Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI ĐẠI DỊCH COVID-19

COVID-19 được WHO tuyên bố là một đại dịch vào ngày 11/3/2020, sau 3 tháng kể từ khi nó khởi phát và gây nên những hậu quả thảm khốc ở thành phố Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc. Đến nay, dịch COVID-19 đã lan ra hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với hơn 217 triệu người nhiễm virus, đã có gần 4,5 triệu người tử vong. Tất cả các quốc gia đều chọn giải pháp giãn cách xã hội như một công cụ hữu hiệu nhằm giảm áp lực cho y tế trong lúc chờ đợi quá trình phát triển vaccine, tạo miễn dịch cộng đồng. Những đợt “lockdown” liên tục trong suốt gần 2 năm qua đã dẫn đến nhiều hệ luỵ: hàng trăm triệu học sinh trên thế giới không được đến trường; du lịch lữ hành bị “nghiền nát”; “kinh tế chia sẻ” đứng trước nguy cơ phá sản; hầu hết nhà máy đóng cửa, hàng triệu công nhân bị sa thải, chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy khi các hoạt động giao thương đồng loạt bị chặn đứng…, người nghèo, dân cư bần cùng hóa gia tăng, tâm trạng bất an trong xã hội trở nên phổ biến. Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm vaccine đối với virus SARS-CoV-2 trở thành những cuộc chạy đua không cân sức với việc nảy sinh quá nhanh chóng những biến thể mới ngày càng nguy hiểm, có tốc độ lấy lan nhanh. Từ khủng hoảng y tế, COVID-19 đã tàn phá các cộng đồng và nền kinh tế trên toàn thế giới, làm thay đổi sâu sắc cách con người sinh sống và làm việc. Từ khi Việt Nam ghi nhận ca nhiễm COVID-19 đầu tiên vào ngày 24/12/2020, đến nay, đã trải qua 4 đợt bùng phát. Đối với 3 đợt đầu tiên, Việt Nam đã khống chế thành công, không để đại dịch lan rộng. Cho đến ngày 25/3/2021, chúng ta chỉ có 35 ca tử vong vì COVID-19, được thế giới bình chọn là một trong những quốc gia ứng phó với đại dịch tốt nhất. Thành công của Việt Nam trong giai đoạn này xuất phát từ 2 nguyên nhân. Về khách quan, ở 3 đợt bùng phát đầu, chủng virus có xuất xứ từ Anh (Alpha) có tốc độ lây nhiễm chưa mạnh nên Việt Nam có đủ thời gian để quan sát diễn biến chống dịch trên thế giới, rút kinh nghiệm kịp thời; chiến lược ứng phó khoanh vùng, truy vết, cách ly tập trung toàn bộ F1, F2, tập trung toàn bộ nguồn lực Y tế cứu chữa F0 (bệnh viện tuyến cao nhất, với đội ngũ y bác sĩ xuất sắc nhất) kết hợp giãn cách xã hội phù hợp với bối cảnh và nguồn lực của Việt Nam thời điểm này. Về chủ quan, 2 nhân tố quan trọng mang tính quyết định chính là truyền thống văn hoá và tính ưu việt của thể chế chính trị của Việt Nam trong ứng phó với các tình huống khẩn cấp. Dịch COVID-19 ập đến cũng giống như những lần đất nước đối mặt với nguy nan, cộng đồng dân tộc lập tức như được “kích hoạt” với truyền thống đoàn kết, ý chí đặc biệt. Trong bối cảnh đó, bệ đỡ văn hoá Việt Nam với truyền thống chống thiên đai địch hoạ từ thuở khai thiên lập địa, kết hợp với sự lãnh đạo, chỉ đạo nhất quán, đồng lòng từ chủ trương của Đảng, các chính sách của nhà nước, đã phát huy tối đa thế mạnh, biến những tinh hoa của dân tộc thành một sức mạnh tổng hợp: Toàn dân đoàn kết, tuân thủ triệt các khuyến cáo và chính sách cách ly, giãn cách của Chính phủ; tinh thần tương thân tương ái được phát huy. Việc Chính phủ Việt Nam đón những người con trên khắp thế giới về đất nước trong bối cảnh dịch dã hoành hành đã làm lay động tất cả trái tim, kết nối đồng bào mang dòng máu Việt. Không đắn đo, không kỳ thị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đồng lòng nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách, chung lưng đấu cật vượt qua thử thách. Câu chuyện về thành công của Việt Nam trong ứng phó với đại dịch ở giai đoạn đầu - một nước đang phát triển với những hạn chế về nguồn lực - đã trở thành chủ đề nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới, như một trường hợp điển hình cần được học hỏi, nhìn nhận đánh giá. Báo chí quốc tế đánh giá Việt Nam là một điểm sáng hiếm hoi trên thế giới về kiểm soát tốt dịch bệnh, duy trì được ổn định chính trị - xã hội, giữ nhịp tăng trưởng kinh tế tốt. Điều đó đã lập tức biến thành những phần thưởng hữu hình. Ở trong nước, niềm tin của người dân với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ được tăng lên. Trên trường quốc tế, uy tín và vị thế của Việt Nam được nâng cao. Theo Tổng cục Thống kê, nhiều doanh nghiệp, tập đoàn đã chuyển hướng sang Việt Nam. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đến 20/4/2021 đạt 12,25 tỷ đô la, trong đó FDI đạt 5,5 tỷ đô la, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2020 là một minh chứng sinh động. Bắt đầu từ đợt bùng phát thứ 4 với biến thể Delta (từ ngày 27/4/2021 đến nay), cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam đã bước sang một giai đoạn mới, khốc liệt hơn. Theo báo cáo của Bộ Y tế, tính đến hết ngày 29/8/2021, đã có 430.939 ca dương tính, 10.749 ca tử vong. Đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Nam. Vì sao từ một nước đang ở thế “làm chủ” với đại dịch, lại có khá nhiều thời gian quan sát và chuẩn bị từ những bài học từ ứng phó với Delta của các nước, một số địa phương trong nước vẫn rơi vào lúng túng, để bệnh dịch lan nhanh? Về khách quan, biến thể Delta có sức lây lan nhanh, mạnh hơn 40-60% so với Alpha; việc tiếp cận với vaccine vẫn khó khăn. Về chủ quan, Việt Nam lẽ ra cần phải có chiến lược ứng phó mới trước sự tấn công khốc liệt của biến thể Delta. Hệ quả là, đợt bùng phát dịch thứ 4 đã gây nên một cú sốc đối với nền kinh tế: 79,7 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,5%. Theo quan sát, đánh giá từ nhiều chuyên gia, những hệ luỵ từ kinh tế ẩn chứa nguy cơ gây ra bất ổn xã hội trong nước, làm giảm uy tín của quốc gia trên bình diện quốc tế. Đã xuất hiện hiện tượng vốn ngoại chảy ra khỏi quốc gia: tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/7/2021 đạt 16,72 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước(4). Đứng trước những thách thức to lớn ấy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát đi thông điệp “chống dịch như chống giặc”. Hưởng ứng lời hiệu triệu, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch quốc hội đều khích lệ, động viên quân dân cả nước dồn sức và nguồn lực cho miền Nam chống dịch: Quân đội được huy động hỗ trợ hầu hết mọi hoạt động dân sự của Thành phố Hồ Chí Minh; hơn 16.000 chuyên gia, y bác sĩ từ miền Bắc cùng hàng tấn trang thiết bị y tế đã lên đường vào Nam, triển khai các kênh ngoại giao, tranh thủ mọi nguồn lực quốc tế về vaccine. Để sức mạnh tổng hợp ấy biến thành chiến thắng, cần thiết phải có những đánh giá toàn diện, kịp thời điều chỉnh chiến lược phù hợp với diễn biến mới.

ỨNG PHÓ VÀ THOÁT KHỎI ĐẠI DỊCH

Trước sự gia tăng nhanh chóng của những biến thể SARS-CoV-2 với tốc độ lây lan quá mạnh, thách thức khả năng kiểm soát của con người, nhiều quốc gia buộc phải chuyển mục tiêu từ “chống dịch” sang “sống chung với dịch”, xác định COVID-19 là một dạng cúm mùa, đẩy nhanh tốc độ tiêm chủng tạo miễn dịch cộng đồng. Việc Thái Lan, Singapore nới lỏng lệnh phong toả vào tháng 9/2021, đặc biệt là Thái Lan cân nhắc triển khai áp dụng “hộ chiếu vaccine” để mở cửa trở lại ngành du lịch, bắt đầu tại Phuket vào tháng 10/2021 cho thấy họ đã sẵn sàng bước vào một chiến lược mới. Câu hỏi đặt ra là đã đến lúc Việt Nam thay đổi chiến lược chưa? Những tín hiệu khá tích cực về nguồn cung vaccine của Việt Nam cho thấy chúng ta có lý do để hy vọng, nếu các địa phương cùng thúc đẩy nhanh hơn nữa lộ trình “phủ” vaccine. Trước mắt, điều chỉnh nguồn lực y tế, truy vết ca nhiễm, áp dụng cách ly F0 linh hoạt, triển khai tiêm chủng thật nhanh vẫn là con đường thoát hiểm duy nhất trước khi chuyển hướng dần theo xu thế thế giới. Song song với các nỗ lực của cộng đồng, hệ thống chính trị cần đặc biệt chú trọng bảo đảm an sinh xã hội trong bối cảnh mới. Dịch bệnh kéo dài cùng với các biện pháp giãn cách xã hội đã ảnh hưởng lớn tới cuộc sống người dân, nhất là tại các thành phố lớn. Để tuân thủ mệnh lệnh “ai ở đâu ở yên đấy”, người dân rất cần nguồn lực để duy trì cuộc sống, khi mà nguồn thu nhập từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, buôn bán nhỏ lẻ không còn. Các gói hỗ trợ của Chính phủ cần phải đáp ứng yêu cầu của tình hình, “đúng” và “trúng” đối tượng. Cần nhanh chóng giảm thiểu những quy định, thủ tục, thậm chí loại bỏ để cho các gói hỗ trợ được thực hiện ngay. Các hoạt động nhân đạo thiện nguyện của cộng đồng cần được nhìn nhận như một nguồn lực bổ sung quan trọng cho an sinh xã hội, cần được khuyến khích, nhân rộng. Vấn đề đảm bảo ổn định vĩ mô, giám sát nợ xấu và các cân đối lớn trong nền kinh tế là ưu tiên quan trọng được các chuyên gia kinh tế thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam khuyến nghị. Các Thông tư 01 (năm 2020) và Thông tư 03 (năm 2021) của Ngân hàng Nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp gặp khó khăn do dịch COVID-19 là các biện pháp cần thiết nhưng chưa đủ. Các doanh nghiệp cần nhiều hơn nữa các biện pháp hỗ trợ thực chất, đủ nhanh và đủ mạnh để bù đắp phần nào ảnh hưởng rất tiêu cực từ cú sốc. Theo đó, ngoài giãn nộp thuế, Chính phủ cần nghiên cứu miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp. Ngoài ra, giảm lãi suất cho các khoản vay mới và vay cũ tại các địa phương đang phải thực hiện giãn cách xã hội là cần thiết vì các biện pháp này không chỉ hỗ trợ cho các doanh nghiệp mà cũng đồng thời hỗ trợ cho các ngân hàng. Nếu các doanh nghiệp không trả được nợ, hệ thống ngân hàng cũng chịu thiệt hại. Về những vấn đề về chiến lược phát triển kinh tế và quản trị xã hội, thực tiễn cho thấy, đại dịch đã làm phát lộ nhiều khe hở và những điểm dễ bị tổn thương của nền kinh tế mà chỉ mới cách đây 2 năm, chúng ít được tính đến trong nhiều dự báo chiến lược. Nhìn nhận một cách tích cực, đại dịch COVID-19 cũng mang tới những trải nghiệm, bài học xương máu để chúng ta khẩn trương “thiết kế” một nền tảng có sức chống chọi với các biến cố tương tự trong tương lai với một số nội dung như sau: Thứ nhất, cần phải xây dựng một cơ cấu nền kinh tế cân đối hơn, không thể coi nhẹ vai trò trọng yếu của nông nghiệp xanh; một ngành du lịch không chỉ dựa vào một vài đối tác quốc tế và lữ hành thuần tuý; lộ trình số hoá cần phải được ưu tiên thúc đẩy, làm nền tảng cho mọi sự chuyển đổi. Thứ hai, cần phải hoàn thiện một thiết chế xã hội linh hoạt hơn, đáp ứng những thay đổi nhanh chóng; hoàn chỉnh hệ thống an sinh xã hội; củng cố và nâng cấp hệ thống Y tế để sẵn sàng sống chung với dịch. Thứ ba, nếu “chung sống với dịch” được coi là một chiến lược thì cũng đồng thời cần phải xây dựng một kế hoạch có tính thích ứng với nó. Có những hành vi, tập quán, lối sống nào cần phải được điều chỉnh để chuẩn bị cho một cộng đồng thích ứng với dịch bệnh; vấn đề giải trí trong bối cảnh “ai ở đâu ở đó”, “gia đình cách ly gia đình”… phải được tính đến để hạn chế những hệ lụy; trẻ em học trực tuyến như thế nào để vẫn có thể tiếp thu kiến thức trong khi hạn chế những mặt trái của sự thiếu tương tác xã hội và kiểm soát của nhà trường... Đó chính là sứ mệnh quan trọng đang đặt ra cho KHXH&NV trong việc ứng phó với những biến đổi, thách thức của xã hội trong và sau đại dịch...

Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đến dự và phát biểu tại “Lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc”, ngày 13 tháng 9 năm 1958. 

Sự kế tục giữa các thế hệ nối tiếp nhau vốn là quy luật tồn tại, phát triển của mọi xã hội. Trong bất cứ một quốc gia, dân tộc nào tuổi trẻ đều là lực lượng lãnh đạo kế cận, là tương lai của đất nước. Do vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất kỳ một đất nước, một tổ chức nào muốn phát triển bền vững, muốn có một tương lai rạng rỡ phía trước thì đất nước, tổ chức đó phải biết quan tâm đến vấn đề “trồng người”, tức là phải luôn biết chăm lo, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ kế tiếp. Đó là một quy luật phát triển tất yếu. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ quán triệt sâu sắc lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ - thế hệ tương lai mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã luôn xây dựng được một lực lượng kế cận hùng hậu, trung thành, có đủ phẩm chất và năng lực đưa đất nước vượt qua những thời điểm gian khó, từng bước đưa cách mạng đến những thắng lợi vinh quang, ghi dấu ấn đậm nét vào tiến trình phát triển của dân tộc.

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới là một sự nghiệp lâu dài, khó khăn, phức tạp, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các thế hệ người Việt Nam. Do đó, Đảng, Nhà nước cùng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị cần luôn quán triệt lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt quan tâm, đầu tư, chăm lo giáo dục cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai. Đào tạo họ thành những công dân, những cán bộ đủ đức, đủ tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đủ sức kế thừa và tiếp tục phát triển sự nghiệp cách mạng vinh quang mà các thế hệ cha anh đi trước để lại.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giáo dục - đào tạo, huấn luyện, rèn luyện bộ đội; không ngừng nâng cao chất lượng toàn diện, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, xây dựng đơn vị, quân đội. Đặc biệt, quan tâm chăm lo làm tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng, bám sát mục tiêu, yêu cầu, định hướng chiến lược cán bộ và thực tiễn, yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; kết hợp đào tạo trong các học viện, nhà trường với tự đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị, đào tạo ở trong nước với đào tạo ở nước ngoài. Công tác quy hoạch cán bộ bảo đảm chặt chẽ, đúng quan điểm, phương châm, nguyên tắc, quy trình, quy định, sự kế thừa liên tục, vững chắc trong quá trình chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ. Quy hoạch cán bộ chủ trì các cấp đảm bảo có kế tiếp, kế cận phù hợp, coi trọng chất lượng và bồi dưỡng nguồn cán bộ trẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng; tuyệt đối trung thành với lý tưởng chiến đấu của Đảng; vừa có đạo đức cách mạng trong sáng, vừa có năng lực chuyên môn vững vàng, xứng đáng là lực lượng kế tục sự nghiệp xây dựng quân đội trong thời kỳ mới “vừa hồng, vừa chuyên”.

 Chớ thấy thất bại mà nản, chớ thấy đắc thắng mà kiêu”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong “Thư gửi đồng bào Khu 3”, ngày 12 tháng 9 năm 1947.

Sau hơn nửa năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược chính thức bùng nổ, quân Pháp đã tạm thời chiếm được nhiều thành phố, thị xã lớn trên cả nước; đồng thời tích cực chuẩn bị lực lượng đánh ra vùng nông thôn rộng lớn. Tuy nhiên, thế trận chiến tranh nhân dân của ta đã và đang ngày càng phát triển rộng khắp; vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; vùng rừng núi Việt Bắc và các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Định, Phú Yên vẫn là hậu phương an toàn của cuộc kháng chiến. Trước tình hình đó, trong Đảng, nhân dân và lực lượng vũ trang ta xuất hiện hai luồng tư tưởng: Một bộ phận nhỏ dao động, bi quan, mất niềm tin vào tương lai của cuộc kháng chiến; một bộ phận khác lại tự mãn, chủ quan, khinh địch, cho rằng thực lực của quân Pháp chỉ có vậy, khó có khả năng tiếp tục đánh chiếm các vùng hậu phương chiến lược của ta.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện và kịp thời chấn chỉnh nhằm khắc phục cả hai luồng tư tưởng trên, động viên đồng bào và chiến sĩ ta đừng vì những thất bại, khó khăn trước mắt của công cuộc kháng chiến mà nản lòng, thoái chí, cam phận trở lại kiếp sống nô lệ; đồng thời, cũng lưu ý toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta không được tự đắc, chủ quan, nóng vội, mà phải tiếp tục tích cực chuẩn bị, sẵn sàng cho những thử thách gian nan hơn nữa ở phía trước. Lời nhắc nhở trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần quan trọng vào việc định hướng tư tưởng, củng cố quyết tâm, hướng dẫn hành động cho quân dân cả nước khắc phục mọi khó khăn, phát huy những thành quả đã đạt được tiếp tục xây dựng quân đội, củng cố hậu phương, từng bước đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng.

Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Khu 3 năm xưa đã ghi sâu vào tiềm thức của mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam và đã trở thành một trong những phẩm chất truyền thống tiêu biểu được kết thành 10 Lời thề danh dự của quân nhân; là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên thôi thúc các thế hệ cán bộ, chiến sĩ không ngừng rèn luyện ý chí chiến đấu kiên quyết và bền bỉ, thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hơn 70 năm đã trôi qua, những phẩm chất tiêu biểu "...thắng không kiêu, bại không nản...” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được tỏa sáng trong mọi hoạt động chiến đấu, công tác, lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học... cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.


 Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội”.

Đây là lời phát biểu chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại “Hội nghị cán bộ chỉ huy cấp trung đoàn, đại đoàn tham gia Chiến dịch Biên giới”, ngày 11 tháng 9 năm 1950. Kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam thực chất là sự cụ thể hóa đường lối, chủ trương, điều lệ của Đảng; hiến pháp, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt nhấn mạnh: Bên cạnh lý tưởng chiến đấu, kỷ luật quân đội là điểm mấu chốt tạo nên sự thống nhất cao độ trong nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt là trên chiến trường; do vậy, kỷ luật là động lực vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Người luôn yêu cầu mọi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải chấp hành kỷ luật một cách tự giác và nghiêm minh; đối với mệnh lệnh cấp trên ban xuống thì phải tuyệt đối phục tùng và triệt để thi hành; báo cáo từ dưới lên trên phải thật thà, nhanh chóng và thiết thực; là cá nhân phải tuyệt đối phục tùng tổ chức; số ít phải phục tùng đa số; địa phương phục tùng Trung ương… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lưu ý, kỷ luật phải được thi hành bình đẳng, nhất quán, triệt để từ trên xuống dưới, không phân biệt đối xử.

Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, quan điểm “Kỷ luật là động lực giữ sức mạnh của bộ đội” của Bác thực sự là một di sản tư tưởng, lý luận quý báu; một nguyên tắc đặc biệt quan trọng góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từ một đội quân du kích lúc ban đầu trở thành một quân đội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, luôn kiên định trước mọi khó khăn, thử thách; cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, bản lĩnh, đủ sức đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong sự nghiệp xây dựng quân đội hiện nay, để duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, cùng với việc chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng, đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần phải làm tốt công tác giáo dục, tăng cường quản lý, duy trì kỷ luật trong đơn vị, tiến hành xử lý nghiêm minh, triệt để mọi vụ việc vi phạm kỷ luật theo đúng quy định. Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải là những cán bộ luôn gương mẫu, tận tụy trong công tác, chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội làm tấm gương sáng cho bộ đội học tập, noi theo. Có như vậy, kỷ luật của quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Bản chất của hòn đá là cứ ì ra, không nhúc nhích. Nhưng khi nhiều người đồng tâm hiệp lực mà xô đẩy, thì dù tảng đá to mấy, nặng mấy, cũng phải lăn”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện trong buổi lễ bế mạc Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam”, ngày 10 tháng 9 năm 1955, đăng trên Báo Nhân dân, số 560, ra ngày 14 tháng 9 năm 1955.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã kết thúc thắng lợi, cách mạng nước ta bước vào thời kỳ phát triển mới, miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định và gây chiến. Ngày 10 tháng 9 năm 1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời nhằm thực hiện đoàn kết đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, hoàn thành sự nghiệp cách mạng. Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã khẳng định sức mạnh to lớn của khối đoàn kết trong Mặt trận - nơi tập hợp mọi lực lượng yêu nước và tiến bộ, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Đồng thời, thông qua Đại hội Bác tiếp tục khẳng định sức mạnh của tinh thần đại đoàn kết, dù việc gì khó đến đâu, nhưng có sự đồng tâm hiệp lực, có sự đoàn kết trên dưới một lòng, đều có thể thực hiện được.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa sâu sắc trong giai đoạn hiện nay, chính là quan điểm về sức mạnh của sự đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng. Sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi tạo ta, cũng có nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nắm bắt kịp thời, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết để thực hiện thắng lợi mục tiêu cách mạng. Đó chính là việc tập hợp mọi lực lượng, mọi tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy vai trò trung tâm của Mặt trận, tạo ra động lực mạnh mẽ để đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Với sự đồng tâm, đồng lòng của mọi lực lượng, cách mạng nước ta sẽ tận dụng tốt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, giành nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn phát huy tốt tinh thần đoàn kết, đồng lòng, đã trở thành một trong những lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, là động lực to lớn cổ vũ toàn quân nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, đoàn kết, phấn đấu vượt qua khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, xứng đáng với truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”.


  “Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc”, ngày 09 tháng 9 năm 1952. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ý kiến định hướng và chỉ đạo, đồng thời động viên, khơi dậy tinh thần quyết tâm của cán bộ tại Hội nghị. Câu nói của Bác là sự khẳng định vai trò to lớn của lương thực, vũ khí đối với sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta, là nguồn sức mạnh giúp bộ đội yên tâm cầm súng chiến đấu, tin tưởng vào thắng lợi. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ của mỗi cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, đòi hỏi người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp một phần công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và cuộc vận động  “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị… Trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm những tiêu dùng không cần thiết như điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ. Đặc biệt, trong công tác quản lý, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, vừa thực hiện đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội, vừa không để xảy ra tình trạng tiêu cực, lãng phí. Ngoài ra, phải đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với những biểu hiện lãng phí, những hành vi sai trái trong bảo quản, sử dụng không đúng mục đích các trang thiết bị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


KHẨU TRANG VẢI CÓ NGĂN ĐƯỢC nCoV LÂY LAN?

 


Đại dịch Covid-19 đã xuất hiện gần hai năm. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa DỊch bệnh Mỹ (CDC) khuyến khích người dân đeo khẩu trang nơi công cộng để bảo vệ bản thân, người khác khỏi lây nhiễm nCoV.

Một số ý kiến băn khoăn liệu khẩu trang vải có ngăn được lây nhiễm virus, nhất là khi biến chủng Delta xuất hiện. Bởi nCoV có kích thước rất nhỏ, dễ xuyên qua lớp vải của khẩu trang.

Tiến sĩ Dale Bratzler, chuyên gia về Covid-19 của Đại học Oklahoma, Mỹ, cho biết thông tin khẩu trang vải không có tác dụng với nCoV là không chính xác. Khí CO2 có thể thoát ra lớp khẩu trang vải. Tuy nhiên, ông Dale khẳng định giọt bắn chứa nCoV thì không. Đây là các giọt từ đường hô hấp, mang virus, có kích thước lớn hơn nhiều so với nCoV hay khí CO2. Do đó, chúng không thể lọt qua lớp khẩu trang vải. Ông Dale khẳng định: Virus có kích thước từ 50-150 nanomet, có thể đi qua một lớp khẩu trang vải. Sự thật là vậy. Nó thậm chí vẫn có thể đi qua khẩu trang N95, khẩu trang dùng trong phẫu thuật. Nhưng đó không phải cách nCoV lọt ra khỏi miệng của người bệnh. Virus phát tán thông qua các giọt bắn, khí dung. Khẩu trang vải có tác dụng rất tốt trong việc ngăn chặn các giọt bắn, khí chứa virus bay từ miệng người bệnh ra bên ngoài.

Theo phân tích của Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT): Mỗi lời nói tạo ra hàng trăm giọt bắn có kích thước 20-500 micronet. Song, các nhà nghiên cứu đã chứng minh việc che miệng bằng tay hoặc khăn đã chặn được gần như 100% những giọt bắn này.

MIT nêu dẫn chứng một người đàn ông bay từ Vũ Hán đến Toronto (Canada). Anh ta bị ho khan và sau đó có kết quả dương tính với nCoV. Người này đeo khẩu trang suốt chuyến bay. Kết quả, không hành khách nào đi cùng chuyến bay mắc Covid-19.

MIT dẫn chứng một ca bệnh khác là hai nhân viên hiệu tóc ở Springfield, Missouri, Mỹ, tiếp xúc 140 khách hàng, đều đeo khẩu trang trong suốt quá trình làm việc. Sau đó, họ phát hiện mắc Covid-19 và không vị khách nào bị lây nhiễm.

Theo tiến sĩ Dale, dù khẩu trang vải hay khẩu trang y tế, tác dụng bảo vệ chúng ta khỏi lây nhiễm nCoV là như nhau.Chỉ cần đeo khẩu trang vải trong vài giờ đồng hồ, chúng ta có thể cảm nhận mặt trong của khẩu trang bị ẩm. Đây là những giọt bắn được giữ lại, hạn chế nguy cơ phát tán ra ngoài. Vị chuyên gia cũng khuyến cáo khi sử dụng khẩu trang vải, chúng ta cần vệ sinh, giặt sạch sẽ thường xuyên, ít nhất một lần/ngày. Đặc biệt, chúng ta không nên chạm tay vào mặt ngoài của khẩu trang để tránh lây nhiễm các virus, vi khuẩn.

Ông Dale khẳng định hiện nay không có cách nào ngăn chúng ta không bị lây nhiễm 100%. Song đeo khẩu trang là cách giúp giảm đáng kể nguy cơ lây nhiễm cho người khác và ngăn các virus, vi khuẩn có hại xâm nhập.St

 

HÃY NẮM CHẮC QUY ĐỊNH KHI ĐI ĐƯỜNG HIỆN NAY

 


                      HÀ NỘI KIỂM SOÁT CHẶT NHỮNG NGƯỜI RA, VÀO VÙNG 1

    Từ 6h ngày 8/9, các chốt kiểm dịch COVID -19 của Thành phố Hà Nội kiểm soát chặt người và phương tiện lưu thông ra, vào vùng 1 theo mẫu giấy đi đường mới kết hợp vẫn sử dụng giấy đi đường cũ đã cấp (tiến tới khi đủ điều kiện sẽ nhập hai loại giấy làm một). Người dân được cấp giấy đi đường được phép đi từ vùng này sang vùng khác, nhưng phải đúng điểm đến. Lực lượng chức năng sẽ xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, ra ngoài khi không thực sự cần thiết nhằm đảm bảo “ai ở đâu thì ở đó”, “người ở vùng nào thì ở vùng đó” để chặn đứng nguồn lây, thu hẹp vùng đỏ, dập dịch trong thời gian sớm nhất.St

 

Những “vố đau” làm bẽ mặt Việt Tân


          Bản chất chống phá cách mạng Việt Nam của phản động Việt Tân không bao giờ thay đổi. Chúng thường lợi dụng các sự kiện xảy ra trong cuộc sống, để xuyên tạc, vu khống, kích động; nhắm vào những hạn chế, khuyết điểm của một số người, dùng tiền bạc, vật chất, bả vinh hoa… để xuyên tạc, vu khống, kích động, dụ dỗ, ép buộc, lôi kéo… nhằm mục đích chống phá sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng và nhân dân ta.

          Nhưng trên thực tế, Việt Tân đều đã phải nhận thất bại thảm hại. Trong đó chúng nhiều khi phải chịu những cái tát mạnh mẽ thẳng vào mặt từ sự thật. Có rất nhiều ví dụ để minh chứng cho thực tế đó.

          Vụ án “ Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra ngày 9-1 -2020 tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội đã bị Việt Tân lợi dụng từ rất sớm, rất sâu. Chúng không chỉ tuyên truyền, kích động, hướng dẫn các đối tượng phạm tội khiếu kiện, gây rối mà còn trực tiếp nhúng tay vào việc cung cấp tiền bạc, hỗ trợ mua sắm vũ khí... Nhưng rồi với sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam, qua hai phiên toà hình sự sơ thẩm và phúc thẩm đúng luật, công khai, khách quan, nghiêm khắc và nhân văn, đã đập thẳng vào âm mưu, thủ đoạn xấu xa của Việt Tân. Trước pháp luật, nhiều bị can, bị cáo đã khai nhận hành vi tiếp tay, xúi giục của Việt Tân, khai rõ Việt Tân cung cấp bao nhiêu tiền, hướng dẫn làm bom xăng, sử dụng lựu đạn ra sao… Qua đó, dư luận trong và ngoài nước càng hiểu rõ bộ mặt thật của Việt Tân. Đây quả là vố đau, là hậu quả tất yếu của dã tâm tàn ác tự mình gây ra mà Việt Tân phải gánh chịu.

          Năm 2021, Việt Nam tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, Việt Tân tìm mọi cách chống phá. Chúng vận động, kích động một số phần tử có tư tưởng chống đối lợi dụng dân chủ để tự ứng cử; lôi kéo, xúi giục cử tri không đi bầu cử. Nhưng kết quả bầu cử rất thành công với gần 70 triệu cử tri đi bầu cử, đạt tỷ lệ 99,6% số cử tri cả nước. Một số đối tượng ảnh hưởng từ Việt Tân định lợi dụng việc tự ứng cử để âm mưu chống phá đã bị cử tri vạch mặt, loại bỏ theo đúng luật. Nhiều người dân lên mạng xã hội tố cáo Việt Tân phá hoại bầu cử, phá hoại Ngày hội lớn của nhân dân Việt Nam.

          Trong lúc Việt Nam tập trung phòng, chống đại dịch Covid-19, Việt Tân cũng điên cuồng chống phá. Khi Quân đội cùng cả nước tăng cường chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam phòng, chống dịch hiệu quả, thì Việt Tân bịa đặt thông tin, cắt ghép hình ảnh để vu khống Quân đội, xuyên tạc Quân đội đe dọa, trấn áp dân. Chúng còn tìm mọi cách chia rẽ quan hệ quân đội với nhân dân, xúi giục, kích động người dân phản đối, gây bất hòa với Quân đội, với lực lượng chức năng và chính quyền địa phương…Nhưng kết quả chúng đã bị dân “bóc phốt” là trơ trẽn cắt ghép hình ảnh, dối trá, bịa đặt, vu cáo sai sự thật. Trên thực tế người dân được chăm sóc chu đáo, bộ đội xung kích, gương mẫu giúp đỡ nhân dân rất tận tình, chu đáo. Tình cảm tin tưởng, yêu quý, đồng thuận, hỗ trợ, giúp sức của dân với Đảng, với Chính quyền và Quân đội thêm bền chặt, tốt đẹp. Người dân cũng càng nhận rõ bộ mặt ác độc, xấu xa của Việt Tân, lên án Việt Tân trên báo chí, mạng xã hội… Cuối tháng 8-2021, chính YouTube Việt Tân cũng phải thừa nhận rằng: “Chưa thấy quân đội bắn hay đánh ai. Trong video của dân chúng ghi lại thấy mấy cậu lính trẻ lếch thếch chạy giao các gói thức ăn cho dân phố nào đó. Dẫu sao đó là chuyện đáng nhớ và vui trong lòng. Họ đến cũng có ý nghĩa rất rõ…”.

          Trong quá trình chống phá, Việt Tân luôn tìm mọi thủ đoạn lôi kéo một số người theo chúng để chống phá cách mạng. Một số đối tượng ngoan cố theo Việt Tân tuyên truyền chống phá Nhà nước Việt Nam, đã bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Khi bị trừng phạt, nhiều đối tượng mới rõ bộ mặt thật của Việt Tân nên đã khai nhận, oán trách những kẻ lôi kéo, dụ dỗ, kích động mình. Có người đã nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của Việt Tân nên hối cải, thành thật khai báo, tố cáo Việt Tân, kêu gọi mọi người đừng có dại dột mà sai phạm như mình. Dư luận nhớ rõ trước đây mấy năm, đối tượng Nguyễn Văn Hóa ở xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã bị các thế lực phản động, trong đó có Việt Tân lôi kéo vào những hành vi chống phá Nhà nước Việt Nam. Khi bị các cơ quan pháp luật Việt Nam xử lý, Nguyễn Văn Hóa đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, nói rõ “do bị can còn rất trẻ, do bị lợi dụng, lôi kéo”, xin lỗi Nhà nước và nhân dân, đồng thời kêu gọi: “ Bị can muốn kêu gọi tất cả từ thanh niên đến người già, từ nông dân đến tầng lớp trí thức, lương dân cũng như người công giáo đừng vì đồng tiền, đừng vì cái lợi trước mắt như bị can đã từng trải mà gây xâm phạm, bán rẻ lương tâm, bán rẻ Tổ quốc cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phản động, cực đoan chống phá Nhà nước, đừng theo vết xe đổ của bị can”. Thật đúng là bẽ mặt Việt Tân và các tổ chức phản động!

          Việt Tân không thể và không bao giờ có thể làm thay đổi được sự bền chặt của ý Đảng, lòng dân, của lý tưởng, truyền thống, nghĩa vụ, trách nhiệm, tình cảm, truyền thống tốt đẹp  của cách mạng Việt Nam. Chắc chắn còn cố tình chống phá, phản động Việt Tân sẽ còn phải chịu thất bại cay đắng hơn nữa, chịu những cái tát thẳng mạnh mẽ hơn nữa của pháp lý và đạo lý. Vì âm mưu, thủ đoạn, mục đích của chúng chỉ nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta, để đất nước Việt Nam yên bình, yêu quý của chúng ta bị rơi vào thảm cảnh, khổ đau. Ác độc và xấu xa như vậy thì làm sao Việt Tân cũng như các thế lực thù địch, phản động khác có thể làm hại sự nghiệp chính nghĩa, trong sáng, tươi đẹp của dân tộc Việt Nam trên con đường mà Đảng, Bác Hồ, toàn dân, toàn quân ta đã sáng suốt lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Khẳng định sự coi trọng của Việt Nam đối với hợp tác Mê Công


          Nhận lời mời của Thủ tướng Vương quốc Campuchia Samdech Techo Hun Sen, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị thượng đỉnh hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS) lần thứ 7 vào ngày 9-9 theo hình thức trực tuyến.

          Việc Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tham dự Hội nghị thượng đỉnh GMS 7 nhằm tiếp tục khẳng định sự coi trọng của Việt Nam đối với GMS nói riêng và các cơ chế hợp tác tại khu vực Mê Công nói chung.

          Hợp tác Tiểu vùng Mê Công mở rộng được Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khởi xướng vào năm 1992, bao gồm các quốc gia thành viên là Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Trung Quốc (với hai tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây). Mục tiêu của GMS là thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác phát triển kinh tế cùng có lợi giữa các nước, đưa khu vực Mê Công trở thành vùng phát triển nhanh và thịnh vượng. Cho đến nay, GMS đã trải qua 6 kỳ hội nghị thượng đỉnh, gần đây nhất là Hội nghị thượng đỉnh GMS 6 tại Hà Nội vào năm 2018.

          Từng là khu vực của những quốc gia nghèo khó, chậm phát triển và biệt lập trong thế kỷ trước, đến nay, GMS đã vươn lên và tự hào có những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, mở cửa, tích cực hội nhập và có các thị trường rộng lớn, sôi động. Trong gần 30 năm qua, hợp tác GMS đã không ngừng mở rộng về quy mô, đi sâu về nội dung, khẳng định được bản sắc riêng là một cơ chế hợp tác khu vực có uy tín với chiến lược “Kết nối, cộng đồng và cạnh tranh”. Hàng trăm dự án với tổng số vốn lên tới hàng chục tỷ USD đã được triển khai trong nhiều lĩnh vực, từ giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông đến thương mại, nông nghiệp, môi trường, trong đó, giao thông vận tải được xem là lĩnh vực phát triển mạnh nhất với sự hình thành của các hành lang kinh tế Đông-Tây (EWEC), Bắc-Nam (NSEC) và phía Nam (SEC). Những “trái ngọt” mà GMS gặt hái được chính là minh chứng cho khát vọng và quyết tâm xây dựng khu vực Mê Công hòa bình, thịnh vượng, phát triển bền vững, vì người dân. 

          Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực Mê Công như là “không gian an ninh và phát triển” trực tiếp của mình, Việt Nam đã và đang tham gia chủ động, tích cực vào tất cả các khuôn khổ hợp tác Mê Công, cùng với các quốc gia thành viên xây dựng cơ chế làm việc hiệu quả, phát huy thế mạnh của các bên tham gia và đáp ứng nhu cầu phát triển của khu vực. Trong hơn 1/4 thế kỷ qua, Việt Nam luôn coi trọng và đóng góp vào hầu hết các sáng kiến, lĩnh vực hợp tác của GMS trong các lĩnh vực giao thông vận tải, thương mại, đầu tư, năng lượng, viễn thông, phát triển nguồn nhân lực, môi trường, nông nghiệp, du lịch... Việt Nam cũng tích cực phối hợp với những quốc gia thành viên, ADB và các đối tác phát triển để huy động nguồn lực phục vụ triển khai các dự án hợp tác GMS. 

          Trên cơ sở những thành tựu đáng tự hào mà GMS đã đạt được bên dòng Mê Công trong gần 1/3 thế kỷ qua, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng Hội nghị thượng đỉnh GMS 7 sẽ thành công tốt đẹp, tạo điều kiện để GMS tiếp tục tiến bước với vai trò là cơ chế quan trọng trong tăng cường kết nối, thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia thành viên, cùng nhau ứng phó với những thách thức chung ở khu vực Mê Công, đặc biệt là trong bối cảnh dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, vì hòa bình, phát triển bền vững, mang lại thịnh vượng cho người dân. Với thế và lực được nâng cao cùng kinh nghiệm phát triển và hội nhập quốc tế được tích lũy trong những năm qua, chúng ta cũng hoàn toàn tự tin rằng Việt Nam có điều kiện tốt hơn khi tham gia hợp tác GMS, qua đó phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước và đóng góp cho hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực.

 

Hiểu đúng về 'pháo đài chống dịch'

 

          Nói 'xã phường là pháo đài chống dịch' thực chất là nhằm khẳng định vị trí, vai trò rất quan trọng của địa bàn cơ sở; đồng thời đề cao vị trí, tầm mức ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ cơ sở đối với sự thành bại của nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19.

          Trong công tác phòng, chống đại dịch COVID-19, chủ trương và phương châm của Chính phủ đưa ra là: “Lấy xã, phường là pháo đài, người dân là chiến sĩ, là trung tâm, chủ thể trong phòng, chống dịch”. Phương châm này liên tục xuất hiện với tần suất lớn, mật độ dày trên các phương tiện báo chí, truyền thông đại chúng và được các cấp lãnh đạo nhắc đi, nhắc lại nhiều lần khi trực tiếp đến chỉ đạo, kiểm tra, làm việc tại các cơ sở đang là “điểm nóng” của dịch bệnh.

          Những ngày qua, câu nói trên được nhiều người biết, nhưng không phải ai cũng hiểu thấu đáo, ngọn ngành, nhất là cán bộ cơ sở. Thế nên, khi lãnh đạo cấp cao gọi điện đột xuất một chủ tịch UBND cấp xã nhằm kiểm tra nhận thức, trách nhiệm của cán bộ cơ sở đối với công tác chỉ đạo phòng, chống dịch COVID -19 trên địa bàn, thì người cán bộ này chưa hiểu bản chất thế nào là “Lấy xã, phường là pháo đài chống dịch”.

          Vậy, pháo đài là gì? Cần hiểu như thế nào về người dân là chiến sĩ, là trung tâm, chủ thể trong công tác phòng, chống dịch COVID-19?

          “Pháo đài” là một thuật ngữ quân sự, chỉ nơi xây dựng kiên cố ở một địa điểm-vị trí cao, có đặt súng lớn để bảo vệ một địa phương, một địa thế xung yếu. Trong chiến tranh, chúng ta đã xây dựng nhiều pháo đài được bố trí ở nhiều làng xã, tạo thành thế trận chiến đấu liên hoàn, “thiên la địa võng” nhằm đẩy lùi, ngăn chặn các đợt càn quét, tiến công của quân địch, nhờ đó mà giữ vững, bảo đảm an toàn các cụm chiến đấu làng xã, góp phần bảo vệ cuộc sống, lao động sản xuất của nhân dân ở cơ sở.

          “Chiến sĩ” là một thành phần trong lực lượng vũ trang (bao gồm: quân đội, công an và dân quân tự vệ). Ngoài ra, chiến sĩ còn được hiểu là người theo đuổi, phục vụ sự nghiệp chính nghĩa và chiến đấu, hy sinh vì những lý tưởng cao cả. Đảng viên cộng sản thường được gọi là “chiến sĩ cách mạng” hay “chiến sĩ cộng sản” với ý nghĩa như vậy.

          “Trung tâm” là chỗ chính giữa, trọng yếu, giữ vị thế quan trọng hàng đầu và có khả năng tác động, lan tỏa đến các nhân tố xung quanh. Còn “chủ thể” là bộ phận chính, giữ vai trò chủ đạo.

          Việc chủ trương “lấy xã, phường là pháo đài phòng, chống dịch” là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với hệ thống chính trị và mô hình quản trị ở Việt Nam. Vì xã, phường là nơi cứ trú của các tầng lớp nhân dân. Hệ thống chính trị ở xã, phường là nơi gần dân nhất, hiểu dân nhất và là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương. Nói đến “xã phường là pháo đài chống dịch” thực chất nhằm khẳng định vị trí, vai trò rất quan trọng của địa bàn cơ sở; đồng thời đề cao vị trí, tầm mức ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ cơ sở đối với sự thành bại của nhiệm vụ phòng, chống dịch COVID-19.

          “Người dân là chiến sĩ, là trung tâm, chủ thể trong phòng, chống dịch” nhằm nhấn mạnh vị trí, vai trò có ý nghĩa quyết định của mọi người dân trong cuộc chiến chống “giặc COVID-19”. Vì nhân dân là thành phần đông đảo nhất trong xã hội. Sức mạnh của nhân dân là sức mạnh dời non lấp bể, sức mạnh “đập đá vá trời”, do đó việc huy động sức dân, làm cho mọi người dân đồng tình, ủng hộ và chủ động, tích cực, tự giác tham gia phòng, chống dịch COVID-19 không chỉ nhằm phát huy sức mạnh tổng lực để sớm khống chế, kiểm soát được dịch bệnh, mà còn góp phần khơi dậy, phát huy sức mạnh ý chí niềm tin, nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong cuộc chiến chống lại kẻ thù vô hình đặc biệt nguy hiểm này. Thực hiện tốt vấn đề này chính là quán triệt, cụ thể hóa cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

          Muốn xã, phường thật sự trở thành pháo đài chống dịch hiệu quả thì đòi hỏi đội ngũ cán bộ cấp ủy, chính quyền phải biết xây dựng các phương án, kế hoạch “tác chiến” chống dịch một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm dân cư, địa lý, kinh tế, xã hội, phong tục văn hóa và tình hình dịch tễ ở địa phương; đồng thời biết bố trí, sử dụng các lực lượng, đội hình chống dịch một cách hợp lý; có sự phân công, phối hợp rõ ràng, hiệu quả của các thành phần tham gia chống dịch gắn với trách nhiệm của mỗi cá nhân trên từng vị trí công tác.

Mặt khác, để mỗi người dân trở thành một chiến sĩ phòng, chống dịch thì yêu cầu cán bộ cơ sở (xã/phường, thôn/bản, khu/tổ dân phố) phải làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn nhân dân hiểu biết và nắm được các kỹ năng cơ bản trong việc bảo vệ bản thân, gia đình, cộng đồng trên địa bàn cư trú.

          Ý chí chính trị của chúng ta là bằng mọi cách để sớm khống chế, kiểm soát được dịch bệnh COVID-19, đưa cuộc sống của người dân và mọi hoạt động của xã hội trở lại trạng thái bình thường mới. Nhưng ý chí chính trị muốn thành công phải được thông qua/thể hiện bằng năng lực quản trị và năng lực kỹ trị. Nói một cách cụ thể hơn, để phòng, chống dịch hiệu quả ở địa bàn cơ sở, thì đội ngũ cán bộ phải thường xuyên được cập nhật, tiếp cận những kiến thức, kỹ năng cơ bản về khả năng quản trị khủng hoảng thảm họa dịch bệnh, từ đó có cơ sở để xây dựng xã, phường trở thành pháo đài chống dịch và có cách tác động, giáo dục, thuyết phục để người dân trở thành chiến sĩ biết cách phòng, chống dịch một cách phù hợp, thiết thực.

          Tựu trung lại, “lấy xã, phường là pháo đài chống dịch” hàm ý mong muốn và nhắc nhở xã, phường ở nơi có dịch thì phải biết phát huy sức chiến đấu tại chỗ để sớm đẩy lùi, tiêu diệt “giặc COVID-19”; còn đối với các xã phường đang ở “vùng xanh” thì kiên quyết phải giữ vững vành đai an toàn, không để dịch COVID-19 xâm nhập, lây lan vào cộng đồng. Đó là cái đích tối thượng của pháo đài chống dịch ở địa bàn cơ sở xã, phường, thị trấn./.

HỌC THEO BÁC VỀ “GIỮ LỜI HỨA”

 


Hồi ở Pác Bó, Bác Hồ sống rất chan hòa với mọi người. Một hôm được tin Bác đi công tác xa, một trong những em bé thường ngày quấn quýt bên Bác chạy đến cầm tay Bác thưa:

- Bác ơi, Bác đi công tác về nhớ mua cho cháu một chiếc vòng bạc nhé!

Bác cúi xuống nhìn em bé âu yếm, xoa đầu em khẽ nói:

- Cháu ở nhà nhớ ngoan ngoãn, khi nào Bác về Bác sẽ mua tặng cháu.

Nói xong Bác vẫy chào mọi người ra đi. Hơn hai năm sau Bác quay trở về, mọi người mừng rỡ ra đón Bác. Ai cũng vui mừng xúm xít hỏi thăm sức khỏe Bác, không một ai còn nhớ đến chuyện năm xưa. Bỗng Bác mở túi lấy ra một chiếc vòng bạc mới tinh trao tận tay em bé – bây giờ đã là một cô bé. Cô bé và mọi người cảm động đến rơi nước mắt. Bác nói:

- Cháu nó nhờ mua tức là nó thích lắm, mình là người lớn đã hứa thì phải làm được, đó là "chữ tín". Chúng ta cần phải giữ trọn niềm tin với mọi người.

Bài học kinh nghiệm

Giữ chữ tín là phẩm chất cao quý trong đời sống xã hội cho nên việc bội tín không chỉ làm xấu bản thân mà con gây tác hại đối với người khác. Lòng tin bắt nguồn từ xã hội hướng tới cái thiện, chữ tín trở thành phạm trù đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người.  St

 

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO LỜI BÁC DẠY

 


    Ngày 09 tháng 9:

“Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị Chiến dịch Tây Bắc”, ngày 09 tháng 9 năm 1952. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Dự Hội nghị cán bộ chuẩn bị cho Chiến dịch Tây Bắc (1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những ý kiến định hướng và chỉ đạo, đồng thời động viên, khơi dậy tinh thần quyết tâm của cán bộ tại Hội nghị. Câu nói của Bác là sự khẳng định vai trò to lớn của lương thực, vũ khí đối với sự nghiệp kháng chiến của quân và dân ta, là nguồn sức mạnh giúp bộ đội yên tâm cầm súng chiến đấu, tin tưởng vào thắng lợi. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ của mỗi cán bộ, chiến sĩ ngoài mặt trận đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.

Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, đòi hỏi người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp một phần công sức vào công cuộc xây dựng đất nước.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị… Trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm những tiêu dùng không cần thiết như điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ. Đặc biệt, trong công tác quản lý, việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, vừa thực hiện đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ cho bộ đội, vừa không để xảy ra tình trạng tiêu cực, lãng phí. Ngoài ra, phải đấu tranh kiên quyết và có hiệu quả với những biểu hiện lãng phí, những hành vi sai trái trong bảo quản, sử dụng không đúng mục đích các trang thiết bị, thiết thực góp phần xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.St

Bottom of Form

 

THỦ TƯỚNG YÊU CẦU HÀ NỘI ĐIỀU CHỈNH BẤT CẬP TRONG VIỆC CẤP GIẤY ĐI ĐƯỜNG

 

THỦ TƯỚNG YÊU CẦU HÀ NỘI ĐIỀU CHỈNH BẤT CẬP TRONG VIỆC CẤP GIẤY ĐI ĐƯỜNG

Để kịp thời triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong thời gian thực hiện tăng cường giãn cách xã hội theo Công điện số 1099/CĐ-TTg và Công điện số 1102/CĐ-TTg, tạo thuận lợi trong việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh, hỗ trợ việc học tập theo hình thức trực tuyến, Văn phòng Chính phủ đã có Công văn số 6263/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 yêu cầu Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UBND TP Hà Nội triển khai hiệu quả các biện pháp phòng chống dịch COVID-19.

Cụ thể, Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế nghiên cứu, xem xét, có hướng dẫn cụ thể đối với kiến nghị của Hiệp hội vận tải TP Hồ Chí Minh về việc thực hiện xét nghiệm đối với tài xế đã tiêm đủ 2 mũi vaccine phòng COVID-19, vừa bảo đảm an toàn phòng, chống dịch, vừa tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa phục vụ sản xuất kinh doanh.

Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo khẩn trương hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương về việc trang bị phương tiện học tập, sách giáo khoa phục vụ việc học tập theo hình thức trực tuyến.

Liên quan đến việc cấp giấy đi đường, Thủ tướng yêu cầu UBND TP Hà Nội có hướng dẫn cụ thể, kịp thời điều chỉnh nội dung còn bất cập trong việc cấp giấy đi đường cho các nhóm đối tượng theo quy định đã ban hành, không để xảy ra tình trạng người dân và doanh nghiệp chờ đợi kéo dài; không để tập trung đông người và ùn tắc giao thông, nguy cơ lây lan dịch bệnh tại các chốt kiểm soát dịch.

 

CẢNH BÁO CÁC TRIỆU CHỨNG MỚI Ở BỆNH NHÂN NHIỄM VIRUS SARS-COV-2

 

Các thành viên lực lượng đặc nhiệm chống COVID-19 của Ấn Độ ngày 7/9 kêu gọi các bác sĩ cần xếp vào dạng nghi nhiễm các trường hợp xuất hiện những triệu chứng như giảm thính lực, khô miệng, đau nhói đầu, viêm kết mạc, giảm tiết nước bọt và phát ban trên da, ngay cả khi không có các triệu chứng phổ biến như sốt, ho, khó thở. 


 Phát biểu tại một hội nghị trực tuyến do Thống đốc bang Maharashtra, ông Uddhav Thackeray chủ trì, bác sĩ Rahul Pandit, một thành viên của lực lượng trên cho biết: “Dù đã 17 tháng kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, các triệu chứng mới vẫn tiếp tục được phát hiện, đòi hỏi giới khoa học phải theo sát những triệu chứng này”. 


 Bác sĩ Samir Bhargava, chuyên gia tai mũi họng tại Bệnh viện RN Cooper, cho biết hiện tượng viêm dây thần kinh thính giác hoặc xuất hiện cục máu đông do nhiễm virus ảnh hưởng tới thính giác tương tự như khứu giác. Hiện có ít trường hợp được thống kê có biểu hiện giảm thính giác liên quan đến COVID-19.


Về phần mình, bác sĩ Sanjay Oak, trưởng nhóm đặc nhiệm, cho biết trong làn sóng lây nhiễm thứ hai do biến thể Delta gây ra, hầu hết các triệu chứng chỉ liên quan đến đường tiêu hóa, như tiêu chảy, buồn nôn và nôn. Biểu hiện sốt cũng dưới nhiều dạng khác nhau. Một số người không sốt, một số người sốt cao, một số người thì chu kỳ sốt và tái sốt trong vòng 2-3 ngày, nhưng với nhiều người thì sốt chỉ khi bệnh trở nặng.


Bộ Y tế Ấn Độ cho biết nước này đã ghi nhận 38.948 ca nhiễm mới trong 24 giờ qua, 43.903 ca đã bình phục và 219 ca tử vong mới.  


Trong khi số ca mắc mới do biến thể Delta đang tăng trên toàn cầu, các chuyên gia Malaysia cảnh báo cần theo dõi chặt chẽ biến thể có tên Mu vì biến thể này có khả năng lây nhiễm cao hơn, độc lực mạnh hơn và có thể vô hiệu hóa vaccine ngừa COVID -19.


CÁCH SỬ DỤNG KẾT HỢP 02 LOẠI VẮC XIN PHÒNG COVID-19 KHÁC NHAU

 

Để thực hiện Chiến lược vắc xin phòng COVID-19, đến nay Việt Nam đã tiếp nhận nhiều loại vắc xin được sản xuất theo các công nghệ khác nhau như công nghệ vector (do Astra Zeneca sản xuất, hoặc Sputnik V), công nghệ mRNA (do Pfizer, Moderna sản xuất), công nghệ bất hoạt (vắc xin do Sinopharm sản xuất). Đồng thời hiện nay các nhà sản xuất cũng đang nghiên cứu phát triển một số loại vắc xin bằng những công nghệ khác nhau.


Thời gian vừa qua, do tình hình khan hiếm vắc xin nói chung nên nhiều quốc gia đã nghiên cứu và sử dụng các liệu trình tiêm kết hợp 2 loại vắc xin cùng công nghệ hoặc khác công nghệ sản xuất, căn cứ theo loại vắc xin sẵn có tại từng thời điểm, như tiêm vắc xin véc tơ vi rút với vắc xin mRNA, hoặc tiêm 2 loại vắc xin mRNA của các nhà sản xuất khác nhau...


Xuất phát từ tình hình thực tế, nhu cầu sử dụng vắc xin nhằm mục đích tăng độ bao phủ, tiêm sớm và đúng lịch để phòng chống dịch, ngày 08/9/2021 Hội đồng tư vấn chuyên môn vể sử dụng vắc xin của Bộ Y tế đã họp và đưa ra khuyến cáo: trong trường hợp bất khả kháng khi nguồn cung vắc xin COVID-19 mũi 1 đã tiêm không đủ để tiêm mũi 2 thì có thể sử dụng vắc xin khác để tiêm mũi 2 như sau: Nếu tiêm mũi 1 vắc xin do AstraZeneca sản xuất thì có thể tiêm mũi 2 bằng vắc xin do Pfizer hoặc Moderna sản xuất; Nếu tiêm mũi 1 vắc xin do Moderna sản xuất thì có thể tiêm mũi 2 bằng vắc xin do Pfizer sản xuất và ngược lại./.

THỦ TƯỚNG CHỈ ĐẠO QUAN TÂM HƠN NỮA ĐẾN ĐỘI NGŨ Y, BÁC SĨ CHỐNG DỊCH

 

   Qua kiểm tra tình hình thực tế, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo đưa vào Nghị quyết phiên họp về việc giao Bộ Y tế chủ trì cùng các bộ, ngành liên quan tiếp tục quan tâm hơn nữa về đời sống vật chất, tinh thần và đề xuất chính sách cho các lực lượng tuyến đầu chống dịch, nhất là đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế đang ngày đêm vất vả phục vụ nhân dân.


   Ngày 8-9, qua nắm bắt thông tin dư luận, Thủ tướng đã trực tiếp chỉ đạo Bộ trưởng Bộ Y tế khẩn trương có giải pháp kịp thời, cụ thể về vấn đề này.


   Thời gian qua, trong các chuyến làm việc tại địa phương, nhất là khi kiểm tra công tác phòng, chống dịch tại những điểm nóng nhất về dịch bệnh như Bắc Ninh, Bắc Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An…, Thủ tướng đã luôn dành nhiều thời gian thăm hỏi, động viên các lực lượng tuyến đầu chống dịch, trong đó có đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế.


   Thủ tướng cũng đặc biệt quan tâm đến cơ chế, chính sách cho các lực lượng tuyến đầu, trong đó có các y bác sĩ, nhân viên y tế./.

Bác Hồ căn dặn phải quý trọng, tiết kiệm lương thực, vũ khí

“Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”. “Lương thực, vũ khí là mồ hôi nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, phải tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý”. Bước vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhu cầu lương thực, vũ khí cho chiến trường ngày càng lớn, trong khi công tác hậu cần, tiếp tế ngày càng khó khăn, gian khổ. Lời dạy của Bác là sự căn dặn về thái độ, trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ đối với lương thực và vũ khí, từ đó có trách nhiệm bảo vệ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhất, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời dạy của Bác năm xưa đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn đối với mọi cấp, mọi ngành, mọi người về ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Mặc dù sự nghiệp đổi mới đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn, nhưng đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, trong công tác quản lý, sử dụng các nguồn lực phục vụ cho sự phát triển đất nước phải tiết kiệm, hợp lý. Những tài sản của Nhà nước, của bộ máy chính quyền các cấp đều từ đóng góp của người dân, do vậy, người sử dụng phải có ý thức giữ gìn, bảo quản và sử dụng tiết kiệm. Mỗi người cần nâng cao hơn nữa trách nhiệm của mình, thực hiện cần, kiệm, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Học tập và làm theo lời Bác dạy, cán bộ, chiến sĩ toàn quân tích cực hưởng ứng và thực hiện tốt các phong trào thi đua: “Yêu xe như con, quý xăng như máu”, “Ngành Hậu cần Quân đội làm theo lời Bác Hồ dạy”, “Đơn vị nuôi quân giỏi, quản lý quân nhu tốt”, “Đơn vị quân y 5 tốt”… và Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông”, đã phát huy tinh thần tiết kiệm, giữ tốt, dùng bền các loại vũ khí, trang bị trong biên chế. Trước hết, mỗi người cần phải có nhận thức sâu sắc ý nghĩa, vai trò của việc tiết kiệm và sử dụng hợp lý lương thực, thực phẩm, điện, nước, chất đốt, vũ khí trang bị…; trên cơ sở đó, cụ thể hóa trong công tác hằng ngày, bằng việc tiết kiệm điện, nước, lương thực, thực phẩm, văn phòng phẩm…; bảo quản và sử dụng đúng mục đích các loại vũ khí, khí tài, trang bị trong huấn luyện, diễn tập và thực hiện các nhiệm vụ. Ngày này năm xưa: 9-9-1952: Bác Hồ căn dặn phải quý trọng, tiết kiệm lương thực, vũ khí Ngày 9-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn tuỳ tùng từ nhà của ông R.Ôbơrắc trở về Khách sạn “Royal Monceau”, nơi Chính phủ Pháp bố trí cho Người. Đây là thời điểm quyết định thành bại của cuộc Hội nghị Fontainebleau. Bác tiếp tục các cuộc tiếp xúc với các chính khách Pháp và thảo luận bên ngoài Hội nghị với những nhân vật có trách nhiệm của Chính phủ Pháp nhằm cứu vãn tình hình. Ngày 9-9-1950, Bác Hồ viết “Lời kêu gọi đồng bào Cao - Bắc - Lạng”, báo tin: “Quân ta đã mở chiến dịch trên mặt trận Cao - Bắc - Lạng. Chiến dịch này rất quan trọng cho Cao - Bắc - Lạng và cho cả toàn quốc. Đồng bào ba tỉnh đó cố gắng rất nhiều trong việc chuẩn bị chiến dịch như: góp quân lương, sửa đường sá, vận tải, chuyên chở, giúp đỡ bộ đội v.v.. Tôi trân trọng thay mặt Chính phủ và quân đội cảm tạ đồng bào... Đồng bào hãy tiến lên làm gương kiểu mẫu cho nhân dân toàn quốc, giúp cho chiến dịch được thắng lợi”. Cùng khoảng thời gian này, trên đường đi chỉ đạo Chiến dịch Biên giới, Bác ghé thăm một đơn vị thanh niên xung phong đang làm đường phục vụ chiến dịch và tặng một bài thơ, sau đó trở thành một châm ngôn sâu sắc đối với thế hệ trẻ Việt Nam: “Khuyên Thanh niên: Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên”. Ngày 9-9-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh công bố “Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Dân chủ Cộng hoà Việt Nam”, gồm: Bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân. Bảo vệ nghề nghiệp làm ăn của nhân dân. Tịch thu tài sản của giặc Pháp và bọn phản quốc. Bảo vệ đền chùa, nhà thờ, trường học, nhà thương và các cơ quan văn hoá, xã hội khác. Thưởng người có công, phạt người có tội. Giữ gìn trật tự và trị an. Nhân dân, đặc biệt là nông dân, nên tổ chức lại. Bảo vệ tính mạng, tài sản của kiều dân nước ngoài. Văn bản kết luận “Kỷ luật của quân đội nhân dân rất nghiêm minh, mua bán công bằng, không phạm đến một cái kim, sợi chỉ của dân. Đồng bào hãy làm ǎn yên ổn, giữ gìn trật tự, giúp đỡ quân đội, ủng hộ chính quyền nhân dân, giữ bí mật cho bộ đội, cán bộ và cơ quan; đừng nghe bọn địch, bọn nguỵ tuyên truyền nhảm”.