Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Nâng cao vai trò, trách nhiệm của thanh niên Việt Nam trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 22.10.2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới đã nêu rõ: “cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên Internet; biết khai thác, sử dụng Internet một cách hiệu quả, thiết thực và lành mạnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông; vận dụng tổng hợp các hình thức tuyên truyền, kết hợp chặt chẽ với đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng, tuyên truyền đối ngoại, tuyên truyền trên Internet, các mạng xã hội và các kênh truyền thông khác, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch...”. Vì vậy, cần tăng cường mạnh mẽ hơn các hoạt động nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của thanh niên Việt Nam trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng.

Một là, mỗi thanh niên cần không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ kiến thức, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,… Nắm vững và cập nhật kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là các nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đủ để có thể phát hiện, nhận diện, xử lý, phân tích, dự báo tác hại của các thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Hai là, bên cạnh việc bồi dưỡng các kiến thức nền tảng, cần mở các lớp tập huấn thường xuyên, liên tục để cập nhật kịp thời kỹ năng sử dụng Internet trong hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng (quản trị trang, nhóm; nắm tình hình tư tưởng, dư luận qua các trang, nhóm; xây dựng chuyên mục sao cho hấp dẫn, thiết kế thông điệp đăng tải sao cho phù hợp, nắm bắt được các xu hướng về nội dung...). Nếu có điều kiện, có thể mời những chuyên gia hàng đầu trên thế giới, hoặc tham dự các khóa bồi dưỡng tại các nước phát triển về quản lý lĩnh vực này, từ đó kịp thời nắm bắt được các thay đổi nói chung, nhận biết nhiều đối tượng vi phạm trên phạm vi các khu vực, vùng lãnh thổ, hoặc trên toàn thế giới. Từ đó kịp thời có biện pháp ứng biến phù hợp mỗi khi có biến động xảy ra. Đồng thời, mỗi thanh niên cần tự trang bị cho mình kiến thức, kỹ năng, bản lĩnh, luôn đề cao trách nhiệm của bản thân trước những thông tin bịa đặt, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước khi sử dụng mạng xã hội.

Ba là, tổ chức Đoàn thanh niên các cấp cần nâng cao vai trò định hướng và kết nối rộng rãi, chặt chẽ các thành viên trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: tổ chức các diễn đàn học tập, trao đổi kinh nghiệm giữa tổ chức Đoàn thanh niên các cấp từ Trung ương đến địa phương về đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch trên không gian mạng; lên kế hoạch tạo lập các trang thông tin, fanpage; thu hút thanh niên tích cực tham gia thiết kế, truyền tải các thông tin, thông điệp thiết thực, hấp dẫn về chủ nghĩa Mác - Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những tấm gương người tốt việc tốt… tác động đến đối tượng là giới trẻ, đồng thời lan tỏa ra toàn xã hội.

Bốn là, tận dụng triệt để đội ngũ nhân lực trẻ; lợi thế của Internet, của mạng xã hội để tạo nên những sản phẩm thông tin về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng một cách đa dạng, mới mẻ, thu hút đông đảo công chúng. Truyền tải các thông tin chính thống góp phần đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm, luận điệu chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng, định hướng dư luận xã hội, đặc biệt là vào thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng và sự kiện lịch sử lớn của đất nước.

Năm là, xây dựng đội truyền thông chuyên nghiệp thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng với lực lượng nòng cốt là sinh viên, thanh niên, trí thức trẻ thuộc Ban chỉ đạo 35 các cấp, ngành, địa phương; từ đó tạo ra một mạng lưới các đội truyền thông chuyên nghiệp trên cả nước. Đội truyền thông này sẽ được đào tạo một cách chuyên sâu về kiến thức cũng như các kỹ năng trong nắm tình hình, nhận diện các thông tin sai trái, xuyên tạc, mặt khác, thông tin, tuyên truyền những nội dung chính thống, giúp định hướng dư luận xã hội.

Đã có rất nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các phương thức khác nhau trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế là, các thông tin có nội dung phản động xuất hiện rất nhiều, thậm chí vô số và nhiều trong số đó được xây dựng bài bản, có hệ thống, móc nối rất chặt chẽ giữa các cá nhân, tổ chức phản động khác nhau. Để chủ động ứng phó kịp thời với tình trạng này, không có cách nào khác, cần xây dựng, tổ chức một lực lượng chuyên nghiệp hơn, vững vàng hơn, hoạt động chặt chẽ, đồng bộ hơn, thông tin được truyền tải có chất lượng hơn, hệ thống, cập nhật hơn, tần suất và thời lượng lớn hơn. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ quan trọng, nhưng cũng mang nhiều khó khăn và thách thức. Vì vậy, thanh niên với vai trò là những người trẻ, là lực lượng nhiều tiềm năng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc, cần có những hành động cụ thể, kịp thời, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch... hướng tới xây dựng đất nước đoàn kết, văn minh, giàu đẹp.

Kiên quyết đấu tranh, bác bỏ biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến thời kỳ hội nhập

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, tạo dựng môi trường và không gian xã hội mới, xóa nhòa khoảng cách về không gian, thời gian và địa vị xã hội của mỗi con người; tạo ra sự giao lưu, tiếp biến văn hóa khác hẳn về chất trên tất cả các lĩnh vực, với tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Việt Nam hiện là quốc gia có tốc độ phát triển và ứng dụng internet thuộc tốp đứng đầu thế giới1, không gian mạng được sử dụng để tương tác trong học tập, lao động, giao tiếp, giải trí của người dân đã trở nên phổ biến và quen thuộc. Chúng ta đang đứng trước cơ hội và thách thức tiếp cận khối lượng khổng lồ các sản phẩm văn hóa của nhân loại bao gồm cả sản phẩm có giá trị văn hóa và phản văn hóa. Đảng, Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại. Song, trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là sự kết nối xuyên “biên giới” trên không gian mạng, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa vẫn còn những lệch lạc, biểu hiện ở hiện tượng “sùng ngoại” và “lai căng” văn hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến thời kỳ hội nhập. Để giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc, một mặt phải không ngừng chăm lo, xây dựng những giá trị văn hóa tốt đẹp, mặt khác cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa trên không gian mạng theo tinh thần: “Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đồng thời chủ động nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh, thiếu niên đối với các văn hóa phẩm ngoại lai độc hại”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các quốc gia, trong đó có Việt Nam là tất yếu khách quan, song sự du nhập, “lai căng” văn hóa từ bên ngoài đối với từng quốc gia cũng khác nhau. Điều này phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng các thiết chế quản lý văn hóa của mỗi nước. Vì thế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa nói chung và trên không gian mạng nói riêng là vấn đề rất quan trọng. Đây là những cơ sở pháp lý cần thiết để các cấp, ngành, tổ chức, lực lượng đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm về văn hóa. Theo đó, cùng với quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về văn hóa, cần đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách, khung pháp lý về văn hóa, quản lý văn hóa ở tất cả các cấp. Đồng thời, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, nhằm phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực, tạo động lực cho bản sắc văn hóa dân tộc phát triển theo hướng hiện đại, hội nhập mà không hòa tan. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; nâng cao năng lực bảo vệ hệ thống thông tin quốc gia, góp phần bảo đảm chủ quyền, an ninh, trật tự và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh trên không gian mạng. Tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ cơ chế thị trường trong lĩnh vực văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy đầu tư, sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu thụ các sản phẩm, nguồn tài nguyên, dịch vụ văn hóa nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại trên không gian mạng. Thực tiễn hoạt động văn hóa ở từng địa phương, lĩnh vực và cả nước cho thấy, tuy cùng chịu sự tác động của văn hóa ngoại lai, nhưng ở đâu có môi trường văn hóa tốt hơn thì ở đó sự “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa sẽ ít hơn và việc đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện này cũng dễ dàng hơn và ngược lại. Vì thế, để nâng cao sức đề kháng của nhân dân trước sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai độc hại cần phải xây dựng môi trường văn hóa xã hội lành mạnh. Để làm được điều đó, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống giá trị văn hóa với các tiêu chí, chuẩn mực cụ thể trong từng lĩnh vực: giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, báo chí và truyền thông, tôn giáo và tín ngưỡng; trong gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, các cơ quan trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội,... nhằm hình thành các chuẩn mực về văn hóa đạo đức, hành vi ứng xử của từng cá nhân. Khai thác, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa hiện có; thực hiện nghiêm các quy tắc ứng xử văn hóa, văn minh trên môi trường mạng xã hội, hướng tới những giá trị cao đẹp, “chân, thiện, mỹ”. Thực hiện tốt vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, người có uy tín trong cộng đồng trong việc thực hiện quy chế, chuẩn mực đạo đức, thực sự là tấm gương sáng, là hạt nhân trong việc xây dựng môi trường văn hóa. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh đấu tranh bác bỏ các hiện tượng văn hóa độc hại, biểu hiện “sùng ngoại”, “lai căng” văn hóa, nhất là trên không gian mạng ở ngay mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị và mỗi gia đình. Quá trình đấu tranh cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhân tố quyết định, “chống” là quan trọng. Trong dòng chảy phát triển của nhân loại, việc giao thoa văn hóa giữa các quốc gia, dân tộc như là một lẽ đương nhiên và không một quốc gia nào có thể đứng ngoài dòng chảy đó. Trong bối cảnh ấy, cùng với các giải pháp khác, việc sử dụng sức mạnh nội sinh của văn hóa nước nhà để ngăn chặn, giảm thiểu,... sự tác động của văn hóa ngoại lai xấu độc là vấn đề cần được chú trọng. Vì thế, cần chủ động hội nhập, tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế về văn hóa, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc. Chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để các nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan văn hóa, du lịch nước ngoài giới thiệu tiềm năng đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với thế giới. Trong hội nhập cần phát huy bản lĩnh văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc; giải quyết hài hòa mối quan hệ văn hóa với chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh với các nước và cộng đồng quốc tế; kiên quyết chống sự áp đặt, đồng hóa về văn hóa từ các nước lớn. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển như vũ bão, kéo theo đó là sự phát triển của không gian mạng cùng sự giao thoa, tiếp biến văn hóa khổng lồ đối với mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Do đó, để nâng cao hiệu quả đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục, các cấp, ngành, lực lượng, địa phương cần đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đi đôi với bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng trong công tác quản lý nhà nước và trong thực hiện các nhiệm vụ. Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu, phát triển, sản xuất các sản phẩm của Việt Nam trên không gian mạng, tiến tới đủ năng lực bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ an ninh mạng và làm chủ không gian mạng. Triển khai xây dựng phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp gắn với xây dựng các quy chế phối hợp và các giải pháp kỹ thuật trong kiểm soát, ngăn chặn các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta từ mạng internet, các thiết bị kỹ thuật số, điện thoại di động. Xây dựng quy chế phối hợp với các hãng công nghệ nước ngoài như Google, Youtube xóa bỏ các kênh thông tin xấu, độc, không phù hợp với văn hóa nước ta. Biểu dương, khen thưởng những điển hình tốt, gương tiêu biểu trong giữ gìn đạo đức, thuần phong mỹ tục, xây dựng cơ quan, đơn vị, gia đình văn hóa và trong công tác phòng, chống, bài trừ, phê phán các sản phẩm văn hóa “sùng ngoại”, “lai căng”; kịp thời xử lý nghiêm minh, những tổ chức, cá nhân có sai phạm.

Phòng ngừa, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa trong tình hình mới

 

Trước tình  hình thế giới và đất nước ta hiện nay, các thế lực thù địch, phản động ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá, xâm phạm an ninh quốc gia với âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt bằng “diễn biến hòa bình” (DBHB), “bạo loạn lật đổ”.

Trong đó, DBHB trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa (TTVH) là một mặt hoạt động chủ yếu trong chiến lược DBHB của các thế lực thù địch. Nó là tổng hợp các biện pháp phá hoại nền tảng tư tưởng của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), phá hoại bản chất, truyền thống văn hóa dân tộc và những giá trị tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, truyền bá, xác lập hệ tư tưởng tư sản, văn hóa lối sống tư sản ở Việt Nam, tạo ra những nhân tố, điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN, đưa Việt Nam đi vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Với bản chất như trên, DBHB trên lĩnh vực TTVH được xác định là mặt trận hàng đầu, có ý nghĩa quyết định trong tổng thể chiến lược DBHB. Bởi lẽ, đây là lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội, lĩnh vực nhạy cảm, có thể gây ra tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người. Mặt khác, xét cho cùng, đấu tranh trên lĩnh vực TTVH là một biểu hiện sâu sắc, quyết liệt nhất của cuộc đấu tranh giai cấp. Là lĩnh vực tư tưởng, tinh thần của xã hội cho nên việc phá hoại TTVH là hoạt động có ý nghĩa nhất trong việc hình thành lực lượng đối lập nhằm lật đổ chế độ XHCN.

Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng đẩy mạnh hoạt động phá hoại TTVH đối với Việt Nam. Thông qua nhiều con đường khác nhau, đặc biệt là qua hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, các thế lực thù địch tiến hành tuyên truyền, đả phá chế độ chủ nghĩa xã hội, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt khác, chúng truyền bá các quan điểm, tư tưởng chính trị phản động nhằm tạo tiền đề, cơ sở cho việc ra đời và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng triệt để khai thác, lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc… để tấn công vào nền tảng tư tưởng, làm tan rã cơ sở tư tưởng của chế độ XHCN. Bên cạnh đó, chúng không ngừng xuyên tạc, đả kích truyền thống văn hóa dân tộc, tìm mọi cách truyền bá, áp đặt các giá trị văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào Việt Nam, phá hoại nền tảng tinh thần của xã hội. Đồng thời, các thế lực thù địch móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tham gia vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước, hình thành các tổ chức, hội, nhóm bất hợp pháp, sáng tác các tác phẩm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, phủ nhận thành quả của cách mạng.

Với những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, xã hội thế giới, khu vực và trong nước, nhất là những căng thẳng trên Biển Đông, thời gian tới hoạt động DBHB trên lĩnh vực TTVH chắc chắn sẽ được các đối tượng thù địch trong và ngoài nước tiếp tục đẩy mạnh. Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống DBHB trên lĩnh vực TTVH trong tình hình mới, cần quan tâm làm tốt một số biện pháp, giải pháp cơ bản sau:

- Củng cố trận địa tư tưởng XHCN; xây dựng Đảng, củng cố chính quyền các cấp; đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận; bảo vệ bản sắc văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế; quản lý nhà nước đối với lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa - nghệ thuật, thông tin - truyền thông; giải quyết các vấn đề phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội, đảm bảo công bằng xã hội… Đặc biệt, phát huy vai trò của lực lượng Công an trong đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, hoạt động phá hoại TTVH của các thế lực thù địch.

- Tổ chức tốt công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong phòng, chống DBHB trên lĩnh vực TTVH. Để cuộc đấu tranh này có hiệu quả, lực lượng an ninh cần tăng cường phối hợp các cơ quan chức năng, nhất là cơ quan thông tấn, báo chí để cuộc đấu tranh phản bác được triển khai mạnh mẽ và rộng khắp có sức lan tỏa.

- Chủ động dự báo những sự thay đổi trong âm mưu, phương thức hoạt động DBHB trên lĩnh vực TTVH của các thế lực thù địch có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thông qua đó, lực lượng an ninh các cấp, với chức trách, nhiệm vụ được giao làm tốt chức năng tham mưu Đảng, Nhà nước đề ra các chủ trương, giải pháp phòng, chống DBHB trên lĩnh vực TTVH phù hợp điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong đó, vấn đề quan trọng hiện nay là phải tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; xây dựng hệ thống bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh; củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, đảm bảo mở rộng dân chủ XHCN; khắc phục các biểu hiện “tự diễn biến”. “tự chuyển hóa” trong nội bộ; củng cố, tăng cường niềm tin của các tầng lớp xã hội đối với Đảng và Nhà nước. Bên cạnh công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền các cấp trong phòng, chống DBHB trên lĩnh vực TTVH, lực lượng an ninh các cấp cần chủ động triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các đối tượng trọng điểm, tập trung đấu tranh với hoạt động chống phá Việt Nam của một số tổ chức, cá nhân được thế lực thù địch, phản động bên ngoài hậu thuẫn; kiên quyết bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN.

Đảng lãnh đạo phòng chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch ở Việt Nam hiện nay

 

Trong những năm gần đây, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa kinh tế thế giới và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ 4.0 đang phát triển mạnh mẽ cùng với những khó khăn, thách thức nảy sinh do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu và những diễn biến phức tạp trong tranh chấp chủ quyền Biển Đông, các thế lực thù địch ngày càng ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Những phần tử cơ hội chính trị ở trong nước hùa theo những luận điểm sai trái của địch, ra sức công kích Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

  “Diễn biến hòa bình” là bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Chúng sử dụng mọi thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đối ngoại, an ninh… để phá hoại, làm suy yếu từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa; kích động các mâu thuẫn trong xã hội, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tụ do tôn giáo, sắc tộc, khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế và đa nguyên chính trị, làm mơ hồ giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nhân dân lao động. Khích lệ lối sống tư sản và làm phai nhạt mục tiêu, lí tưởng xã hội chủ nghĩa ở một số bộ phận sinh viên; triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực đời sống xã hội, tạo nên sức ép, từng bước chuyển hoá và thay đổi đường lối chính trị, chế độ xã hội theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản.

Bên cạnh đó, nhằm mục tiêu “chuyển hóa” niềm tin của nhân dân, chúng thường xuyên theo dõi mọi diễn biến đời sống chính trị, kinh tế và xã hội của nước ta, chúng nghiên cứu, tổng hợp có hệ thống mọi vấn đề; tận dụng triệt để những nhận định hạn chế, yếu kém, sơ hở trên các mặt, nhất là về chính trị, kinh tế, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại qua các báo cáo chính thức của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bộ, ngành, địa phương…được các thế lực thù địch xem đó là điểm tựa, “chứng minh” cho những quan điểm, chính kiến, nhận địch sai lầm của chúng. Để tăng “hiệu quả”, chúng luôn đan cài những tư tưởng, quan điểm mácxít - giả danh mácxít, đúng - sai lẫn lộn, làm cho người đọc mất phương hướng, không phân biệt được ngay - gian, chính - tà. Mục tiêu của chúng nhằm: Xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin để thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản trong các nước xã hội chủ nghĩa. Xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập trong các nước xã hội chủ nghĩa. Tìm mọi cách nhen nhóm các lực lượng phản động chống đối, cơ hội chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa; Gây mất ổn định về chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa.Kích động những vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "dân tộc", "tôn giáo" để gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng thuận xã hội và khi có thời cơ lôi kéo một bộ phận quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị; Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế; Chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị phương Tây, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực và tha hóa con người, dẫn tới biến chất cả một xã hội; "phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa quân đội và công an.

Các quan điểm, giải pháp nhằm chống lại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch mà Đảng ta đề ra đó là: Đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt, lâu dài và phức tạp trên mọi lĩnh vực. Chống “diễn biến hòa bình” là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng- an ninh hiện nay để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”; Chủ động, khôn khéo, kiên quyết xử lí tình huống và giải quyết hậu quả khi có bạo loạn xảy ra, giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn. Xây dựng tiềm lực đất nước vững mạnh, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam.

Tiếp tục giữ vững, củng cố và nâng cao niềm tin về mục tiêu lý tưởng cách mạng; Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức cách mạng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta; Tiếp tục củng cố “thế trận”, tổ chức lực lượng đấu tranh kịp thời, sắc bén và hiệu quả. Giữ vững nguyên tắc sinh hoạt Đảng; Chủ động định hình, thiết lập hệ thống khung lý luận, luận cứ, luận điểm đấu tranh tư tưởng, lý luận khoa học; Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về báo chí và tuyên truyền. 

 Âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước ta là rất rõ ràng; kẻ thù tìm mọi cách tấn công ta không một phút ngơi nghỉ, nhất là trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, Song, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và niềm sâu sắc của toàn bộ dân tộc Việt Nam vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, bảo đảm công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay sẽ  tiến hành một cách đồng bộ cả về công tác xây dựng hệ thống pháp luật, kinh tế, văn hóa và chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng và bảo vệ đất nước; tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, nhân dân Việt Nam nguyện đoàn kết một lòng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác./.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cục diện thế giới hiện nay

 

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Trọng tâm ở bên trong thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam. Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang.Là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 03/9

 

“Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân… đồng thời giảm nhẹ dần sự đóng góp của nông dân”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài xã luận “Lễ mừng Quốc khánh 02/9/1955” đăng trên Báo Nhân dân, số 549, ra ngày 03 tháng 9 năm 1955. Trước đó, lời kêu gọi này được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc vào sáng ngày 02 tháng 9 năm 1955 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) trước hàng chục vạn đồng bào gồm đủ các giới, các dân tộc; trong thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi trọn vẹn, đất nước tạm phân chia thành hai miền, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đang tiến hành khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh; quân dân miền Nam đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, hướng tới cuộc tổng tuyển cử thống nhất hai miền. Trong bối cảnh đó, lời kêu gọi của Bác đã làm nức lòng đồng bào, nhất là tầng lớp nông dân, động viên mọi người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, khắc phục trở ngại, hoàn thành thắng lợi mục tiêu hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Chủ trương: “Kiên quyết nâng cao dần mức sống của nhân dân” và làm “giảm nhẹ đóng góp của nông dân” là một nội dung lớn trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nêu bật nghĩa vụ và trách nhiệm của chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị phải làm mọi cách, tìm mọi biện pháp để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đưa nhân dân trở thành người làm chủ, đúng với chủ trương, đường lối xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân và vì dân”.

Sau 47 năm hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước, đất nước đang trên con đường phát triển mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới, lời của Bác dạy năm xưa vẫn mang tính thời sự sâu sắc, là mục tiêu, động lực của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mỗi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, là người chủ của đất nước.

Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, là quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; đồng thời, đó còn là một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; do đó hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng phấn đấu, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, có trình độ kỹ, chiến thuật cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, tích cực hưởng ứng thực hiện phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Quân đội chung tay vì người nghèo – không để ai bị bỏ lại phía sau”, tham gia giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, … góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP LỊCH SỬ - NHỮNG GIÁ TRỊ VĨNH CỬU

 

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân  Pháp đã thống trị nước ta hơn 80 năm và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn Độc lập kết tinh các giá trị của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước cũng như kế thừa và phát triển các giá trị của các cuộc cách mạng trên thế giới trong đó có Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn của Cách mạng Pháp năm 1791.

      Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi. Mở đầu là Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Tuyên ngôn Độc lập lịch sử do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945. Là người quyết tâm "dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” nên ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho ngày tuyên bố độc lập. Ngày 23/8/1945 Hồ Chí Minh rời an toàn khu Việt Bắc về Hà Nội nghỉ và làm việc tại một cơ sở cách mạng ở xã Phú Thượng, hôm sau chuyển đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội là cửa hàng mang tên Phúc Lợi của gia đình ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ - một doanh nhân buôn bán tơ lụa nổi tiếng giàu có và yêu nước tại đất Hà Thành.

Tại đây, Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn việc mở rộng thành phần Ủy ban Dân tộc Giải phóng, chuẩn bị bản Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội để tuyên bố thành lập chính thể mới. Ngày 27/8/1945, tại cuộc họp của Ủy ban Dân tộc Giải phóng, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Chiều hôm đó, Người đưa bản thảo Tuyên ngôn Độc lập để các thành viên Chính phủ xét duyệt và đề nghị duyệt kỹ vì "không phải chỉ để đồng bào cả nước ta nghe, mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh nghe". Từ ngày 28/8/1945, Hồ Chí Minh tập trung công sức vào việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập và thường mời một số cộng sự như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Khuất Duy Tiến... đến bàn thảo. Cho đến tận ngày 31/8/1945 Người vẫn bổ sung một số điểm mới để hoàn chỉnh dự thảo và tâm sự với các cộng sự: "Trong đời mình đã viết nhiều nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy".

      Bản Tuyên ngôn Độc lập có 49 câu với 1.120 từ đã nói lên nguyện vọng của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc khác trên thế giới, trong đó quyền sống hạnh phúc và quyền tự do là những quyền cơ bản và không tách rời nhau thể hiện ở đoạn: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tư tưởng đó là nền tảng cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng cuộc sống mới của nhân dân Việt Nam như đã được nói trong Tuyên ngôn Độc lập: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

     Ngày 5/9/1945, Báo Cứu quốc số 36, đăng toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập dưới đó ký tên 15 thành viên của Chính phủ lâm thời gồm: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn, Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Tố, Vũ Trọng Khánh, Phạm Ngọc Thạch, Đào Trọng Kim, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Nguyễn Văn Xuân.

      Đến nay đã 77 năm trôi qua kể từ ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Thế giới và đất nước đã đổi thay song những tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập vẫn còn nguyên giá trị. Tuyên ngôn Độc lập là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám - một cuộc cách mạng tất yếu, hoàn toàn không phải là một "cuộc đảo chính", một sự kiện "ngẫu nhiên" hoặc "gặp may" như một số người ngộ nhận. Tuyên ngôn Độc lập là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc mà còn trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

KHÔNG GÌ CÓ THỂ CẢN TRỞ NỔI DÂN TỘC VIỆT NAM TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG VƯƠN TỚI KHÁT VỌNG THỊNH VƯỢNG VÀ HÙNG CƯỜNG

 

Năm 1945, Đại chiến thế giới lần thứ II đi vào kết thúc với thắng lợi của các lực lượng dân chủ cùng phe Đồng minh để đánh bại phe phát xít; thế giới có thêm nhiều quốc gia độc lập ra đời. Ở khu vực Đông Nam Á, lần đầu tiên xuất hiện một quốc gia hoàn toàn mới với tên đầy đủ là Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Trên bản đồ, đất nước vừa "giũ bùn đứng dậy sáng lòa" ấy chỉ ghi hai chữ Việt Nam và ở chấm đỏ đánh dấu thủ đô Hà Nội, chiều ngày 2/9 phát đi lời Tuyên ngôn Độc lập khẳng định "Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!".

Thực ra trong lịch sử chống chế độ áp bức, không thiếu các dân tộc "gan góc" đấu tranh, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thế giới khi các đế quốc bận lao vào xâu xé tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng, nhiều dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã chớp thời cơ chung để vùng dậy giải phóng mình.

Điều đáng chú ý nhất lúc này là trong hoàn cảnh chung và điều kiện mới của Chiến tranh thế giới lần thứ II, có một dân tộc Việt Nam "đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm", nay lại "gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

Gan góc suốt gần 30 năm chống chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp (1858-1884); gan góc suốt hơn 40 năm chống đàn áp và ách cai trị, bóc lột của thực dân đế quốc (1885-1929); gan góc suốt 15 năm chống 3 tầng áp bức, một cổ hai tròng nô lệ của cả thực dân đế quốc và phát xít trên chính đất nước mình (1930-1945). Sự gan góc ấy là hành trang và cơ sở chắc chắn để cách mạng Việt Nam "đứng về phe Đồng minh chống phát xít".

Từ tháng 5/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) đã ra đời tập hợp lực lượng theo phương châm "Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh", hình thành sức mạnh quật khởi của toàn dân tộc. Đứng về phe Đồng minh và trở thành "một bộ phận dân chủ chống phát xít", Việt Minh với phong trào du kích chiến tranh ở các vùng căn cứ đã phá hoại hậu phương của chủ nghĩa phát xít ở Đông Dương; đồng thời khi thời cơ đến, chớp thời cơ nghìn năm có một, Đảng quyết định phát động Tổng khởi nghĩa, Việt Minh đảm đương lực lượng chính yếu tại Quốc dân Đại hội nêu cao ý chí quyết tâm "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Trong vòng nửa tháng, như Tuyên ngôn Độc lập viết: "Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để lập nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa".

Lần đầu tiên, "một dân tộc đã gan góc" đứng lên tự giành lấy nền tự do độc lập và chế độ dân chủ cộng hòa; cũng là lần đầu tiên với tư cách dân tộc tự do dân chủ cộng hòa, Việt Nam tuyên bố "thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam".

Sự đoạn tuyệt hoàn toàn với chế độ thực dân áp bức dân tộc như thế còn gắn liền với lời thể của "Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy".

Hiển nhiên là từ lời thế đó, dân tộc đã gan góc dựng nên nền cộng hòa, thì cũng gan góc bảo vệ và phát huy nền cộng hòa.

Ở Sài Gòn chiều ngày 2/9 đầu tiên, ngay khi có tiếng súng bắn vào người dự lễ, quần chúng tự vệ lập tức ra tay truy lùng và trừng trị những kẻ gây rối. Ở Hà Nội và các nơi khác những ngày đầu giành độc lập, trước những khó khăn chồng chất của tình thế cách mạng ngàn cân treo sợi tóc, người dân trên mọi miền đất nước lại sẵn lòng ủng hộ "Tuần lễ vàng", "Quỹ Độc lập" theo tinh thần "người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều" vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc…

Trong 30 năm kháng chiến trường kỳ (1945-1975), những thần dân yêu nước của dân tộc gan góc ấy đã chiến đấu với tinh thần "Độc lập hay là chết", "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", "Nhằm thẳng quân thù mà bắn", "Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt", "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", "thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người", "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước"…

Đất nước vừa thống nhất, non sông vừa liền một giải, hai đầu biên giới lại áp sát những mưu toan kiềm chế và xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. Lại thêm những gian nan thử thách khi bị bao vây cấm vận, bão lũ và thiên tai; cả cơ chế cũ, thói quen cũ, nền nếp cũ, tư duy cũ cũng trở thành "nhân tai" đẩy đất nước vào khủng hoảng. Nhưng với "một dân tộc đã gan góc", đã từng "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta", thì "chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi". Người ở biên cương "Sống bám đá, chết hóa đá"; người ở hải đảo cuốn lá cờ Tổ quốc vào bụng "để máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam anh hùng" và "Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo"; người ở tuyến sau trên khắp các địa phương luôn tìm tòi khám phá, tháo gỡ khó khăn, dám nghĩ dám làm, năng động sáng tạo, mở đường đi tới.

Gần nhất là sự xuất hiện của Đại dịch trên toàn cầu khiến cho không quốc gia nào thoát khỏi khủng hoảng y tế; trong khoảng hai năm liên tiếp bị 4 đợt dịch tấn công dồn dập, Việt Nam lần đầu tiên phải ứng phó theo cách thức "chống dịch như chống giặc", nhất là ở trọng điểm Thành phố Hồ Chí Minh có đỉnh dịch trùng với dịp kỷ niệm quốc khánh. Người dân của đất nước rất gan góc trong kháng chiến chống ngoại xâm, nay gan góc trước diễn biến tình hình phơi nhiễm tăng lên hằng ngày; ai cũng cố gắng góp sức chung tay chống dịch.

Ngay sau đó và đồng thời với quá trình căng sức chống dịch, đất nước lại cần nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội. Truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái trong khởi nghĩa tháng Tám năm xưa, nay chuyển thành tấm lòng thương người như thể thương thân trong phòng chống đại dịch; sức mạnh quật khởi của đông đảo quần chúng xông lên phá kho thóc cứu nạn đói năm xưa, nay chuyển thành sự chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau trong từng hoàn cảnh khó khăn khi COVID-19 hoành hành. Vậy nên trong và sau dịch, kinh tế Việt Nam không có tăng trưởng âm, lại có nhiều điểm sáng và dự báo khả quan; bệnh viện dã chiến trả lại không gian cho trường học vào mùa khai giảng; hộ chiếu vaccine đã đồng hành với khách du lịch trong và ngoài nước tăng lên hằng ngày…

Như thế nhìn lại gần 80 năm kể từ ngày khẳng định "dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!", có biết bao thử thách và gian nguy, nhiều khó khăn hiểm nghèo và không ít tình huống éo le phức tạp… Việt Nam là “một dân tộc đã gan góc” vượt qua hơn 80 năm nô lệ để giành tự do, độc lập, thì không gì có thể cản trở nổi dân tộc đó trên chặng đường vươn tới khát vọng thịnh vượng và hùng cường.

"Chúng con bên giấc ngủ của Người"

 Ca khúc "Chúng con bên giấc ngủ của Người" được nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nước sáng tác khi mới 22 tuổi. Đó là vào tháng 6/1976, ông vừa ở chiến trường miền Nam về. Một trung sĩ vào học năm thứ nhất khoa thanh nhạc của Nhạc viện Hà Nội.

Nhạc sĩ tâm sự: “Cha tôi, lúc đó là thiếu tá Nguyễn Đăng Chè đang làm nhiệm vụ bảo vệ việc xây dựng lăng Bác và bảo tàng Hồ Chí Minh. Đồng cảm và hiểu lòng cha mình trong nhiệm vụ cao cả của ông, cùng với tình cảm dâng trào với Hồ Chủ tịch đã có từ lâu trong lòng, tôi đã viết phần đầu của bài ca.

Cảm hứng về Bác của tôi dâng lên như mặt biển ban đầu mênh mang êm ái, sau trào sóng. Có sự êm dịu ngọt lành khi nghĩ về Bác, có nỗi quặn đau khi Bác đi xa…

“Vinh quang con đứng bên Người, canh cho Bác ngủ ngon giấc. Trên môi như Bác vẫn cười, Bác vui vì khắp non sông cháu con trở về sum vầy. Nghiêm trang trong nắng Ba Đình hoa thơm ngát trời Thủ Đô...”

Theo ông, “Chúng con bên giấc ngủ của Người" là tình cảm chân thành da diết của những người lính cảnh vệ làm nhiệm vụ cao cả là bảo vệ lăng và canh giấc ngủ cho Hồ Chủ tịch.

Phần đầu của bài ca được nhạc sĩ Nguyễn Đăng Nước viết tại tập thể Bộ Công an trong ngõ Chiến Thắng, Khâm Thiên (Hà Nội), sau đó hai ngày nhạc sĩ đã viết tiếp phần hai khi về quê thăm mẹ.

"...những bước chân bồi hồi sao xuyến, cháu con trở về bên Người. Hãy đừng để lệ rơi Bác đang ngủ kia mà Người vừa mới đặt mình...”

Viết xong phần này, Nguyễn Đăng Nước viết thành bản nhạc mang đến Báo Công an nhân dân, khi đó ở gần nhà ông, để chia sẻ với các chú, các bác. Khi ông hát lên, những người đồng đội của cha ông đã vui mừng khôn tả, nhưng ai cũng thấy như vẫn thiếu chút gì đó, bài hát còn buồn quá.”

Đêm hôm sau, còn nguyên cảm xúc dâng trào, ông đã hoàn thành bản nhạc của mình. Lãnh đạo tờ báo Công an nhân dân quyết định cho đăng bản nhạc cùng lời ca lên mặt báo.

Được động viên, Nguyễn Đăng Nước đã mang đến Đài tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Lê Lôi, nhạc sĩ Văn An, Trần Trung đều rất ngạc nhiên.

Một tuần sau, dàn nhạc giao hưởng Đài Tiếng nói Việt Nam đã đệm cho hai giọng ca Trần Thụ và Hữu Nội nổi tiếng lúc bấy giờ đã song ca để thu âm bài hát này.

Đã hơn 45 năm, nhưng ca khúc ấy luôn để lại trong lòng người nghe dạt dào cảm xúc. Sự biết ơn vô vàn đến Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, Người đã dâng trọn cuộc đời mình cho dân tộc Việt Nam.  “Ơ...những bước chân bồi hồi xao xuyến, cháu con trở về bên Người. Cháu con đời đời bên Bác. Bác ơi Bác ngủ ngon lành.”


TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM QUÂN KHU 7 VÀ NHIỆM VỤ BẮT LIÊN LẠC VỚI QUÂN LY KHAI KH'MER ĐỎ

 Trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam, trước hành động phản bội dân tộc, thực hiện chính sách diệt chủng ở trong nước và đưa quân tiến công xâm lược Việt Nam của tập đoàn Pol pot - Ieng Sary, nhiều cán bộ quân sự và đơn vị vũ trang tách ra khỏi tổ chức quân đội Pol Pot, hoặc rút vào rừng sâu lập căn cứ phản kháng, hoặc tìm cách trốn sang Việt Nam.

Nắm rõ tình hình, được sự chấp thuận của cấp trên, trong khoảng thời gian gần 4 tháng cuối năm 1978, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 đã chỉ đạo Phòng Quân báo tổ chức 8 đội trinh sát đặc nhiệm tìm cách liên lạc với các cá nhân và đơn vị vũ trang ly khai, đưa họ thoát khỏi địa bàn kiểm soát của quân đội Khmer Đỏ, xây dựng lực lượng vũ trang yêu nước chân chính, trở về giải phóng đất nước khỏi ách thống trị của chế độ diệt chủng.

Trong thành tựu cuộc cách mạng tháng giêng năm 1979 của nhân dân Campuchia, có sự đóng góp thầm lặng của những chiến sĩ trinh sát đặc nhiệm Quân khu 7, sự đóng góp chưa được nói đến nhiều trong suốt hơn 40 năm qua. Trước yêu cầu chính đáng của một số cán bộ yêu nước Campuchia về việc muốn xây dựng lực lượng vũ trang trên đất Việt Nam để khi có điều kiện sẽ trở về giải phóng đất nước khỏi chế độ diệt chủng, thực hiện sự chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương, ngày 7-9-1977, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 ra Quyết định số 113/QĐ-77 thành lập một đơn vị chuyên trách làm nhiệm vụ tiếp đón, giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ yêu nước Campuchia về nơi ăn ở. Đơn vị lấy phiên hiệu Đoàn 977, có tổ chức tương đương cấp tiểu đoàn, trực thuộc Cục Chính trị Quân khu 7.

Tiếp đó, Quân khu 7 nhận được Chỉ thị "Về một số công việc cần làm ngay ở biên giới phía Tây Nam Việt Nam" của Ban Bí thư Trung ương Đảng (ngày 21-10-1977) về việc "tạo điều kiện gây dựng lực lượng cho cách mạng Campuchia". Ngày 25-5-1978, trung tướng Trần Văn Quang thay mặt Quân ủy Trung ương truyền đạt chủ trương của Quân ủy cho Quân khu 7: "Nhiệm vụ giúp Bạn của Quân khu là xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng cho Bạn, yêu cầu nhanh nhưng phải bảo đảm thật chắc về mặt chính trị và bảo đảm được bí mật".

Một trong những giải pháp thực hiện nhiệm vụ nêu trên là tìm cách móc nối với lực lượng ly khai trong quân đội Pol Pot, tổ chức thành lực lượng nổi dậy của bạn. Được Quân ủy Trung ương chấp thuận, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo Phòng Quân báo Quân khu tổ chức các đội trinh sát đặc nhiệm luồn sâu.

Về lực lượng, tổ chức thành từng đội, thành phần mỗi đội gồm cán bộ quân báo, cán bộ trinh sát, chiến sĩ thông tin vô tuyến điện, cán bộ người Campuchia thuộc quân đội Khmer Đỏ ly khai chạy sang lánh nạn hoặc nguyên là cán bộ chiến sĩ người Khmer gia nhập Quân giải phóng miền Nam từ những năm 1970 - 1973. Đối tượng liên lạc dự kiến là các nhóm ly khai thuộc vùng 20 (Krek) và vùng 21 (Memot), nơi Pol Pot vừa thực hiện cuộc thanh trừng đẫm máu tại quân khu Tây Nam, quân khu Bắc, quân khu Đông (quân khu 203), buộc nhiều sĩ quan, binh lính yêu nước phải chạy vào rừng, thành lập đơn vị ly khai.

CÁC ĐỘI TRINH SÁT ĐẶC NHIỆM HOẠT ĐỘNG CHIA THÀNH 4 ĐỢT, GỒM:

Đợt thứ nhất (từ 23-3 đến 24-4-1978): Phòng Quân báo tổ chức một đội đi trinh sát thử nghiệm, lấy mật danh "Chim Én". Đội Chim Én có 12 cán bộ chiến sĩ, do Miahun (người Campuchia) làm đội trưởng, Nhữ Xuân Say làm chính trị viên, Triệu Xuân Hòa làm đội phó. Địa bàn hoạt động của đội trải dài dọc khu vực đông - tây đường Krabao - bắc Mimot, cách biên giới khoảng 20km. Sau hơn một tháng tìm kiếm không tìm được lực lượng ly khai.

Đợt thứ hai (từ 30-5 đến 18-7-1978): Có 3 đội trinh sát đặc nhiệm luồn sâu mang mật danh "Chim Én", "Bồ Câu", "Chim Ưng" và 1 đội vận tải hậu cần đi sau. Cả 3 đội trinh sát đều chưa gặp được lực lượng ly khai. Riêng đội Chim Ưng trên đường hành quân hai lần chạm địch buộc phải nổ súng chiến đấu, 2 chiến sĩ hy sinh, 3 người bị thương.

Đợt thứ ba (từ đầu tháng 7 đến giữa tháng 9-1978): Có 2 đội trinh sát đặc nhiệm, lấy mật danh "Bồ Câu" và "Chim Én". Đội Bồ Câu do Triệu Xuân Hòa làm đội trưởng, Huyền làm chính trị viên; hoạt động tại khu vực nam Đầm Be. Đội còn có thêm nhiệm vụ bảo vệ một phái viên trực tiếp mang thư của Tư lệnh Quân khu 7 gửi Tư lệnh kiêm Bí thư quân khu 203 (quân khu Đông) Khmer Đỏ. Đội Chim Én do Nhữ Xuân Say làm đội trưởng, Ba Điền làm chính trị viên, Nguyễn Văn Dương làm đội phó; hoạt động tại khu vực từ bắc Phlu đến nam sông Chlong.

Ngày 7-9-1978, đội Chim Én bắt liên lạc được với một đơn vị ly khai thuộc Vùng 21 - Quân khu Đông quân đội Pol Pot, kết thúc giai đoạn kéo dài nhiều tháng thực hiện nhiệm vụ quốc tế tìm kiếm móc nối lực lượng ly khai quân đội Khmer Đỏ.

Đợt thứ tư (tháng 11-1978): Sau khi đội Chim Én móc nối được với lực lượng ly khai Quân khu 203, nhiều đơn vị vũ trang Khmer Đỏ ly khai tiếp tục liên lạc được với bộ đội Việt Nam để hoặc nhận vũ khí trang bị hoặc sang Việt Nam huấn luyện quân sự. Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tiếp tục cử 2 đội vượt biên giới đón cán bộ Khmer Đỏ ly khai. Tháng 10-1978, một đội bắt liên lạc được với cánh ly khai Vùng 22 tại Koncheimeas do ông Chea Sim chỉ huy. Tháng 11-1978, một đội khác bắt liên lạc được với cánh ly khai Quân khu Đông tại tây Memot do ông Heng Samrin chỉ huy.

Đến cuối tháng 11-1978, nhiệm vụ tìm kiếm liên lạc với các đơn vị Khmer Đỏ ly khai của lực lượng trinh sát đặc nhiệm Quân khu 7 kết thúc. Lịch sử lực lượng vũ trang yêu nước chân chính Campuchia bước sang một giai đoạn mới - giai đoạn phát triển lực lượng, trở về thực hiện cuộc tổng tiến công giải phóng Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia khỏi ách thống trị của tập đoàn diệt chủng Pol Pot - Ieng Sary.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 04/9

 

“Mong cán bộ ta cẩn thận từng lời nói, từng việc làm, thật thà “ba cùng”, làm đúng chính sách, để giành lấy kết quả tốt hơn trong công tác phát động quần chúng”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong bài viết “Những kinh nghiệm cần phải tránh trong công tác phát động quần chúng”, đăng trên Báo Nhân dân, số 221, từ ngày 04 đến ngày 06 tháng 9 năm 1954, bút danh “C.B”. Đây là thời điểm miền Nam đang tiến hành đấu tranh chính trị, giữ gìn, phát triển lực lượng, chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới; miền Bắc đang trong thời kỳ khôi phục, cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn thận trọng trong từng lời nói, việc làm, đặc biệt là phải luôn thật thà, khiêm tốn, thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm huy động sức mạnh đông đảo của quần chúng cùng hướng vào thực hiện mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng. Lời kêu gọi trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ trở thành phương hướng hành động, mục tiêu phấn đấu, rèn luyện của cán bộ, đảng viên mà còn tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân, động viên, cổ vũ nhân dân thi đua lao động, sản xuất, kháng chiến thắng lợi.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi tình hình thế giới, khu vực, trong nước diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp, nhanh chóng đến mọi mặt đời sống xã hội, càng nhận thấy giá trị sâu sắc lời căn dặn của Bác năm xưa; đặc biệt, nó đã trở thành định hướng quan trọng để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận hiện nay phải vươn lên để lãnh trách nhiệm trước Đảng, trước dân, khắc phục mọi khó khăn, yếu kém, nhạy bén, tham mưu giải quyết một cách kịp thời, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, góp phần thiết thực vào việc củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để cho mọi người ai cũng phải làm dân vận, ai cũng biết làm dân vận và ai cũng được làm dân vận, chứ không phải là công việc riêng cán bộ chuyên trách.

Quân đội nhân dân Việt Nam là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, trong suốt hành trình hơn 77 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, luôn gắn bó chặt chẽ với nhân dân, được nhân dân tin yêu, giúp đỡ, đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do của Tổ quốc, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, hằng năm có hàng vạn lượt cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng, nơi phức tạp về an ninh, chính trị, dân tộc, tôn giáo; các Đoàn kinh tế – quốc phòng đã tích cực giúp đỡ nhân dân chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng nông thôn mới, tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, giữ gìn an ninh chính trị… theo đúng phương châm “Nghe dân nói, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin” được cấp uỷ, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, tiếp tục giữ vững và phát huy tốt truyền thống tốt đẹp “đến dân mừng, đi dân nhớ, ở dân thương”.

CUỘC DUYỆT BINH QUY MÔ NHẤT TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI NGÀY 2/9/1985

 

Dưới sự chỉ huy của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Có lẽ cuộc duyệt binh ngày 2/9/1985 là cuộc duyệt binh quy mô lớn nhất, hoành tráng nhất của nước ta kể từ năm 1945 đến không những thời điểm 1985 mà có lẽ cả đến ngày nay.

Lễ duyệt binh ngày 2/9/1985 hay còn gọi là nhiệm vụ A85 được coi là cuộc duyệt binh lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngoài các khối bộ đội còn có cả các loại xe tăng, pháo tự hành, pháo phòng không, tên lửa và hàng chục máy bay với hàng chục nghìn người được huy động. Đây là lễ duyệt binh kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Lễ duyệt binh với sự tham gia của các quân chủng, binh chủng và đặc biệt là máy bay không quân - quân chủng hiện đại thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bầu trời Hà Nội và chiến tranh biên giới Tây Nam. Sau cuộc duyệt binh này Nhà nước chưa  tổ chức cuộc duyệt binh nào nữa, mà chỉ có diễu binh, diễu hành.

Gần 30.000 người phục vụ cho lễ duyệt binh ngày 2/9/1985. Ở vào thời điểm đó, tình hình kinh tế đất nước tuy có nhiều khó khăn, song Đảng và Nhà nước ta vẫn tổ chức lễ duyệt binh hoành tránh và mang ý nghĩa lịch sử to lớn.

Chúng ta, thế hệ đi sau xin được nghiêng mình kính cẩn trước những công lao to lớn của cha ông, để giờ đây, chúng con được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, và thật xinh đẹp thế này ./.

TRƯỚC NGÀY TẾT ĐỘC LẬP

 

Tháng tám năm 1972, chúng tôi vây Khongsedon, một thành phố Nam Lào, xung quanh là rừng, bao quanh bởi dòng sông lớn. Sư đoàn 968 quây chặt thành phố, đối đầu với lính Thái, Lào, biệt kích Vàng Pao với các căn cứ pháo binh, phi cơ bảo vệ dày đặc.

Cuối mùa mưa ở Lào năm ấy thực khủng khiếp. Mưa, tiếp tế hạn chế vì đường sá trong rừng nhão nhoét. Mưa, muỗi đàn nhiều vô kể, đơn vị lại ăn uống kém nên bị sốt rét hoành hoành. Trong chiến hào đào ven sông, nơi địch có thể băng qua chọc thủng vòng vây, hai bên rình rập nhau, suốt ngày bom đạn. Pháo bầy địch bắn điếc tai. Chiến hào chúng tôi đào bên những dải chuối bị bom đạn băm nát, toàn mùi bùn, mùi máu, mùi tử khí.

Để phá vây, có lúc địch dùng trực thăng tung quân nhảy xuống sau lưng tiểu đoàn tôi. Có trận, trung đội súng máy 12,7 ly chúng tôi phải chạy 4-5 km đánh nhau với địch trong khi OV-10, L-19 quần thảo trên đầu, chỉ điểm cho F-5, A-37 và cả B-52 dội bom.

Chiến đấu ác liệt như thế nhưng lương thảo đến chậm, quân sĩ trong tình trạng ăn đói, mặc rách, thiếu thốn trăm bề. Đi vây hãm, chúng tôi ngày ăn bốn lạng gạo mốc, chia làm hai nắm cơm, với muối hay ruốc cá trộn rau sắn.

Anh em có phần nản, khí thế chùng xuống, đặc biệt khi mưa tới, lạnh và đói hơn.

Cuối tháng 8, chúng tôi được lệnh mật phục chặn ngay bên sông, nơi máy bay C-123 tiếp tế của địch thả dù giải cứu lực lượng bị vây trong thành phố. Những trận đánh kiểu này rất nguy hiểm. Bên kia sông địch đổ đồn, nổ súng đánh địch cũng gần như cầm chắc cái chết, vì sẽ gặp phải sự phản pháo trực diện. Đêm trước ngày nổ súng, tiểu đội tôi đang đào công sự thì Chính trị viên Đàm tới.

Anh Đàm thường ít nói, nhìn đám lính gầy gò, nhiều đứa còn sốt hầm hập nhưng vẫn đào hầm, chặt gỗ, anh ái ngại đến bên tôi: "Để tớ xúc cho một lát". Đất thịt quánh lại vì mưa nên rất nặng tay xẻng. Gần sáng, hầm chữ A và công sự sắp xong, chúng tôi nghỉ giải lao bên dãy tre già sát bờ sông, bên kia sông, địch thi thoảng bắn pháo sáng làm trời rực lên như ban ngày. Chính trị viên nhìn khuôn mặt tái xanh vừa qua một đợt sốt rét của tôi rồi nói: "Thọ mệt lắm phải không? Cố lên nhé. Cậu và Đức là xạ thủ giàu kinh nghiệm nhất đại đội, không thể nghỉ được. Trận này quan trọng lắm".

Tôi im lặng. Mọi lời động viên lúc này trở nên thừa thãi. Thấy vậy, anh Đàm im lặng hồi lâu rồi lại nói: "Ngày mai là mùng Hai tháng Chín", nói xong anh lại im lặng.

Trời ơi, mai là Tết Độc Lập. Dường như không ai trong tiểu đội tôi nhớ ra. Cuộc chiến khốc liệt làm chúng tôi chỉ quan tâm tới mạng sống mà không nhớ đến ngày quan trọng này. Tôi chợt nhớ nhà da diết. Nhớ cậu tôi vẫn thường nói về ngày 2/9: "Đó là ngày quan trọng".

Tôi nhớ Hà Nội của tôi. Ngày Tết Độc Lập thể nào cậu mợ cũng làm cơm cho các con ăn xôm hơn ngày thường, có năm còn có thịt gà nhà quê gửi lên cho.

Nhưng bây giờ, chúng tôi được lệnh nghỉ ngơi một chút, chuẩn bị cho trận đánh. Chúng tôi vào hầm, khi 3-4 thằng nằm xuống đám lá rừng trải trong hầm chữ A, tôi tự nhiên nhắc lại với Đức câu nói của Chính trị viên Đàm. Tất cả anh em trong hầm im lặng, rồi lần lượt thi nhau kể về 2/9 ở quê hương mình, gia đình mình. Hóa ra, trong mỗi gia đình, mỗi vùng quê của chúng tôi lúc đó, 2/9 đều là một ngày lễ quan trọng và đặc biệt.

"Mai là mồng Hai tháng Chín" bỗng dưng trở thành một khẩu lệnh đánh thức tâm trí mỗi người trước trận đánh vào hôm sau.

Chúng tôi đã dám nổ súng mà không sợ địch phản pháo, bắn hỏa tiễn DKZ bên kia sông thẳng vào trận địa. Hai khẩu 12,7 ly rưới cả thùng đạn vào bụng chiếc C-123 làm nó hoảng sợ ném toàn bộ dù xuống phía quân ta rồi bốc cháy, lao xuống một cánh rừng cách thành phố chục cây số. Những người lính ốm yếu, đói và sợ chết hôm đó đã đánh một trận giòn giã, kể cả khi tụi máy bay A-37 kéo đến bắn phá dọc sông. Trận chiến quyết định ấy là để địch không thể dùng máy bay vận tải cỡ lớn tiếp tế cho thành phố, góp phần không nhỏ cho chiến thắng chung của sư đoàn.

Tết Độc Lập hàng năm luôn nhắc tôi nhớ đến trận đánh đầu tháng 9 năm ấy, ở mặt trận Nam Lào. Thỉnh thoảng tôi vẫn cố gắng giải thích xem, điều gì đã khiến cho cả một trung đội đói rách và mệt mỏi về tinh thần đấy làm nên kỳ tích trong một trận chiến quan trọng.

Có lẽ, câu nói "ngày mai mùng Hai tháng Chín" của Chính trị viên Đàm, bằng cách nào đó đã kích hoạt trong chúng tôi ý thức trách nhiệm, nhắc lại lý do vì sao chúng tôi ở đó và mục tiêu chúng tôi cần bảo vệ.

Cuộc chiến đã lùi xa. Tôi đã ăn thêm bao cái Tết Độc Lập no đủ hơn, cả khi trên chính quê hương bình yên của mình lẫn những ngày tha hương chỉ nhìn lá cờ Tổ quốc phấp phới bay trên tòa nhà Sứ quán Việt Nam tại Đức. Thế hệ đã có tuổi, trải qua nhiều dạng hình của nỗi khổ như chúng tôi thi thoảng vẫn ứa nước mắt nghĩ về "Việt Nam độc lập" - một thời khắc đánh dấu sự định danh của đất nước trên bản đồ thế giới.

Ai sinh ra cũng cần làm điều gì đó cho quê hương, đất nước, cũng là để cho chính cuộc sống của mình hoặc người thân tốt đẹp hơn, tôi nghĩ vậy.

Những thế hệ của chúng tôi gắn chặt đời mình với sứ mệnh vì Việt Nam độc lập. Nhiệm vụ của những thế hệ tiếp theo, tôi nghĩ, sẽ là câu chuyện về một Việt Nam giàu mạnh.

NHỮNG GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG CỦA BÁC VỚI DÂN TỘC !

 

Buổi chiều, ngày 28/8/1969, tại nhà H67, Bác thiếp đi một lúc vì quá mệt, tỉnh dậy đã thấy vợ chồng đại tướng Võ Nguyên Giáp và chị Đặng Bích Hà đứng bên cạnh, trên tay là một bó hoa huệ 10 bông. Một nụ cười rất tươi nở trên môi Bác.

Có lẽ đây là nụ cười cuối cùng của Bác dành cho hai con người mà Bác rất mực yêu quý.

Bác ra hiệu gọi đồng chí Vũ Kỳ và bảo rằng Bác muốn uống một ngụm nước dừa ở cây dừa đầu nhà. Các bác sĩ tỏ ý không muốn Bác uống nước dừa vì không thích hợp với bệnh tình hiện nay của Bác. Bác đã nói:

- Biết vậy! Nhưng đây là dừa miền Nam.

Ai cũng biết đây là cây dừa do đồng bào miền Nam tặng Bác và suốt 15 năm qua Bác đã chăm sóc với tất cả tình thương yêu tha thiết.

Tối 30/8, Bác lại phải trải qua một cơn đau và sau đó đi vào hôn mê. Những biện pháp tốt nhất được hội đồng bác sĩ khẩn trương sử dụng để cấp cứu. Bác dần dần tỉnh lại. Thấy Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang đứng bên cạnh, Bác hỏi ngay:

- Các chú chuẩn bị lễ kỷ niệm Quốc khánh đến đâu rồi?

Sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng báo cáo, Bác dặn:

- Các chú nhớ phải bắn pháo hoa để cho nhân dân và các cháu nhỏ vui mừng đón ngày độc lập của đất nước.

Tiếp đó, Bác lại hỏi tình hình lũ lụt và nói ngay:

- Các chú phải tích cực tìm mọi biện pháp bảo vệ cho được đê điều để bảo vệ dân.

Ngày 1/9 là một ngày căng thẳng đầy lo âu của mọi người đang túc trực quanh Bác. Lần đầu tiên những người phục vụ nghe tiếng rên của Bác. Điện tâm đồ luôn xuất hiện những ký hiệu xấu. Các đồng chí trong Bộ Chính trị hầu hết đều có mặt, vẻ đau buồn hiện rõ trên từng ánh mắt. Cả dân tộc đang sắp phải gánh chịu một mất mát lớn không gì bù đắp được.

Ngày 2/9/1969, cả nước tưng bừng kỷ niệm ngày Quốc khánh. Không ai biết người khai sinh ra ngày độc lập của dân tộc đang chuẩn bị lên đường đi xa mãi mãi. Trời mưa, bộ phận phục vụ đã căng bạt ngoài sân, kê thêm nhiều ghế. Mới tờ mờ sáng, hình như có mối tâm linh mách bảo, các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chính trị đều có mặt đông đủ.

Khoảng 9 giờ, một cơn đau đột ngột làm cho Bác phải quặn nghiêng người và cứ thế lịm dần. Máy điện tim chỉ còn thoi thóp và chạy ngang với những đường sáng nhấp nhô yếu ớt. Lúc này, các thầy thuốc Trung Quốc từ từ lần lượt lui ra ngoài.

Bộ phận hồi sức cấp cứu chủ yếu của Viện 108 tập trung làm các động tác hô hấp nhân tạo. Tất cả những người có mặt trong nhà H67 như nín thở, chờ đợi, hi vọng...

Đồng hồ chỉ đúng 9 giờ 47 phút.

Nhiều tiếng khóc bỗng òa lên rồi cố nén. Các đồng chí Bộ Chính trị và lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đứng xếp hàng quanh giường Bác mặc niệm, rồi lần lượt bước ra ngoài theo yêu cầu của chuyên môn.

Riêng ba đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp cố nán lại, đặt tay lên trán Bác, lên ngực Bác, nước mắt lưng tròng. Đồng chí Trần Quốc Hoàn phải giục lần nữa mời rời khỏi giường Bác. Nhưng sau đó vài phút, đại tướng Võ Nguyên Giáp lại một mình quay trở lại, đứng nhìn Bác một lúc lâu nữa.

Đúng 11h, đoàn xe đặc biệt có mặt ở trước cổng Phủ Chủ tịch.

Xe Bác đi như bao chiếc xe khác đang di chuyển trên đường. Không ai biết, không ai ngờ trong chiếc xe đó có một con người vĩ đại, Bác Hồ yêu quý của toàn dân tộc đang đi về cõi vĩnh hằng...!

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

“Những người khi kháng chiến thì rất anh dũng, trước bom đạn địch không chịu khuất phục, nhưng đến khi về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trường, sa vào tội lỗi”.

Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Bài nói chuyện với bộ đội, công an và cán bộ trước khi vào tiếp quản Thủ đô”, Bác nói ngày 05 tháng 9 năm 1954. Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa mới kết thúc (07/5/1954), Hiệp định Giơnevơ được ký kết (21/7/1954). Để công tác tiếp quản Thủ đô được nhanh chóng, an toàn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và có những lời căn dặn quý báu đối với lực lượng bộ đội và công an thực hiện nhiệm vụ này. Theo đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ khi thực hiện nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô phải giữ vững lập trường, bản chất cách mạng, luôn kiên định, trách nhiệm với công việc được giao, không dao động trước sự phồn hoa của đời sống thị thành.

Lời căn dặn của Bác ngắn gọn, nhưng súc tích, là sự nhắc nhở sâu sắc đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an cần phải giữ vững phẩm chất, đạo đức cách mạng, khí tiết của người chiến sĩ cộng sản; gương mẫu trong mọi lời nói, hành động và việc làm; phát huy khối đại đoàn kết toàn dân để thực hiện nhiệm vụ một cách nhanh chóng và chính xác, tránh sa vào những cạm bẫy của cuộc sống đời thường. Do vậy, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp có thái độ giao tiếp, ứng xử chuẩn mực; có năng lực và tính chuyên nghiệp cao trong thực thi công vụ, nhiệm vụ được giao; lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo đánh giá chất lượng hoạt động của hệ thống chính quyền các cấp, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn khắc ghi lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, không để rơi vào cạm bẫy, sa hoa; luôn kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng xả thân hy sinh cứu dân, chung vai sát cánh cùng nhân dân phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cuộc sống mới, nông thôn mới; có lối sống văn minh, năng động, trí tuệ, đoàn kết và kỷ luật nghiêm.

MỘT ĐẤT NƯỚC CÓ THỂ YẾU NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC PHÉP HÈN

 

The East, tựa tiếng Việt là Phương Đông, là một tác phẩm điện ảnh chiến tranh mô tả sự tái xâm lược dã man của đế quốc Hà Lan đối với đất nước Indonesia sau Thế chiến thứ Hai. Phim dựa vào góc nhìn của một người lính Hà Lan, đến Hà Lan với tư cách “giải trừ khủng bố” và “đem lại hòa bình cho người dân Indonesia”... Nhưng sự thực mà người lính này trải nghiệm là gì? Đó là việc chứng kiến chỉ huy gọi tên từng người dân Indonesia vô tội rồi bắt gục họ, bất kể đó là người già, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, thanh thiếu niên…

“Chúng ta không phải là đang bảo vệ người dân và giữ gìn hòa bình hay sao? Tại sao chúng lại bắn gục họ thay vì cứu rỗi họ” - người lính thốt lên trong bực tức và phẫn nộ. Sau này, khi trở về Hà Lan, anh lính này đã tự sát vì những tội ác dã man đã ám ảnh trong bao nhiêu năm, còn gã sĩ quan chỉ huy đã bắn giết hại 1500 người bản địa Indonesia lại không bị làm sao và sống an lành dư dả đến cuối đời.

Người Indonesia bình luận về tác phẩm này: “Những kẻ xâm lược không bao giờ họ tự nhận là xâm lược. Những Hà Lan đến Indonesia như những người hùng và nói tổ tiên chúng tôi như những tên khủng bố. Kẻ xâm lược lại trở thành kẻ bị hại, người bị xâm lược lại trở thành ác nhân.”

Trong The King’s Choice - một bộ phim nói những quyết định khó khăn là chiến đấu hay đầu hàng của vua Na Uy - Haakon VII trước quân đội Đức Quốc Xã. Đầu hàng để nhận lấy hòa bình hay chiến đấu để giữ vững đất nước? Có một đoạn thoại đáng chú ý như thế này: “Nếu như vì là quốc gia bé mà phải ký đầu hàng, phải cắt lãnh thổ để đổi lấy hòa bình. Thì sự tồn tại của quốc gia ấy là vô nghĩa…”. Cuối cùng, Na Uy trở thành quốc gia trụ vững tới tận 62 ngày trước quân đội Đức Quốc Xã, chỉ sau mỗi Liên Xô và sự kiện này trở thành bản anh hùng ca lịch sử vĩ đại của quân dân Na Uy trước chủ nghĩa quốc xã!

Tuy nhiên, vua Haakon VII cũng phải gánh chịu chỉ trích của một số chủ nghĩa xét lại Na Uy, khi họ cho rằng nếu đầu hàng quân Đức sớm thì người dân thường Na Uy sẽ không phải chịu chiến tranh, đất nước có thể yên ổn. Nhưng một giáo sư của Đại học Oslo trả lời: “Vậy bạn muốn con cháu chúng ta phơi xác vì bị chiến đấu phục vụ chủ nghĩa phát xít, bị bắt đi lính, bị bắt chống lại Liên Xô và thế giới. Hay bạn muốn con cháu chúng ta sống và chết như những anh hùng vì Tổ Quốc”...

Thi thoảng, hay có người bảo rằng, tại sao Việt Nam không chấp nhận đàm phán hòa bình hay đợi trao trả độc lập? Tại sao lại phải dùng bạo lực cách mạng để rồi hàng triệu người phải chết? Nhưng, họ có phải đặt câu hỏi ngược lại rằng, tại sao mà các quốc gia khác không cút khỏi Việt Nam? Tại sao họ lại xâm lược Việt Nam? Tại sao lại phải im lặng chịu nhẫn nhục để các nước khác đàn áp, bắt bớ? Và đợi đến bao giờ thì mới được “trao trả độc lập”, đợi đến bao giờ mới được “trả lại lãnh thổ”? Con giun xéo lắm cũng quằn nữa là con người của một quốc gia trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước?

Và lịch sử Việt Nam sẽ nhục nhã như thế nào liệu có được vị thế như ngày nay hay không khi không tự mình đấu tranh cho tự do, tự độc lập và thống nhất?

Tiến sĩ S. Jaishankar, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ấn Độ đăng bài viết chúc mừng 77 năm Quốc khánh Việt Nam trên Twitter. Những người dân Ấn Độ cũng vào chúc mừng, họ viết rằng: “Thật vinh hạnh và vinh dự khi Ấn Độ có con đường mang tên Hồ Chí Minh! Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản diễn ngôn khai sinh ra Việt Nam. Tôi quý trọng vì tình cảm của ngài với Mahatma Gandhi”

Cuộc sống có nhiều lựa chọn, lịch sử có nhiều ngã rẽ. Có người chọn phục cho quân xâm lược đổi lấy cơm ăn áo mặc, nhà cao, cửa rộng. Có người lại chọn chiến đấu cho đất nước bất chấp việc phải đối diện với máu, nước mắt, bom đạn và sự hy sinh có thể đến với bất cứ lúc nào… Có người lại tiếc nuối thời được quân xâm lược bố thí cho vài đồng cắc lẻ, có người lại hào hùng nói về những cha ông đã anh dũng chiến đấu ra sao…

Như vị giáo sư mà đã đề cập đến ở trên, lựa chọn sống như một lũ lệ thuộc hay như những người anh hùng?

Chúng ta trân trọng những anh hùng và coi khinh lũ ác nhân.

Một quốc gia có thể nhỏ bé, người dân ở đó có thể không đủ cơm ăn áo mặc, vũ khí của họ có khi chỉ là cây tre lấy ở đầu làng.. nhưng trên hết, họ không bao giờ hèn nhát.