Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

“VIỆT TÂN” LẠI KÊU GỌI BIỂU TÌNH

 Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao nước ta, trong hai ngày 12 đến 13/5/2022,

Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ cùng lãnh đạo các nước ASEAN dự Hội nghị cấp

cao đặc biệt kỷ niệm 45 năm quan hệ ASEAN – Mỹ tại thủ đô Washington D.C,

nước Mỹ.

MỖI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI KIÊN TRÌ, KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ra sức chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Trong đó, mạng Internet được các thế lực thù địch triệt để sử dụng, chúng coi đây là phương tiện hữu hiệu, thuận tiện cho việc truyền bá các quan điểm sai trái, thù địch, phản động để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung chống phá tập trung vào: Xuyên tạc, phủ định học thuyết về chủ nghĩa xã hội khoa học của C.Mác, cho rằng lý luận Mác-Lênin đã trở nên lỗi thời. Từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu họ cho đó là sự bất cập của học thuyết, nên Việt Nam chủ trương xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội là đi vào ngõ cụt, không có tiền đồ. Đồng thời, chúng tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau để bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh với mục đích “hạ bệ” thần tượng của dân tộc Việt Nam, từng bước đưa ra những thần tượng theo chủ nghĩa tư bản. Cùng với đó chúng đưa ra lối sống thực dụng với những tiêu chuẩn đạo đức, hình mẫu công dân theo kiểu tư bản, lấy giá trị thặng dư và giá trị bóc lột sức lao động của người lao động làm thước đo cho sự thành công trong cuộc sống. Nguy hiểm hơn là sự tuyên truyền của chủ nghĩa đế quốc còn đi sâu vào đời sống hàng ngày, thông qua một vài cán bộ, đảng viên tham nhũng, nhũng nhiễu, hách dịch với quần chúng nhân dân để chúng đánh giá cả hệ thống cán bộ, đảng viên trong Đảng. Từ đó chúng cho rằng, chế độ một đảng lãnh đạo là mất dân chủ nên tham nhũng, muốn thay đổi cần đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như Mỹ, Pháp, Đức... Nhận thức là một quá trình lâu dài nên để làm chuyển biến nhận thức của một con người không phải công việc đơn giản, ngày một, ngày hai mà cần có những hành động cụ thể tác động đến nhận thức của họ trong mọi hoạt động hàng ngày. Vì vậy, để thuyết phục quần chúng nhân dân thì những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước cần được cụ thể hóa thông qua những việc làm của cán bộ, đảng viên và phải thiết thực, hiệu quả để nâng cao đời sống Nhân dân. Đồng thời, phải tuyên truyền vận động để quần chúng thấy được thành quả đó là do Đảng lãnh đạo, trên cơ sở nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và ngăn chặn tác động tiêu cực từ các thế lực thù địch, phản động. Trên thực tế đây là một công việc mà mỗi cán bộ, đảng viên đang thực hiện hàng ngày, cần có phương pháp hiệu quả nhất, thuyết phục Nhân dân tin và làm theo Đảng; nghiên cứu biết những luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch đang tác động đến Nhân dân ở mức nào, từ đó kiên quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái, phản động của các thế lực thù địch và kiên trì thuyết phục Nhân dân.
ĐẠI TƯỚNG VỀ LẠI ĐIỆN BIÊN Đại tá, nhà báo- nhiếp ảnh Trần Hồng vừa công bố hơn 100 bức ảnh và kể lại câu chuyện cách đây 18 năm đi theo phục vụ và chụp ảnh chuyến về thăm Cao Bằng và Điện Biên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhân kỷ niệm 68 năm chiến thắng Điện Biên phủ, mời các bạn tham khảo hồi ức của nhà báo-nhiếp ảnh Trần Hồng: * Tháng 4/2004 Đại tướng về thăm lại Khu di tích quốc gia đặc biệt rừng Trần Hưng Đạo - Nơi ra đời của Quân đội NDVN thuộc địa bàn 2 xã Tam Kim, Hoa Thám (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và tiếp đó là chuyến thăm lại Điện Biên Phủ- nơi in dấu chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” - Trở lại chiến trường xưa, Đại tướng lúc đó ở tuổi 93 nhưng hình như lại trẻ ra, khỏe lại. Tại Khu di tích Mường Phăng - từng là Chỉ huy sở của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và cán bộ, chiến sĩ Điện Biên. ông đã xuống tận căn hầm đơn sơ năm xưa. Tại đây, ông đã cầm bút dõi theo tấm bản đồ chiến dịch Điện Biên Phủ như cách đây 40 năm trước; ông đã vạch ra các phương án cho bộ đội ta kéo pháo vào, kéo pháo ra, vây, lấn, tấn, diệt… - Bên căn hầm của Tướng de Castries, ĐT Võ Nguyên Giáp đã đi bước dài đầy hào sảng, khuôn mặt rạng rỡ, ánh mắt tinh anh gợi nhớ niềm vui bất tận của buổi chiều ngày 7/5/1954 lá cờ Quyết chiến Quyết thắng được bộ đội ta phất tung bay trên nóc hầm. - Trong thời khắc vui mừng chiến thắng với nhiều cán bộ chiến sĩ năm ấy, khi báo công với Đại tướng, sau khi nghe ông có hỏi: “Phía bên kia (quân Pháp-NST), bao nhiêu binh lính chết và bị thương? Các chú nên chăm lo cho họ”. - Phải là người có tấm lòng nhân văn cao cả lắm mới có được sự bao dung để hỏi han, chia sẻ với những mất mát của bên thua trận. Tất nhiên, vị Đại tướng đầu bạc đầy chất nhân văn ấy không bao giờ quên những người lính của ông đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng đât nước, vì nền độc lập của dân tộc. Ông không hề quản ngại đến các nghĩa trang thắp hương cho hương linh những người đồng đội đã hy sinh. Ở những nơi đó, tôi (nhà báo Trần Hồng-NST) thấy ông mang nét trầm buồn. Chiến thắng nào cũng phải đổi bằng mồ hôi, xương máu - Đó là lẽ tất nhiên. Mọi người đều hiểu và chấp nhận điều đó. Nhưng đối với Đại tướng, một người lính ngã xuống là một nỗi đau đè nặng lên ông” - Được biết qua những người phục vụ Đại tướng trong những năm 1968 - 1972, đặc biệt là 81 ngày đêm ở chiến trường Quảng Trị (năm 1972) kể lại: “Sáng sớm nào cũng phải thay áo gối cho Đại tướng vì tối nào Đại tướng cũng khóc. Đại tướng đau lòng lắm”. *** Cho đến bây giờ, khi so sánh với các vị tướng lĩnh nổi tiếng trên toàn thế giới, ĐT Võ Nguyên Giáp vẫn là vị tướng trọn vẹn nhất; trong tất cả các lĩnh vực ông đều là bậc thầy, có nhiều đóng góp to lớn. Trên thế giới có nhiều tướng tài nhưng họ thiên về mặt quân sự và khó ai có thể sánh với ĐT Võ Nguyên Giáp bởi chất nhân văn của ông. Vậy nên từ lúc bước vào con đường binh nghiệp cho đến khi ông trở về với đất mẹ, lòng dân luôn hướng về Đại tướng./.
SƠN TÙNG M-TP gỡ MV "There's No One At All" trên mọi nền tảng GD&TĐ - Số tiền mà MV "There's No One At All" mang về cho Sơn Tùng M-TP chỉ trong ít ngày qua là không nhỏ. Tối 28/4, MV "There's No One At All" (tạm dịch: "Không có ai cả") của Sơn Tùng M-TP đã chính thức ra mắt, thu hút sự chú ý của nhiều người hâm mộ. Tuy nhiên, MV này ngay lập tức nhận về vô số phản ứng tiêu cực của khán giả vì cho rằng nội dung có thể tác động, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý giới trẻ, nhất là cảnh nhảy lầu tự tử ở cuối MV. Cục Nghệ thuật Biểu diễn đánh giá MV của Sơn Tùng có dấu hiệu vi phạm quy định "cấm sử dụng trang phục, từ ngữ, âm thanh, hình ảnh, động tác, phương tiện biểu đạt, hình thức biểu diễn hành vi trái với thuần phong, mỹ tục của dân tộc, tác động tiêu cực đến đạo đức, sức khỏe cộng đồng và tâm lý xã hội" tại khoản 4 Điều 3 Nghị định số 144/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 của Chính phủ quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn. Không những thế, Sơn Tùng M-TP còn đi ngược lại với Bộ Quy tắc ứng xử dành cho nghệ sĩ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 13/12/2021. Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử cũng đã gửi yêu cầu tới Google ngăn chặn MV "There's No One At All" ngay lập tức, các nền tảng mạng khác không được đăng tải MV này. Còn về phía Sơn Tùng M-TP sau khi lắng nghe ý kiến của nhiều người đã gửi lời xin lỗi tới khán giả, đồng thời cho biết sẽ ngưng phát hành MV. Anh cho biết "luôn mong muốn mang lại những giá trị tốt đẹp nhất cho xã hội cũng như cho quê hương đất nước Việt Nam của mình". Chính bởi thế, ca sĩ và công ty "với tinh thần cầu thị, lắng nghe, sẽ chủ động ngưng phát hành M/V "There’s No One At All". Tuy nhiên, MV chỉ được ngừng phát hành tại Việt Nam nhưng khi truy cập vào đường link MV với địa chỉ IP ở quốc gia khác, MV "There's No One At All" vẫn xem được bình thường. MV mới nhất của Sơn Tùng M-TP nhận về nhiều ý kiến trái chiều từ khán giả. Sau khi nắm bắt thông tin, ông Phạm Cao Thái - Chánh thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết đơn vị đã mời ca sĩ Sơn Tùng M-TP lên làm việc, cung cấp thông tin liên quan đến MV "There's No One At All" vào ngày 5/5. Thanh tra Bộ đề nghị Sơn Tùng M-TP khi ra làm việc cung cấp báo cáo giải trình về việc trên bằng văn bản và một số giấy tờ liên quan. Tuy nhiên, nam ca sĩ Sơn Tùng M-TP đã không xuất hiện mà ủy quyền cho đại diện là ông Nguyễn Trần Dương - Giám đốc phát triển và kinh doanh của M-TP Entertainment đến báo cáo, giải trình những nội dung trên với Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Theo kết luận của cuộc làm việc giữa Chánh thanh tra Bộ VH-TT&DL và đại diện công ty M-TP Entertainment, Sơn Tùng M-TP đã vi phạm khoản 3 Điều 13 Nghị định 38/2021/NĐ-CP. Cụ thể, MV "There's No One At All" mang thông điệp tiêu cực, kích động với nhiều cảnh đuổi bắt, đập phá, bạo lực, và kết thúc một cách cực đoan đã tác động mạnh đến tâm lý người xem, dễ gây ảnh hưởng, định hướng hành vi tiêu cực của xã hội, đặc biệt là trẻ em. Theo văn bản quyết định xử phạt hành chính đối với MV "There's No One At All", Sơn Tùng phải nộp phạt số tiền 70 triệu đồng. Bên cạnh đó, biện pháp khắc phục hậu quả đề ra yêu cầu công ty M-TP có trách nhiệm tiêu hủy bản ghi hình "There's No One At All", nộp lại số lợi thu từ MV, tháo gỡ bản ghi hình "There's No One At All" dưới hình thức điện tử trên môi trường mạng và kĩ thuật số. Điều này đồng nghĩa với việc Sơn Tùng không thể quảng bá MV tại nước ngoài. Tới trưa 6/5, Sơn Tùng M-TP và phía công ty M-TP Entertainment đã cho chính thức tiêu hủy toàn bộ MV "There's No One At All" trên nền tảng YouTube ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Theo ước tính từ SocialBlade, trong ngày ra mắt MV "There's No One At All" kể từ thời điểm chính thức ra mắt (tối 29/4) cho đến khi chính thức bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật, kênh YouTube của Sơn Tùng đã kiếm được số tiền dao động khoảng từ 4.500 USD - 73.600 USD (103.3 triệu đồng - 1.68 tỉ đồng).
Theo dấu chân Người ! Ngày 8-5-1959, trong chuyến đi thăm Khu tự trị Tây Bắc, Bác dừng lại ở Yên Châu (Sơn La). Trong bài nói với đồng bào các dân tộc, Bác đề cập nhiều việc phải làm để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; nói về tài nguyên rừng, Bác căn dặn: “…Bác đi qua nhiều nơi thấy rừng bị phá rất nhiều. Những cây gỗ to, cao, chặt để đốt hay để cho nó mục nát, không khác gì đồng bào tự mình đem tiền bạc của mình bỏ xuống sông... Đồng bào có nên giữ gìn rừng, giữ gìn gỗ không? Có nên đốt bừa đi không? Phải giữ gìn rừng cho tốt. 5 năm, 10 năm nữa, rừng là vàng là bạc, là máy móc cả”. Với cán bộ, Bác dặn dò: “Cán bộ từ trên xuống dưới, từ Bác đến cán bộ xã đều là đày tớ của nhân dân, không phải là vua, là quan như ngày trước mà đè đầu cưỡi cổ nhân dân. Tức là cán bộ phải chăm lo cho đời sống của nhân dân...” . Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm Nông trường Mộc Châu. Người trao tặng Nông trường Huân chương Lao động hạng Ba và tự tay gắn Huân chương lên lá quân kỳ Quyết thắng của đơn vị. Ngày 8-5-1963, tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội khoá II, biết tin Quốc hội dự kiến tặng Bác tấm Huân chương Sao Vàng, Bác phát biểu: “Tôi vừa nhận được một tin tức làm cho tôi rất cảm động và sung sướng. Đó là tin Quốc hội có ý định tặng cho tôi Huân chương Sao Vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội. Nhưng tôi xin Quốc hội cho phép tôi chưa nhận Huân chương ấy. Vì sao? Vì Huân chương là để tặng thưởng người có công huân; nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội... Vì những lẽ đó, tôi xin Quốc hội đồng ý thế này: Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng”./.
TỪ CHIẾC ÁO LEN CỦA BÁC HỒ ĐẾN HUYỀN THOẠI ÁO TRẤN THỦ Mùa đông năm 1946, khi những đợt gió lạnh đầu tiên tràn vào miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sáng kiến phát động phong trào may áo rét cho chiến sĩ. Sau khi Chính phủ kêu gọi nhân dân hưởng ứng phong trào ‘Mùa đông binh sĩ’, Ủy ban vận động ‘Mùa đông binh sĩ’ được thành lập ở Trung ương và các tỉnh. Mở đầu cuộc vận động, chiều ngày 17/11/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức buổi lễ ‘Mùa đông binh sĩ’. Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Chính phủ đã đích thân đến dự. Ngay tại buổi lễ, Bác Hồ đã đem chiếc áo sợi duy nhất của mình để góp vào quỹ vận động ‘Mùa đông binh sĩ’. Đó là chiếc áo len màu be, cổ tròn mà người đã dùng khi bôn ba ở nước ngoài để hoạt động cách mạng, tìm đường cứu nước. Việc làm thiết thực và cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành nguồn động viên, cổ vũ kịp thời tới cán bộ chiến sĩ đồng thời mở ra một phong trào thi đua yêu nước sôi nổi diễn ra trong toàn quốc. Xúc động trước tình cảm yêu thương chiến sĩ của Bác, nhiều người dân Hà Nội lúc đó đều muốn mua chiếc áo để ủng hộ cách mạng và làm vật kỷ niệm. Trước nguyện vọng của quần chúng, Ủy ban vận động ‘Mùa đông binh sĩ’ Trung ương đã tổ chức đấu giá chiếc áo tại Nhà hát Lớn. Kết quả, ông Trương Văn Thìn, chủ một cửa hiệu bánh ngọt có tiếng ở Hà Nội, là người giành được quyền sở hữu chiếc áo với giá 3.500 đồng Đông Dương (tương đương với giá trị của 200 cây vàng lúc bấy giờ). Nhờ có số tiền này, Ủy ban vận động đã mua vải và may được rất nhiều tấm áo ấm tặng bộ đội. Trong phong trào ‘Mùa đông binh sĩ’, Quân nhu Cục, tiền thân của ngành Quân nhu Tổng cục Hậu cần, cùng với các nhà may ở phố Hàng Trống đã nghiên cứu sản xuất ra chiếc áo Trấn thủ cho binh sĩ mặc mùa đông, vừa ấm áp lại thuận tiện khi hành quân và chiến đấu. Kiểu áo Trấn thủ ra đời nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trong nhân dân và được cán bộ, chiến sĩ Vệ Quốc đoàn rất ưa chuộng. Từ đó, phong trào toàn dân may áo Trấn thủ ủng hộ bộ đội diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và thực sự trở thành một cuộc vận động quần chúng rộng khắp mọi ngành, mọi nơi. Chỉ tính riêng những ngày cuối tháng 11/1946, nhân dân Thủ đô đã quyên góp được trên 30 vạn đồng Đông Dương và một số len, bông đủ làm trên 50.000 lõi bông và vỏ áo Trấn thủ. Nhiều liên đoàn thợ may của thành phố đã xung phong đảm nhận may hàng vạn bộ áo trấn thủ không lấy tiền. Với lòng thương yêu vô hạn đối với các chiến sĩ đang phải chịu đói rét để chiến đấu, ngày 25/9/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Chủ tịch Ủy ban Trung ương ‘Mùa đông binh sĩ’ với nội dung: “…Ủy ban Trung ương Mùa đông kháng chiến giúp binh sĩ chỉ quyên vải vóc quần áo, hoặc công may. Nhưng tôi không biết may, không có vải mà do chỉ có hai bộ đã cũ. Vậy tôi xin quyên góp một tháng lương là 1.000 đồng nhờ mua giùm vật liệu và may giùm mấy chiếc áo chiến sĩ gọi là chút lòng thành…”. Tiếp đó, Người cũng kêu gọi đồng bào ra sức giúp đỡ để chiến sĩ có áo ấm mặc nhằm có sức diệt thù. Nhờ sự quan tâm của Đảng, của Bác Hồ, với sự tham gia giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân, mùa đông năm 1947, ngành Quân nhu quân đội ta đã nhận được rất nhiều áo trấn thủ của các tầng lớp nhân dân ủng hộ. Hình ảnh người chiến sĩ Vệ Quốc đoàn mặc áo Trấn thủ, đội mũ ca lô, đi dép cao su và chiếc ruột tượng đeo bên mình đã trở thành một hình ảnh đẹp, biểu tượng văn hóa trong truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Hình ảnh này đã trở thành nguồn cảm hứng cho các nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ nói lên tình cảm tin yêu, quý trọng của nhân dân. Ngay sau ngày Toàn quốc kháng chiến, cùng với phong trào ‘Mùa đông binh sĩ’, Ban vận động sáng tác Trung ương đã tổ chức cuộc vận động các văn, nghệ sĩ sáng tác các tác phẩm thơ, ca, hội họa cổ động cho phong trào này. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhiều tác phẩm âm nhạc, văn thơ, hội họa đã tái hiện những hình ảnh lịch sử của đất nước thông qua cuộc vận động ‘Mùa đông binh sĩ’. Chúng ta có thể tìm đọc được những vần thơ đầy cảm xúc bắt nguồn từ áo Trấn thủ như sau: Em ơi em ngủ say rồi Ngọn đèn chị thắp, chị ngồi chị may Cho xong áo Trấn thủ này Gửi người chiến sĩ kịp ngày mùa đông Để cho chiến sĩ ấm lòng Vững tay cầm súng, ra công diệt thù. Nhiều câu chuyện cảm động về những em nhỏ hậu phương đã góp những đồng tiền bỏ ống tiết kiệm để ủng hộ may áo cho chiến sĩ, còn các mẹ, các chị thì thức khuya, dậy sớm may áo vì các chiến sĩ ngoài mặt trận. Nữ thi sĩ Vân Đài đã sáng tác bài thơ ‘Áo Trấn thủ’ để nói lên những tình cảm đó: Gió rét căm căm xuôi hướng Bắc Nghĩ người chiến sĩ dưới heo may Chắt chiu tiền ống em mua vải Bông bện dày thêm áo lót dày Em gửi áo này ra mặt trận Hỏi người mặc áo có biết chăng Đêm nay gió lạnh căn nhà trống Giá buốt nhưng em chẳng lạnh lùng. Với tấm lòng yêu thương dành cho người con, nhiều người mẹ khi may áo đã thêu lên thân áo những câu thơ bày tỏ tình cảm của mình: Trấn thủ mẹ đã may xong Gửi con, con mặc, mùa đông tới rồi Con ơi mặc áo nhớ lời Giết cho hết giặc đời đời tự do. Nhiều người chị, người bạn gái đã gửi tình cảm qua đường kim, mũi chỉ lên chiếc áo Trấn thủ gửi cho người yêu ngoài mặt trận: …Đông về nhớ bạn tòng chinh Tự tay đan áo tỏ tình mến yêu Áo ơi bầu bạn sớm chiều Khuyên người chiến sỹ lập nhiều chiến công. Qua những vần thơ, lời ca gắn với phong trào ‘Mùa đông binh sĩ’ và chiếc áo Trấn thủ, có thể thấy rằng toàn thể dân tộc đều chung sức, đồng lòng, hưởng ứng lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến tháng 12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành tất cho kháng chiến. Không chỉ đơn thuần là trang phục quân đội thông thường, chiếc áo Trấn thủ đã trở thành biểu tượng văn hóa, lịch sử trong một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc./.
“ĐÁNH THỨC” VAI TRÒ CỦA PHIM TRUYỆN Làm sao để phim truyện đề tài chiến tranh cách mạng và lực lượng vũ trang (LLVT) hấp dẫn? Kho báu trầm tích, tiềm tàng của đề tài này đã và sẽ luôn vun đắp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh cách mạng và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Trong những lần làm việc với các nhà nghiên cứu nước ngoài, biết tôi từng trong quân đội, trong bối cảnh thế giới luôn có điều bất ổn, không ít lần các đồng nghiệp hỏi tôi về Quân đội nhân dân Việt Nam. Tôi thường khuyên họ xem những bộ phim thành công của điện ảnh Việt Nam đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT. Tại sao lại tìm hiểu qua phim? Điện ảnh là tấm gương phản chiếu thời đại với những cuộc đấu tranh tư tưởng, với những xung đột, với những khát vọng chân chính của con người. Thời gian chiến tranh và hậu chiến, điện ảnh Việt Nam hoạt động trong điều kiện máy móc, phương tiện thiếu, công nghệ lạc hậu... Dù vậy, ngay cả những bộ phim còn ít nhiều khiếm khuyết cả về kỹ thuật và nghệ thuật nó vẫn chứa đựng những điều cốt lõi của sự thật về cuộc sống xây dựng, chiến đấu, giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước của quân và dân ta. Nhiều bộ phim thành công của điện ảnh đã trở thành người bạn đồng hành tin cậy, gần gũi của người chiến sĩ, trở thành sứ giả mang đến cho người xem trên thế giới về sự thật cuộc chiến đấu của quân dân ta... Nhân vật trung tâm của các bộ phim truyện đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT là Bộ đội Cụ Hồ. Các nhà làm phim Việt Nam ngay từ những bộ phim truyện thời kỳ đầu đã rất ý thức khắc họa phẩm chất người lính Cụ Hồ của một quân đội cách mạng, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Bộ phim “Lửa trung tuyến” sản xuất năm 1961 của đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Phạm Văn Khoa kể về trung đội trưởng Dũng đang ở tuyến đầu mặt trận thì được lệnh quay về phụ trách đoàn dân công tải đạn. Dũng tâm tư. Nhưng nơi đây đầy gian khổ, nguy hiểm. Cao trào của phim đó là trận bom máy bay Pháp đánh vào kho đạn. Tất cả anh chị em dân công đã xả thân bảo vệ. Ở đâu Đảng cần người lính đến thì đó chính là tiền tuyến. Phẩm chất của người lính được hình thành chính trong ngọn lửa của cuộc chiến tranh. Nhân vật như một tấm gương. Bộ phim “Người chiến sĩ trẻ” sản xuất năm 1964 do Nghệ sĩ Nhân dân Hải Ninh và Nguyễn Đức Hinh đồng đạo diễn, là bộ phim đầu tiên về một người anh hùng có thật trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Cù Chính Lan không chỉ là người chiến sĩ thông minh, quả cảm trong chiến đấu mà còn là người có khả năng cảm hóa đồng đội có tính liều lĩnh. Trong một trận chiến đấu khi xe tăng địch xuất hiện tưởng như làm đảo lộn tình thế, Cù Chính Lan được đồng đội yểm trợ đã mưu trí, dũng cảm dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng địch chứng minh một cách đầy thuyết phục rằng người lính với trí tuệ và sự can trường có thể thắng địch được trang bị hiện đại bằng vũ khí thô sơ. Bộ phim “Đường về quê mẹ”, sản xuất năm 1971 do Nghệ sĩ Nhân dân Bùi Đình Hạc đạo diễn là câu chuyện về 3 chiến sĩ công binh được giao nhiệm vụ làm trận địa giả thu hút máy bay B-52 của Mỹ để ở một phía khác các chiến sĩ công binh bí mật mở đường phục vụ cho chiến dịch đánh Làng Vây. Không phải ngẫu nhiên các nhà làm phim khi làm về con đường giải phóng dữ dội và đầy máu lửa này đã chọn 3 nhân vật chính xuất thân từ 3 vùng quê khác nhau. Dư (do Thế Anh đóng) là người miền Bắc; Ly (do Hồ Trường đóng) là người Tây Nguyên; còn Núi (do Lâm Tới đóng) quê ở ngay Làng Vây, miền Trung. Tính cách của họ khác nhau nhưng họ có một điểm chung dễ nhận thấy đó sự đoàn kết yêu thương nhau, mưu trí, dũng cảm can trường, có niềm tin sâu sắc, trẻ trung và lạc quan. Trong phim người mẹ của Núi (do Trúc Quỳnh đóng) luôn gắn bó với bộ đội, sẵn sàng hy sinh bảo vệ bộ đội. Năm 1972, bộ phim được tặng giải Nhất của Tiểu hội Á Phi và Mỹ Latinh tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary (Tiệp Khắc). Năm 1973, bộ phim được giải Nhất tại Liên hoan phim quốc tế New Delhi (Ấn Độ). Nhân vật người chiến sĩ chúng ta còn được gặp trong nhiều bộ phim khác về đề tài chiến tranh như: “Em bé Hà Nội” nói về cuộc chiến đấu bi tráng 12 ngày đêm đánh B-52 (sản xuất năm 1974) của đạo diễn Hải Ninh, “Vùng trời” sản xuất năm 1975 của đạo diễn Huy Thành nói về những chiến sĩ không quân anh hùng và nhiều bộ phim truyện khác. Cùng với thời gian, các nhà làm phim có điều kiện khai thác các mảng hiện thực khác nhau, kể cả những góc khuất của chiến tranh nhưng cảm hứng chung khi xây dựng nhân vật người lính Cụ Hồ vẫn là cảm hứng ngợi ca, khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, gần gũi, mộc mạc của người lính và qua đó động viên khích lệ, góp phần lý giải thắng lợi chung của dân tộc. Sau chiến tranh, đề tài của phim truyện được mở rộng nhưng đề tài chiến tranh vẫn là một đề tài lớn, có sức hấp dẫn các nhà làm phim. Nhiều nhà làm phim coi đề tài chiến tranh cách mạng là một món nợ tinh thần. Đã có không ít bộ phim mang tính sử thi, hoành tráng về chiến tranh trong đó nhân vật anh Bộ đội Cụ Hồ và một số nhân vật lịch sử được chú ý tái hiện. Chẳng hạn như các phim: “Biệt động Sài Gòn”, “Hà Nội 12 ngày đêm”, “Ván bài lật ngửa”, “Dòng sông hoa trắng”, “Mùa gió chướng”, “Giải phóng Sài Gòn”, “Những người viết huyền thoại”, “Mùi cỏ cháy”, “Huyền thoại Quán Tiên”... Trong đó có các nhà làm phim đề tài chiến tranh là những người sinh ra sau chiến tranh với những tìm tòi cách tiếp cận mới. Điện ảnh Quân đội sau bộ phim “Mảnh trăng cuối rừng” đã cho ra đời một loạt phim truyện như: “Vụ áp phe Đông Dương”, “Nơi núi rừng yên ả”, “Hoa ban đỏ”, “Bến đợi”, “Khoảnh khắc chiến tranh”, “Đêm Bến Tre”, “Tiếng cồng định mệnh”, “Người trở về”, “Khúc mưa”... khai thác các khía cạnh của cuộc kháng chiến và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Phim truyện của Điện ảnh Quân đội cũng đã tạo ra được dấu ấn riêng trong dòng phim đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT. Không thể phủ nhận những đóng góp của điện ảnh Việt Nam trong mảng đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT. Nhưng cũng không thể không nhận ra sự chưa thành công của các phim đề tài này thời gian vừa qua, nhất là về giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Nhiều nhân vật trong phim không có khả năng bước ra khỏi màn ảnh, sống được cùng khán giả, không đủ sức cạnh tranh với các nhân vật đề tài khác của các phim Việt Nam. Bởi thế mà xuất hiện cụm từ chưa từng có trước đây trong lịch sử phát triển: “Phim cúng cụ”. Đó là phim làm chào mừng ngày lễ nào đó. Ngày lễ không có lỗi, ngày lễ trong nhiều trường hợp là cú hích thúc đẩy sáng tạo, là nguồn cảm hứng sáng tạo. Người ta gọi “phim cúng cụ” là những phim làm theo cách cũ kỹ, khuôn mẫu, như một mâm lễ dâng lên ngày lễ một lần, chiếu một lần rồi cất kho, còn người xem thì thất vọng khi xem một bộ phim "biết rồi, khổ lắm nói mãi”. Khi người xem không còn mặn mà bởi người làm phim không biết cách khai thác đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT một cách mới mẻ đầy xúc động thì sự vắng bóng phim đề tài này trên màn ảnh là điều tất yếu... Chất lượng phim, giá trị tư tưởng và nghệ thuật của một bộ phim phụ thuộc vào tài năng, vào tâm, vào tầm của những người làm nghệ thuật và công tác quản lý nghệ thuật. Không thể không thấy bối cảnh khách quan hiện nay, đó là điện ảnh được Nhà nước quan niệm là một lĩnh vực của công nghiệp văn hóa, trong đó sản phẩm điện ảnh là hàng hóa đặc thù. Đã là hàng hóa thì đương nhiên phải chấp nhận cạnh tranh trên thị trường chiếu bóng. Theo thống kê của Cục Điện ảnh khi chưa có dịch Covid-19, các rạp chiếu phim ở Việt Nam một năm chiếu khoảng 230 phim truyện nước ngoài, 40 phim truyện do Việt Nam sản xuất. Có thể thấy phim Việt Nam phải chấp nhận sự cạnh tranh rất gay gắt. Trong 40 phim truyện do Việt Nam sản xuất có năm không có phim nào được làm bằng kinh phí nhà nước. Cho đến nay chưa có cơ sở làm phim tư nhân nào đến với đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT. Phim đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT, nhân vật anh Bộ đội Cụ Hồ chỉ có thể trở lại màn ảnh đạt chất lượng và hiệu quả khi có sự quan tâm đầu tư thích đáng của Nhà nước và sự nhận thức thật sự sâu sắc về vị trí, vai trò của dòng phim này đối với đời sống đạo đức tinh thần xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Bên cạnh việc bảo đảm chức năng của một sản phẩm công nghiệp văn hóa-điện ảnh có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người xem, có khả năng cạnh tranh, phim truyện đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT vẫn là dòng phim nòng cốt góp phần quan trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị tinh thần của con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Làm sao để phim truyện đề tài chiến tranh cách mạng và LLVT hấp dẫn, đó cũng là vấn đề đặt ra. Để hấp dẫn trong đề tài này, chắc chắn không phải là bạo lực và tình dục, chắc chắn không phải chuyện kinh dị, chuyện ma, chuyện xác sống, chuyện đồng tính... Kho báu trầm tích, tiềm tàng của đề tài này đã và sẽ luôn là phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong chiến tranh cách mạng và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hôm nay. Hiểu sâu sắc người xem hôm nay, biết kể một câu chuyện mới mẻ hấp dẫn về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, khẳng định vẻ đẹp của người chiến sĩ, xây dựng được các nhân vật có khả năng sống trong lòng khán giả, thiết nghĩ đó cũng là cách góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa của những người làm điện ảnh.
VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG "BỐN KHÔNG" TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Quan điểm và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam nhằm mục đích hòa bình, tự vệ, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, đã xuất hiện nhiều quan điểm cho rằng, chính sách “bốn không” của Việt Nam đã không phù hợp, thực hiện chính sách “bốn không”, Việt Nam sẽ bị cô lập trong cộng đồng quốc tế./.
PHÒNG NGỪA VÀ ĐÁU TRANH VỚI CÁC THÔNG XẤU, ĐỘC TRÊN INTERNET, MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY Thời gian qua, các thế lực phản động, thù địch tiếp tục gia tăng mức độ, tần suất chống phá cấp ủy, chính quyền các cấp bằng những thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm và luận điệu sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc. Đặc biệt, các thế lực thù địch, phần tử chống phá lợi dụng ưu thế của công nghệ thông tin, triệt để khai thác mạng internet, sử dụng mạng xã hội để gây nhiễu loạn nhằm chiếm lĩnh “trận địa thông tin”, phát tán thông tin xấu, độc, bịa đặt, sai sự thật, cổ súy cho các hoạt động chống phá cấp ủy, chính quyền các cấp, thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Một trong những nghịch lý hiện nay là chúng ta có hệ thống chính trị sâu rộng với hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể được tổ chức đến cấp cơ sở nhưng có thời điểm khi các thế lực thù địch xào xáo thông tin, trộn lẫn “thật-giả”, “cắt gọt” các trích dẫn từ nguồn tin chính thức trong nước gắn với những bình luận ác ý, thổi phồng, bóp méo các sự kiện, vụ việc, lồng ghép ý kiến trái chiều, kêu gọi tổ chức biểu tình, tuần hành trái phép… thì công tác đấu tranh phản bác của hệ thống chính trị lại thiếu chủ động, chưa kịp thời, chưa thống nhất và thiếu đồng bộ, cá biệt có nơi hầu như không có phản ứng gì. Công tác tuyên truyền giáo dục, phòng-chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn có mặt hạn chế; lúng túng trong định hướng thông tin tích cực trên mạng internet, mạng xã hội. Việc một số cán bộ, đảng viên đứng ra cổ súy cho những hành vi vi phạm, tham gia vào những hành động tự phát, manh động do bị kích động hoặc mất ý chí chiến đấu, phó mặc cho hoàn cảnh điều khiển khi những phần tử xấu xuyên tạc, công kích, bôi nhọ Đảng và chế độ đều là những biểu hiện của tình trạng suy thoái đạo đức, tư tưởng chính trị, phải được chấn chỉnh và xử lý nghiêm minh. Trước thực trạng trên, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác thông tin xấu, độc trên mạng xã hội cần tập trung vào những nhiệm vụ sau: Một là, cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nâng cao cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn mới của các thế lực thù địch, phần tử phản động chống đối trên mạng internet và mạng xã hội; nhất là trước những vấn đề, sự kiện mà chúng lợi dụng xuyên tạc và nhận thức rõ mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin xấu, độc. Mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động ngăn ngừa, giảm thiểu tiếp xúc với các nguồn thông tin xấu, độc, không nghe, đọc, xem những đài, báo, trang mạng, bài viết, blog, video của những phần tử chống đối, phản động. Hai là, cán bộ, đảng viên phải tích cực tham gia nắm bắt kịp thời tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình công tác, nhất là trên không gian mạng xã hội. Không để đồng nghiệp, đồng chí của mình và quần chúng bị kẻ địch móc nối, lôi kéo, ủng hộ, cổ súy, tán phát thông tin xấu, độc trên mạng xã hội. Thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác... Ba là, các đồng chí cán bộ, đảng viên là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương cần sâu sát, nắm vững mọi hoạt động và tình hình tư tưởng, thái độ, quan điểm của cán bộ, đảng viên, quần chúng khi chia sẻ, bình luận, đăng tải thông tin trên mạng xã hội, nhất là trong những đợt cao điểm liên quan đến tình hình an ninh chính trị. Đồng thời có nội dung giáo dục, định hướng, điều chỉnh nhận thức của cán bộ, đảng viên đúng đắn, kịp thời. Mặt khác, yêu cầu cá nhân thuộc cơ quan, đơn vị mình quản lý lên tiếng khi tài khoản cá nhân (Facebook, Zalo…) bị xâm nhập, lợi dụng, giả mạo, để tránh bị lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, bôi nhọ, vu khống hoặc bị lợi dụng phát tán thông tin xấu, độc cho người thân, bạn bè và cộng đồng mạng./.
TƯỚNG GIÁP VĨ ĐẠI NHƯ THẾ NÀO? Trước tiên, Tướng Giáp là một người như thế nào? Những ngày đầu cuộc chiến chống Pháp lần thứ 2, khi các tướng lĩnh Pháp đọc thông tin về tướng Giáp, họ ngạc nhiên và lạ kỳ vì người lãnh đạo quân đội Việt Minh xuất thân từ một thầy giáo dạy lịch sử, từng thi trượt trường Quốc học Huế, chưa từng trải qua một khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp nào, cũng chẳng đi lên là một chiến binh dạn dày kinh nghiệm và chưa từng tham gia chỉ huy một chiến dịch quân sự lớn cấp trung đoàn với quy mô từ 2000 - 3000 binh lính. Và có lẽ người Pháp không ngờ rằng, người thầy giáo mà họ đã từng coi thường ấy đã đánh gục họ một cách tâm phục khẩu phục. Nhật báo lớn của Ấn Độ là The Hindu viết rằng, các lãnh đạo quân sự Pháp tự tin rằng họ sẽ chiến thắng khi đối đầu với quân đội du kích Việt Nam trong một trận đánh quân sự thông thường. Việt Minh sẽ thảm bại! Tháng 05/1950, Sư đoàn 308 của tướng Giáp đã tiến hành một chiến thuật “tàng hình” với 4 tiểu đoàn bộ binh âm thầm leo lên những ngọn núi đá vôi bao quanh cứ điểm Đông Khê cùng với 5 pháo cỡ nòng 75mm. Trước đó, công tác tình báo của Pháp rất chủ quan và họ không nghĩ rằng những người Việt Nam có thể làm được điều này. Sau 2 ngày, tướng Giáp tiếp tục chỉ huy các tiểu đoàn này rút xuống phía dưới để tránh phản pháo, hợp đồng tiến công đánh tan cứ điểm Đông Khê. Lúc ấy, tướng Giáp đã buộc những người Pháp phải đặt câu hỏi rằng: Tại sao ông ấy lại nghĩ ra chiến thuật này và họ dám làm điều này? Những người lính này là những người như thế nào? Đại tướng Marcel Carpentier với tâm thế thắng trận từ Thế chiến 1 & 2 đã tỏ ra “bề trên” với tướng Giáp. Theo History, Marcel Carpentier đã mang tâm lý kiêu ngạo lây lan sang nhiều sĩ quan Pháp, ông ấy đánh giá quá cao bản thân ông ấy và lính của ông ấy và đánh giá quá thấp những người nông dân dưới sự chỉ huy của tướng Giáp. Trong 9 năm, từ 1945 - 1954, tướng Giáp đã đối đầu với 7 - 10 vị tướng Pháp và ông đã khiến cho không một vị tướng Pháp nào được nở nụ cười trên đất Việt Nam. Vị tướng cuối cùng so găng với tướng Giáp là Christian de Castries bất lực nhìn những người lính Việt Minh cắm cờ trên nóc hầm chỉ huy ở Điện Biên Phủ. Hơn 2200 lính Pháp tử trận, hơn 10.000 lính khác phải trở thành tù binh và đây là thiệt hại lớn nhất của quân đội Pháp từ sau Thế chiến 2 đến thời điểm hiện tại. Trong suốt 9 cuộc chiến, đã có tới 94.000 lính Pháp tử trận tại Việt Nam. Nhà sử học người Pháp Bernard Fall viết rằng không ai ngờ rằng Pháp thất bại tại Việt Nam, đó là thất bại nặng nề đến mức ám ảnh người Pháp, là thiệt hại ở ngoài Pháp nặng nhất từ năm 1749 (một số tài liệu ghi 1759) sau cái chết của thiên tài quân sự Louis-Joseph de Montcalm tại Quebec, Canada. Bernard Fall cũng được cho rằng là người đầu tiên ví tướng Giáp với Napoleon Bonaparte, chính hơn hơn là “The Red Napoleon”. Tạp chí AirForce của Hiệp hội Hàng không Hoa Kỳ viết rằng: “Tướng Giáp là nhà hoạch định chiến lược quân sự vĩ đại nhất kể từ thời Hannibal. Vị tướng này đã xây dựng một đội quân hùng hậu từ 34 chiến binh đầu tiên vào năm 1944. Đến năm 1954, đội quân của ông đã vận chuyển pháo binh lên vùng núi biệt lập ở Điện Biên Phủ và khiến cho quân đội Pháp vốn được trang bị mạnh hơn rất nhiều thất bại nhục nhã”. Khi đại tướng Võ Nguyên Giáp ra đi vào năm 2013, những tờ báo uy tín bậc nhất thế giới đã dành ông sự “tôn trọng tuyệt đối”. Tờ Washington Post viết: “Tướng Giáp đã đánh bại quân Pháp, quân đội Mỹ tại chiến tranh Việt Nam”. Còn New York Time bình luận: “Tướng Giáp đã hất cẳng Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam”. Còn Telegraph nhận định rằng đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng ở vị trí thứ hai sau chủ tịch Hồ Chí Minh, là nhân vật đáng tôn kính nhất Việt Nam hiện tại”. Tờ Financial Times của Anh Quốc nói về Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Một giáo viên lịch sử tổ chức một cuộc duyệt binh chỉ với 34 thành viên, mặc áo nâu sẫm, đội mũ homburg và đeo súng lục nhỏ bên hông. Và đó chính là khởi đầu khiêm tốn của một trong những vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới, là kiến trúc sư chính cho sự thất bại của các cường quốc trong thế kỷ 20”. Thượng nghị sĩ, Cựu ứng viên Tổng thống John McCain từng viết rằng “Tướng Giáp là một nhà chiến lược quân sự lỗi lạc”. AFP trích lời nhiều nhà nghiên cứu sử học, khẳng định rằng tướng Giáp là một trong những nhà chiến lược quân sự tài ba và nổi tiếng nhất, không chỉ ở Việt Nam mà trong lịch sử quân sự thế giới. Nhà sử học người Pháp Hugues Tertrais bình luận rằng tướng Giáp đã châm một ngọn lửa vào thùng thuốc súng hủy diệt các cường quốc. Ngày mai, 07/05/1954 - Chiến thắng Điện Biên Phủ, chiến thắng đã đưa tướng Giáp bước vào ngôi đền của những vị tướng huyền thoại và người ta đã công nhận tướng Giáp như là một nhà chiến lược bậc thầy và truyền cảm hứng cho các phong trào giải phóng khắp nơi, từ Việt Nam lan ra khắp châu Á, châu Phi, Nam Mỹ…
ĐÁM CƯỚI CÓ MỘT KHÔNG HAI TRONG HẦM DE CASTRIES Lễ cưới tổ chức ngay trong hầm De Castries còn chưa hết mùi thuốc súng và cô dâu chú rể chụp ảnh cưới ngay trên xe tăng Pháp bị bắn cháy. Một đám cưới trên trận địa Điện Biên Ngày 22/5/1954, ngay trên trận địa Điện Biên, giữa hầm chỉ huy của De Castries đã diễn ra đám cưới của đồng chí Cao Văn Khánh – đại đoàn phó đại đoàn quân Tiên phong với nữ chiến sĩ quân y Nguyễn Thị Ngọc Toản. Một điều thú vị là mối tình của hai người bắt đầu từ sau chiến dịch Biên giới và đơm hoa kết trái ở Điện Biên. Hai mốc thời gian đều là những mốc quan trọng trong sự phát triển của kháng chiến. Cuốn sách Tướng Cao Văn Khánh – nhà tham mưu chiến lược cho biết chi tiết về đám cưới đó: Chiến dịch kết thúc, hầm Đờ Cát được những người lính dọn dẹp sạch sẽ trang trí làm phòng cưới của Cao Văn Khánh và Nguyễn Thị Ngọc Toản. Căn hầm dưới lòng đất của tướng Đờ Cát được ban tổ chức lễ thành hôn trang hoàng bằng các loại dù chiến lợi phẩm đủ màu sắc. Bàn ghế tận dụng tại chỗ đủ cho bốn mươi, năm mươi khách mời, bàn cũng được phủ loại dù hoa. Trang trí thật đơn giản. Phía trước căng một tấm dù đỏ, đính dòng chữ cắt bằng giấy bản đồ rách địch bỏ lại: “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ - 22.5.1954”. Phần tiệc trà mời khách thì quá rôm rả. Nào là kẹo Nuga, bánh bích quy từ Sài Gòn, Socola thỏi bọc bằng giấy bạc, rượu sâm banh và có cả mấy chai rượu Napoleon từ Paris, thuốc lá thơm Philip… Tất cả đều là chiến lợi phẩm Pháp thả dù xuống cho bộ tham mưu của Đờ Cát dùng. Do pháo ta bắn dữ quá, máy bay địch không dám xuống thấp nên thả lạc vào trận địa quân ta, bộ đội đại đoàn 308 thu được. Nay đám cưới thủ trưởng Cao Văn Khánh, họ mang tới tặng. Chỉ tiếc rằng không có hoa vì lòng chảo Điện Biên Phủ còn nham nhở những đám cháy do bom đạn, hoa rừng chưa nở kịp”. Lễ cưới xong, đôi uyên ương từ hầm Đờ Cát đi ra, phóng viên báo Quân đội nhân dân đã chuẩn bị sẵn kịch bản bèn mời cô dâu chú rể lên đứng trên chiếc xe tăng của Pháp bên cầu Mường Thanh để chụp ảnh. Cô dâu chú rể cười tươi trên xe tăng trong tư thế các chiến sĩ xe tăng đứng trên xe duyệt binh qua Lễ đài mừng ngày chiến thắng. Đại tá Phạm Chí Nhân cựu cán bộ đại đoàn 308 sau này có kể về đám cưới này: “Công việc trao trả thương binh địch và thu dọn chiến trường vừa tạm ổn thì gia đình Quân Tiên phong lại có tin vui. Một đám cưới mà mọi người mong đợi từ lâu được tổ chức ngay tại sở chỉ huy cũ của địch đã trang trí lại… Tôi lại có dịp chúc mừng Đại đoàn phó Cao Văn Khánh, người chỉ huy cũng là thầy dạy toán của tôi ở trường trung học, đẹp duyên cùng chị Nguyễn Thị Ngọc Toản, y sĩ Cục Quân y đang phục vụ trên hỏa tuyến. Khí thế chiến thắng xen kẽ tình cảm lứa đôi. Vui duyên mới khi nhiệm vụ đã hoàn thành. Giản dị mà vô cùng thân mật. Một đám cưới hiếm thấy, một tình duyên bền chặt đến suốt đời”. Còn cô dâu, sau này là bác sĩ, giáo sư Nguyễn Ngọc Toản, trong một cuốn sách viết cho thiếu nhi bằng tiếng Pháp đã kể về đám cưới của mình như thế này: “Sau khi chiến dịch kết thúc, tôi kết hôn với anh Cao Văn Khánh. Nói thật là tôi còn do dự, vì tôi chưa xin phép được mẹ tôi. Nhưng các anh cán bộ xung quanh đều khuyên bảo và “nói vào”. Họ muốn mọi việc nhanh và nói rằng: chiến tranh đang còn. Không biết cái gì sẽ xảy ra. Nào. Không còn thì giờ để nghỉ phép nữa đâu, phải quyết định ngay thôi! Vậy là chúng tôi kết hôn trên trận địa Điện Biên Phủ trong hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát. Anh Trần Lương lúc đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam được phân công ở lại cùng anh Khánh giải quyết tù binh và thu dọn chiến trường, là người đứng ra làm chủ hôn, tổ chức cho chúng tôi một lễ cưới đơn giản. Ông tuyên bố mấy câu giản dị: Hôm nay chúng ta có mặt ở đây để chứng kiến ngày thành hôn của hai anh chị Nguyễn Thị Ngọc Toản và Cao Văn Khánh. Chúng tôi chúc mừng. Tiếp đó tôi hát bài Em bé Mường La, chồng tôi hát bài Bộ đội về làng. Chúng tôi uống rượu vang và ăn kẹo do quân đội Pháp thả dù xuống”. Mối tình thời chiến Không lãng mạn như những mối tình phim ảnh hiện đại, chuyện tình yêu của tướng Cao Văn Khánh và Nguyễn Thị Ngọc Toản bắt đầu một cách khá bất ngờ. Hồi đó là sau chiến dịch Biên giới, Đại đoàn 308 duyệt binh mừng chiến thắng. Trong dịp đó, ông Lê Quang Đạo bấy giờ là Cục trưởng cục Tuyên huấn có về dự. Ngoài việc công, ông Đạo còn có một “bí mật” giành cho đại đoàn phó Cao Văn Khánh. Đó là bức ảnh một cô gái có cặp mắt đen nhánh tinh nghịch và nụ cười hút hồn mà Cao Văn Khánh cảm giác đã gặp ở đâu đó rồi. Thì ra đây là con gái quan thượng thư bộ hình triều Nguyễn – Tôn Thất Đàn nhưng đã tham gia kháng chiến từ những ngày đầu quân Pháp trở lại xâm lược. Khi đó Ngọc Toản đã cùng vài người bạn trốn nhà đi vào Nam theo những đoàn quân Nam tiến. Sau đó Ngọc Toản vào học Đại học Y khoa. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Ngọc Toản tham gia đội điều trị 2 của Cục Quân y đóng trong rừng ở km62 Tuần Giáo. Qua sự mối mai của Lê Quang Đạo và nhiều đồng chí khác, mối duyên của Cao Văn Khánh và Nguyễn Ngọc Toản dần nảy nở. Có một kỷ niệm vui về chuyện tình của tướng Khánh. Thời ấy việc yêu đương là phải có người mối lái, đặt vấn đề giúp. Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đã nhận giúp bạn chiến đấu việc đến đặt vấn đề với gia đình Ngọc Toản. Khi ông Vũ gặp mẹ Ngọc Toản, ông thận trọng nói: “Thưa cụ, tôi có anh bạn rất tốt, đánh giặc rất giỏi. Đã bao lâu nay anh ấy chưa lấy vợ vì bận đánh giặc, nay muốn được làm rể cụ. Xin cụ cho phép anh ấy được viết thư tìm hiểu chị Toản!”. Bà cụ thủng thẳng trả lời: “Tui kén rể chứ đâu kén người đánh giặc giỏi. Con tôi đã trưởng thành rồi nên chỉ cần là người tốt và con tôi ưng ai thì tôi đồng ý người đó”. Ông Vương Thừa Vũ ra về cứ tấm tắc: “Tưởng cụ là vợ quan, lễ giáo phong kiến lắm, không ngờ bà cụ lại tân tiến như vậy!”. Nhưng vì thời chiến, Cao Văn Khánh là chỉ huy quân sự, thường xuyên đi chiến dịch, họ rất ít khi được gặp nhau. Mọi nhớ nhung, tình cảm chỉ qua những lá thư mà có khi cũng phải rất lâu mới đến được tay. Tuy vậy cuối cùng họ cũng đến được bến bờ hạnh phúc. Đặc biệt, lễ cưới của họ được tổ chức trong niềm vui chung của dân tộc với chiến thắng Điện Biên. Đám cưới lại tổ chức ngay trên trận địa Điện Biên Phủ, trong căn hầm chỉ huy của Đờ Cát mới thật ý nghĩa làm sao. Nó như một thông điệp rằng trên mảnh đất bom đạn chết chóc ngày hôm qua, hôm nay đã hòa bình hạnh phúc. Nơi mà những kẻ thực dân xâm lược đóng hang ổ nay thành hôn trường đám cưới. Một cuộc sống mới, một sự thay đổi đã thực sự bắt đầu sau chiến thắng Điện Biên.
KHÔNG THỂ VÔ ƠN! HÃY TỰ HÀO VỀ NHỮNG TRANG VÀNG LỊCH SỬ CỦA DÂN TỘC. - 541.933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam. - 849.018 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ bảo vệ tổ quốc vĩnh viễn nằm lại ở 10.000 nghĩa trang liệt sĩ trên khắp cả nước, Lào và Campuchia. Nhiều Liệt sỹ hy sinh đến nay vẫn chưa xác định được tên tuổi, quê quán, vẫn chưa tìm thấy mộ. - 15,4 triệu tấn bom đạn Mỹ và đồng minh đã dội xuống Việt Nam gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2; tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Việt Nam là quốc gia bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới. - 839 tỷ USD mà Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam. - 75.000.000 lít chất độc hoá học chủ yếu là chất độc da cam mà Mỹ đã huỷ diệt môi trường sống của Việt Nam khiến 5 triệu người Việt Nam và hàng trăm ngàn người Mỹ đến nay vẫn quằn quại vì chất độc hoá học này. - 05 năm là khoảng thời gian Việt Nam đàm phán với Mỹ để ký Hiệp định PARI, chấm dứt chiến tranh, một hiệp định có thời gian đàm phán dài nhất thế giới. - Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống Nhật Bản năm 1945. - Để có được chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam đã chiến đấu quả cảm trong cuộc chiến 10.000 ngày. Lần đầu tiên trên thế giới, một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại Đế quốc Mỹ một tên đầu sỏ hiếu chiến và hùng mạnh nhất thế giới. 47 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc lập, tự do./. ST
HỌC VÀ LÀM THEO BÁC CẦN KIÊN QUYẾT CHỮA CĂN BỆNH "NÉ" TRÁCH NHIỆM CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ HIỆN NAY Một trong những căn bệnh trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CCVC) tồn tại lâu nay là bệnh né tránh trách nhiệm, sợ trách nhiệm. Mặc dù đã được nhận diện và chỉ rõ là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị theo Nghị quyết T.Ư 4, khóa XII của Đảng, thế nhưng cho đến nay, căn bệnh này vẫn chưa được điều trị hiệu quả. Tác hại của căn bệnh này là rất lớn, đòi hỏi phải có phương thuốc đặc trị. Trong xã hội, bất kỳ ai cũng có trách nhiệm, bởi mỗi người đều có một vị trí nhất định trong các mối quan hệ xã hội, như gia đình, dòng họ, địa phương, tập thể, tổ chức chính trị - xã hội, công dân của một nước, thành viên của cộng đồng dân tộc và rộng nhất là của nhân loại… Trong đó, trách nhiệm công vụ có thể coi là hạt nhân tiêu biểu trong tập hợp các trách nhiệm. Đó là vì, suy cho cùng, trách nhiệm ấy là nhiệm vụ mà đất nước giao cho cá nhân cán bộ, CCVC theo chức trách được phân công. Trách nhiệm công vụ đòi hỏi cán bộ, CCVC phải thực hiện nhiệm vụ được giao đến cùng, không thể thoái thác hoặc trao lại cho ai khác, buộc người cán bộ, CCVC phải gắn mình với thực hiện công vụ cho đến khi có kết quả. Vì thế, khi đánh giá cán bộ, CCVC, cụm từ “làm tròn nhiệm vụ”, “hoàn thành nhiệm vụ”, “hoàn thành tốt nhiệm vụ” thường được dùng để nói về việc đã thực hiện đúng, đủ, tốt nhiệm vụ theo chức trách được phân công. Trong Bộ luật Hình sự có quy định tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Vừa qua, có rất nhiều vụ án lớn, khiến Nhà nước bị thất thoát hàng nghìn tỷ đồng, mà trong đó rất nhiều người giữ các trọng trách đã bị kết án vì tội này. Ví dụ như, vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm gây thất thoát hơn 15.000 tỷ đồng khiến ông Đặng Thanh Bình, nguyên Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng 4 cán bộ dưới quyền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Tương tự, bản án dành cho hai vị từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Công an là Bùi Văn Thành và Trần Việt Tân cũng vì “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng“… Tội “thiếu trách nhiệm” ở những trường hợp này được hiểu là làm không hết trách nhiệm, quản lý kém, thiếu kiểm tra, không phát hiện để cấp dưới sai phạm pháp luật gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Tất nhiên là nguyên nhân sâu xa của việc thiếu trách nhiệm trong từng trường hợp cụ thể là rất khác nhau. Nhưng có thể thấy trong khi nền kinh tế đang mở rộng quy mô, vốn và tài sản ngày càng nhiều thì những cán bộ ở vị trí quản lý càng cao mà thiếu trách nhiệm thì hậu quả rất khủng khiếp. Thế nhưng, bệnh né tránh trách nhiệm, lẩn tránh nhiệm vụ cũng gây ra hậu quả, thiệt hại không kém. Đến mức tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương để đánh giá tình hình 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 vừa được tổ chức thì căn bệnh né tránh trách nhiệm được chỉ đích danh là một trong những trở lực của phát triển, gây lãng phí lớn, thậm chí gây mất niềm tin. Biểu hiện “né” trách nhiệm cao độ là trong thời gian qua, rất nhiều việc đáng lẽ phải được giải quyết ở cấp dưới, ở cấp cơ sở, nhưng vì cấp dưới, cấp cơ sở không giải quyết, mà cứ dồn dần lên cấp trên, nên cuối cùng rất nhiều nhiệm vụ lên đến tận cấp quản lý hành chính cao nhất là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Điều này rõ ràng làm giảm hiệu quả quản trị của cả hệ thống, gây dồn ứ nhiệm vụ. Nhiều cấp có thể ra quyết định quản lý theo đúng thẩm quyền thì lại có xu hướng trở thành cấp trung gian, trung chuyển trách nhiệm, và cả hệ thống phải chờ cấp cao nhất ra quyết định quản lý thì mới thực thi được. Nhiều việc vì thế chậm được giải quyết. Xu hướng “dồn việc lên trên” này xuất hiện cả trên bình diện quốc gia và trong mỗi cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Đẩy lên cấp trên hoặc đẩy cho bộ phận khác là phương án rất dễ, nhiệm vụ coi như không liên quan gì nữa tới mình, nhưng việc thì vẫn còn nguyên. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, mọi thứ ở xung quanh chúng ta luôn luôn vận động, có những điều luật hôm nay là đúng nhưng ngày mai không còn phù hợp, có những quy trình trong quá khứ là được nhưng hiện tại cần phải thay đổi. Quá trình cải cách thể chế, cải cách hành chính quyết liệt của nước ta hiện nay cũng là để đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Vì thế, người cán bộ, CCVC luôn phải lắng nghe cuộc sống, nắm bắt cuộc sống, trên tinh thần phục vụ nhân dân tốt nhất, chứ không phải cứ việc mình mình làm, “nhắm mắt, bịt tai”, tuân thủ đúng quy trình, đúng nhiệm vụ được giao, không cần quan tâm đến hiệu quả và hậu quả của việc ấy. Nếu cứ làm đúng quy trình, quy định, bất chấp kết quả thì đúng là người cán bộ, đảng viên, CCVC sẽ tránh được những rắc rối cho bản thân, để được yên thân, mặc dù kết quả chung có thể không tốt. Nhưng nếu như thế, hệ thống của chúng ta rất dễ rơi vào trạng thái vô cảm. Một người bác sĩ cần phải cảm nhận được nỗi đau của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, từ đó mới đưa ra được phương án điều trị đúng nhất. Chúng ta cần khuyến khích mỗi người trong đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải luôn luôn mở rộng giác quan để vui khi nhiệm vụ, chức trách của mình được hoàn thành tốt, và phải đau khi nhiệm vụ giao cho mình không được làm tốt, hoặc những việc không hẳn được giao cho mình nhưng mình nhìn thấy chưa được giải quyết tốt. Nỗi đau này còn phải vượt lên sự lo lắng cho tồn tại của bản thân trong hệ thống, vì nó xuất phát từ lương tâm, là danh dự với công việc, là lý tưởng, là lẽ sống của mỗi cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, để khuyến khích tinh thần tự giác, dám đương đầu với khó khăn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì cách đánh giá cán bộ cũng cần được nghiên cứu phù hợp; xóa tư tưởng “an phận thủ thường” vì “làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, CCVC hiện nay. Cách đánh giá cần phải giúp cho cán bộ, đảng viên vững tâm rằng nếu mình hành động vì lợi ích chung, vì cái chung thì sẽ được nhìn nhận đúng, sẽ không gặp rắc rối. Còn nếu “làm ít” hoặc “không làm” cũng chẳng khác nào đang làm sai, bởi vì gây ra hậu quả rất tiêu cực, rất nghiêm trọng./.

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CỦA CỐ TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN!

     Ngay từ thời điểm sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam vẫn có hơn 1 triệu quân chính quy. Một nhà lãnh đạo Liên Xô khi ấy hỏi TBT Lê Duẩn:
- Các đồng chí định đánh nhau với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?
Ông Lê Duẩn đáp: - Rồi sau này đồng chí sẽ hiểu!
Rõ ràng đó không phải một sự cẩn thận thừa thãi, khi mà chỉ 4 năm sau, Việt Nam đã phải cùng lúc chống chọi với hai cuộc chiến tranh ở hai đầu đất nước: Trung Quốc ở biên giới phía Bắc và Khmer Đỏ ở biên giới Tây Nam.
      Trước thời điểm chiến tranh Biên giới Việt - Trung nổ ra, vào dịp Tết Nguyên đán năm 1979, TBT Lê Duẩn tâm sự với con rể của mình - GS Hồ Ngọc Đại: “Trung Quốc sẽ đánh mình nhanh thôi”. Trước đó không lâu, Đặng Tiểu Bình đã có cuộc gặp với TT Mỹ Jimmy Carter, tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ và các nước phương Tây đối với việc phát động chiến tranh. Hai tuần sau Tết Nguyên đán 1979, Đặng Tiểu Bình lệnh cho 600.000 quân Trung Quốc tấn công Việt Nam. Có nhiều người nói, Việt Nam đã bất ngờ về cuộc chiến tranh đó. Nhưng đó có thể là sự bất ngờ đối với ai khác, chứ không phải đối với TBT Lê Duẩn.
Sau năm 1975, khi giao nhiệm vụ cho Nhà ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đàm phán với Mỹ để thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, ông Lê Duẩn đã dặn dò ông Nguyễn Cơ Thạch: “Sau lưng một kẻ thù, đôi khi ta có thể tìm thấy một người bạn. Sau lưng một người bạn, đôi khi sẽ là kẻ thù”.
     Sáng ngày 17.2.1979, chiến tranh biên giới nổ ra ở Biên giới phía Bắc. Tin tức đó được báo về Hà Nội ngay lập tức cho các lãnh đạo đất nước, trong đó có TBT Lê Duẩn.
Ông Lê Kiên Thành (con trai Cố tổng bí thư Lê Duẩn) kể: “17.2.1979 tình cờ lại là ngày tôi kết hôn. Tôi lúc đó vẫn còn trong quân ngũ, công tác ở một đơn vị không quân. Nhưng buổi sáng, đơn vị gọi tôi quay lại đơn vị gấp vì chiến tranh nổ ra. Sau khi nhận được tin báo, tôi xuống phòng ba tôi, hỏi ông:
- Có thật là Trung Quốc đã tấn công chúng ta không ba?
Ba tôi trả lời: - Ừ, họ đánh ta trên toàn tuyến biên giới.
Tôi lại hỏi: - Vậy có lẽ con nên hoãn đám cưới tối nay lại….
Ba tôi nói: - Con không cần làm việc đó. Chúng ta luôn cần phải sống bình thường hết mức chúng ta có thể bên cạnh những cái không bình thường. Nếu 20 năm chiến tranh chống Mỹ và 9 năm chiến tranh chống Pháp mà không ai lấy vợ, lấy chồng, sinh con đẻ cái, thì đất nước này sẽ đi về đâu?

Tối hôm đó, đám cưới của tôi vẫn diễn ra ở số 6 Hoàng Diệu. Có một chút bánh kẹo, có mấy ấm trà. Bác Trường Chinh, bác Lê Đức Thọ, bác Phạm Văn Đồng… là những người tham dự đám cưới. Tôi cũng mời thêm vài người bạn cùng đơn vị. Hôn lễ của tôi chỉ kéo dài trong 1 tiếng đồng hồ, ngay trong ngày đầu cuộc chiến nổ ra. Nhưng ba tôi và các Ủy viên Bộ Chính trị không hề có vẻ gì lo lắng.

Ngay sau khi đám cưới, tôi quay trở lại đơn vị trực chiến, Thủ trưởng của tôi – người đã tham dự hôn lễ tối hôm trước nói với tôi: “Hôm qua đám cưới mọi việc vẫn bình thường, đặc biệt, nhìn nét mặt ông già mày như vậy, tao tin Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ đánh đến Hà Nội được”./.
Yêu nước ST.
CÓ NHỮNG CÂU CHUYỆN MÃI MÃI KHÔNG BAO GIỜ CŨ.! Ông Sedgwick Tourison,một người lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam vào năm 1961, nói rằng một kỷ niệm khiến ông không bao giờ quên đó là tình cảm đặc biệt của nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ông Sedwick kể lại câu chuyện bằng tiếng Việt: “Tôi là cựu chiến binh, tôi nghĩ 99% người Mỹ đều biết Bác Hồ là ai. Tại vì ai cũng gọi ông là Bác Hồ giống như theo kiểu của người Việt Nam. Có một lần chúng tôi đi hành quân ở vùng bắc Bình Định, những người dân thường bị một đơn vị lính Mỹ bắt đưa về để khai thác. Lúc đó chúng tôi hỏi là có biết tên của tỉnh trưởng không? – Họ không biết. Có biết tên của quận trưởng không? – Họ cũng không biết luôn. Thế chúng tôi lại hỏi có biết tên của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa không? Họ cũng không biết. Cuối cùng chúng tôi hỏi thế có biết Bác Hồ không? – Họ trả lời ngay “Biết chứ. Ai cũng biết mà”. Riêng cá nhân tôi biết Ông là một người yêu nước, muốn đoàn tụ dân tộc Việt Nam như là câu nói của Ông “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Tôi nghĩ hai câu này đúng 100%”. -HÌNH ẢNH:Những người lính Mĩ cầm trên tay ảnh Bác Hồ và nói về Người với sự hiếu kì về NGƯỜI CHA GIÀ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM,bằng sự kính trọng của một người lính bị ép buộc vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, dành cho một con người vĩ đại lãnh đạo cuộc cách mạng chính nghĩa của dân tộc Việt Nam.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN TẦM VÓC, Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4/1975 Xuyên tạc, phủ nhận Ngày Chiến thắng 30/4/1975 là thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực thù địch thường đẩy mạnh mỗi khi tháng Tư hằng năm về, nhằm hạ thấp tầm vóc, ý nghĩa và giá trị cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Tuy nhiên, đó chỉ là những tiếng nói lạc lõng. 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm (1954 - 1975). Kể từ đó, ngày 30/4 hằng năm trở thành ngày lễ chính thức của nhân dân Việt Nam, được đặt tên là Ngày Chiến thắng, hoặc Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Nhân dịp sự kiện lịch sử trọng đại này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thường tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm. Thế nhưng, như đã thành thông lệ, đến thời gian này, một số đối tượng chống cộng cực đoan ở hải ngoại lại tung ra các bài viết, trả lời phỏng vấn với cách nhìn sai lệch, hằn học về Ngày 30/4/1975. Họ gọi cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ tiến hành ở Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975 là “cuộc nội chiến giữa hai miền Nam - Bắc”; gọi ngày 30/4/1975 là “Ngày Quốc hận” và tháng 4/1975 là “Tháng tư đen”,… nhằm xuyên tạc tính chất, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, kích động sự thù hận còn đọng lại trong một bộ phận người vẫn luyến tiếc thân phận làm tay sai cho đế quốc Mỹ. Tuy nhiên, đó chỉ là những tiếng nói lạc lõng, không che lấp được tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4. Về tính chất của cuộc chiến tranh (1954 -1975) ở Việt Nam, tất cả những bằng chứng lịch sử đều khẳng định rằng, đây là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do đế quốc Mỹ tiến hành. Âm mưu của đế quốc Mỹ là nhằm “Tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước của nhân dân ta, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, lập phòng tuyến ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam châu Á; đồng thời, lấy miền Nam làm căn cứ tiến công miền Bắc, tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á, hòng đè bẹp và đẩy lùi chủ nghĩa xã hội ở vùng này, bao vây và uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác”1. Để thực hiện âm mưu đó, đế quốc Mỹ đã tiêu tốn 676 tỉ USD, “huy động lúc cao nhất tới 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân”2; có lúc hơn nửa triệu quân Mỹ hiện diện trên chiến trường miền Nam Việt Nam (chưa kể quân của một số nước đồng minh), cùng các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại nhất được huy động để chống lại nhân dân Việt Nam. Những cứ liệu đó đã bóc trần sự xuyên tạc của luận điểm cho rằng: “đây là cuộc nội chiến của những người Việt Nam với nhau”. Nhiều học giả phương Tây, chính khách Hoa Kỳ và những người từng phục vụ trong chế độ Sài gòn cũng bác bỏ luận điểm đó. Tác giả cuốn sách Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ (xuất bản năm 1991 tại Mỹ) đã khẳng định rằng: “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng Nam Việt Nam”3. Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, đã thừa nhận: “Chúng ta đã sai lầm. Việc đưa các lực lượng quân sự Mỹ vào Việt Nam là biện pháp giải quyết tồi nhất”. Còn giáo sư Trần Chung Ngọc - cựu sĩ quan quân đội Sài Gòn thẳng thắn chỉ ra: “Với những hiểu biết mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ, Mỹ xâm lăng vì cái thuyết Đomino sai lầm,… Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái”4. Ngay Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng thừa nhận: “Đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ. Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu làm “kép nhất”, và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”5. Chỉ cần bằng vài cứ liệu lịch sử nói trên cũng có thể khẳng định: cuộc chiến từ năm 1954 đến năm 1975 ở Việt Nam không phải là “nội chiến”, mà là cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Cuộc kháng chiến đó đã giành được thắng lợi trọn vẹn vào ngày 30/4/1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Xe tăng của Quân đội ta tiến vào Dinh độc lập, ngày 30/4/1975. Ảnh: Tư liệu Về tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4/1975, tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam coi đó là một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển mới, rực rỡ hơn cho đất nước; không phải là “Tháng tư đen” hay “ngày Quốc hận” như sự than vãn của một nhúm người chống cộng cực đoan ở hải ngoại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với thắng lợi quyết định vào ngày 30/4/1975 có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, hòa bình cho đất nước, đồng thời có ý nghĩa tầm vóc thời đại. Đánh giá tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng 30/4, Đại hội lần thứ IV của Đảng ta đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”6. Đối với cách mạng Việt Nam: đó là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc. Nhân dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất trong thế kỷ XX của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc - thời kỳ Tổ quốc ta được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, cả nước được sống trong hòa bình, tự do để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Với thắng lợi này, Đảng và nhân dân ta có điều kiện tập trung mọi nguồn lực vật chất và tinh thần để tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Có thể nói rằng, không có Chiến thắng 30/4, chúng ta không có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong gần 50 năm qua. Ngày nay, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước vào năm 2020 đã đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư trong ASEAN. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, phải nhập khẩu lương thực, ngày nay nước ta đã trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều mặt hàng nông sản (cà phê, hạt điều, thủy sản, cao su,…) đứng trong tốp đầu thế giới. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP. Nước ta đã có quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, bao gồm cả năm nước Thường trực Hội đồng Bảo an; có quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của nhiều định chế kinh tế quốc tế lớn; hai lần đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và còn giữ nhiều trọng trách quan trọng trong các tổ chức quốc tế khác. Đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đứng đầu thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Những thành tựu đó cho thấy, từ sau ngày 30/4/1975, đất nước không “đen tối, u ám” như các thế lực thù địch, phản động tuyên truyền; ngược lại, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”7. Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, qua gần 50 năm xây dựng, phát triển và hàn gắn vết thương chiến tranh, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố luôn phát huy tinh thần Chiến thắng của ngày 30/4/1975, vượt qua những khó khăn, thách thức, để giành được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Thành phố đã trở thành một đô thị đặc biệt, một trung tâm về nhiều mặt của cả nước, luôn giữ vững vị trí đầu tàu kinh tế của đất nước, đóng góp 23% GDP và 27% vào ngân sách quốc gia. Chất lượng cuộc sống của người dân Thành phố được nâng cao, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống của các đối tượng nghèo, gia đình chính sách được chăm lo chu đáo với nhiều chính sách tiến bộ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn Thành phố được giữ vững. Thực tiễn trên là minh chứng hùng hồn bác bỏ sự xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4/1975. Đối với thế giới: thắng lợi ngày 30/4/1975 của nhân dân ta là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, đập tan cuộc phản công chiến lược lớn nhất (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai) của chủ nghĩa đế quốc vào ba trào lưu cách mạng của thời đại, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam châu Á; góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ, động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào và Campuchia giành thắng lợi; mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân mới trên toàn thế giới. Chiến thắng 30/4/1975 của nhân dân Việt Nam đã khẳng định một chân lý: trong thời đại ngày nay, một dân tộc nước không rộng, người không đông, kinh tế kém phát triển, nhưng biết đoàn kết và quyết tâm, có một đường lối cách mạng đúng đắn và sáng tạo phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình và được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế thì có thể hoàn toàn đánh bại mọi thế lực xâm lược mạnh hơn gấp bội. Gần 50 năm đã trôi qua, nhưng tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4/1975 vẫn tiếp tục tỏa sáng, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường đổi mới, xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hùng cường và hạnh phúc, sánh vai với các nước phát triển. Lịch sử và hiện thực bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị Ngày Chiến thắng 30/4 của nhân dân ta./.
NHẬN DIỆN CHIÊU TRÒ VÀ THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦACÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH Các chiêu trò và thủ đoạn chống phá của quan điểm sai trái, thù địch là vô cùng nham hiểm, rất thâm độc thông qua âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, không thể xem thường, đó là: Một là, tạo dư luận phản cách mạng, tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông để tiến hành tuyên truyền xuyên tạc, lừa gạt, làm nhiễu loạn thông tin trên lĩnh vực nghe, nhìn và lĩnh vực tư tưởng, từ đó làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa cộng sản của mọi người dân, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai là, xâm nhập tư tưởng, tiến hành nhiều hoạt động gián điệp, “ngoại giao thân thiện”, “viện trợ nhân đạo”, tạo cớ để tăng cường tiếp xúc với nhân dân ta, kết hợp với trao đổi văn hóa, y tế, giáo dục… qua đó truyền bá tư tưởng chính trị, lối sống thực dụng của phương Tây cho người dân. Ba là, kiềm chế về kinh tế, sử dụng nhiều chiêu bài để kinh tế nước ta lệ thuộc hoặc thêm khó khăn về kinh tế, từ đó gây áp lực, đặt ra yêu sách về vấn đề chính trị như: viện trợ kinh tế, kỹ thuật, công nghệ kèm theo điều kiện để xâm nhập, chuyển hóa, khống chế và khi cần sẽ thúc ép trả nợ hoặc đưa ra các đòn “trừng phạt kinh tế” buộc chúng ta phải nhượng bộ về chính trị. Bốn là, nuôi dưỡng các “thế lực dân chủ”, phá hoại “bức tường đồng, vách thép” của chủ nghĩa xã hội; “gieo trồng hạt giống tự do”, nuôi dưỡng những “chiến sĩ dân chủ”… tiến tới “giải phóng dân chủ” ở Việt Nam. Mục tiêu của các thế lực thù địch là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ chính trị nước ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Chủ thể của các quan điểm sai trái, thù địch là một số quốc gia, tổ chức quốc tế thù địch, chống phá Việt Nam; các tổ chức phản động lưu vong nước ngoài; các đối tượng phản động, chống đối; cơ hội chính trị, có quan điểm chính trị rất phức tạp ở trong nước; các đối tượng xấu, tung tin sai trái, thù địch, thông tin độc hại nhằm trục lợi. Ngoài ra, những người đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam, có lòng hận thù Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta. Nội dung của quan điểm sai trái, thù địch là chống phá, xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận những cống hiến, đóng góp của Người cho dân tộc, cho nhân loại; kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; phủ nhận thành tựu cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo; thổi phồng khuyết điểm, hạ thấp và phủ nhận thành tựu đổi mới đất nước; xuyên tạc, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vị thế của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an./.
NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TẤN CÔNG VÀO NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA VỚI BIỂU HIỆN RẤT ĐA DẠNG Quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin là đúng đắn nhưng chỉ đúng đắn trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí. Còn hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (Big data). Hay nói như một số nhà lý luận phương Tây là thời đại “hậu công nghiệp”, kinh tế - xã hội có rất nhiều đổi thay, vì vậy hiện nay chủ nghĩa Mác - Lênin không còn phù hợp nữa. Trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại. Những quan điểm cho rằng thế giới đã có sự thay đổi “quyền lực”. Chẳng hạn, Alvin Toffler cho rằng “quyền lực” trong quá trình vận động và phát triển của chính bản thân nó đã trải qua các hình thức phát triển: Đi từ “bạo lực quyền, đến của cải quyền, rồi đến tri thức quyền” hay có người gọi là “trí quyền”. Nghĩa là thuở hoang sơ, phải dùng sức mạnh bạo lực mới có quyền lực như thông qua xâm lược, ăn cướp,...; sau đó kẻ nào có tiền là có quyền lực và đến hiện nay, ai có trí tuệ, có tri thức là có quyền lực (trí quyền). Nếu thoáng qua chúng ta thấy có vẻ hợp lý, bởi lẽ trong một xã hội chưa hoàn thiện, còn dựa trên sở hữu tư nhân thì kẻ nào có tiền thì kẻ đó có quyền lực. Nhưng thực chất ở đây, Alvin Toffler muốn khẳng định rằng chủ nghĩa tư bản hiện đại đã thay đổi, không còn xâm lược hay bạo lực nữa, có tiền cũng không có quyền lực nữa, giai cấp công nhân không còn vai trò sứ mệnh lịch sử giải phóng lao động nữa mà tầng lớp trí thức mới đóng vai trò này trong xã hội hiện đại. Nếu tách quyền lực ra khỏi sản xuất vật chất, ra khỏi kinh tế thì quyền lực không còn cơ sở để tồn tại nữa. Xét về bản chất, quyền lực vẫn do kinh tế quyết định. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph.Ăngghen khi phê phán Đuyrinh vì không hiểu bạo lực đã viết “vậy một lần nữa, bạo lực lại do tình hình kinh tế quyết định, tình hình kinh tế cung cấp cho bạo lực những phương tiện để tạo ra và duy trì những công cụ bạo lực”1. Đồng thời, Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng “bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, những điều kiện kinh tế và tài nguyên kinh tế đều là những cái đã giúp cho “bạo lực” chiến thắng, nếu không có những điều kiện và tài nguyên đó thì bạo lực không còn là bạo lực nữa”2. Điều này hoàn toàn phù hợp, tương thích với quyền lực. Do vậy, nếu có tri thức nhưng không có điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất để chuyển hóa những tri thức ấy thành của cải vật chất thì tri thức ấy cũng không có vai trò gì. Cho nên cách tiếp cận của Alvin Toffler chỉ là một cách xa rời khôn khéo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà thôi. Quan điểm khác cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập, được V.I.Lênin phát triển là sản phẩm của sự phát triển kinh tế, văn hóa của châu Âu là chủ yếu. Mà đó lại là châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Do vậy, đối với châu Âu hiện nay thì nó không còn phù hợp. Đối với châu Á thì càng không phù hợp. Bởi lẽ, châu Á có sự phát triển kinh tế khác, có trình độ văn hóa, cùng phong tục, tập quán khác châu Âu. Do vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin không phù hợp với Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên,... Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, cơ sở, do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không thể và không nên vận dụng vào Việt Nam. Vì vậy, không nên lấy học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng cho dân tộc Việt Nam. Đúng là các châu lục khác nhau có những đặc thù khác nhau trong quá trình vận động, phát triển. Nhưng như thế không có nghĩa mỗi châu lục phải có nền toán học, vật lý, hóa học, hay khoa học nói chung riêng biệt. Tại sao các dân tộc khác nhau ở những châu lục khác nhau họ có thể hiểu được các tác phẩm văn học, nghệ thuật, những tác phẩm điện ảnh v.v. của nhau được? Họ hiểu được những điều này là bởi lẽ, mặc dù giữa các dân tộc có sự khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý nhưng họ đều dựa trên những tri thức khách quan, những quy luật khách quan được phản ánh trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật, điện ảnh đó. Chính những tri thức khách quan, chính cái quy luật khách quan hay nói khác đi chính cái biện chứng khách quan đã quy định cái biện chứng chủ quan trong đầu óc họ. Các tri thức khách quan, các quy luật khách quan không phụ thuộc vào ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán, chỉ phụ thuộc vào nội dung khách quan mà nó phản ánh. Các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, tập quán... chỉ làm cho các tri thức khách quan, các quy luật khách quan được phát hiện, trình bày mang thêm sắc thái chủ quan khác nhau mà thôi chứ nội dung khách quan mà chúng phản ánh vẫn là một, là không đổi. Đúng như V.I.Lênin đã viết “Những khái niệm của con người là chủ quan trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quan trong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồn gốc”3. Chủ nghĩa Mác - Lênin mặc dù ra đời từ những năm 40 của thế kỷ XIX, nhưng luôn được bổ sung, phát triển và dù được trình bày bằng ngôn ngữ nào thì nó vẫn phản ánh đúng quy luật vận động khách quan của lịch sử loài người, trong đó có quy luật: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”4. Chính vì vậy, giai cấp tư sản không thích thú gì với học thuyết khoa học chỉ ra rằng chính họ - chính giai cấp tư sản - sẽ bị sụp đổ cả. Vì vậy, việc họ quyết liệt chống đối, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và những chủ thuyết dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin là điều không khó hiểu. Có quan điểm đồng nhất sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung, sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội nói riêng. Từ đây, họ ca ngợi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ. Cho rằng chính chủ nghĩa xã hội dân chủ là mô hình phát triển phù hợp với thế giới đương đại, vừa tích hợp được những mặt mạnh của chủ nghĩa tư bản với mặt mạnh của chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, có một số ý kiến cho rằng những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, mặc dù có những bất cập nhất định nhưng tốc độ phát triển kinh tế nhanh, những vấn đề xã hội, môi trường thường được giải quyết tốt hơn các nước đi theo chủ nghĩa xã hội. Hơn nữa, các nước đi theo chủ nghĩa xã hội thường xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán. Chính tình trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán đã cản trở xã hội phát triển lành mạnh. Họ thường đồng nhất những yếu kém, hạn chế của chủ nghĩa xã hội hiện thực, hay những sai lầm, hạn chế của một số đảng cộng sản để minh chứng cho sự không đúng đắn của học thuyết Mác - Lênin. Những loại ý kiến này đều sai lầm ở một điểm là đồng nhất một mô hình chủ nghĩa xã hội sai lầm với chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội nói chung. Họ cố tình làm ngơ trước những thành tựu của chủ nghĩa xã hội cải cách, mở cửa, đổi mới ở Cộng hòa Cuba, Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên. Họ đồng nhất hiện trạng tham nhũng, quan liêu, độc đoán với chủ nghĩa xã hội. Chúng ta không phủ định những hạn chế biểu hiện ở tình hình tham nhũng, quan liêu, độc đoán ở một số nước xã hội chủ nghĩa, nhưng hiện trạng này cũng tồn tại ở các nước tư bản phát triển, ở các nước không đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Dường như hiện trạng này tồn tại khá phổ biến trên thế giới, không loại trừ quốc gia nào. Nó là căn bệnh của bộ máy quan liêu mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang quyết tâm làm trong sạch./.
XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG 30/4/1975 - CON ĐƯỜNG SAI LẦM, PHI LÝ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH Mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), các trang mạng xã hội phản động ở ngoài nước như Việt Tân, Nhật ký yêu nước, Vietline.TV, VOA, BBC News, Tin Tức Hoa Kỳ, Hoa Kỳ Channel..., lại như “nấm mọc sau cơn mưa”, đồng loạt đăng tải các bài viết, video, hình ảnh xuyên tạc và phủ nhận thành quả của cuộc kháng chiến trường kỳ của quân và dân ta trong suốt hơn 20 năm kháng chiến chống Đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai chính quyền Ngụy Sài Gòn. Chúng luôn rêu rao rằng đó là “ngày quốc hận” khi Đảng Cộng sản Việt Nam cho quân Bắc Việt xâm chiếm miền Nam; “tháng 4 là tháng vo gạo bằng nước mắt”, “tháng 4 đen”; đây “thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào”;....(?!) Đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phi lý, mong muốn của những phần tử cơ hội, phản động và những thế hệ “lưu vong” tàn dư của chế độ Việt Nam Cộng hòa. Tuy nhiên, những luận điệu ấy đã bị chính những giá trị lịch sử, ý nghĩa trọng đại của Chiến thắng 30/4/1975 và thành tựu qua hơn 35 năm đổi mới của đất nước ta phủ nhận, phản biện. Bởi trên thực tế, để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, đất nước ta đã phải kinh qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, có những thời điểm tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”,… của quân và dân ta và sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè Quốc tế, Tổ quốc ta đã thu về một mối bằng chiến thắng 30/4/1975 lừng lẫy năm Châu, chấn động địa cầu. Chiến thắng đó thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam, không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ. Chiến thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc như một trong những trang sử chói lọi nhất, khẳng định tầm vóc vĩ đại, thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của cả dân tộc, đánh dấu bước ngoặt quyết định đưa nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước 47 năm qua và qua hơn 35 năm đổi mới, nhờ thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành tựu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế phát triển mạnh, quốc phòng an ninh được giữ vững, củng cố và tăng cường; uy tín, vị thế nước ta trên trường Quốc tế và khu vực ngày càng được khẳng định và năng lên. Việt Nam được cộng đồng Quốc tế ghi nhận và đánh giá cao những đóng góp hiệu quả trong tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc. Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Điều đó minh chứng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần đoàn kết, yêu nước, yêu chuộng hòa bình, cố kết dân tộc và cộng đồng, Việt Nam đã và đang vươn lên, phát triển giàu đẹp, thịnh cường, khẳng định vị thế trên trường Quốc tế. Những thành quả đó sẽ là minh chứng sắc bén bẻ gãy mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chiến thắng 30/4/1975 bất diệt, là niềm tin để đất nước ta tiếp tục thành công với con đường Xã hội Chủ nghĩa./.

NHỮNG NỘI DUNG MỚI TRONG THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ

             1. Nội dung quy định về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Quy định mới cơ bản giữ như Quy định số 29-QĐ/TW. Đồng thời, để thống nhất giữa các quy định của Trung ương đã ban hành, quy định mới đã bổ sung một số căn cứ xây dựng quy chế làm việc của cấp ủy, tổ chức đảng (vào Điểm 9.1.1) và diễn đạt lại là: “Căn cứ vào Điều lệ Đảng, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy và quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên, các cấp ủy đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy phải xây dựng quy chế làm việc bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được giao. Tổ chức đảng có trách nhiệm báo cáo với tổ chức đảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp biết quy chế làm việc của tổ chức mình”.

        2. Nhằm đồng bộ với các quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của đảng viên, Quy định mới đã bổ sung cụm từ “kiểm điểm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên” (vào Điểm 9.2.1) và diễn đạt lại là: “Hằng năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở và tương đương trở lên, cấp ủy cấp cơ sở, đảng đoàn, ban cán sự đảng, lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể, cấp ủy viên các cấp và đảng viên phải tự phê bình và phê bình tập thể, cá nhân, kiểm điểm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; có kế hoạch, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm”.

        3. Bổ sung cụm từ “tiêu cực” và cụm từ “thực hiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên” (vào Điểm 9.2.2) về thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình và diễn đạt lại là: “Đối với cá nhân cấp ủy viên, ủy viên ban thường vụ cấp ủy, ủy viên đảng đoàn, ban cán sự đảng, ủy viên ủy ban kiểm tra phải đi sâu kiểm điểm về trách nhiệm chính trị, mức độ phấn đấu hoàn thành công việc được giao và những vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm cá nhân; về giữ gìn phẩm chất cá nhân (tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu) và thực hiện các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên”.

VTT(St)