảng “an bài”, “thỏa hiệp”, “phân chia”, v.v... 

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo nhân dân làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn kiểm nghiệm, được nhân dân thừa nhận, được hiến định trong các bản Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013. Khoản 1, Điều 4, Hiếp pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nên việc Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử là tất yếu khách quan, là hợp hiến, hợp pháp. Để cuộc bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Hiện nay, các nước dù theo thể chế chính trị nào đều có đảng chính trị. Các nước theo chế độ đa đảng, các đảng chính trị đều lãnh đạo các cuộc bầu cử.

Cớ gì lại phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bầu cử?

Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Các nước tư bản chủ nghĩa, các đảng phái chính trị đều cử người của đảng mình tham gia tranh cử vào thượng viện, hạ viện, tham gia tranh cử bầu tổng thống, thủ tướng, v.v...

Tại sao lại cho rằng ở Việt Nam lại “Đảng cử - dân bầu”? Trên thế giới đều “đảng cử - dân bầu”. Vấn đề quan trọng nhất là “cử” ai. Những người có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Ngay trong bản Hiến pháp năm 1946, Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt gái, trai, đều có quyền  bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định rõ quyền bầu cử và ứng cử. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”.

Thật ra, không phải trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 họ mới lu loa, mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, bất mãn đã lu loa từ nhiều kỳ bầu cử trước đây. Chẳng hạn, trong cuộc bầu đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, đã xuất hiện một “làn sóng” tự ứng cử của những người tự xưng là “nhà dân chủ”. Họ bị loại qua các vòng hiệp thương và rêu rao những luận điệu hết sức sai trái, như: Chỉ có những người “theo phe” Đảng Cộng sản mới có cơ hội ứng cử đại biểu Quốc hội; phải để các ứng cử viên tự do tranh cử, dựa trên chữ ký của cử tri mà không cần phải qua hiệp thương; Đảng Cộng sản cố tình “cản trở” người ngoài Đảng tự ứng cử vào đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, v.v... Họ đã quá sai, Hiến pháp đã hiến định “Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Họ không theo Đảng Cộng sản thì họ theo ai? Đảng không cản trở bất cứ ai, tôn trọng quyền bầu cử và ứng cử của những người đủ tiêu chuẩn và điều kiện, không chấp nhận những người không đủ tiêu chuẩn. Từ trước đến nay vẫn thế. Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Chúng ta kiên quyết không giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp những người không xứng đáng, không đủ tiêu chuẩn, nhất là những người sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, xu nịnh, kiêu ngạo, quan liêu, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước”.

Họ cho rằng Đảng quy định số lượng đại biểu ngoài Đảng là quá ít, cần phải “cân bằng quyền lực” trong Quốc hội bằng cách chia một nửa số ghế cho những người ngoài Đảng. Thậm chí, có đối tượng còn đói xóa bỏ cơ chế bầu cử hiện tại, đòi hỏi phải tiến hành bầu cử theo phương thức của các nước tư bản chủ nghĩa. Bản chất Quốc hội và Hội đồng nhân dân ở nước ta khác với các nước tư bản chủ nghĩa. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Chính vì thế trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cần có cơ cấu hợp lý, đại diện cho các giai tầng trong xã hội, có ­người ngoài Đảng, nhưng phải đảm bảo tiêu chuẩn, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Nghị quyết số 1185/NQ-UBTVQH14 ngày 11/01/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội khóa XV, cơ cấu số lượng đại biểu ngoài Đảng từ 25-50 đại biểu (5-10%). Tỷ lệ này là tỷ lệ đã được đặt ra từ các cuộc bầu cử trước đây và cố gắng phấn đấu đạt tỷ lệ ấy. Kết quả ngày Hội toàn dân 23/05/2021 vửa rồi là minh chúng hùng hồn, đúng đắn nhất, không thể thay đổi.

Bầu cử là công việc của mỗi quốc gia và có cách tổ chức và quy định bầu cử khác nhau. Không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác. Điểm chung trong bầu cử của các nước là theo nguyên tắc “phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt Nam quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp bảo đảm ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.

Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng

 


Đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Người cho rằng, để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ở mọi thời kỳ, trước bất cứ nhiệm vụ gì, đều phải gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. 

Bên cạnh coi chủ nghĩa cá nhân là một thứ “vi trùng độc hại”, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, là “giặc nội xâm” - kẻ thù của những người cách mạng... Hồ Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh phải phân biệt rõ giữa lợi ích chính đáng của cá nhân và chủ nghĩa cá nhân. Theo đó, Người đề cao vai trò lợi ích chính đáng của cá nhân, coi đây là nguyên nhân quyết định chủ yếu cho sự tồn tại, phát triển của mỗi con người, dẫn đến quá trình phát triển không ngừng của đất nước. Đồng thời, lợi ích chính đáng của cá nhân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng Việt Nam, Vì vậy, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng là tất yếu khách quan, rất quan trọng, song đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”.

Bản chất chủ nghĩa cá nhân là lối sống thực dụng, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, “...việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy; là thứ vi trùng độc hại sinh ra hàng trăm thói hư, tật sấu, những căn bệnh trong Đảng, nhất là khi Đảng cầm quyền. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh chỉ ra 15 căn bệnh nguy hiểm trong Đảng đều bắt nguồn từ chủ nghĩa cá nhân, như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, “hữu danh, vô thực”, “kéo bè, kéo cánh”, cận thị, cá nhân, lười biếng, tị nạnh, “xu nịnh, a dua”. Đây là nguyên nhân làm suy thoái, biến chất, giảm năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, bởi vì, do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân.

Vì tính chất nguy hiểm - là lực cản lớn nhất của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Người cách mạng phải tiêu diệt nó

Hồ Chí Minh khẳng định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, việc đánh bại chủ nghĩa cá nhân và trong thắng lợi của chủ nghĩa xã hội là hai vấn đề, hai nội dung, hai mặt có quan hệ đối kháng, loại bỏ lẫn nhau, mặt này tồn tại, phát triển thì mặt kia không tồn tại, hoặc ngược lại. Chỉ giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, mới xây dựng được cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, không thể đi lên chủ nghĩa xã hội khi chủ nghĩa cá nhân vẫn còn tồn tại và phát triển.   

Hồ Chí Minh cũng xem chủ nghĩa cá nhân là một thứ giặc: “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng”, nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm, nó làm mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của Đảng, tới quá trình đi lên của cách mạng. Nếu không giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” thì sự nghiệp cách mạng vô sản ở nước ta không thể giành được thắng lợi, suy đến cùng là cuộc cách mạng “nửa vời”, “không đến nơi”.

Đối mặt với kẻ thù ngoài mặt trận, nơi chiến tuyến, tuy gian khổ, hy sinh, mất mát, song vẫn có thể giành thắng lợi, còn đối mặt với chủ nghĩa cá nhân vô cùng phức tạp trong nhận diện, khó khăn và đau đớn trong đấu tranh, vì đó là những thói hư, tật xấu tồn tại ngay trong chính bản thân mỗi người đảng viên; trong đồng đội, đồng chí, anh em, cấp trên - cấp dưới… ở nội bộ cơ quan, đơn vị mình. ...Việc tranh đấu với kẻ địch trong người, trong nội bộ, trong tinh thần, là một khó khăn, đau xót, song không vì khó khăn, phức tạp, gian khổ, đau đớn, lâu dài, mà chấp nhận nản chí, buông xuôi, ngược lại càng phải dũng cảm, càng phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước rất quan trọng để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và Người luôn đặt niềm tin thắng lợi vào cuộc đấu tranh ấy: chủ nghĩa xã hội nhất định thắng, chủ nghĩa cá nhân nhất định phải tiêu diệt.

Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng Đảng vững mạnh thì phải ngăn chặn, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân một cách hiệu quả. Muốn vậy, mọi đảng viên dù ở bất cứ cấp nào, công việc gì, cũng cần nắm vững và thực hiện đúng những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới. Tiến hành thường xuyên, nghiêm túc “tự phê bình và phê bình”, phải tự phê bình mình trước, phê bình người khác sau, “phê bình việc, chứ không phê bình người”, không đại khái, qua loa, làm cho lấy vì. Phải luôn luôn tự phê bình một cách thật thà, tự phê bình từ trên xuống dưới, nếu tiến hành từ dưới lên trên sẽ dễ dẫn đến hình thức, kết quả đạt được không cao.. Tự phê bình và phê không chỉ dừng ở phạm vi cá nhân đảng viên, mỗi tổ chức đảng cụ thể, mà phải coi toàn Đảng là một cơ thể, một tồ chức hoàn chỉnh để tiến hành tự phê bình và phê bình. Người nói: “một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.

Chống chủ nghĩa cá nhân, chống “giặc nội xâm” là cuộc đấu tranh phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, quyết tâm cao, dũng cảm, kiên quyết, kiên trì, không bao che, bao biện, đồng thời giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ đối với mọi đảng viên, trên tất cả các mặt công tác, các lĩnh vực của đời sống xã hội, song, phải có những bước đi thích hợp, thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nơi, những lĩnh vực, những vị trí, những cương vị dễ nẩy sinh chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó.

Hồ Chí Minh yêu cầu phát huy lực lượng toàn dân trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này: Nhiệm vụ của quần chúng là phải hăng hái tham gia phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội xâm như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình. Thực tiễn luôn minh chứng tính đúng đắn sáng tạo, cách mạng và khoa học quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa cá nhân và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng. Để Đảng luôn giữ được niềm tin của nhân dân, luôn vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; để Đảng không phải là một tổ chức làm quan phát tài, thì phải không ngừng “chẩn đoán” và chỉ rõ những biểu hiện của “căn bệnh” chủ nghĩa cá nhân, phải không ngừng “chữa trị” và “đặc trị” để đẩy lùi và giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này.

Tình hình thế giới và trong nước đã và đang có nhiều thay đổi, nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng vừa qua đã tạo ra bước đột phá, đạt được những kết quả đáng khích lệ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã “chỉ mặt đặt tên” những biểu hiện của “căn bệnh” này. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ “Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “”tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đồng thời, từng bước đấu tranh, đẩy lùi một bước chủ nghĩa cá nhân với những căn bệnh của nó, như: cơ hội, thực dụng, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, lợi ích nhóm, cục bộ, địa phương, vô cảm; những tiêu cực trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, đất đai, quy hoạch, xây dựng… ở một số cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền. Trong đấu tranh đã không có vùng cấm, không có ngoại lệ; việc xây dựng Đảng về đạo đức được coi trọng, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được đề cao, góp phần rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Để thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, phải không ngừng kiên quyết, kiên trì, giữ vững ưu thế, đẩy lùi, giành thắng lợi trong cuộc đất tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị; quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn biến phức tạp, đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, chủ nghĩa cá nhân, “lợi ích nhóm”, bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi.

Giữ vững và làm đúng các nguyên tắc xây dựng đảng, phát huy dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình trong Đảng phải từ cấp trên xuống cấp dưới, từ Bộ Chính trị đến các tổ chức cơ sở đảng. Thực hiện tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, nhưng phải cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những đảng viên có chức, có quyền, những lĩnh vực nhậy cảm, liên quan nhiều đến quyền lực, lợi ích kinh tế, lĩnh vực có quan hệ trực tiếp với người dân.

Xây dựng cơ chế phù hợp để quần chúng, nhân dân được tham gia đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong Đảng, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Kịp thời khen thưởng, cổ vũ những cá nhân, cơ quan báo chí đã phát hiện, phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, tham nhũng, lãng phí.

Công khai, không có vùng cấm và khách quan xử lý đối với cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết trong Đảng; tình trạng vì lợi ích cá nhân, phe nhóm, nể nang mà “xử lý nội bộ”, “che dấu” cho việc tiêu cực.

Những điểm mới về công tác tư tưởng trong Văn kiện Đại hội XIII

Nội dung của công tác tư tưởng được đề cập trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh đến xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã nhiều lần đề cập đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN). Đánh giá tổng kết nhiệm kỳ Đại hội XII, Văn kiện khẳng định đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; đất nước phát triển nhanh và bền vững; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, Văn kiện đã coi niềm tin của nhân dân là một thành tố trong những thành tựu quan trọng của sự nghiệp đổi mới. Trong 5 bài học kinh nghiệm của 35 năm đổi mới, Văn kiện lần này bổ sung một nội dung mới vào bài học thứ hai là: Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng ta đã nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, sức mạnh niềm tin của nhân dân. Mặc dù, vai trò của nhân dân đã được đề cập xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng, nhưng lần này, vai trò đó đã được cụ thể hóa thành niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Vấn đề này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khóa XII,  “hợp lòng dân, thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

Niềm tin là sợi dây liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; không có niềm tin của nhân dân, Đảng không có cơ sở để tồn tại. Niềm tin vào Đảng đã giúp nhân dân vượt qua mọi hy sinh, gian khổ để một lòng theo Đảng làm cách mạng, lập nên những chiến công trong chiến tranh giải phóng dân tộc; vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX và sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu trước đây, cũng như những khó khăn, thách thức mà đại dịch COVID-19 đặt ra mới đây. Niềm tin của nhân dân vào Đảng ngày càng được củng cố, từ những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, uy tín của cán bộ, đảng viên, kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí… Niềm tin đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để “đất nước ta chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Để thực hiện được những nội dung mới trong Văn kiện Đại hội XIII, cấp ủy các cấp cần nhận thức sâu sắc mục đích của công tác tư tưởng là xây dựng niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là mục tiêu rất cụ thể, rõ ràng nhưng hết sức nặng nề, phức tạp. Trong bối cảnh các thế lực thù địch chống phá quyết liệt; sự nghiệp đổi mới còn những yếu kém, bất cập; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn; dịch bệnh COVID-19 diễn biến khó lường; tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất vẫn chưa được ngăn chặn triệt để... thì nhiệm vụ xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ càng khó khăn hơn.


Vững tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam


Ngày 16/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đây là một bài viết rất quan trọng, không chỉ trực tiếp phản bác những quan điểm sai lầm, phiến diện, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn khẳng định sự lựa chọn của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với quy luật khách quan.

Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong Thông điệp Liên bang năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác.

Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ nhận chủ nghĩa Mác. Đúng như bài viết của đồng chí Tổng Bí thư khẳng định: Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đưa ra hai xu hướng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa xã hội từ sự khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu:

Những người không có lập trường tư tưởng vững vàng nên khi sự kiện “chấn động toàn thế giới” xảy ra thì tỏ rõ sự hoang mang, hoài nghi về tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, đồng nhất sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô với sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn cho thấy xu hướng này xảy ra trong chính bản thân những người mácxít - những người đã từng tôn thờ chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội.

Những đối tượng có lập trường phi mácxít, có tư tưởng chống phá nên đã vin vào sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một bằng chứng không gì thuyết phục để phủ nhận, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bác bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của loài người. Thực tiễn cho thấy xu hướng này chiếm đa số, trở thành làn sóng chống Mác, đòi xét lại chủ nghĩa Mác. Điển hình cho xu hướng này là trường phái trotskyist mới. Họ cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin; và bởi, chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được. Họ cũng cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã xây dựng chỉ là một học thuyết “viển vông”, “ảo tưởng” nên áp dụng vào thực tiễn chỉ có thể sinh ra những “quái thai của lịch sử”... Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa; rằng, con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang đi là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên; hay đó chính là một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản. Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chính những sự xuyên tạc này đã ảnh hưởng không nhỏ đến lập trường, quan điểm của những người theo chủ nghĩa Mác. Biểu hiện rõ ràng nhất là xu hướng “phi mácxit hóa”, phân rã về tư tưởng, ly khai với học thuyết Mác - Lênin trỗi dậy mạnh tại hàng loạt nước từng đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, cũng như trong nội bộ các đảng cộng sản, các đảng xã hội chủ nghĩa và phong trào công nhân quốc tế. Hiện nay, mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã diễn ra gần 30 năm nhưng các phần tử cơ hội, phản động, xét lại vẫn coi đây là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để tiếp tục phủ nhận chủ nghĩa Mác nói chung lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác nói riêng.

Ở Việt Nam, từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, có không ít người, trong đó có cả những người cộng sản đã hoài nghi về sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đã xuất hiện những tư tưởng cơ hội đòi xét lại chủ nghĩa Mác, phủ nhận sự lựa chọn của Đảng Cộng sản Việt Nam vì họ cho rằng khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa là một sự “kéo lùi lịch sử”, không tuân theo quy luật mà C.Mác đã từng khẳng định: sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên.

Như vậy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô là một cái cớ không gì thuyết phục hơn để các học giả phương Tây nắm lấy để công kích, xuyên tạc, lý luận của chủ nghĩa Mác về chủ nghĩa xã hội. Điều này gây ra sự dao động, hoài nghi của không ít người Việt Nam, trong đó có cả những người đã từng đi theo chủ nghĩa Mác, ủng hộ, thậm chí tôn thờ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Đó là biểu hiện của xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ mà Đảng ta luôn nhắc đến trong những năm gần đây.

Chúng ta không thể phủ nhận một hiện thực là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một bước lùi lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân toàn thế giới. Đó cũng là một tổn thất to lớn cho phong trào đấu tranh cho những mục tiêu cao cả và tốt đẹp của nhân loại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ xã hội và hạnh phúc của con người. Ngay cả khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào thoái trào rồi khủng hoảng, sụp đổ vào những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng ta vẫn luôn vững vàng niềm tin về tương lai của lịch sử loài người là chủ nghĩa xã hội: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử; Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Tổng Bí thư đã khẳng định: “Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây”. Điều này chứng tỏ, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một hành trình trong cả nhận thức và bước đi, trong cả tư duy lý luận và thực tiễn vận động, phát triển. Bài viết đã cô đọng, khái quát lại những đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng. Đó là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Những vấn đề cơ bản về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, trong đó có việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Ở Đại hội IX, Đảng ta đã đưa ra nội hàm rất cụ thể, rõ ràng về việc “bỏ qua” : Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo sự biến đổi về chất của xã hội trên các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. 

Tuy nhiên, phần là do mơ hồ về nhận thức, song cũng phần lớn do có tư tưởng chống phá, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo, xuyên tạc về việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Họ cho rằng việc Đảng Cộng sản Việt Nam nói về vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là chủ quan, duy ý chí, trái với quy luật khách quan. Vì vậy khẳng định thêm: Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển. Luận điểm này không chỉ tiếp tục khẳng định, làm rõ hơn quan điểm của Đảng ở Đại hội IX mà đề ra nguyên tắc quan trọng trong việc kế thừa những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong xây dựng ở Việt Nam. Đó là phải dựa trên quan điểm khoa học và phát triển.

Bài viết cũng đã chỉ ra những kết quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả những phương diện mà nước ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành đổi mới, đặc biệt là những kết quả, thành tích đặc biệt mà Việt Nam đã đạt được trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu trong năm 2020. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định lại nhận định của Đại hội XIII khi đánh giá những kết quả mà đất nước ta, nhân dân ta đã đạt được qua 35 năm đổi mới và 3o năm thực hiện Cương lĩnh 1991: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá.

Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ ra những khuyết điểm, hạn chế và những thách thức mới phải đối mặt trong quá trình phát triển đất nước. Bài viết khẳng định những hạn chế, khuyết điểm đó là không thể tránh khỏi nên cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Qua bài viết, đồng chí Tổng Bí thư vẫn tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một tất yếu khách quan, thành công hay thất bại phụ thuộc phần lớn vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây là một luận điểm quan trọng đã chỉ ra cách thức, nguyên tắc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đó là không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa, để cho những nhân tố đó ngày càng chiếm ưu thế và đi đến chiến thắng trong các mặt của đời sống xã hội. Để làm được điểu đó cần phải có đường lối lãnh đạo đúng đắn, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đây là một trong những nguyên tắc phương pháp luận quan trọng đã được đồng chí Tổng Bí thư chỉ ra trong bài viết. Đó không chỉ là kết quả của quá trình phát triển lý luận mà còn cả tổng kết thực tiễn từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam trong những năm gần đây.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội, bài viết đã chỉ ra những cách thức, giải pháp để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Theo đồng chí Tổng Bí thư, điều quan trọng nhất là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Ngoài ra, cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống. Luận điểm này của đồng chí Tổng Bí thư đã nhấn mạnh thêm, làm sáng tỏ thêm quan điểm của Đại hội XIII về việc kiên định, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn mới: Kiên định, vững vàng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng bổ sung, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Có thể khẳng định, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa rất quan trọng đối với đất nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc thống nhất nhận thức, tư tưởng về những nội dung của Nghị quyết Đại hội XIII, vừa trực diện đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tiếp thêm niềm tin, sức mạnh, tỏa sáng những giá trị văn hóa, con người Việt Nam trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đúng như bài viết khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tuy còn rất lâu dài với nhiều khó khăn, thử thách; các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Mặt khác, các thế lực thù địch lại thường xuyên phủ nhận, chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, với lập trường kiên định, bản lĩnh vững vàng, quyết tâm cao, nỗ lực lớn và sự đồng sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ ngày càng rõ nét hơn, sự nghiệp đổi mới và phát triển ở Việt Nam sẽ ngày càng đạt được những thành tựu to lớn hơn. Chủ nghĩa xã hội sẽ vẫn luôn là tương lai của lịch sử loài người.