Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường
Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đã đọc Tuyên ngôn Độc
lập.
Bản Tuyên ngôn Độc lập đánh dấu
sự kết thúc của chế độ thực dân Pháp đã
thống trị nước ta hơn 80 năm và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tuyên ngôn Độc lập kết tinh các giá trị của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng
nước và giữ nước cũng như kế thừa và phát triển các giá trị của các cuộc cách mạng
trên thế giới trong đó có Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn
của Cách mạng Pháp năm 1791.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc
sáng lập và rèn luyện, cách mạng Việt Nam đã giành nhiều thắng lợi. Mở đầu là
Cách mạng Tháng Tám đưa đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với
Tuyên ngôn Độc lập lịch sử do Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày
2/9/1945. Là người quyết tâm "dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải
kiên quyết giành cho được độc lập” nên ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành
công, Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho ngày tuyên bố độc lập. Ngày 23/8/1945 Hồ Chí
Minh rời an toàn khu Việt Bắc về Hà Nội nghỉ và làm việc tại một cơ sở cách mạng
ở xã Phú Thượng, hôm sau chuyển đến ngôi nhà 48 Hàng Ngang, phường Hàng Đào, quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội là cửa hàng mang tên Phúc Lợi của gia đình ông Trịnh Văn Bô
và bà Hoàng Thị Minh Hồ - một doanh nhân buôn bán tơ lụa nổi tiếng giàu có và
yêu nước tại đất Hà Thành.
Tại đây, Hồ Chí Minh chủ tọa cuộc
họp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng bàn việc mở rộng thành phần Ủy ban Dân tộc
Giải phóng, chuẩn bị bản Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức cuộc mít tinh lớn ở Hà Nội
để tuyên bố thành lập chính thể mới. Ngày 27/8/1945, tại cuộc họp của Ủy ban
Dân tộc Giải phóng, Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ lâm thời. Chiều
hôm đó, Người đưa bản thảo Tuyên ngôn Độc lập để các thành viên Chính phủ xét
duyệt và đề nghị duyệt kỹ vì "không phải chỉ để đồng bào cả nước ta nghe,
mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh
nghe". Từ ngày 28/8/1945, Hồ Chí Minh tập trung công sức vào việc soạn thảo
bản Tuyên ngôn Độc lập và thường mời một số cộng sự như Trường Chinh, Võ Nguyên
Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh, Khuất Duy Tiến... đến bàn thảo. Cho đến
tận ngày 31/8/1945 Người vẫn bổ sung một số điểm mới để hoàn chỉnh dự thảo và
tâm sự với các cộng sự: "Trong đời mình đã viết nhiều nhưng đến bây giờ mới
viết được một bản Tuyên ngôn như vậy".
Bản Tuyên ngôn Độc lập có 49 câu với
1.120 từ đã nói lên nguyện vọng của dân tộc Việt Nam cũng như của các dân tộc
khác trên thế giới, trong đó quyền sống hạnh phúc và quyền tự do là những quyền
cơ bản và không tách rời nhau thể hiện ở đoạn: "Tất cả các dân tộc trên thế
giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do". Tư tưởng đó là nền tảng cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc và xây dựng cuộc sống mới của nhân dân Việt Nam như đã được nói trong Tuyên
ngôn Độc lập: "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".
Ngày 5/9/1945, Báo Cứu quốc số 36, đăng
toàn văn bản Tuyên ngôn Độc lập dưới đó ký tên 15 thành viên của Chính phủ lâm
thời gồm: Hồ Chí Minh (Chủ tịch), Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Chu Văn Tấn,
Dương Đức Hiền, Nguyễn Mạnh Hà, Nguyễn Văn Tố, Vũ Trọng Khánh, Phạm Ngọc Thạch,
Đào Trọng Kim, Lê Văn Hiến, Phạm Văn Đồng, Vũ Đình Hòe, Cù Huy Cận, Nguyễn Văn
Xuân.
Đến nay đã 77 năm trôi qua kể từ ngày Hồ
Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập. Thế giới và đất nước đã đổi thay song những
tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn Độc lập vẫn còn nguyên giá trị. Tuyên ngôn Độc
lập là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám - một cuộc cách mạng tất yếu,
hoàn toàn không phải là một "cuộc đảo chính", một sự kiện "ngẫu
nhiên" hoặc "gặp may" như một số người ngộ nhận. Tuyên ngôn Độc
lập là ngọn đuốc soi đường cho nhân dân ta không chỉ trong cuộc đấu tranh giành
độc lập dân tộc mà còn trong công cuộc đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét