Thứ Hai, 20 tháng 6, 2022

NHẬN DIỆN NHÀ BÁO BẨN, NHÀ BÁO HAI MẶT

 

Thời gian qua, dư luận nói nhiều về nhà báo hai mặt, nhà báo bẩn. Đây không phải là chuyện bây giờ mới có, nhưng nghiêm trọng nhất là những năm gần đây. Vấn đề là làm thế nào để nhận diện? 

Nhà báo hai mặt

Nhận thức của loại nhà báo này không bình thường, cái gì cũng bị méo mó, lệch lạc. Tròn thì nói méo; đúng thì lại nói sai; dài thì nói ngắn; xấu thì cho là tốt, tốt thì cho là xấu, hay chọc khoáy chính trị. Điều dị dạng nhất là loại nhà báo này có tới hai bộ mặt, lúc thì đỏ, lúc thì đen; lúc thì chính, lúc thì tà, rất khó nhận diện, rất nguy hiểm. Khi viết đăng báo chính thống thì viết như thế này, nhưng khi nhảy múa trên mạng thì lại viết thế kia; thích bóp méo, xuyên tạc sự thật; doanh nghiệp nào mà không kiếm ăn được thì chống phá; chống cả Đảng và Nhà nước.

Hiện đã có không ít nhà báo hai mặt bị xử tù. Cụ thể là Phạm Thị Đoan Trang đã bị xử về tội tuyên truyền chống Nhà nước; gần đây nhất có nhóm “báo sạch” nhưng chẳng sạch chút nào. Theo kết luận giám định của cơ quan chức năng TP Cần Thơ, nhóm báo này có các bài viết và clip mang tính phản động, đi sâu khai thác những thông tin có nội dung không phù hợp với lợi ích đất nước; xuyên tạc, phỉ báng chính quyền… Đối với các doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế, thì loại nhà báo này nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong; trước mặt thì khen nhưng sau lưng thì dìm, đè; kiếm ăn được thì tâng bốc ca ngợi; không kiếm ăn được thì rình mò, xoi mói, xuyên tạc, hãm hại bằng cách khai thác mặt xấu mà không bao giờ nhìn thấy cái tốt cả… Vì thế, những nhà báo hai mặt này là hết sức nguy hại, tác động tiêu cực, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với báo chí.

Hoạt động của các nhà báo này là họ thường đến doanh nghiệp và các địa phương đặt vấn đề viết bài, kèm theo đó là lời yêu cầu về giá cả. Địa phương hay doanh nghiệp nào từ chối thì các nhà báo này hù dọa. Địa phương, doanh nghiệp nào yếu bóng vía thì phải bôi trơn để tránh phiền hà. Địa phương, doanh nghiệp nào từ chối, thì đám báo bẩn này coi họ như là cái gai, rồi chọc phá, xuyên tạc, vu khống…

Cách đây khoảng 25 năm, cố nhà báo lão thành Hữu Thọ nói rằng: Trong làng báo dường như đang hình thành quyền lực đen. Họ có một ekip “đâm thuê chém mướn” hùn hạp vào với nhau, khen cùng khen, chê cùng chê; khen tập thể và đánh hội đồng. Một báo đánh đã muốn tiêu rồi, nhiều báo mà hùa nhau đánh cùng lúc, đánh dai dẳng thì sống sao nổi. Dù sau này có minh oan đi chăng nữa thì “được vạ má đã sưng”…

Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ công nghệ thông tin đã làm cho quyền lực đen này mặc sức tung hoành và biến tướng theo kiểu: Sáng đăng bài, trưa gặp đối tượng, chiều gỡ bài…

Cụ thể như vụ một số phóng viên, cộng tác viên hùa nhau tống tiền hiệu trưởng một trường ở quận Tây Hồ (Hà Nội) 2 lần, lần đầu là 100 triệu đồng, lần 2 là 80 triệu đồng. Vì chịu không nổi, nên người này phải báo cho công an. Nếu người này mà không báo công an, thì xin thưa rằng còn phải cống nạp dài dài.

Hay là vụ Nguyễn Ngọc Diệp và Đinh Thị Vân viết bài tống tiền doanh nghiệp với chiêu thức ký hợp đồng hợp tác truyền thông, rồi thỏa thuận gỡ xuống 2 bài báo có nội dung ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp này…

Mới đây có vụ ở huyện Ia Grai (tỉnh Gia Lai), hai nhà báo dọa tung thông tin về hành vi gây ô nhiễm môi trường, xây dựng không đúng quy trình kỹ thuật của một chủ lò than để cưỡng đoạt 5 triệu đồng…

Đó là chân dung của những nhà báo bẩn. Tuy mức độ, hành vi cưỡng đoạt có khác nhau, nhưng tất cả đều là nhà báo bẩn.

Hiện nay có nhiều phóng viên, nhà báo tham gia mạng xã hội, điều này cần trân trọng và khuyến khích. Nhưng điều đáng nói là không ít nhà báo quên rằng, khi tham gia mạng xã hội, nhà báo vừa phải tuân thủ pháp luật, vừa phải tuân thủ 10 điều quy định đạo đức người làm báo; tuân thủ quy định sử dụng mạng xã hội do Hội Nhà báo Việt Nam ban hành.

Nhà báo có quyền điều tra, xác minh, có quyền đặt nghi vấn, có quyền bày tỏ chính kiến, có quyền đề nghị nhưng không có quyền luận tội, quy kết tội danh. Nhà báo chứ có phải viện kiểm sát đâu mà luận tội; nhà báo chứ có phải là tòa án đâu mà quy kết tội danh… Quyền của nhà báo đâu phải là tổng hợp các quyền, đâu phải là quyền vô hạn định.

Khác với những người bình thường khác, nhà báo khi lên mạng xã hội phải lịch sự, đàng hoàng, trung thực và nhân văn; không được hướng dẫn dư luận những điều trái với lợi ích đất nước, trái với lợi ích Nhân dân. Ứng xử của nhà báo trên mạng xã hội được coi như ứng xử nơi công sở; phải chuẩn mực về văn hóa, không phát ngôn bừa bãi; không mỉa mai, hãm hại, xúc phạm người khác.

Như vậy, một nhà báo chân chính thì trước hết phải là người tử tế; tử tế trong suy nghĩ, tử tế trong lời ăn tiếng nói, tử tế trong hành động; phải nghiêm túc, trung thực và hướng thiện. Đó mới là yếu tố làm nên giá trị chân chính của nhà báo.

Nước ta hiện có 816 cơ quan báo chí, tạp chí và các ấn phẩm điện tử; 72 đài phát thanh, truyền hình; 17.200 nhà báo và 27.000 hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Đa số đều tốt, vì vậy, họ không bao giờ chấp nhận để những con sâu vấy bẩn nghề báo, một nghề rất vinh quang trong đời sống xã hội.

Về vấn đề nhà báo bẩn, nhà báo hai mặt, Ban Tuyên giáo Trung ương đã lên tiếng rất mạnh mẽ. Bộ TT-TT, sở TT-TT các tỉnh cũng đã xử lý nhiều trường hợp; Hội Nhà báo Việt Nam cũng đã thu hồi thẻ hội viên của nhiều hội viên. Nhưng thực tế vẫn chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, tin rằng sắp tới đây, Chính phủ sẽ mạnh tay hơn nữa, quyết liệt hơn nữa trong quy hoạch lại báo chí; tiếp tục sàng lọc, loại bỏ những nhà báo bẩn, những nhà báo hai mặt, những tờ báo hoạt động không đúng tôn chỉ mục đích, làm trong lành môi trường báo chí, để báo chí phát triển chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.PYO

Nguyễn Hoa

QUYỀN LỰC NÀO….???

 

Có người nói với tôi, báo chí là quyền lực thứ tư đấy. Tôi lắc đầu quầy quậy phủ nhận: cậu nhầm rồi, chả có quyền lực thứ mấy nào ở đây cả, quan niệm thế vừa ko chuẩn, vừa dễ làm cho những anh cầm bút viết báo sinh ra ảo tưởng, mà một khi đã sinh ra ảo tưởng sẽ dễ làm cho con người ta cuốn theo cái thứ hão huyền ấy.

Thực tế báo chí ko thể ra lệnh cho ai được mà nó chỉ có thể là 1 kênh, 1 kênh thôi... tạo nên dư luận xã hội, truyền tin đến đám đông và qua đó xuất hiện những tác động không nhỏ trong cộng đồng.

Vậy nên, nhất thiết đã chọn nghề nhà báo thì cũng có nghĩa rằng đời ta là 1 hành trình của đọc, đi và viết. Đọc để có ngôn ngữ phong phú, đi để thêm tư liệu thực tiễn, tìm hơi thở của thực tiễn để làm cho những gì ta viết có tính thuyết phục chứ ko phải 1 thứ trên trời rơi xuống, 1 thứ vô vị ko giúp ích gì hay cũng có thể là 1 thứ ko có thật. Vậy nên để trong lòng bạn đọc có niềm tin thì nhà báo nhất thiết phải đi chứ đừng làm báo sau laptop. Hãy xách balo lên và đi nếu như bạn thấy mình có đủ đam mê để theo nghề đó…! Một thế giới thực tiễn phong phú, ngút ngàn đến bất tận đang chờ bạn khám phá, nó sinh động, mới mẻ, hấp dẫn, và cuốn hút lắm….!

Nói như thế, chứ thực sự để trở thành 1 nhà báo “lòng trong, bút sắc” như cố nhà báo Hữu Thọ từng quan niệm, ko phải là điều dễ dàng nhất là khi trong xã hội hiện nay quá nhiều tác động đa chiều. 

Chả thế thời gian trước mới xuất hiện từ “báo sạch”. Tưởng gì ....đã là báo thì nó là báo chứ sao lại phải xưng hẳn cái tên báo sạch…lạ thật….! Cho nên một thời gian sau té ra cái thứ báo sach đó khi hai lăm đã rõ mười lại thành "báo bẩn" đúng nghĩa…!

Nhà báo phải chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình, bởi đó là đưa con tinh thần do mình thai nghén và sinh nó ra…! Và chính nó sẽ cho thấy  ấy là cây bút già dặn hay mới chập chững bước vào nghề. Nhưng dù mới hãy đã có thâm niên thì bất cứ anh báo nào cũng đều phải có bản lĩnh khi đã đứng trong hàng ngũ báo chí cách mạng….! Viết gì..? Viết điều ấy sẽ hướng đến ai..? Lấy chất liệu thực tế ở đâu..? Khi nào..? Rất nhiều câu hỏi mà nhà báo phải trả lời đc khi chuẩn bị thai nghén sản phẩm…

Cũng thấy mừng vì bao năm qua báo chí nước nhà đã có rất nhiều cống hiến vì sự nghiệp chung, nhưng cũng thấy đôi chút ngậm ngùi lắm vì đây đó vẫn còn ko ít “sạn”. “Sạn” chủ quan, “sạn” khách quan đều có cả…! "Sạn" đó sẽ chỉ mất đi khi những người cầm bút thực sự ko để sự ảo tưởng choán ngợp tâm hồn mình. Thay vào đó nhất thiết phải là thứ “bản lĩnh nghề “đc rèn rũa, đc thử lửa và đc “vạ đập” trong trường thực tiễn./.

Phan xi păng

CHỐNG LỢI DỤNG PHẢN BIỆN … ĐỂ PHẢN BỘI

Phản biện xã hội là kênh quan trọng giúp đường lối, chủ trương, chính sách ban hành được đúng đắn và đi nhanh vào cuộc sống. Thế nhưng, cũng có không ít người đã lợi dụng phản biện để tạo mâu thuẫn, gây rối, thậm chí chuyển thành phản bội đồng chí, đồng đội; phản bội Tổ quốc; phản bội nhân dân.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, việc kiểm soát quyền lực, “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” là hết sức cần thiết. Để giám sát và kiểm soát quyền lực, Đảng ta luôn tạo thuận lợi nhất để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đảng khuyến khích Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và người dân giám sát, phản biện xã hội. Pháp luật Việt Nam cũng tạo những cơ sở pháp lý quan trọng để mọi thành viên trong xã hội đều có thể tham gia phản biện xã hội trước những quyết sách quan trọng của quốc gia. Tất cả các đạo luật trước khi được Quốc hội thông qua đều được đưa ra công khai xin ý kiến đóng góp, phản biện của nhân dân.

Thực tế thời gian qua, đa số các ý kiến phản biện của đảng viên và nhân dân đã được Đảng, Nhà nước trân trọng tiếp thu. Tuy nhiên, vẫn còn có những ý kiến phản biện không mang tính chất xây dựng mà là suy diễn, quy chụp, lợi dụng phản biện để xuyên tạc, bôi nhọ đồng chí, đồng đội; nói xấu Đảng, Nhà nước.

Cuộc sinh hoạt chi bộ khu dân cư X mới đây để chuẩn bị cho Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2022-2025 đã biến thành “diễn đàn kể tội cán bộ” sau khi một đảng viên khơi mào “phản biện” và kêu gọi các đảng viên khác phát biểu góp ý. Đảng viên này đưa ra hàng loạt các “nghi vấn” về tiêu cực, tham nhũng của đội ngũ cán bộ phường, quận rồi phê phán kịch liệt chủ trương của phường trong việc lập lại trật tự xây dựng đô thị. Thế nhưng, các “bằng chứng” đưa ra đều là “nghe nói”, “quần chúng phản ánh”… Rất may, ý kiến này được một đảng viên là cựu chiến binh chặn lại, sau khi chất vấn.

Trước đó, trong dịp đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, tại một số địa phương cũng đã có những  “ý kiến phản biện”, “thư góp ý”, “thư phản ánh”, “ý kiến tâm huyết”, “tâm thư”, "bản kiến nghị"... của đảng viên và quần chúng gửi đến các cơ quan chức năng bày tỏ băn khoăn về ứng cử viên này, ứng cử viên nọ. Đáng chú ý, đã có nhiều thư góp ý thông tin không đúng sự thật. Điều đáng tiếc là một số người nhẹ dạ cả tin đã vô tình mắc vào “bẫy” này. Lợi dụng quyền dân chủ trong các cuộc họp, trong việc góp ý với các tổ chức Đảng, các cơ quan quản lý nhà nước, không ít người thổi phồng, xuyên tạc, bịa đặt nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của đồng chí, đồng đội, lãnh đạo các cấp, các cơ quan, tổ chức Đảng, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp; gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ.

Nguy hiểm hơn, một số đối tượng vì tư lợi hẹp hòi, động cơ chính trị lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để gieo rắc thù hận và chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa phản biện, các cá nhân đã đưa lên báo chí hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường cho cá nhân, tập thể, địa phương.

Đặc biệt, gần đây đã xuất hiện tình trạng một số người lợi dụng danh nghĩa phản biện xã hội để châm chọc, đả kích đường lối, chủ trương, chính sách, giải pháp đúng đắn của Đảng, Nhà nước. Có cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất lợi dụng việc phản biện để đưa lên mạng xã hội những thông tin lệch lạc, trái với quan điểm của Đảng, Nhà nước. Từ phản biện chuyển thành phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân là vấn đề đáng báo động.

Để ngăn chặn tình trạng phản biện chuyển hóa thành phản bội, trước hết, các cơ quan, đơn vị cần làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục. Cần công khai, minh bạch các thông tin liên quan đến cơ quan, đơn vị mình, nhất là về những chủ trương, chính sách trong giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Không nên để những thông tin giả, tin đồn thất thiệt lan truyền và hoành hành trong cộng đồng rồi mới tìm cách khắc phục theo kiểu “chạy theo”.

Các cơ quan, đơn vị cần tăng cường công tác quản lý nội bộ, kịp thời đấu tranh và xử lý đối với những cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; kịp thời phát hiện, ngăn chặn những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đưa ra thông tin tuyên truyền chống phá, xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng, giúp người dân tránh trở thành “con rối”, tiếp tay cho kẻ xấu trục lợi, thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.  

Đã đến lúc phải xây dựng cơ sở pháp lý bảo đảm cho việc thực hiện phản biện xã hội một cách đúng đắn. Phản biện xã hội là điều bắt buộc phải thực hiện một cách nghiêm túc, công khai đối với các dự án pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm cao và tinh thần khoa học, để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển của đất nước.

Mang danh phản biện xã hội để đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận được. Vì vậy, rất cần có chế tài xử lý nghiêm việc lợi dụng phản biện để gây rối xã hội, phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

(BÚT CHIẾN).

"LỜI TUYÊN THỆ TRUNG THÀNH" CỦA BORIS ELTSIN

  

Nhiều trang mạng Nga mấy ngày nay có nhắc lại sự kiện diễn ra đúng 30 năm trước, coi đó là một trong những trang đáng xấu hổ nhất trong lịch sử nước Nga.

Ngày 17/6/1992, tổng thống Nga Boris Eltsin phát biểu trước lưỡng viện Mỹ với câu nói "Chúa phù hộ cho nước Mỹ". Có nhiều ý kiến cho rằng bài phát biểu dài 30 phút này  là "biểu tượng cho sự sỉ nhục tột độ của tổng thống Nga trước "nước Mỹ tự do và vĩ đại"(lời của chính Eltsin). Bài phát biểu này đã trở thành một "hình mẫu" về sự phản bội hoàn toàn đối với nước Nga, lợi ích quốc gia, lịch sử và tất cả người dân của nước này".

Trong bài phát biểu, Eltsin đã lớn tiếng khoe khoang đã có công đập tan chế độ Cộng sản, và coi chế độ đó đã "gieo rắc mối bất hòa xã hội, thù hằn và sự tàn ác vô song ở khắp mọi nơi trên trái đất, gieo rắc nỗi sợ hãi trong cộng đồng nhân loại" và kêu gọi nước Mỹ hãy ủng hộ những cải cách của ông ta (kết quả ra sao thì chúng ta đã thấy). Cư dân mạng gọi những lời này là một sự xuyên tạc trơ trẽn, bởi chính chế độ "tàn ác vô song" này đã cứu thế giới khỏi chủ nghĩa phát xít và tạo ra các lợi ích xã hội cho người dân bình thường (8 giờ làm việc mỗi ngày, nhà ở, y tế, giáo dục phổ thông miễn phí, đảm bảo lương hưu...). Cũng chính chế độ "gieo rắc sự sợ hãi" này đã nuôi dưỡng trong con người lý tưởng cao đẹp về sự tôn trọng lẫn nhau, tình hữu nghị của các dân tộc và sự đoàn kết của nhân dân lao động. Và, hiện nay, sau mấy chục năm kể từ khi Liên Xô tan rã, phong trào cánh tả ( mà người ta còn gọi là "thủy triều đỏ:) đã bắt đầu dâng lên ở châu Mỹ La tinh, với sự cầm quyền của các đảng cánh tả ở Argentina, Bolivia, Chile, Honduras, Mexico, Nicaragua, Peru, Venezuela, và mới nhất là ở Colombia, nơi Gustavo Petro, người lãnh đạo liên minh các đảng và phong trào cánh tả Colombia, đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống.

Nhân 30 năm sự kiện "đáng xấu hổ" này, cựu Phó tổng thống Nga Aleksandr Rutskoy (thời Eltsin) đã coi bài phát biểu của Eltsin là lời thề trung thành của ông ta với nước Mỹ.

Trả lời phỏng vấn của báo Lenta.ru, Aleksandr Rutskoy nói: “Về bản chất, nó là lời tuyên thệ trước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Khi đó, tôi, Phó Tổng thống nghe [bài phát biểu này] và tận mắt chứng kiến, cuối cùng thì tôi đã cắt đứt quan hệ với ông ta Tôi không chấp nhận được một hành vi như vậy,  tôi đã tuyên thệ trung thành phục vụ Tổ quốc, và tôi chưa bao giờ thay đổi lời thề này cho đến ngày hôm nay".

Ông Rutskoy cũng nhấn mạnh, chính Boris Eltsin phải chịu trách nhiệm về sự phá hủy Liên Xô. Ông nói:"Ông ấy (Eltsin) đã tuyên thệ trung thành phục vụ Hoa Kỳ, và sau đó thông qua Chubais, ông ta đã phá hủy tiềm năng công nghiệp của đất nước, và thông qua Grachev, ông ấy đã tiêu diệt các lực lượng vũ trang, tổ hợp quân sự-công nghiệp (...) Như Chubais đã nói , điều chính đối với họ không phải là kiếm tiền nhờ tư nhân hóa, mà là đóng đinh vào quan tài của chủ nghĩa cộng sản".

Ngày 8 tháng 1 năm nay, khi trả lời trang Ukraina.ru, cũng chính cựu Phó tổng thống Nga Aleksandr Rutskoy đã vạch rõ hành vi phản bội của Eltsin và Leonid Kravchuk, Stanislav Shushkevich khi ký Hiệp ước Belovezh giải thể Liên Xô 30 năm về trước. Ông cho biết chính ông đã tiễn Boris Yeltsin ra phi trường để bay đến Minsk.  Eltsin nói với Rutskoy là ông ta đi ký một hiệp định về hợp tác kinh tế. 

“Đó là một sự lừa dối trơ trẽn và xảo quyệt. Họ bay (đến đó) để phá hủy đất nước, nhưng họ nói với tôi, Phó tổng thống Nga, rằng họ sẽ ký một thỏa thuận về hợp tác kinh tế. Không ai ủy quyền cho Eltsin,  Leonid Kravchuk  và  Stanislav Shushkevich . Những hành động này và Hiệp ước đã ký đã phạm vào điều khoản của Bộ luật Hình sự Liên Xô “phản bội Tổ quốc”.


Đã hơn 30 năm Liên Xô tan rã, nhưng người dân Nga vẫn luyến tiếc về đất nước vĩ đại đã từng tồn tại. Hãng Interfax ngày 22/12/2021 đưa tin một cuộc thăm dò dư luận xã hội do Qũy Dư luận xã hội FOM cho biết gần 2/3 số người Nga (62%) cảm thấy tiếc nuối khi Liên Xô không còn tồn tại.

TÌNH THẾ NGUY HIỂM

 

Rất nhiều người tự đặt mình vào tình huống nguy hiểm trong cuộc đời. Hậu quả sau đó thật là lâu dài khó chịu cho chính mình, và cũng ảnh hưởng vào cuộc sống bình yên của cộng đồng. Cô gái đồng ý cho người lạ chở đi. Bà cụ tin lời "nhân viên điện lực" nên mở cửa cho vào. Khách du lịch đồng ý trải nghiệm trò vượt thác dù dốc trơn trượt té một cái là trôi tuột xuống thung lũng khó tìm thấy xác.


Lái xe vượt lên rồi chui vào khoảng giữa hai xe đầu kéo, có thể bị hai xe kẹp lại nát bươm. Trời mưa lại leo lên nốc nhà sửa sợi dây điện bị mắc, nếu sét không đánh chết thì cũng chết vì điện rò. Đốt lửa cháy phừng phừng mà quên không thấy vải dễ bắt lửa ở ngay phí trên cao...


Sự an toàn của mình cũng là niềm hạnh phúc của những người thân yêu, thế nên, dù không ích kỷ lo cho mình, ta cũng phải vì người thân yêu mà giữ an toàn cho bản thân mình. Suy nghĩ như vậy là đạo đức vị tha. Đừng liều lĩnh bất chấp đưa mình vào tình thế nguy hiểm mà có lỗi với gia đình và cộng đồng của mình. Còn thế nào là tình thế nguy hiểm phải tránh thì mỗi người tự có kinh nghiệm (đôi khi có kinh nghiệm xong thì cũng qua đời), hoặc do sự thông minh của riêng mình, chứ chưa có giáo trình chuyên biệt để dạy.


Khi ta đã đủ cẩn thận để không đưa mình vào tình thế nguy hiểm, lâu ngày ta sẽ "đắc đạo" cẩn thận này, có thể nhìn thấy tình huống nguy hiểm của người khác mà tránh cho họ. Ví dụ ta lái xe rất cẩn thận, không bao giờ phạm luật, không bao giờ đưa mình vào tình thế nguy hiểm, nhưng cũng đoán được sẽ có những người khác lái ẩu, và ta sẽ cẩn thận gấp đôi.


Nhìn thấy có một nhánh đường, ta sẽ đề phòng có kẻ chạy bạt mạng vì ma đuổi hay chó cắn mà phóng từ trong hẻm phóng vù ra. Ta sẽ đề phòng tình huống đó mà giữ tốc độ hay khoảng cách thích hợp.


Hoặc trong thấy em bé buông tay mẹ giữa siêu thị đông người, ta phải nghĩ ngay trường hợp người mẹ sẽ lo mua sắm mà quên con, đứa con thì đi xa chút lạc mẹ, rồi có ai đó bắt mất đi. Lo lắng hơi xa như vậy, ta đành phải dừng việc của mình mà dõi mắt trong chừng cho bé một chút.


Hoặc trông thấy người mù ngồi hát trên đường để xin ăn, ta lo lắng kẻo có xe nào lạc tay lái chồm lên đường tông phải người mù này chăng, nên ta tìm cái gì để làm dấu hiệu cho các xe chú ý từ xa.


Đạo đức ở đây là ta cẩn thận giùm cho người khác nữa. Cẩn thận giùm cho người khác, tránh tai họa giùm cho mọi người, ta sẽ được tâm hồn thanh thản an vui, không ân hận. Và dĩ nhiên luật nhân quả còn đem đến nhiều điều tốt đẹp khác nữa.


(Trích trong sách NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC cuốn 4 bài TÌNH THẾ NGUY HIỂM trang 97-99 do Tiến sĩ Luật học VƯƠNG TẤN VIỆT biên soạn)

NGUYỄN LÂN THẮNG VÀ CÂU CHUYỆN “GIAN GIAN DÍU DÍU MẬP MỜ”!

        Cái dở của mấy anh dân chủ là luôn vỗ ngực cho rằng mình là “nhà hoạt động xã hội”, “người phản biện chính sách”,… nhưng chưa thấy anh em góp được ý kiến nào hữu ích cho xã hội, mà ngược lại, chỉ truyền nhau các bí kíp “chọc gậy bánh xe”, đâm bị thóc chọc bị gạo. 

Nguy hiểm hơn, với danh nghĩa phản biện xã hội đó, anh em lại dần quay sang bôi nhọ lãnh tụ, xuyên tạc lịch sử, đăng tải thông tin không đúng sự thật. Và khi ngày càng lấn sâu vào vết xe đổ này, cánh cửa của gia đình ngày càng khép lại, và một cách cửa khác ngày càng mở rộng đón chào anh em, đó là cánh cửa… nhà tù mà thôi.

Như trường hợp của anh Nguyễn Lân Thắng mà tôi nói dưới đây. Việc anh bỉ bôi, chê bai hai cán bộ xã “gian gian díu díu mập mờ” tại Hội trường của xã là có thể chấp nhận được. Vì cơ bản là 2 anh chị đó quá sai, bị dân chửi bới là không sai. Nhưng mà anh lại lái câu chuyện sang hướng bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, hạ uy tín của Đảng lại là một chuyện hoàn toàn sai trái. Lúc này, pháp luật sẽ vào cuộc và anh bị tóm về phường sẽ là chuyện một sớm một chiều.

Mà nhân tiện anh bỉ bôi chuyện người khác “gian gian díu díu”, tôi cũng mạn phép lôi lại ảnh anh bị người ta tóm sống ở khách sạn khi đang “tu luyện” với một nữ thí chủ khác, tất nhiên không phải vợ của anh. 5 năm trôi qua, mà anh nhanh quên quá, bản thân mình đạo đức chẳng ra gì lại cứ mở miệng chê bai người khác được. 
Mặt anh cũng không phải là mỏng đâu./.

Yêu nước ST.

TRÒ CŨ

Gần đây, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C01) liên tiếp bắt tạm giam để điều tra, xác minh nhiều đối tượng có liên quan đến hành vi “Thao túng thị trường chứng khoán” theo quy định tại Điều 211 Bộ luật Hình sự, trên nhiều trang mạng hải ngoại, các tổ chức và cá nhân chống phá lại “bệnh cũ tái phát”, đó là đưa ra nhiều bài viết nhằm cố tình đánh tráo bản chất các vụ án, hướng lái vụ án sang chiều hướng tiêu cực, sang vấn đề chính trị, từ đó thu hút các bình luận chỉ trích Đảng, Nhà nước và cuối cùng là kích động chống phá đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

NHỮNG KẺ LƯƠN LẸO

Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII diễn ra từ ngày 4 đến 10-5-2022 đã thảo luận nhiều vấn đề quan trọng. Một trong những nội dung trọng tâm là tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới chính sách pháp luật liên quan đến vấn đề đất đai. Lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống phá lại giở giọng xuyên tạc, kích động hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với các quy định của Luật Đất đai.

LÀM SÂU SẮC QUAN HỆ HỮU NGHỊ TRUYỀN THỐNG VÀ HỢP TÁC NHIỀU MẶT VIỆT NAM - MOZAMBIQUE

Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Mozambique Esperanca Laurinda Francisco Nhiuane Bias dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Mozambique thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18 đến 23/6.

KỶ NIỆM 45 NĂM HÀNH TRÌNH HƯỚNG TỚI LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG POL POT

Sáng 20/6, tại khu vực biên giới giữa huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước và huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum, Campuchia đã diễn ra các hoạt động trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 45 năm “Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Campuchia Hun Sen (20/6/1977-20/6/2022).

CỦNG CỐ MỐI QUAN HỆ TRUYỀN THỐNG GẮN BÓ VIỆT NAM - CAMPUCHIA

Sáng 20/6, ngay sau Lễ kỷ niệm lần thứ 45 “Hành trình hướng tới lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot” của Thủ tướng Hun Sen, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã có cuộc gặp và trao đổi với Thủ tướng Hun Sen tại Nhà Hữu nghị Campuchia-Việt Nam thuộc huyện Memot, tỉnh Tbong Khmum của Campuchia. Cùng dự có các quan chức cao cấp của Chính phủ và lãnh đạo một số cơ quan, địa phương của hai nước.

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI TA GIỮ VỮNG LỜI THỀ KIÊN TRUNG!

         Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, chiến đấu và trưởng thành trong lòng dân tộc. Lịch sử trưởng thành của Quân đội là lịch sử viết bằng xương máu của thế hệ đi trước, là quyết tâm vững bước theo sau của lớp đàn em. Lịch sử ấy không chỉ làm nổi bật lên những phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” mà còn tô thắm thêm những trang vàng lịch sử của dân tộc. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội đều nhận thức sâu sắc rằng nhờ có Đảng lãnh đạo, nhờ nhân dân đùm bọc, nhờ có mục tiêu lý tưởng chiến đấu rõ ràng, chính xác mà Quân đội ta nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt. Từ đội quân ban đầu chỉ có 34 chiến sĩ, với phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”, với tinh thần “đi suốt từ nam chí bắc, khắp đất nước Việt Nam”, những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” đã nêu cao tinh thần anh hùng cách mạng, vượt mọi khó khăn, thử thách, từng bước trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng những kẻ địch hùng mạnh, làm nên truyền thống vô cùng quý báu và vẻ vang. Truyền thống ấy là mạch sống, là linh hồn của Quân đội trong bất kỳ tình huống nào. Truyền thống ấy phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, ghi dấu những chiến công anh dũng, những tấm gương cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, giành lấy hạnh phúc cho nhân dân. Trong thời bình, máu của những người lính vẫn chảy, họ chiến đấu với hiểm nguy, với gian khó, họ xông pha trong mưa giông bão táp, họ dầm mình nơi biên giới mù sương, họ hiên ngang nơi địa đầu hải đảo của Tổ quốc, họ sông pha vào nơi có chất độc, nơi ô nhiễm nguy hiểm, tất cả chỉ có một mục đích: Vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Truyền thống ấy của Quân đội được khái quát thành lời thề thiêng liêng mà bất kỳ cán bộ, chiến sĩ nào đều khắc ghi trong tâm khảm: Hy sinh tất cả vì tổ quốc Việt Nam; dưới dự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phấn đấu thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đó là lương tâm, trách nhiệm, là tình cảm, nghĩa vụ của người “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là truyền thống, là niềm tin, là quyết tâm của hàng triệu cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội chúng ta./.




Yêu nước ST.

152 NĂM THÀNH VĨNH LONG THẤT THỦ VÀ SỰ THẬT VỀ PHAN THANH GIẢN!

     Dù đã qua hơn thế kỷ, nước mất thì dân ta đã giành lại được. Chủ quyền về tay dân ta rồi. Tội ác ngoại bang dù chồng chất cũng xếp sang một bên, lấy hiếu hòa làm trọng. Con dân một nước dần quên đi mọi bất đồng, hợp quần cùng nhau xây dựng cơ đồ. Tổ quốc như mẹ hiền rộng lòng tha thứ bao dung. Đào xới quá khứ để ân oán hơn thua chỉ làm người sống bất yên, người nằm xuống không sao nhắm mắt. Nhưng khi đã đặt ra phải bàn cho rành rẽ, nếu không sẽ biến sai thành đúng, biến tội thành công, dẫn người đọc đi đến chỗ lẫn lộn phải trái, trắng đen, không nhận rõ chính tà. Trong lúc giới thanh niên đang dấy lên phong trào “Cùng thắp lên ngọn lửa yêu sử”, nhắc lại lời dặn của Bác Hồ: “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Thế nhưng có một thế lực từ sau khi nước nhà được thống nhất và hoàn toàn độc lập, dưới chiêu bài “đổi mới” để xuyên tạc lịch sử, cứ âm mưu tái dựng những nhân vật từng hợp tác đắc lực với ngoại bang làm hại giống nòi như những tấm gương lớn một lòng vì nước vì dân!

Về Phan Thanh Giản, tác hại của việc ông làm, những tư liệu lịch sử rất phong phú còn rành rành ra đó, đặc biệt thư tịch nằm trong các kho lưu trữ ở "mẫu quốc" Pháp còn phong phú hơn trong các thư khố nước bản xứ một thời vong quốc.

Có thể lược sử con người này như sau: Ông là người Lục tỉnh Nam kỳ đầu tiên đỗ Tiến sỹ năm Bính Tuất (1826), được các vua tiền triều nhà Nguyễn quan tâm ưu ái ngay từ lúc mới nhập triều. Làm đại quan hơn 40 năm (1826-1867) qua ba đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức. Ngược tới vua Gia Long có thể coi là thời kỳ hưng vượng nhất của vương triều Nguyễn – một nhà nước phong kiến tập quyền độc lập, cai quản một quốc gia thống nhất từ Bắc vào Nam trong điều kiện tương đối yên ổn không có họa ngoại xâm. Thế nhưng Phan Thanh Giản lại là người có công đầu với nước Pháp trong việc dối vua lừa dân, tích cực triệt tiêu lực lượng kháng chiến và tinh thần quật khởi của nhân dân ta. Ngay từ buổi đầu đã đứng về phái chủ hòa dẫn tới chủ hàng. Từ việc lược quyền vua ký hàng ước nhục nhã 1862 để mất ba tỉnh miền Đông đến việc thông đồng với giặc, năm 1867 mở rộng cửa thành Vĩnh Long dâng nốt ba tỉnh miền Tây cho giặc, coi như xóa sạch công lao 300 năm các triều vua chúa Nguyễn mở mang bờ cõi ở phía Nam, đẩy nhanh quá trình xóa quốc danh Việt Nam trên bản đồ thế giới. Cái tội “mại quốc” cả trong sử sách và bia miệng lưu truyền không là quá đáng và không sao xóa được.

Tháng 8 năm 1963 đã có một hội nghị chuyên đề lớn với sự đồng thuận cao của những nhà cách mạng và văn hóa, học giả lớn như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Giàu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Đào Duy Anh, Ca Văn Thỉnh… đánh giá tổng quát: “Để mất nước, các vua nhà Nguyễn là chính phạm, các triều thần trong đó có Phan là đồng phạm. Riêng trong sự kiện hai lần dâng thành giao đất cho giặc để mất cả Nam kỳ thì Phan là chính phạm bởi tính bạc nhược, hèn nhát, thỏa hiệp với giặc. Chủ hòa thực chất là chủ nghĩa đầu hàng – Đó là bản chất của giai cấp phong kiến cầm quyền lúc suy vi”. Thiết nghĩ đó là sự đánh giá rất độ lượng, có thể tình đúng mức do yêu cầu lịch sử lúc đó.

Bản chất của con người Phan Thanh Giản đã bị nhà đại ái quốc Phan Bội Châu phanh phui: “Gan dê lợn mà mưu chuột cáo”! Thật vậy, chỉ sau bốn năm quân Pháp với lực lượng ít ỏi đánh chiếm Trung kỳ không được đành quay vào đánh chiếm mấy thành lũy phía Nam. Giữa lúc bị mắc kẹt ở mặt trận nam Trung Hoa, tư lệnh quân viễn chinh Pháp Bonard dùng kế hoãn binh, cho người ra Huế yêu cầu cử phái đoàn vào Nam hội nghị với yêu cầu bàn chuyện giảng hòa và Nam triều bồi thường chiến phí!

Tự Đức là ông vua nhu nhược chỉ quẩn quanh với mấy vần thơ phú và chăm lo việc xây lăng tẩm cho mình, ngay từ đầu đã chao đảo nghiêng về phái chủ hòa nên khi quân Pháp yêu cầu nghị hòa thì vua sung cho Phan chức “Nghị hòa chánh sứ” cùng Binh bộ thượng thư Lâm Duy Hiệp làm phó sứ.

Trước khi đi thương nghị, Phan-Lâm được vua Tự Đức ban ngự tửu và tuyên chỉ: “Phàm mọi chi tiết như thù đáp giao ước về việc nghị hòa cần phải cẩn thận. Thêm nữa nên cố gắng đạt đến việc đình chiến, ngõ hầu xứng đáng với nhiệm vụ khanh được giao phó”. Nhà vua gửi gắm cả vận mệnh quốc gia với mệnh đế vương của mình vào tay viên cận thần già tin cẩn: “Đất nước hôm nay đang bị dồn vào ngõ cụt khó khăn. Muốn đưa nó thoát ra, chỉ có bàn tay của những người tôi trung tài năng tận tụy. Đừng vì một sự yếu đuối hay vội vàng nào đó mà làm thiệt hại đến vận mệnh và danh dự của cả giang san đang được giao phó vào tay các khanh. Cầu mong cho các khanh được sớm trở về đầy vinh quang vì đã bảo vệ danh dự của non sông và giữ gìn được sự vẹn tròn lãnh thổ!”

Một tháng sau, bầy tôi trở về với bản hòa ước trong tay gồm 12 điều khoản, trong đó khoản 3 ghi rõ ba tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn được nhượng đứt cho nước Pháp cùng những điều khoản bồi thường bất công rất chi là nhục nhã! Ngay lập tức nhân dân cả nước phẫn nộ kết tội “Phan-Lâm mại quốc” và các phong trào yêu nước tiếp nhau nổi lên chống Pháp đều coi việc làm của Phan như một vết nhơ lịch sử! Người phương Nam đương thời để lại câu ca dao lưu truyền trong dân chúng: “Thà thua xuống láng xuống bưng / Kẻo ra đầu giặc lỗi chung quần thần”. Vua Tự Đức than trời: “Ôi! Con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”!

Vậy là chính những người đương thời từ triều đình tới thần dân đều đã công khai kết tội Phan-Lâm bán nước! Chẳng thể gọi là bị ép oan để bày chuyện chiêu tuyết cho con người ấy.

Trước sự đã rồi, vua và triều thần đành vớt vát bằng việc giao cho Phan cai quản Vĩnh Long và Lâm cai quản Khánh Thuận ở hai đầu giáp ranh ba tỉnh miền Đông để có điều kiện giao tiếp với người Pháp ở Gia Định, ngõ hầu bắc mối giao lưu thân thiện Đông-Tây, tiến tới có thể chuộc được lỗi lầm. Phan lại được vua giao làm Chánh sứ qua Y-pha-nho và Pháp xin chuộc lại những gì đã mất với lời ủy thác: “Đất ba tỉnh này là xương máu của dân, chuộc lại là chuộc tội cho ta để cho dân thỏa lòng nguyện vọng”. Phan hứa mập mờ: “Nếu có thể đem đổi ngói lấy vàng thì lúc nào thần cũng sẵn sàng”! Sau nửa năm chầu chực Pháp hoàng Napoléon III, dâng nhiều cống vật mà vẫn trở về trắng tay và bộc lộ ra tâm địa của viên quan bạc nhược trước sức mạnh của quân cướp nước: “Sự giàu có, mạnh mẽ và các việc khôn khéo của nước Pháp nói ra không hết”! Thì ra với Phan Thanh Giản “ngói” đây là mảnh đất ba trăm năm nhân dân ta cùng tiền triều nhà Nguyễn đổ bao mồ hôi xương máu dày công khai phá và “vàng” đây là sự yên ổn để vua tôi ngồi yên ghế vị mặc cho dân chúng lâm vào cảnh nô lệ điêu linh! Vì việc thương lượng với Pháp xin hồi lại đất không thành Phan Thanh Giản mới bị vua Tự Đức phạt tội “cách lưu”!

Năm 1865, trước tình hình nguy ngập, vua Tự Đức phục chức cho Phan Thanh Giản và sung Kinh lược sứ trấn ba tỉnh miền Tây với lời căn dặn: “Không khuất phục tình hình một cách thụ động!”. Suốt mấy năm được giao trấn thủ tiền phòng trong tình thế thịt treo trước miệng hổ vuốt mèo mà Phan không tỏ ra ăn năn chuộc lỗi tìm cách gỡ ra thế bí, trái lại tích cực hỗ trợ cho quân chiếm đóng mau chóng bình định mảnh đất phương Nam bằng những việc làm mà anh linh tiên tổ không thể dung tha như thẳng tay đàn áp và khống chế những thủ lĩnh nghĩa quân bất phục tùng thi hành hiệp ước! Một mặt chỉ điểm cho giặc về những người yêu nước, một mặt dâng sớ về triều xin trị tội, thuyên chuyển khỏi nơi cứ địa hoặc cách chức những chủ soái nghĩa quân như Trương Định, Trần Văn Thành, Trịnh Quang Nghị, Võ Duy Dương… đồng thời bắn tin cho giặc: “Bản chức sẽ không ngăn cản sự xâm lược bằng một sự kháng cự mà chúng tôi hiểu là vô ích” và nói hoạch toẹt ra: “Nếu quý quốc lấn tới, quả nhân không chống cự”! Đến khi thấy đoàn tầu thuyền nhà binh Pháp đậu kín trước thành Vĩnh Long “là một thành khá kiên cố, địa thế rất dễ phòng thủ” và tướng giặc cho người mang thơ nói toạc ra ý họ “quyết định chiếm ba tỉnh miền Tây Nam kỳ vì lý do các quan quân triều đình ở đây ủng hộ phong trào chống Pháp”. Phan ra lệnh không kháng cự và dẫn đám thuộc hạ xuống tầu trách yêu giặc “vin cớ nhỏ mọn mà làm tổn thương đại nghĩa” (!) và ngọt nhạt đẩy đưa: “Tôi có quyền giữ đất chớ không có quyền giao đất. Xin cho tôi hỏi lại ý kiến triều đình”! Lũ sài lang thừa dịp kéo vào chiếm thành mà không tốn một viên đạn! Sau đó quan Khâm sai viết công thư – thực chất là thư dụ hàng như ông đã từng làm mấy lần bất thành với Trương Định, gửi các quan tướng giữ thành An Giang và Hà Tiên với lời lẽ không tìm thấy ở đâu trong lịch sử: “… Người nào thuận theo lòng trời thì còn, người nào nghịch theo lòng trời thì chết mất. Chúng ta yếu ớt không thể chống nổi người Phú-lang-sa. Các quan văn cũng như các tướng võ hãy bẻ gãy giáo gươm và giao thành trì khỏi chống lại”! Ông ta biện lẽ: “Bản chức tùy theo thiên ý mà tránh đỡ giùm dân đen tai họa rớt trên đầu họ” và khuyên dụ dân hãy tin vào giặc vì “những người này chỉ đáng sợ trong lúc chiến tranh mà thôi”! Đó là sự dối trời lừa dân có một không hai. Thế là chỉ trong năm ngày cả ba tỉnh thành hừng hực khí thế chống ngoại xâm bỗng lọt vào tay giặc! Chẳng những Phan đã ngoan ngoãn giao thành, lại còn lệnh cho thuộc hạ mở rộng cửa kho và ngân khố lấy lúa gạo và tiền nộp thêm cho quân phản phúc gọi là thanh toán bồi thường năm năm chiến phí theo cái gọi là hòa ước 1862!

Bốn tháng sau, vua Tự Đức ra chỉ dụ giao cả cho Tôn nhân Phủ và đình thần xem xét công tội để bàn định việc xử trí. Bản án ngày 17/4/1868 triều thần nghị xử rằng: “Viên Khâm lược sứ với trách nhiệm giữ gìn đất đai mà lại ươn hèn đến thế, sẽ phải phân biệt xử trị để răn khí tiết bề tôi và để nhân tâm có bề phấn chấn mới phải. Trước hết cách chức và truy thâu lại phẩm hàm và ghép vào tội xử trảm giam hậu”. Cùng năm đó vua Tự Đức bút phê “truy đoạt chức tước, phẩm hàm và đục bia Tiến sỹ, để lại muôn đời cái án trảm hậu” với Phan Thanh Giản!

Tuy nhiên bên sự đánh giá chính thống như thế vẫn có những thế lực bênh vực thậm chí còn bốc thơm đơm đặt đủ điều cho nên con người ông, việc làm của ông, cái chết của ông vẫn là đề tài cho hậu thế tranh cãi dài dài. Vậy những ý kiến trái chiều kia có tự bao giờ và xuất phát từ đâu?

Thật ra khi người Pháp đem quân xâm chiếm Việt Nam thì lực lượng họ không phải là quá mạnh, nội tình vương triều Paris cũng lắm chuyện rối ren. Thế nhưng bối cảnh xã hội Việt Nam lúc đó cực kỳ bê bối. Triều đình thì hủ bại. Dù khí thế yêu nước của dân chúng rất cao nhưng không có chỗ dựa và không hợp thành một liên minh chặt chẽ. Trong khi bộ máy chiến tranh của Pháp dày dặn kinh nghiệm đối phó, dưới bóng cây Thánh giá càng dễ lợi dụng những yếu tố xã hội và con người ở các quốc gia xa xôi lạc hậu thì những người như Phan Thanh Giản là tác nhân thúc đẩy mau chóng quá trình mất nước, tất nhiên lọt vào tầm ngắm để đội quân viễn chinh ấy khai thác và điều khiển bằng đủ những mưu mô thâm trầm xảo quyệt. Cuộc chiến xâm lược xứ An Nam xa xôi không được triều đình Paris tập trung ủng hộ nhưng lại sớm thu được thắng lợi trọn vẹn mà ít hao người tốn của. Đương nhiên những người như Phan được coi như có công đầu với đội quân viễn chinh xâm lược Pháp. Khi Phan còn sống cũng như khi chết đều được Bộ chỉ huy quân viễn chinh chăm sóc chu đáo tận tình, kèm thư gửi tới gia đình với những lời chia buồn thống thiết: “Nơi triều đình trừ một mình ngài thấy rõ đâu là ích nước lợi dân… Người Pháp quốc hằng bền một lòng tôn trọng quan lớn Phan Thanh Giản và gia đình của ngài. Bổn trấn hứa sẽ hết lòng bảo bọc cho con cháu ngài hoặc muốn ra mà giúp việc nhà nước hay là muốn tước lộc chi thì bổn trấn cũng vui lòng ban ơn theo như ý”. Và người Pháp đã làm đúng như lời hứa. Ngay cả khi hai con ông là Phan Liêm và Phan Tôn có cầm súng chống Pháp một thời gian nhưng thua trận và bị bắt, người Pháp cũng rộng lòng tha và giao cho triều đình An Nam trọng dụng. Tất nhiên lại cầm binh đi đánh những người Việt Nam “nổi loạn”! Tên tuổi ba cha con họ Phan đều được nhà nước thực dân – tất nhiên là cả chính quyền bản xứ lệ thuộc “bảo tiết tôn vinh” như những tấm gương về lòng yêu nước thương nòi! Dù cho dân chúng bất bình nhưng chính sử triều Nguyễn bù nhìn chẳng dám nói đó là sự sỉ nhục đối với lịch sử nước nhà! Trải hàng trăm năm thân phận “thuộc quốc phiên bang” mấy ai được săm soi góc cạnh ngọn ngành? Sự ngộ nhận đã thành nếp nghĩ, chỉnh sửa lại không là điều dễ! Phải chăng đó là tàn dư của văn hóa thực dân?

Vậy thì ai đã phục chức cho Phan? Tự Đức chết năm 1883, sau thời kỳ u ám “tứ nguyệt tam ngôi”, rồi xảy ra sự kiện Hàm Nghi. Dưới sự bảo trợ của người Pháp, hoàng tử Chánh Mông lên ngôi với đế hiệu Đồng Khánh. Tân vương vốn sính Tây được coi như một “sản phẩm Pháp tại Việt Nam”. Quả nhiên Đồng Khánh là ông vua đầu tiên công nhận nền bảo hộ của nhà nước Đại Pháp. Để được lòng “nước mẹ”, tân vương ra sắc chỉ khôi phục hàm cũ là Hiệp tá Đại học sỹ cho Phan Thanh Giản sau những lời khen: “Phẩm vọng ngươi cao như núi Thái Sơn, văn chương ngươi như mây bay nước chảy, được xưng tụng cao nhất một đời”. Tất nhiên bia được dựng lại sau hai thập niên bị đạp đổ! Đồng Khánh làm vua được ba năm thì chết. Qua hai triều vua Thành Thái và Duy Tân, người Pháp không “dụ” được. Năm 1916, sau cuộc nổi dậy do Hội “Việt Nam Quang Phục” phát động ở năm tỉnh Trung kỳ (Nam, Ngãi, Huế, Trị, Bình) thất bại, bốn nhà chí sỹ là Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề và Nguyễn Quang Siêu bị xử chém, vua Duy Tân, Thành Thái cùng số phận với vua Hàm Nghi, bị đi đày biệt xứ. Chính quyền bảo hộ đưa Khải Định là con vua Đồng Khánh lên ngôi. Năm 1924, vua Khải Định sắc cho quan dân tỉnh Thủ Dầu Một thờ phụng Phan công như “thần hộ quốc an dân”, ý để thưởng công đã giao ba tỉnh miền Đông cho Pháp! Kế đến năm 1933, con Khải Định là vua Bảo Đại cũng sắc cho quan dân tỉnh Vĩnh Long thờ phụng Phan công nội dung như thế, ý để thưởng công đã giao nốt ba tỉnh miền Tây cho Pháp! Việc làm ấy có nghĩa là triều Nguyễn hài lòng đã hoàn tất sứ mạng lịch sử chí ít cũng là giao toàn bộ xứ Nam kỳ vào tay người Pháp! Vậy thì thực chất việc phục chức và tôn vinh Phan Thanh Giản chính là ý đồ của chủ nghĩa thực dân. Việc chiêu tuyết và khôi phục chức sắc cho Phan được ba triều vua tồi tệ nhất trong lịch sử 13 đời vua triều Nguyễn đã bị chính Hội nghị sử học năm 2008 loại ra ngoài vòng lịch sử thì mọi việc chiêu tuyết cho Phan Thanh Giản vào mọi thời điểm đương nhiên nào có giá trị gì.

Thực ra càng xem xét kỹ tư liệu lịch sử càng nhận ra con người này rất phức tạp và có nhiều khuất tất.

Phan là người không có bản lĩnh cầm quân: Triều thần đã tổng luận: Về tài thì hơi kém! Lúc đi đánh giặc thường bỏ chạy. Từng năm lần bị giáng cấp, hai lần bị cách lưu. Vậy khi gặp giặc mạnh chưa đánh đã chủ hòa là điều không lạ.

Nếu bạn đọc tiếp cận tư liệu lưu trong thư khố Pháp, xem thư Phan gửi các quan tướng quân đội viễn chinh như Hải quân Trung tướng Bonard, Đề đốc Rigault De Genouilly, Đề đốc Lagrandière… thấy rõ đó là con người phản phúc, không khác chi là “tay trong” của giặc! Hẳn không còn ai bốc thơm Phan về lòng trung quân ái quốc!

Phan có là người liêm chính thật không? Ông Tiến sỹ Phan Hiển Đạo làm Đốc học tỉnh Định Tường có ra hợp tác với giặc vì mơ hồ tin vào “tình thân ái giữa các dân tộc bên hai bờ đại dương” của quan trên. Nhưng sau nhận ra mình lầm lỡ nên lánh qua tỉnh Vĩnh Long (vì Định Tường không còn thuộc Nam triều nữa). Ông đưa thơ xin diện kiến trình rõ sự tình, bị Phan sổ toẹt với lời phê độc: “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh” (Con gái đã bị thất thân, sao cho là trinh được). Ông Tiến sỹ Đạo hổ ngươi trở về quê Mỹ Tho, viết cáo trạng tạ lỗi với dân chúng rồi uống thuốc độc mà chết! Trong khi quan Khâm lược giấu kín nỗi lòng tới lúc lâm chung mới tỏ chân tình với viên quan giặc Ansart rằng ông dành dụm được mấy ngàn quan (1.000 quan lúc bấy giờ tương đương với 700 lạng bạc) và mong muốn ký thác cho các quan Tây đưa mấy đứa cháu lên Sài Gòn học thành tài! Vậy Phan có thanh bần như đời ca tụng?

Cho đến cái chết của quan Khâm sai đại thần thật ra cũng không bi tráng như nhiều người lầm tưởng. Ông ta biết khi đặt bút ký chấp nhận yêu sách của giặc là xóa sạch đi công lao 300 năm khai phá của các bậc tiên vương tiên chúa thật “đáng tội chết” rồi. Dù nói rằng “lá cờ ba sắc không thể phất phới bay trên một thành lũy mà nơi ấy Phan Thanh Giản còn sống” (!) nhưng không như Hoàng Diệu treo cổ chết ngay trong thành Hà Nội, Võ Duy Ninh tự thương chết ngay trước thành Gia Định, Nguyễn Tri Phương quyết chết theo Hà thành thất thủ. Trái lại, Phan thủng thẳng ra sống tại một ngôi nhà tranh ở ngoại thành Vĩnh Long, tỉnh táo sắp xếp mọi việc chu đáo. Ông gởi một lá sớ lên vua Tự Đức: “Việc cõi Nam kỳ một chốc đến thế này, không thể ngăn cản nổi. Nghĩ tội đáng chết, không dám sống cẩu thả để cái nhục lại cho Quân phụ. Đức Hoàng thượng rộng xét xưa nay, biết rõ trị loạn…” và gởi thư cho các tướng giặc để trần tình với lời lẽ rất chi là hoan hỷ. Ông cũng ngỏ lòng với cha Marc là muốn theo đạo Thiên Chúa! Ông căn dặn các con hãy qui phục nước Pháp, sống hòa bình với họ và chăm chỉ cần lao, ráng học hỏi cho bằng người Tây Âu để phò vua giúp nước may ra sau này làm vẻ vang cho Tổ quốc! Nghe ngóng động tĩnh từ triều đình vẫn bặt tin. Biết rằng tội kia không thoát chết! Gần một tháng sau thì ông “tuyệt cốc” (nhịn ăn). Nửa tháng không chết, ông uống á phiện pha với dấm thanh. Trong thời gian ấy nhiều quan lại cả tây và ta đến thăm, cho thuốc ông một mực từ chối. Theo thơ tường trình của Thiếu tá Ansart gởi lên Tổng tham mưu trưởng kể về những giờ cuối đời của ông quan này: “Lúc các ông quan (Nam triều) còn lại ở Vĩnh Long, ông đã khăng khăng từ chối mọi thứ thuốc men, chúng tôi đã phải gần như ép ông và lợi dụng một trong những lúc ông ngất đi mới khiến ông nuốt được một chút giải độc. Nhưng ngay khi ông được biết là các quan đã bỏ đi và chỉ còn có mình ông với chúng tôi (ba sỹ quan Pháp) thì ông đã thuận mọi điều. Hai lần ông hỏi cha Marc: Tôi có thoát được chăng? Than ôi, khi đó đã quá muộn”! Cái chết nào cũng bi. Chết bình thường thì thương. Chết vì nghĩa thì tráng. Chết có toan tính thì hài!

Có người bày đặt chuyện cụ Đồ Chiểu đã làm thơ khóc thương ông quan già họ Phan này rất chi là thống thiết. Tuần báo Văn nghệ TP.HCM số 55, Thứ Năm ngày 26/3/2009, nhà giáo Phạm Thị Hảo, giảng viên môn Văn học cổ Trung Quốc tại Đại học Sư phạm TP.HCM đã có bài: “Viết về Phan Thanh Giản, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã dùng bút pháp Xuân Thu”, giảng giải rành mạch ý tứ thâm sâu của cách “đối” thơ Hán-Nôm là như thế nào. Những câu thơ ý tại ngôn ngoại, tưởng khen mà chê, tưởng thương mà giận, tưởng bi mà hài. Tấm liễn Phan nhân để lại có 11 chữ nhưng cụ Đồ cố ý ghi “Minh tinh chín chữ lòng son tạc” đã như lời mắng nhiếc nặng nề: Phan chết đi chỉ thành quỷ chứ không thể thành thần được!

Tự Đức đã giãi lòng trong thơ: “Khí dân triều trữ cữu – Mại quốc thế gian bình – Sử ngã chung thân điếm – Hà nhan nhập miếu đình” (Bỏ dân ta nhận lỗi – Bán nước thế gian bình – Mai này ta nằm xuống – Mặt nào nhìn tổ tông)! Bởi nhà vua gửi vàng không chọn mặt! Sao đại sự cứ dựa vào kẻ “mại quốc cầu vinh”?! Đấy là mối oan nghiệt của người cầm quyền quốc gia tối thượng khi đã đặt quyền lợi của quốc gia dân tộc dưới cái bệ ngọc ngai vàng thì không thể nhận ra kẻ ngay gian, chính tà, sẽ là rước họa cho mình, cho nước!

Trong bài viết của mình, tác giả Đinh Hữu Quang trích dẫn lời danh nhân Hoàng Bình Trọng: “Dùng Chí luyện Thơ, dùng Thơ luyện Chí/ Chí truyền Thơ lay động đất trời”, khác nào sự mai mỉa với Phan đại nhân thi sỹ?!

Đừng để bị lôi kéo vào ý đồ thâm hiểm của một thế lực bất minh. Họ không từ thủ đoạn nào tô son trát phấn bốc thơm con người ấy, kể cả dưới hình thức văn học – nghệ thuật để đánh lạc hướng dư luận, tạo ra những cái gọi là “góc khuất đáng thương” làm cho công chúng từ cảm thương đến có cảm tình mà dễ dãi quên đi những tỳ vết đã hằn sâu trong lịch sử.

Vào giữa thế kỷ XIX, lũ giặc mắt xanh mũi lõ vượt trùng dương nửa vòng trái đất trên chục chiếc tàu đồng với mấy ngàn quân qua cái xứ sở nhiệt đới khắc nghiệt này, vũ khí là mấy khẩu đại bác cổ lỗ, vài ngàn tay súng kíp chọi với đội quân nón mê chân đất, gươm giáo dao gậy cầm tay mà có cả rừng người sẵn sàng chết không để nước mất vào tay giặc. Vậy mà có những ông vua, ông quan run rẩy không dám cầm gươm, chỉ biết nhìn trước ngó sau mà đái trong quần thì làm sao không mất nước! Hãy nhìn sức giặc hiện nay: Chỉ một bước chân đã vào tận ngõ. Sân trước vườn sau, trên rừng dưới biển, ba bề bốn bên đâu đâu cũng thấy lũ đầu trâu mặt ngựa. Toàn bộ đất đai, núi rừng, biển đảo của ta đều nằm trong tầm phủ gần xa của đủ các loại vũ khí tối tân. Tàu thuyền đặc biển. Máy bay đầy trời. Điều này hiển nhiên ai cũng biết. Thế mà không ít người nhân danh cái gọi là “đổi mới” thi nhau trổ tài điêu toa quay quắt cố dựng dậy một lũ vua quan hèn nhát, bạc nhược, phản phúc, dối trời lừa dân như Phan Thanh Giản nhằm dạy lớp trẻ điều gì? Trong khi nước non đang cần những con người trung dũng!
Ảnh: Phan Thanh Giản chụp tại Paris năm 1863.
Yêu nước ST.

ĐẢNG VIÊN, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, LỰC LƯỢNG VŨ TRANG... VI PHẠM NỒNG ĐỘ CỒN SẼ BỊ GỬI THÔNG BÁO VỀ CƠ QUAN!

         Từ ngày 20/6, lực lượng CSGT toàn quốc sẽ đồng loạt ra quân kiểm tra, xử lý vi phạm trên các tuyến giao thông để kịp thời ngăn chặn các hành vi là nguyên nhân chính dẫn tới tai nạn giao thông. Đợt cao điểm này diễn ra trong 3 tháng, từ 20/6 đến 20/9.
Trong đợt cao điểm này, Bộ Công an chỉ đạo tập trung xử lý từ gốc các hành vi vi phạm nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông; vi phạm tốc độ; vi phạm về cơi nới thùng xe và chở hàng quá tải trọng, quá khổ; phương tiện thủy chở quá vạch dấu mớn nước an toàn.
Để xử lý tận gốc vi phạm về nồng độ cồn, Bộ Công an đề nghị lực lượng chức năng toàn quốc tuyên truyền, vận động các chủ nhà hàng, quán bar, vũ trường... nhắc nhở khách hàng đến ăn uống chấp hành luật Phòng chống tác hại của rượu, bia; không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã uống rượu, bia.
Các trường hợp là Đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang… vi phạm, lực lượng làm nhiệm vụ phải gửi thông báo về cơ quan quản lý để có biện pháp xử lý theo quy định./.
Môi trường ST.

BÁO CHÍ LUÔN LÀ MỘT TRONG NHỮNG LỰC LƯỢNG TUYẾN ĐẦU!

         Chiều 17-6, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì gặp mặt của Thường trực Chính phủ với lãnh đạo các cơ quan báo chí nhân kỷ niệm 97 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925/21-6-2022).
Cùng dự có các Phó thủ tướng: Lê Minh Khái, Vũ Đức Đam; lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam; lãnh đạo Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Quân đội nhân dân, cùng lãnh đạo các cơ quan báo chí, truyền thông trong cả nước.

Tại buổi gặp mặt, đại diện lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, các cơ quan thông tấn, báo chí bày tỏ cảm ơn sự quan tâm, chỉ đạo, tạo điều kiện của Thường trực Chính phủ mà đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động báo chí nước nhà.

Các đại biểu đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vai trò, tình hình hoạt động báo chí hiện nay và những định hướng lớn trong công tác báo chí, tuyên truyền trong thời gian tới; nêu những khó khăn, thách thức hiện nay, đồng thời kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các cơ quan báo chí, đội ngũ nhà báo hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhắc lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Báo chí cách mạng là một mặt trận chiến đấu của cách mạng; cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng; cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Trải qua 97 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự dìu dắt của Bác Hồ, Báo chí Cách mạng Việt Nam không ngừng lớn mạnh về nhiều mặt.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng, đất nước ta đã trải qua năm 2021 và 6 tháng năm 2022 với nhiều điều rất đặc biệt. Trong khi toàn Đảng, toàn dân triển khai các nhiệm vụ sau Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 và các nhiệm vụ thường xuyên khác, dịch Covid-19 lây lan mạnh, ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống xã hội. Trên thế giới, cùng với việc phải đối phó với dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược tiếp tục diễn biến phức tạp; xảy ra xung đột tại Ukraine; giá dầu, giá nguyên liệu đầu vào, lạm phát gia tăng ở nhiều nước trên thế giới; tình trạng biến đổi khí hậu càng trở nên gay gắt...

Trong bối cảnh đó, nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng; sự quản lý, điều hành của Nhà nước; sự vào cuộc của cả hệ thống chính, người dân, doanh nghiệp và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đất nước ta vẫn giành được nhiều thành tựu quan trọng: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an toàn, an dân được đảm bảo; đối ngoại được triển khai đồng bộ, toàn diện, phù hợp với tình hình; kinh tế vĩ mô ổn định; các cân đối lớn được đảm bảo; đời sống của nhân dân ngày càng tốt lên... Trong thành tựu đó, có sự tham gia, đóng góp tích cực của các cơ quan báo chí, những người làm báo nước nhà. “Người làm báo là một trong những lực lượng trên tuyến đầu của các “mặt trận”. Báo chí góp phần làm cho dân biết, dân hiểu, dân theo, dân tin và dân làm”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Thủ tướng cho biết, cả nước đang ra sức cụ thể hóa đường lối của Đảng là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong đó xác định rõ, con người là trung tâm, là chủ thể, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Với mục tiêu, đến năm 2025 nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Trước mắt, thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; cùng với đó, tiếp tục xử lý các tồn đọng nhiều năm như: xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, các dự án thua lỗ, các công trình kéo dài; đẩy mạnh phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi số, chống biến đổi khí hậu...

Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính bày tỏ cảm ơn; gửi tới các đại biểu, đại diện các cơ quan thông tấn, báo chí và tất cả những người làm báo trong cả nước và đang công tác ở nước ngoài lời chúc tốt đẹp nhất. Thủ tướng mong muốn và tin tưởng với truyền thống lịch sử tốt đẹp, trí tuệ, bản lĩnh của mình, các cơ quan thông tấn, báo chí và người làm báo Việt Nam tiếp tục nỗ lực đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp của Đảng, hạnh phúc của nhân dân; góp phần xây dựng Chính phủ liêm chính, kỷ luật, kỷ cương, hành động quyết liệt, hiệu lực hiệu quả; xây dựng đất nước ngày càng hùng cường, thịnh vượng; người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Thủ tướng đề nghị báo chí phát huy tinh thần “mắt sáng, lòng trong, bút sắc”, là vũ khí sắc bén trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đang được Đảng ta triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Thủ tướng chia sẻ về những khó khăn mà báo chí, những người làm báo nước nhà đang trải qua như về chế độ chính sách đối với người làm báo; cơ sở vật chất, trang thiết bị tác nghiệp của báo chí; nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho lực lượng làm báo... “Chính phủ ủng hộ và nỗ lực để tăng cường tiềm lực cho báo chí, theo thẩm quyền; đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phù hợp với yêu cầu thực tiễn và khả năng đáp ứng của đất nước, nằm trong tổng thể chung của các ngành nghề”, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định./.







Môi trường ST.

Tự do, dân chủ, nhân quyền dưới góc nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam

 

Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán, xuyên suốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu trong bảo đảm quyền con người như:

Vai trò của phụ nữ Việt Nam đã được thể hiện rõ nét từ Quốc hội khóa I, chỉ với 10 đại biểu nữ (chiếm 3%) các nữ đại biểu đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình. Trong phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I, bà Lê Thị Xuyến đã được bầu làm Ủy viên Thường trực Quốc hội. Đến năm 1950, tại Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất, bà được bầu làm Hội trưởng. Trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp, bà Lê Thị Xuyến đã đảm nhiệm cùng lúc cả hai vị trí: Ủy viên Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Thập là một trong mười nữ đại biểu đầu tiên của Quốc hội Việt Nam. Trong 18 năm bà là Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đồng thời bà được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội và giữ cương vị này liên tục trong 21 năm, từ khóa III đến khóa VI (1960-1981).

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử Quốc hội Việt Nam vì đây là lần đầu tiên chúng ta có một nữ Chủ tịch Quốc hội là bà Nguyễn Thị Kim Ngân, đồng thời có một Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội là bà Tòng Thị Phóng.

Quốc hội Việt Nam khóa XV được bầu ra ngày 23/5/2021 có 499 đại biểu, trong đó có 151 đại biểu nữ, chiếm 30,26%. Đây là lần thứ hai số nữ đại biểu Quốc hội của nước ta đạt trên 30% (lần đầu tiên là Quốc hội khoá V, đạt 32,31%). Số đại biểu nữ tham gia Quốc hội ngày càng nhiều và đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội. Tỉ lệ nữ ủy viên thường vụ và chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội trong 3 khóa gần đây tăng lên. Số đại biểu nữ giữ các vị trí lãnh đạo trong Quốc hội kỳ này chiếm gần 40%. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số ủy viên Trung ương Đảng chính thức được bầu có 18 đại biểu nữ (chưa tính 1 ủy viên dự khuyết), tăng 1 đại biểu so với nhiệm kỳ khóa XII.

Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong các cấp chính quyền với số nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh đạt 26,5% (tăng 1,37% so với nhiệm kỳ trước); cấp huyện đạt 27,9% (tăng 3,2% so với nhiệm kỳ trước). Trong 63 Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương nhiệm kỳ 2020-2025 có 9 người là nữ tại các tỉnh: Lạng Sơn, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Quảng Ngãi và An Giang. Đây là số lượng nữ Bí thư tỉnh ủy nhiều nhất từ trước đến nay.

Theo thống kê của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, trong nhiệm kỳ này, ở cấp cơ sở, số nữ tham gia cấp ủy đạt 21%, tăng 2%; cấp trên cơ sở đạt 17%, tăng 2%. Đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương, tỷ lệ nữ đạt 16%, tăng 3% so với nhiệm kỳ trước.

Với những chủ trương, đường lối đúng đắn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, nên trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong tham gia lãnh đạo quản lý nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việt Nam đứng ở vị trí thứ 51 trên thế giới, thứ 4 ở châu Á và đứng đầu trong Hội đồng Liên minh nghị viện Hiệp hội Các nước Đông Nam Á về tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội. Chỉ số bình đẳng giới không ngừng được cải thiện. Năm 2020, Việt Nam xếp vị trí 87 trên tổng số 153 quốc gia được khảo sát trên thế giới về thu hẹp khoảng cách giới. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Với những thống kê trên, một lần nữa khẳng định những thành tựu mà Việt Nam đã và đang nỗ lực đạt được trong việc đảm bảo quyền tự do, dân chủ, nhân quyền nói chung và thúc đẩy bình đẳng giới nói riêng. Thực tiễn đó bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và các cá nhân, tổ chức chống đối trong và ngoài nước.


Tư tưởng Hồ Chí Minh-Hoạt động cách mạng luôn gắn liền với báo chí


Tìm hiểu, nghiên cứu những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về báo chí, sự nghiệp và những di sản báo chí của Người có ý nghĩa rất thiết thực đối với việc nghiên cứu, phát triển và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước nói chung, xây dựng và đổi mới nền báo chí nước nhà nói riêng. Đó cũng là ước muốn, nguyện vọng và trách nhiệm của những nhà báo hiện nay.
Làm báo đối với Bác Hồ, chưa bao giờ là hoạt động nghề nghiệp thuần túy mà là phương tiện để làm cách mạng. Chính người đã mở ra dòng báo chí cách mạng Việt Nam bằng việc sáng lập ra tờ báo Thanh niên, số đầu ra ngày 21-6-1925 và đã tổ chức xây dựng nó theo quan điểm lê-nin-nít về báo chí vô sản.
Từ ngày Báo Thanh niên ra số đầu tiên 21-6-1925 đến tháng 8-1945, trong vòng 20 năm, hoạt động báo chí nước ta luôn gắn liền với cuộc vận động cách mạng của nhân dân. Sau bao năm bôn ba ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nước và sáng lập tờ Việt Nam độc lập, nhằm kêu gọi nhân dân đoàn kết đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp.
Hàng loạt tờ báo, tạp chí khác cũng được thành lập như Cứu quốc, Cờ giải phóng, Tạp chí Cộng sản và nhiều tờ báo ở các địa phương đã góp phần tuyên truyền đường lối cứu nước trong cán bộ, nhân dân.
Là tác giả của hàng nghìn bài báo được viết ra suốt hơn 50 năm hoạt động cách mạng, nhà báo Hồ Chí Minh luôn luôn chú ý đến đối tượng phục vụ. Những bài báo viết bằng tiếng Pháp vào những năm đầu thế kỷ XX cho độc giả chủ yếu là người Pháp, những bài báo trên tờ "Việt Nam độc lập" nhằm vào đối tượng quần chúng công nông ở một địa bàn rừng núi chiến khu, rồi hàng trăm bài cho đông đảo độc giả trong cả nước-tất cả đều được viết ra cho phù hợp với trình độ đối tượng. Người chỉ rõ: Muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ của người xem, viết rõ ràng, gọn gàng, chớ dùng nhiều chữ.
Từ một nhà hoạt động cách mạng viết báo với phong cách trí tuệ, sắc sảo, uyên thâm trong môi trường báo chỉ phương Tây, Hồ Chí Minh đã bắt nhịp nhanh chóng với báo chí cách mạng ở trong nước và chỉ đạo có hiệu quả tờ báo "Việt Nam độc lập".
Báo Việt Nam độc lập là tờ báo hành động, gắn bó với quần chúng cách mạng, thôi thúc, giục giã quần chúng tham gia phong trào Việt Minh, chuẩn bị cho thời kỳ lớn, vận hội lớn của dân tộc sắp tới. Hồ Chí Minh không chỉ là người lãnh đạo, định hướng tổ chức mà còn tuyên truyền cổ động cho tờ báo: Báo "Độc lập" hợp thời đệ nhất/Làm cho ta mở mắt mở tai/Cho ta biết đó biết đây.
Các bài viết của Bác Hồ bao giờ cũng có giá trị lý luận và thực tiễn cao; vừa nhuần nhuyễn, đậm đà tính dân tộc, vừa giàu tính hiện đại; vừa mang tính chiến đấu, vừa có sức cảm hóa, thuyết phục mạnh mẽ đối với người đọc… Đó chính là phong cách báo chí Hồ Chí Minh.

Quản lý, bảo vệ biển, đảo vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là yêu cầu cấp bách

             Biển và đại dương ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại, phát triển của nhân loại. Ngày nay, tiến ra biển, khai thác biển và đại dương đang trở thành xu thế khách quan và là mối quan tâm của tất cả các quốc gia có biển và không có biển.

Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm trên bờ phía Tây của Biển Đông, có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên một vùng biển có diện tích hơn một triệu ki lô mét vuông, chiếm khoảng 29% biển Đông, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Việt Nam còn có chủ quyền với khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tài nguyên vùng biển và ven biển nước ta được đánh giá là rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp trên dải đất liền ven biển đến các vùng nước ven bờ, các hải đảo và các vùng biển. Cả nước có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, có 28 tỉnh, thành phố ven biển, trong đó có 12 huyện và thành phố đảo. Trên 50% số dân của nước ta sống ở các tỉnh ven biển. Đó vừa là những điều kiện khách quan thuận lợi để nước ta phát triển đa dạng các ngành kinh tế biển, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn trong quản lý, bảo vệ biển, đảo và khai thác lợi thế kinh tế từ biển, đảo.

Biển gắn bó mật thiết với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua hàng ngàn năm. Ngày nay, khai thác tiềm năng và lợi thế của biển là đòi hỏi khách quan của công cuộc xây dựng đất trong thời kỳ mới. Nghị quyết số 36 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã khẳng định: “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên biển đang tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn có thể dẫn tới mất ổn định, xung đột vũ trang và là mối quan tâm chiến lược của các nước trong và ngoài khu vực. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định: “Khu vực châu Á - Thái Bình Dương; trong đó, Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ẩn nhiều bất ổn. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột”. Vì vậy, quản lý, bảo vệ biển, đảo vừa là mục tiêu chiến lược, vừa là yêu cầu cấp bách của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới.

PHAO

Nhà nước luôn luôn coi trọng vai trò chiến lược của nhân dân biên giới trong quá trình dựng nước và giữ nước

             Trong lịch sử hình thành lãnh thổ quốc gia mấy nghìn năm qua, Việt Nam luôn phải đối phó với chính sách bành trướng bằng vũ lực của phong kiến phương Bắc để mở rộng lãnh thổ xuống phía nam, luôn phải đấu tranh để chống lại những hành động xâm lấn hoặc mua chuộc dụ dỗ các tù trưởng thiểu số của ta dâng đất cho chúng, để gặm nhấm dần lãnh thổ đất ta kiểu tằm ăn lá dâu (chính sách tàm thực).

Biên giới, vùng biển nước ta cũng là nơi cư trú của phần lớn các tộc người thiểu số. Họ là lực lượng tại chỗ rất quan trọng, luôn đứng mũi chịu sào nơi tuyến đầu để bảo vệ bờ cõi, Các vua sáng tôi hiền Việt Nam luôn hiểu rõ sức mạnh của dân, coi sức dân như nước, “dân là gốc của nước”. Vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn coi trọng vai trò chiến lược của đồng bào các dân tộc biên giới, coi đó là “phương lược tốt”, “kế cửu an” cho xã tắc trong việc bảo vệ toàn vẹn biên cương. Đây là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xây dựng chiến lược “biên giới lòng dân” trong lịch sử.

Như vậy, sự nghiệp gìn giữ quốc gia cương thổ là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, gian khổ, lâu dài. Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, ông cha ta đã coi mỗi người dân biên giới là một người lính biên thùy. Với quan điểm cả nước đánh giặc, toàn dân là lính, Nhà nước đã huy động được sức mạnh nhân dân biên giới, vùng biển, lực lượng trực tiếp tại chỗ rất quan trọng để bảo vệ bờ cõi.

PHAO

CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ AN NINH MẠNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

  Phân loại theo hình thức, có 04 nhóm biện pháp bảo vệ an ninh mạng gồm:

+ Biện pháp An ninh mạng, với 07 biện pháp chủ yếu: Thẩm định an ninh mạng; Đánh giá điều kiện an ninh mạng; Kiểm tra an ninh mạng; Giám sát an ninh mạng; Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng; Đấu tranh bảo vệ an ninh mạng; Sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng.

+ Biện pháp hành chính:

Ngăn chặn, yêu cầu tạm ngừng, ngừng cung cấp thông tin mạng; Đình chỉ, tạm đình chỉ các hoạt động thiết lập, cung cấp và sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, sản xuất và sử dụng thiết bị phát, thu phát sóng vô tuyến; Yêu cầu xóa bỏ, truy cập xóa bỏ thông tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật; Phong tỏa, hạn chế hoạt động đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu ngừng hoạt động của hệ thống thông tin; Thu hồi tên miền.

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, vi phạm pháp luật về an ninh mạng có thể bị cảnh cáo, phạt tiền; áp dụng các hình phạt bổ sung: tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật vi phạm; buộc ngừng hoạt động, đình chỉ, tạm đình chỉ, buộc khôi phục tình trạng cũ, buộc xóa bỏ, tháo gỡ, tiêu hủy thông tin, nội dung thông tin.

+ Biện pháp điều tra, truy tố: Thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hành vi vi phạm;Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Các biện pháp khác, gồm: Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia, gồ vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang theo Luật An ninh quốc gia.

- Phân loại theo nội dung, có biện pháp phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ.

+ Biện pháp phòng ngừa xã hội: Thực hiện quản lý nhà nước về an ninh mạng; tham mưu ban hành các chủ trương, chính sách, pháp luật và các giải pháp bảo vệ an ninh mạng; hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, đấu tranh với hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về an ninh mạng; vận động quần chúng; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.

+ Biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ: Tổ chức các biện pháp nghiệp vụ cơ bản, nhất là công tác điều tra cơ bản “ĐTCB”, nắm tình hình, chủ động phát hiện, đề xuất khắc phục các yếu tố đe dọa xâm phạm đến an ninh mạng; thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, biện pháp pháp luật, nghiệp vụ và tố tụng hình sự.

PHAO