Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam - lực lượng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

 

 

Ngay sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân (giới công thương) gắn với sự nghiệp chung của đất nước. Hiện nay, đội ngũ doanh nhân ở nước ta là những người quản lý doanh nghiệp trong kinh doanh (từ sản xuất, đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ) các thành phần kinh tế. Đội ngũ doanh nhân có vị trí quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp góp phần to lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa. Xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và phẩm chất, uy tín cao, sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế”.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có trách nhiệm trước hết trong hoạt động quản lý kinh doanh để doanh nghiệp luôn phát triển mờ rộng đầu tư trong nước và ngoài nước. Điều này đòi hòi đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội cao.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam, có vai trò to lớn trong tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, hàng hóa, dịch vụ cho đất nước và xuất khẩu. Hằng năm, ở Việt Nam có hàng triệu lao động mới đòi hỏi có việc làm. Thu nhập của người lao động ngày càng tăng, đời sống được cải thiện là thước đo phát triển của doanh nghiệp. Phát triển của doanh nghiệp tác động tích cực đến các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam quản lý phát triển doanh nghiệp, đóng góp cho ngân sách nhà nhà nước, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng và gìn giữ thương hiệu hàng hóa Việt Nam, từ đó, góp phần làm giàu cho mình và cho đất nước.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam góp phần xây dựng các tổ chức chính trị-xã hội trong công nhân (Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên...), xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định và tiến bộ. Trách nhiệm này ở mọi loại hình doanh nghiệp nhưng đặc biệt phải nâng cao đối với doanh nhân ở các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước.

Đội ngũ doanh nhân Việt Nam tham gia các chương trình xã hội, phong trào xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chương trình vì cộng đồng; gắn bó với giai cp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đội ngũ trí thức Việt Nam có vị trí, vai trò quan trọng

 

Khẳng định vai trò quan trọng của trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyên lên chủ nghĩa xã hội được...”. Ở nước ta, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, trí thức Việt Nam là “một bộ phận trong lực lượng cách mạng” và “là vốn liếng quý báu của dân tộc”.

Quan niệm về trí thức ở Việt Nam đã được nêu ra trong Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung khóa X (2008): “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhắt định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bálàm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”.

Trên quan điểm mácxít và từ tầm quan trọng của nhận thức, nhất là của tri thức khoa học, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ hơn vị trí của đội ngũ trí thức Việt Nam trong phát triển xã hội. Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức; đồng thời, nhấn mạnh rằng: Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển.

Để “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trờ thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa", vị trí của trí thức lại càng cần được coi trọng phát huy. Vị trí quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam được thể hiện qua những vai trò cụ thể trong lao động khoa học sáng tạo.

Đội ngũ trí thức Việt Nam là một chủ thể của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại và đóng góp phần quan trọng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, có vai trò chủ chốt trong nghiên cứu khoa học và tham gia chuyển giao công nghệ. Nghiên cứu khoa học ờ các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học công nghệ; trong các dạng nghiên cứu cơ bản (R), nghiên cứu và phát triển (R&D) và hình thành các dự án (P) đưa vào sản xuất.

Đội ngũ trí thức Việt nam có vai trò và thế mạnh trong tư vấn, phản biện, giám định xã hội về mặt khoa học đối với các kế hoạch, công trình, dự án,... các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước... các hội nghề nghiệp của trí thức là nơi tập trung “chất xám” chuyên ngành và sâu, nên có thuận lợi cho việc thực hiện vai trò này.

Đội ngũ trí thức Việt Nam có vai trò trực tiếp và quan trọng trong xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Hiện nay, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam là phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ; “phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tự hào dân tộc, tính cộng đồng và khơi dậy khát vọng vươn lên”. Vì vậy, việc xây dựng này phải có sự cố gắng chung của cả xã hội, nhưng trong đó, đội ngũ trí thức có chuyên môn về giáo dục - đào tạo, y - dược, văn hóa - nghệ thuật, báo chí - tuyên truyền... đóng vai trò trực tiếp, quan trọng.

Đội ngũ trí thức Việt Nam góp phần quan trọng tham gia giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại hiện nay và sự phát triển bền vững cho dân tộc và nhân loại. Đây là những vấn đề rộng lớn, khó khăn, việc giải quyết không chỉ của một quốc gia, mà cần có sự hợp tác của nhiều nước và của toàn thế giới, trong đó, không thể thiếu sự tham gia của nguồn nhân lực chất lượng cao, những chuyên gia, nhà nghiên cứu giỏi... của đội ngũ trí thức lao động sáng tạo.

Nông dân - chủ thể của trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới

 


 

Khẳng định vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen chỉ rõ: “...nông dân đều là một nhân tố rất cơ bản của dân cư, của nền sản xuât và của lực lượng chinh trị”.

Ở Việt Nam, giai cấp nông dân là một lực lượng đông đảo, bao gồm những người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp (gồm cả lâm, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng và biển để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp, hoặc tham gia sản xuất kinh doanh, dịch vụ của gia đình (đơn vị kinh tế tự chủ hoặc tập thể). Họ đang chuyển biến mạnh mẽ cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, quá trình chuyển đổi từ hợp tác xã kiểu cũ sang kiểu mới và xây dựng nông thôn mới.

Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có quan hệ mật thiết. Do vậy, ngày nay xác định vị trí của giai cấp nông dần không tách rời vị trí của nông nghiệp và nông thôn. Vì thế, trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới”. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thì giai câp nông dân là "chủ thể” xây dựng nông thôn mới là "căn bản"; phát triển nông nghiệp là then chốt”. Vị trí chiến lược này, trong thực tế, được thể hiện tập trung ở các vai trò sau:

Một là, trong lĩnh vực kinh tế, giai cấp nông dân Việt Nam là chủ thể của ngành sản xuất nông nghiệp, hướng tới phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp sạch, trình độ cao và phát triển bền vững. Giai cấp nông dân đóng góp một phần quan trọng vào tăng trưởng GDP, nhất là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và vào việc hình thành mô hình sản xuất mới trong nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại; đồng thời, góp phần không nhỏ vào hoạt động xuất khẩu nông sản, tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

 Hai là, trong lĩnh vực chính trị, giai cấp nông dân Việt Nam cùng với giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức là cơ sở chính trị - xã hội tin cập của hệ thống chính trị, là chủ thể trực tiếp hiện thực hóa đường lối chính trị, chính sách của Đảng, Nhà nước ở nông thôn, đồng thời, là lực lượng đi đầu trong thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Ba là, trong lĩnh vực văn hóa – xã hội, giai cấp nông dân Việt Nam góp phần giữ gìn, phát huy giá trị và bản sắc văn hóa dân tộc; là chủ thể xây dựng nông thôn mới; tích cực tham gia các phong trào xã hội ở nông thôn và góp phần vào thực hiện các phong trào này của cả nước.

Vị trí vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam đang trên đà phát triển cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trong thực tế, vị trí hay sứ mệnh lịch sử to lớn của giai cấp công nhân Việt Nam được hiện thực hóa bằng các vai trò cụ thể ở các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.

Trong lĩnh vực chính trị, trước hết, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của hệ thống chính trị và là lực lượng nòng cốt của khối liên minh ngày càng được mở rộng trên mọi lĩnh vực phát triển xã hội...

Trong lĩnh vực kinh tế, giai cấp công nhân Việt Nam là bộ phận hàng đầu của lực lượng sản xuất, đóng góp lớn vào thành tựu của nền kinh tế quốc dân, nhất là trong tăng trưởng GDP và tổng thu ngân sách nhà nước... Do đó, giai cấp công nhân còn góp phần quan trọng đến định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta...

Trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. giai cấp công nhân Việt Nam hăng hái trong phong trào thi đua lao động, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiếp thu và làm chủ hiệu quả khoa học - công nghệ tiên tiến. Họ còn nêu gương lối sống công nghiệp, có tổ chức, kỷ luật cao…

ĐỪNG BỊ LẠC TRÔI THEO NHỮNG LỜI TUNG HÔ, KÍCH ĐỘNG


Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.

Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á - Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”.

“Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm.

Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

                                                                                                PQ

 

Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

 


 

          Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Mục đích nhằm xây dựng Đảng trong sạch ,vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới; phòng và chống những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Đảng khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định nguyên tắc tập  trung dân chủ, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ hoặc chủ quan, nóng vội, cực đoan. Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, khắc phực suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống âm mưu  và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và nhân dân.

        Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm từng tổ chức, sáp nhập một số ban, bộ, ngành Trung ương để giảm bớt đầu mối, thực hiện cải cách hành chính trong Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng. Chú trọng kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các khâu của công tác cán bộ. Đổi mới và tăng cường công tác dân vận. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.

          Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương các cấp.

          Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp đổi mới. Dân chủ  gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật,  được pháp luật bảo đảm.

BẢO ĐẢM AN NINH TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ HOẠI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Trong thời kỳ chiến tranh, thực dân đế quốc tìm cách lợi dụng tuyên truyền tôn giáo vào các vùng dân cư của ta để ''ru ngủ'' quần chúng cũng như phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Hiện nay, chiêu bài này tiếp tục được sử dụng với nhiều hình thức tinh vi để phá hoại sự ổn định của xã hội.

Trong mối quan hệ với an ninh quốc gia, tôn giáo giữ một vai trò vô cùng quan trọng. Để giải quyết tốt các vấn đề liên quan, Đảng, Nhà nước ta đã quy định rõ vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng trong Hiến pháp và các luật liên quan. Đồng thời, xác định rõ giữa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với các hành vi lợi dụng, vi phạm pháp luật.

Để ngăn chặn hoạt động lợi dụng chống phá, chúng ta phải quan tâm đến đời sống của bà con, nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đặc biệt, phải tập trung phát hiện các đối tượng lợi dụng tôn giáo để chống đối, nhanh chóng thu thập chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của đối tượng để đưa ra xử lý trước pháp luật. Mặt khác, tiếp tục củng cố mối quan hệ với các tổ chức tôn giáo trên thế giới, vì sự phát triển lành mạnh, hài hoà giữa đời sống tôn giáo và các lợi ích quốc gia, công cộng.

                                                                                      PQ

Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế hiện nay

 


 

       Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới; phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước, trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên.

THỦ ĐOẠN TUYÊN TRUYỀN, XUYÊN TẠC CÁC VẤN ĐỀ SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH ĐẤT NƯỚC TA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

 

Trong hàng ngũ chức sắc tôn giáo ở Việt Nam, bên cạnh đa số đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước thì có những cá nhân “nuôi” cái nhìn sai lệch về chế độ, thậm chí mang trong mình tư tưởng thù địch, chống đối với chính quyền.

Thông qua các buổi rao giảng giáo lý, giáo luật, các đối tượng núp dưới vỏ bọc tôn giáo, lồng ghép các tư tưởng, thông tin sai lệch, xuyên tạc vấn đề, kích động các tín đồ chống đối với chính quyền, chia rẽ mối đoàn kết dân tộc. Lướt qua các trang truyền thông, không khó để bắt gặp các video giảng đạo có nội dung đi ngược chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đi ngược giáo lý, giáo luật.

Tôn giáo là hệ thống niềm tin của con người. Nó tác động đến nhận thức, suy nghĩ, cách nhìn nhận của con người. Chính vì vậy, việc lợi dụng tôn giáo để chống phá vô cùng nguy hiểm. Từ việc nhận thức sai lầm, sẽ có những hành động sai lệch, xâm hại đến tình hình an ninh, trật tự cũng như lợi ích của xã hội.

                                                                                      PQ

Phát triển văn hóa, con người, giải quyết các vấn đề xã hội trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


 

Kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng chính sách và từng bước phát triển. Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở rộng giao lưu văn hóa thế giới, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú hơn đời sống văn hóa, con người Việt Nam. Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ, coi phát triển giáo dục, đào tạo cùng với  khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu. Phát triển khoa học công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; nâng tỷ lệ đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFT) vào tăng trưởng.

      Quan tâm thực hiện các chính sác xã hội vì hạnh phúc của con người, coi đây là thể hiện tính ưu việt, bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và cũng là khắc phục mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường; nâng cao đời sống vật chất của mọi thành viên xã hội về ăn, ở, đi lại, lao động, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất. Mỗi năm chúng ta tạo bình quân 1,5 đến 1,6 triệu việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5-2%/ năm. Giảm nghèo của Việt Nam được Liên Hiệp quốc công nhận và đánh giá cao.

       Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh; hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả; phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…

Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan

 


Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử đặc biệt do chính trị đã chuyển trọng tâm sang chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ kinh tê trở thành nhiệm vụ trọng tâm đê xây dựng nền tảng vật chất - kỳ thuật cho chủ nghĩa xã hội, do vậy liên minh giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội là một vấn đề khách quan đặt ra. Khẳng định điều này, trong thư Gửi Đại hội quốc tế các sinh viên xã hội chủ nghĩa, Ph.Ăngghen đã từng viết: “Các cuộc cách mạng tư sản trước đây đòi hỏi các trường đại học chỉ đào tạo ra các trạng sư làm nguyên liệu tốt nhất để hình thành nên những nhà hoạt đọng chính trị của chúng; ngoài đòi hỏi đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những bác sĩ, kỹ sư, nhà hóa học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc…”. Khi chỉ ra tính đặc biệt của kết cấu kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá độ lên chù nghĩa xã hội, V.I.Lênin chi rõ: thời kỳ này cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế khác nhau, tương ứng với cơ cấu kinh tế ấy là cơ cấu xã hội - giai cấp cùng với nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau.

Xét dưới góc độ kinh tế - kỳ thuật và phân công lao động, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình sản xuất, trong xã hội tất yếu hình thành các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau: công nghiệp, nông nghiệp, khoa học và công nghệ, dịch vụ,... Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đặt ra yêu cầu khách quan phải gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực này với nhau để hình thành nền kinh tế quốc dân thống nhất, hiệu quả cao nhằm tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, lĩnh vực khoa học và công nghệ tất yếu đóng một vai trò rất quan trọng. Khăng định điêu này, V.I Lênin chỉ rõ: “Trước sự liên minh của các đại biểu khoa học, giai câp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối nào đứng vững được”.

Vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thời kỳ quá độ hiện nay, tất cả các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội đều có nền nông nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, khi khoa học – công nghệ đã phát triển ở trình độ cao, tất yếu phải coi trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng những thành tựu cùa khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ cao, công nghệ thông minh, hoạt động hiệu quả và xây dựng nền nông nghiệp sạch, phát triển bền vững. Muốn vậy, nông nghiệp phải được phát triển trong sự gắn bó khăng khít và hồ trợ đắc lực của công nghiệp, khoa học - công nghệ và dịch vụ. Đấn lượt mình, khoa học - công nghệ và dịch vụ cũng chi phát triển được khi hướng tới phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Vì vậy, nông nghiệp, công nghiệp, khoa học và công nghệ, dịch vụ,... phải liên kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời để tạo thành nền cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, phát triển nhanh và bền vững. Theo đó, các chủ thể của các lĩnh vực là công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân... tất yếu phải liên minh, liên kết với nhau để cùng thực hiện những nhu cầu và lợi ích kinh tế chung của mỗi chủ thể.

Xét dưới góc độ chính trị - xã hội, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên minh giai cấp, tầng lớp nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để cải tạo xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, thực hiện khối liên minh này - trong đó giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức là lực lượng nòng cốt nhất, cơ bản nhất của khối liên minh – nhằm tập hợp các lực lượng trong xã hội để tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức không chi là ba lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, mà họ còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và trong đời sống chính trị. Do vậy, xây dựng khối liên minh nhằm tạo thành nền tàng cùa chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sờ đó, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, liên kết, hợp tác rộng rãi với các tầng lớp khác trong xã hội để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng khối liên minh này phải được tổ chức dưới sự lãnh đạo cùa Đảng cộng sản của giai câp công nhân nhằm đàm bào giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể trong khối liên minh. Do vậy, theo V.I. Lênin, liên minh là vấn đề mang tính nguyên tắc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. “Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai câp vô sản có thể giữ được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước”.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng tất yếu còn những giai cấp, tần lớp hoặc lao động và bóc lột, tiên tiến và lạc hậu… Các giai cấp bóc lột đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, vẫn thường xuyên tìm cách giành lại địa vị thống trị của mình đã mất; những con người của xã hội cũ còn lại không chịu cải tạo để hòa mình với xã hội mới... Cho nên, đấu tranh giai cấp vẫn còn, thậm chí có lúc ác liệt. Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải liên minh chặt chẽ trong đấu tranh với những cái cũ và phát triển những cái mới trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thời kỳ quá độ là nhừng năm tháng đầu tiên của chủ nghĩa xã hội với những nhiệm vụ nặng nề, phong phú và phức tạp. Đó là quá trình cải biến cách mạng toàn diện để dần hình thành những đặc trưng của “chủ nghĩa xã hội thực thụ” (V.I.Lênin). Vì thế, rất cần phát huy nguồn lực con người, tập hợp và liên kết đông đảo các giai cấp, tầng lớp nhân dân cho xây dựng hội mới, thực hiện thành công những nhiệm vụ cùa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Lịch sử phong trào công nhân quốc tế ngày càng chứng minh trong thực tế rằng” “vận động là tự thân”, “cách mạng là ngày hội của quần chúng”. Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ phải do những con người, những giai cấp, tầng lớp có năng lực, trình độ ngày càng cao, được giáo dục, đào tạo trong chủ nghĩa xã hội thực hiện với tinh thần đoàn kết, hợp lực, hợp tác... sẽ nhân lên sức mạnh lớn hơn nhiều so với khả năng của giai cấp, tầng lớp một cách riêng biệt.

Vì thế, liên minh giai cấp, tầng lớp trong nước cùng với đoàn kết quốc tế là nội dung trọng yếu trong chiến lược - sách luợc mácxit suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đế xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện phong phú và phức tạp của thế giới hiện nay.

MƯU ĐỒ HÌNH THÀNH CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP BẰNG VIỆC LỢI DỤNG VỎ BỌC TÔN GIÁO CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG

 

Dưới bóng tổ chức tôn giáo, các đối tượng thù địch âm mưu tiến hành thành lập, xây dựng lực lượng, hình thành nên tổ chức chống đối. Đây là một con đường đang được kẻ địch triệt để lợi dụng. Tôn giáo được lấy ra làm cái cớ để tập hợp, thu hút mọi người tham gia. Đồng thời, vỏ bọc tôn giáo cũng như một tấm bùa “hộ mệnh” cho các tổ chức này. Âm mưu của các tổ chức phản động dưới vỏ bọc tôn giáo có thể thấy đang diễn biến phức tạp.

Thông qua sự quản lý, điều hành của các đối tượng chống đối, một số cơ sở tôn giáo nếu không quản lý tốt sẽ bị biến thành nơi để các đối tượng hội họp, bàn luận, chỉ đạo các hoạt động chống phá, rao giảng những luận điệu sai trái.  

Mặt khác, thông qua vỏ bọc tôn giáo, các đối tượng muốn “hợp pháp hoá” hoạt động của mình. Khi cơ quan chức năng phát hiện bản chất phía sau và không công nhận hoạt động, các đối tượng lại tiếp tục rêu rao, vu khống Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền, không có tự do tôn giáo”.

                                                                                                PQ

THỦ ĐOẠN ĐƯA NHỮNG BẢN PHÚC TRÌNH, BÁO CÁO SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG


Thời gian qua, một số cơ quan, tổ chức như Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, Nghị viện châu Âu, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (AI)... đã đưa ra nhiều phúc trình có nội dung sai lệch về tình hình Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 29-4, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra bản phúc trình về tự do tôn giáo. Khi nói về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra các nhận định, đánh giá chủ quan, phiến diện, không đúng sự thật.

Và vẫn như thường lệ, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch như nêu trên. Qua việc nghiên cứu các bản phúc trình, báo cáo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của các tổ chức trên, không khó để chúng ta nhận thấy sự kỳ thị, thù địch của những người soạn thảo. Đặc biệt, nhiều nội dung trong đó vu khống, bóp méo vấn đề tôn giáo của nước ta.

Suy cho cùng, đằng sau ngọn cờ tôn giáo vẫn là các mưu đồ về chính trị. Tôn giáo đã bị biến thành công cụ, phương tiện, thậm chí, nó còn được coi là một “đòn hiểm” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Với Việt Nam, các thế lực chống đối luôn tìm mọi cách để tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của nhà nước, từ đó dễ dàng khống chế và sử dụng tôn giáo vào mục đích chống phá.

Thực tế cho thấy, việc Bộ Ngoại giao Mỹ và nhiều quốc gia phương tây thường xuyên tiến hành các cuộc điều trần về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cũng như xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia “không có tự do tôn giáo” cũng chỉ để tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta, từ đó làm thay đổi bản chất của chế độ, đưa Việt Nam đi vào sự lệ thuộc.

                                                                                      PQ

Liên minh giai cấp, tầng lớp mang tính phô biên và là một động lực của phát triển xã hội

 


Liên minh giai cấp, tầng lớp cũng giống như đấu tranh giai cấp tầng lớp, mang tính phổ biên và là một động lực của phát triển xã hội, hơn nữa, là động lực to lớn, không chi trong cách mạng xâ hội, mà trong sự vận động xã hội nói chung. Điều này được thể hiện cao nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong xây dựng xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Điều này đã được C.Mác khẳng định khi ông chỉ ra rằng: nhiều cuộc đấu trạnh của giai cấp công nhân (ở Anh và Pháp giữa vào cuối thế kỷ XIX) đã thất bại và chịu tổn thất to lớn chủ yếu là vì đã không tổ chức liên minh được với “người bạn đồng minh tự nhiên” của mình là giai cấp nông dân trong tất cả các quốc gia mà nền sản xuất nông nghiệp còn chiếm vị trí căn bản. Do vậy, các cuộc cách mạng vô sản này đã trờ thành những “bài ai điếu”. Từ đó, liên minh giai cấp, tầng lớp trở thành một trong những lý luận căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin khi các ông xem đây là một trong những vấn đề nguyên tắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở cả hai giai đoạn: giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đến nay, trên cơ sở những quan điêm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đều tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện của mỗi nước.