Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

Sự phi lý của luận điệu xuyên tạc “thơ cách mạng kháng chiến chỉ là thơ minh họa chính trị”

Thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1946-1975) đã thể hiện niềm tự hào dân tộc, tự hào về truyền thống vẻ vang của ông cha ta trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là những tác phẩm bám sát lịch sử chiến đấu hào hùng của quân dân ta, là bản anh hùng ca bất diệt. Tuy nhiên, vẫn có những người cố ý phủ nhận, xuyên tạc giá trị thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20 và cho rằng đó chỉ là “thơ minh họa chính trị”. Luận điệu đó vừa phi lý, vừa phi nghĩa nên cần phải phê phán, bác bỏ.

Sự phi lý của những luận điệu xuyên tạc thơ thời kháng chiến

Thời gian qua, trên nhiều trang mạng, diễn đàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số “nhà nghiên cứu” đã có nhiều ý kiến xuyên tạc, phủ nhận giá trị thơ cách mạng Việt Nam trong thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, làm tổn thương cả một thế hệ nhà thơ đã đóng góp tâm huyết, tài năng cho sự phát triển của nền văn học nước nhà, nhất là xúc phạm đến những nhà văn, nhà thơ đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Theo họ, dòng thơ này ra đời “theo sự chỉ đạo, đặt hàng của Đảng mà không phải viết do cảm xúc, do tình người của nhà văn”; “là thứ thơ cổ động, không có giá trị gì về nghệ thuật”. Lại có kẻ cho rằng, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “quê mùa”, “tỉnh lẻ”, tác phẩm vì thế “không thể vươn tới cõi thẳm sâu trong thế giới tinh thần mà hầu hết là tả thực, vội vã, sống sượng, nên ít có tính tư tưởng, sức sống của tác phẩm như thế cũng èo uột và ngắn ngủi” (!?).

Những ý kiến, lập luận nêu trên vừa không dựa trên thực tiễn đời sống chiến đấu của quân dân ta trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, vừa là cái nhìn phiến diện, lệch lạc, hàm chứa mưu đồ xấu xa là phủ nhận những giá trị của thơ cách mạng kháng chiến thế kỷ 20, sâu xa hơn là phủ nhận toàn bộ giá trị nền văn học nghệ thuật cách mạng nước nhà.  

Thơ cách mạng “vị nhân sinh”, vì sứ mệnh cao cả là giải phóng dân tộc

Thơ là sự thổ lộ tình cảm sâu sắc được thăng hoa, lắng đọng qua cảm xúc thẩm mỹ, làm lay động và mang lại cảm xúc cho người đọc. Với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, thơ chân chính luôn hướng tới cái đẹp để ca ngợi, nuôi dưỡng, bồi đắp những giá trị chân-thiện-mỹ cho con người. Theo nhà phê bình văn học Nga V.Belinsky (1811-1848): “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật. Phục vụ cuộc sống, phục vụ con ng­ười là mục đích lớn nhất của thơ chân chính”. Lãnh tụ V.I.Lenin cũng cho rằng: “Nghệ thuật thuộc về nhân dân. Nghệ thuật phải bắt rễ sâu xa trong lòng đông đảo quần chúng lao động. Nó phải được quần chúng đó hiểu và yêu thích. Nó phải tập hợp được tình cảm, tư tưởng, ý chí của quần chúng đó, nâng họ lên. Nó phải thức tỉnh những nghệ sĩ trong quần chúng và phát triển các nghệ sĩ đó”.

Trong lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, mỗi khi đất nước có giặc ngoại xâm thì cuộc sống, số phận mỗi người dân tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước. Trong hoàn cảnh đó, lương tâm và trách nhiệm đặt ra tiếng nói của mỗi thi sĩ phải hòa chung với tiếng nói chung của dân tộc, thể hiện tình cảm của quảng đại quần chúng nhân dân lao động, biết đau chung cùng nỗi đau của người dân nô lệ, biết yêu thương, cảm mến và tôn vinh với những con người đã xả thân vì nghĩa lớn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng”. Vì vậy, dù có những đặc trưng, đặc thù thế nào đi chăng nữa thì từ sự nhận thức, phản ánh của mình, nhà thơ vẫn phải nhằm mục đích góp phần vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giải quyết những mâu thuẫn, những yêu cầu đặt ra của thời đại. Do đó, trong thời kỳ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, trước cảnh mất nước lầm than, nhân dân ta “một cổ hai tròng”, đây là “lửa thử vàng” để xem dòng thơ nào, tác giả nào thực sự “vị nhân sinh”, gắn bó với vận mệnh dân tộc, đất nước.

Trong những thời khắc trọng đại, yêu cầu nghệ thuật của thơ được tự giác kết hợp với yêu cầu chính trị, với nhiệm vụ lịch sử của đất nước. Thử hỏi thời kỳ đó, những tiếng thở dài “Không rên xiết là thơ vô ý nghĩa” hay “Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơi vơi” liệu có đại diện cho tiếng nói cả dân tộc không? Chắc chắn là không!

Hiển nhiên rằng, thơ không còn con đường nào khác ngoài con đường “bay theo đường dân tộc đang bay” và nhà thơ tự nguyện: “Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao” (Xuân Diệu). Lịch sử thời kỳ ấy đặt ra cho mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ đều thể hiện ý thức trách nhiệm với nhân dân, chủ động dùng thơ như một vũ khí tinh thần trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Nhà thơ trước hết phải là một công dân, đồng thời cũng là một chiến sĩ để những tác phẩm của mình phục vụ tốt nhất cho mục tiêu đấu tranh giành độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Thơ cách mạng kháng chiến của chúng ta đã làm tròn sứ mệnh vẻ vang đó. Thế nên, ai đó cho rằng, thơ thời kỳ này không có giá trị là một nhận định hàm hồ, thiếu nhân văn, xuyên tạc, nếu không muốn nói là thái độ vô ơn bạc nghĩa, có dụng ý xấu.

Không thể phủ nhận giá trị to lớn, cao đẹp của thơ cách mạng

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cuốn hút đông đảo nhà thơ giàu năng lực sáng tác và đầy tâm huyết tham gia sứ mệnh giải phóng dân tộc. Thế hệ nhà thơ từ trước cách mạng như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Anh Thơ... đã được ánh sáng của Đảng “thay đổi đời tôi, thay đổi thơ tôi” để sáng tác các tác phẩm thơ phục vụ cách mạng. Thế hệ nhà thơ nối tiếp là Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Hoàng Trung Thông, Chính Hữu, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn... rồi đến Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Anh Ngọc, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Vương Trọng, Hoàng Nhuận Cầm, Giang Nam, Lâm Thị Mỹ Dạ... Còn có nhiều nhà thơ đã anh dũng hy sinh quên mình vì nghĩa lớn và tác phẩm của họ đã trở thành bất tử trong dòng chảy thơ ca cách mạng của dân tộc.

Từ thực tế chiến trường khốc liệt, những câu chuyện cao đẹp, giàu tính nhân văn, những tấm gương chiến đấu hy sinh anh dũng đã tác động mạnh đến những tâm lý, tình cảm của mỗi tác giả để họ sáng tạo nên những bài thơ có giá trị sâu sắc. Sứ mệnh thiêng liêng cao cả của nhà thơ đã hòa vào dòng người “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Khao khát của nhà thơ là được đến với “biển lớn cuộc đời”. Không có sự hy sinh nào lớn lao, cao cả hơn sự hy sinh cho đất nước mình, dân tộc mình: “Ôi! Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt/ Như mẹ cha ta, như vợ như chồng/ Ôi, Tổ quốc! Nếu cần, ta chết/ Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông” (Chế Lan Viên)...

Nghệ thuật của thơ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp nhiều thành tựu xuất sắc trong nền văn học Việt Nam. Ngôn từ của thơ thời kỳ này đã góp phần tạo cho thơ Việt Nam một tâm thế mới, sức thuyết phục, truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với công chúng để thể hiện tầm vóc cao đẹp của dân tộc và con người Việt Nam. Nhiều nhà thơ đã sử dụng bút pháp tinh tế: “Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?” (Tố Hữu); “Cánh tay thần Phù Đổng sẽ vươn mây?” (Chế Lan Viên). Nhiều nhà thơ đã thổ lộ tình yêu đôi lứa luôn gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước: “Anh yêu em như yêu đất nước”, “Em đứng bên đường như quê hương/ Vai áo bạc quàng súng trường” (Nguyễn Đình Thi); “Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình/ Phải biết gắn bó và san sẻ/ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở/ Làm nên Đất Nước muôn đời...” (Nguyễn Khoa Điềm);  “Em chính là quê hương ta đó” (Lê Anh Xuân)...

Có thể khẳng định rằng, thơ cách mạng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ mang đậm chất sử thi, trữ tình, phản ánh sâu sắc cuộc sống lao động, chiến đấu hào hùng của quân dân ta. Những cách tân nghệ thuật được thể hiện trên nhiều bình diện: Từ việc mở rộng hình thức câu thơ đến sự vận dụng ngôn ngữ thơ một cách linh hoạt, từ những đổi mới phong phú trong giọng điệu thơ đến việc tìm tòi những kiểu kết cấu mới cho thơ. Nó vừa kết hợp hài hòa giữa lý tưởng và hiện thực, giữa chất anh hùng ca và tính trữ tình, giữa truyền thống và tìm tòi sáng tạo của các nhà thơ cách mạng.

Vậy thì sao vẫn có người xuyên tạc “đổi trắng thay đen” để cho rằng thơ thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là thơ “minh họa chính trị” được!

Những kẻ xuyên tạc, chống phá đã cố tình lờ đi hay không hiểu rằng, thời kỳ này, văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng đã vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. Nhà thơ đồng thời là một chiến sĩ, tác phẩm của họ trở thành vũ khí đắc lực góp phần cổ vũ cuộc chiến đấu gian khổ, hào hùng của quân dân cả nước. Các tác giả đã gắn bó với cuộc kháng chiến, được tôi luyện trong lửa đạn và nếm trải những gian lao, thử thách nơi trận mạc, cho nên, trong giai đoạn này, “chất thép” và “chất thơ” đã hòa quyện nhuần nhuyễn. Thơ cách mạng đã tới được những khái quát sâu sắc về đất nước, con người, về hiện tại và tương lai, về dân tộc và thời đại, về lương tâm, trách nhiệm và lẽ sống.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong 30 năm, thơ thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đã phát triển cả về chất lượng và số lượng, trên cơ sở sự thống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức, giữa truyền thống và hiện đại. Nhất quán trong một quan niệm nghệ thuật tích cực, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, các nhà thơ không ngừng tìm tòi, sáng tạo, nhằm tạo dựng một nền thơ xứng đáng với tầm vóc của dân tộc, góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Những đóng góp lớn lao của các nhà thơ chân chính và những giá trị nhân văn cao cả của thơ cách mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc là căn cứ thực tiễn và minh chứng sinh động để chúng ta phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận dòng thơ này.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 

          1. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, có vai trò quyết định thành công của cách mạng

          Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

          Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

          Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

          2. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo

          Khối đại đoàn kết toàn dân tộc muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

          Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

          3. Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; đồng thời quan tâm đến quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân

          Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

          Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

          4. Phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc

          Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

          Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu.

HAIVAN

Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngay sau khi Nghị quyết 35 được ban hành, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tất cả các cơ quan, đơn vị, địa phương đẩy mạnh triển khai việc triển khai Nghị quyết. Ban Chỉ đạo 35 đã được thành lập từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện và ở các bộ, ban, ngành với vai trò trực tiếp chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình. Trong đó, công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được tiến hành khá bài bản, hệ thống, thường xuyên, bằng nhiều hình thức phong phú. Nhiều đảng bộ, chi bộ cơ sở không chỉ tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết mà còn tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề về nội dung Nghị quyết để phổ biến, lan tỏa đến đông đảo cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, “đa số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã nhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa, tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đã chỉ đạo các đơn vị đa dạng hóa hoạt động tuyên truyền trên cơ sở phát huy thế mạnh của từng kênh truyền thông, kết hợp giữa truyền thông truyền thống và truyền thông hiện đại, giữa truyền thông chính thống và phi chính thống. Các hoạt động tuyên truyền trên sách, báo, tạp chí tiếp tục được đẩy mạnh. Một số báo, tạp chí đã xây dựng chuyên mục phù hợp, chuyên sâu để đăng tải những bài viết có nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó tiêu biểu là: Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Tuyên giáo, Báo Nhân dân, Báo Quân đội nhân dân... Các nhà xuất bản như Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân... cũng đẩy mạnh việc xuất bản, phát hành các ấn phẩm về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tính trong giai đoạn 2019-2022, cả nước có hơn 200 đầu sách tham khảo, chuyên khảo có nội dung liên quan đến Nghị quyết 35, trong đó có nhiều cuốn sách có nội dung đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch. Các Đài Truyền hình quốc gia và địa phương đã xây dựng các chương trình chính luận về có nội dung liên quan trực tiếp đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) với chương trình “Đối diện”, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) với chương trình “Nhìn thẳng, nói thật”… Ngoài ra, Ban Chỉ đạo 35 các cấp cũng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Từ năm 2019 đến nay, nhiều địa phương, bộ, ngành đã sử dụng các kênh truyền thông hiện đại với nhiều hình thức đa dạng như: trang thông tin điện tử, website, fanpage, facebook, youtube, zalo… để đăng tải thông tin tích cực, phản bác những thông tin xấu độc, kịp thời định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều kênh truyền thông có lượng người theo dõi, tương tác lớn; có tính lan tỏa rộng trong cộng đồng và đóng vai trò tích cực trong việc tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ngoài các hoạt động tuyên truyền mang tính đại chúng, theo bề rộng, hoạt động tuyên truyền về nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn được tiến hành theo chiều sâu với nhiều cách làm sáng tạo, thiết thực. Điển hình là một số Ban Chỉ đạo 35 các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học, xuất bản và phát hành các cuốn sổ tay hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phát hành “Sổ tay công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Học viện Báo chí và Tuyên truyền phát hành cuốn “Sổ tay hỏi đáp Sinh viên với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch hiện nay”… Sau khi phát hành, các cuốn sổ tay đã trở thành cẩm nang thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng, phương pháp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Đáng chú ý, trên cơ sở thành công của “Cuộc thi viết chính luận khoa học về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức năm 2021, trong năm 2022, 2023 Ban Chỉ đạo 35 Trung ương đã giao Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân, Hội Nhà báo Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức “Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”. Cuộc thi đã thu hút sự tham gia của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân và một số học giả, chính khách nước ngoài, tạo ra sự ảnh hưởng và lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Cuộc thi là hình thức tuyên truyền sáng tạo, thiết thực, hiệu quả về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Công tác tuyên truyền, định hướng, nhất là trên internet và mạng xã hội còn thiếu nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp, có biểu hiện chạy theo thành tích, bệnh hình thức, hiệu quả chưa cao. Nhận định về điều này, Đại hội XIII chỉ rõ: “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao; công tác nắm bắt dư luận trước những sự kiện, tình huống bất ngờ còn chưa kịp thời”. Ngoài ra, công tác quản lý nhà nước về hoạt động tuyên truyền trên báo chí, các phương tiện truyền thông đôi khi còn lỏng lẻo, thiếu kiểm soát, chưa bám sát tôn chỉ mục đích hoạt động và định hướng của Đảng, Nhà nước… Một bộ phận không nhỏ cán bộ làm công tác tuyên truyền do hạn chế về nhận thức, năng lực nên tham gia hoạt động tuyên truyền chưa thật sự hiệu quả hoặc do chạy theo lợi nhuận, lợi ích vật chất nên đã đánh mất đạo đức nghề nghiệp, chỉ chú tâm đến việc đăng các thông tin giật gân nhằm “câu like”, “câu view”, chạy theo tâm lý đám đông mà không tuân theo quy định của các cơ quan quản lý về tuyên truyền bám sát các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước… Những hạn chế đó đã ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở nước ta thời gian qua.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC – CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA TẠO NÊN MỌI THÀNH CÔNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

          Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam, là cội nguồn sức mạnh của mọi thành công, chiến thắng. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đem lại những thành tựu to lớn.

          Vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề những năm sau khi đất nước thống nhất bởi hậu quả tàn phá nặng nề của chiến tranh kéo dài chưa kịp được khắc phục, đất nước bị bao vây, cấm vận, mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu bộc lộ nhiều khiếm khuyết… Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng công tác xây dựng mặt trận dân tộc, tăng cường đoàn kết toàn dân tộc và phát huy mạnh mẽ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để đưa đất nước tiến lên.

          Chỉ thị số 17-CT/TW của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Mặt trận, đề cao vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc, có ý nghĩa thiết thực đối với việc tạo ra sức mạnh nội sinh để đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; tạo điều kiện, tiền đề để phá bỏ bao vây, cấm vận, tiến tới bình thường hóa quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới.

          Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1986 đến nay, Đảng đã có nhiều chủ trương, quyết sách và biện pháp quan trọng để tiếp tục củng cố, mở rộng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường đồng thuận xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân; động viên Nhân dân phát huy tinh thần năng động, sáng tạo, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền.

          Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội kịp thời có chính sách, pháp luật đúng đắn, phù hợp với mọi lực lượng nhân dân tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần động viên Nhân dân phát huy tinh thần sáng tạo, năng động, hăng hái tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp mở rộng quan hệ hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.

          Trong bối cảnh tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Đảng và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể đồng bào ở trong nước và ngoài nước đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, quyết tâm “chống dịch như chống giặc” để từng bước đẩy lùi và vượt qua đại dịch Covid-19. Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, phát huy vai trò nòng cốt trong việc xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo; vận động các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân; vận động Nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và các chương trình an sinh xã hội...

          Những kết quả đạt được trong việc tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng tầm cao uy tín, vị thể của Việt Nam trên trường quốc tế, thắt chặt mối quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới, cao hơn, sâu sắc hơn.

          Đánh giá những thành tựu đạt được, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

          Những thành tựu này đã tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến vấn đề đoàn kết toàn dân tộc. Trong hệ thống tư tưởng của Người, đại đoàn kết toàn dân tộc là một nội dung cốt lõi, làm nên dấu ấn quan trọng của Người trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, được Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa, vận dụng thành công trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Tư tưởng của Người về đại đoàn kết toàn dân tộc thể hiện rõ quan điểm, lập trường, thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin được cụ thể hóa thành những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, quy tụ và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, tổ chức lực lượng cách mạng, đoàn kết quốc tế nhằm phát huy cao nhất sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ, sức mạnh lớn nhất là ở Nhân dân, “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, đoàn kết được Nhân dân sẽ tạo ra sức mạnh to lớn nhất. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là “nền gốc” của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Người căn dặn: Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

          Kế thừa và phát triển tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, kiên trì và nhất quán quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử, khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra chế độ xã hội mới, là chủ nhân của sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

          Ngay sau đại thắng Mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, quan điểm đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng, đưa lên nhiệm vụ hàng đầu. Cùng với việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, ngày 24/5/1976, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thống nhất các đoàn thể nhân dân và các tổ chức Mặt trận dân tộc trong cả nước (Các tổ chức Mặt trận là: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam). Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận cả nước được tổ chức trọng thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ ngày 31/1 đến ngày 4/2/1977, quyết định lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trên phạm vi cả nước, mở ra một thời kỳ hoạt động mới của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, góp phần tích cực vào công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của dân tộc.

          Đại hội IV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Muốn đưa vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, xây dựng chế độ làm chủ tập thể là xây dựng một xã hội trong đó người làm chủ là nhân dân lao động, có tổ chức mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Quan điểm này đã được Đại hội V của Đảng khẳng định: Thành công rực rỡ của Đảng và nhân dân ta đã nhanh chóng thống nhất đất nước về mặt nhà nước, triển khai thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tăng cường khối đoàn kết toàn dân tộc. Đại hội xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là Nhân dân lao động thực hiện quyền làm chủ tập thể của mình chủ yếu bằng Nhà nước dưới sự lãnh đạo cuả Đảng. Tăng cường Nhà nước là vấn đề cấp bách để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

          Đại hội VI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, có nhiều quan điểm, chủ trương đổi mới đề cập trực tiếp đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc như: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.

          Đại hội VII của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước, trong đó nhấn mạnh hai bài học kinh nghiệm về đoàn kết dân tộc: (1) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân…; (2) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đến Đại hội VIII, Văn kiện Đại hội một lần nữa khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”. Đại hội IX nhấn mạnh: Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đại hội X chỉ rõ, nhiệm vụ phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đưa vấn đề phát huy sức mạnh toàn dân tộc là một trong bốn thành tố của chủ đề Đại hội; coi đó là “nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

          Tiếp tục khẳng định quan điểm của các nhiệm kỳ đại hội trước, Đại hội XI chỉ rõ: Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...”.

          Đại hội XII nhấn mạnh yêu cầu trong giai đoạn cách mạng hiện nay là phải “tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Tiếp tục thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc; hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát huy vai trò của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn của đất nước; bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân.

          Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung một số nội dung, phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; xác định rõ hơn vai trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ”. Khẳng định “vai trò chủ thể, vị trí trung tâm” của Nhân dân trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc; sự lãnh đạo của Đảng là ngọn cờ quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

HAIVAN

Phòng, chống “diễn biến hòa bình”: Lợi dụng dựng chuyện "trống trường"...

Mấy ngày qua, câu chuyện về khai giảng năm học mới vẫn râm ran quanh bàn trà của các bác hưu trí trong xóm. Ấy là bởi, trước đó, ông Bình khẳng định rằng, năm nay cán bộ huyện về dự lễ khai giảng ở trường tiểu học của xã sẽ không dám đánh trống khai trường. Thế nhưng, chuyện lại không phải vậy!

Ông Dương chậm rãi tỏ bày:

- Đó, ông Bình ạ, tôi đã nói với ông ngay từ đầu rồi. Ông cứ xem, nghe người ta đồn thổi trên mạng xã hội, rồi suy diễn cho rằng lãnh đạo các địa phương sợ "dớp" sẽ không dám đánh trống khai trường. Rồi ông còn bảo, người ta nghĩ ra cả rô-bốt để đánh trống... giải xui. Giờ đã "hai năm rõ mười" rồi nhé. Trong lễ khai giảng, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến các địa phương, ngay chủ tịch huyện ta cũng thực hiện nghi thức đánh trống chứ có sợ xui xẻo như ông nói đâu.

Ông Bình cười xuề xòa:

- À, thì tôi cũng nghe trên mạng người ta đồn vậy nên lấy câu chuyện làm quà. Còn nói thật, bản thân tôi lúc ấy cũng nghĩ, làm gì có chuyện đánh trống khai trường mà lại xui xẻo, không ai dám đánh trống, phải không các ông?

- Ông nghĩ thế là đúng đấy ông Bình ạ! Thực ra, những kẻ bất mãn chính trị luôn tìm cách nói xấu lãnh đạo, nói xấu chính quyền. Chúng âm mưu làm giảm lòng tin của người dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cán bộ các cấp hòng làm mất niềm tin của nhân dân vào chế độ, hướng tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Việc tung tin đồn nhảm cán bộ "sợ" đánh trống khai giảng chỉ là một trong nhiều thủ đoạn mà những kẻ xấu thực hiện. Ai tin vào những lời nhảm nhí, xì xào với nhau về việc này thì chính là đã vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, vô tình truyền bá mê tín dị đoan đấy.

Ông Huy gật gù:

- Ông Dương nói chí phải, ngay từ đầu, tôi đã thấy ông Bình nói không hợp lý rồi. Tôi cũng có xem trên mạng xã hội, thấy người ta cắt ghép video, đồn thổi rằng "có dớp" đánh trống khai trường nên lãnh đạo năm nay sẽ không đánh trống. Nhưng tôi cứ chờ cho khai giảng diễn ra để thực tế sẽ chứng minh cho ông Bình và những lời đồn trên mạng xã hội là đúng hay sai. Vì thế, lúc đó tôi không tranh luận. Giờ thì đã rõ rồi ông Bình nhé, chiếc trống trường nào có tội gì và các cấp lãnh đạo cũng chẳng bận tâm gì với những thông tin xuyên tạc, nhảm nhí. Từ khi có lễ khai giảng đến nay thì hầu như ở đâu cán bộ chẳng đánh trống khai trường...

Ông Dương đồng tình, tiếp lời:

- Từ việc khai giảng lần này càng thấy, lãnh đạo các cấp vẫn luôn sẵn sàng làm việc cần làm vì nhân dân, vì đất nước chứ không phải vì cá nhân, vì sợ điều này, lo tiếng nọ mà không dám làm; lại càng không tin những luận điệu xuyên tạc, nhảm nhí. Vậy thì cánh già chúng ta phải tuyên truyền những điều tích cực đó và phản bác lại những lời bịa đặt, suy diễn nhằm chống phá đất nước, các ông ạ!

Sợ dòng họ mình "lép vế"

Học xong trung cấp nông nghiệp, Mạnh chỉ có nguyện vọng về làm việc tại quê nhà. Quyết định của chàng trai thật đáng quý, bởi ở miền quê này, các thanh niên trưởng thành đều tìm cách “tung cánh bay xa”, những ngày thường ở quê chỉ toàn người già, trẻ nhỏ.

Lâu nay, việc tìm người làm cán bộ thôn thật khó, nguồn chủ yếu là người đã nghỉ hưu. Vì vậy, việc Mạnh học xong, quyết định trở về quê hương làm ăn khiến nhiều đồng chí cán bộ thôn rất mừng.

Về quê, Mạnh được bầu vào Ban Chấp hành chi đoàn thôn. Khi Bí thư chi đoàn đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản thì Mạnh lại được bầu làm thủ lĩnh chi đoàn. Với kỹ năng “tay trái” học được ở trường, nhất là việc tổ chức các phong trào hoạt động của tuổi trẻ, Mạnh tiến hành củng cố chi đoàn về tổ chức và đẩy mạnh các hoạt động. Chưa đầy 6 tháng, từ trạng thái “ngủ quên”, chi đoàn đã bừng tỉnh với nhiều hoạt động phong phú, bổ ích. Việc chung-việc riêng, hoạt động phong trào và tư duy kinh tế nông nghiệp của Mạnh đều rất nổi. Những ai có góc nhìn tích cực thì đều tin tưởng, ủng hộ, khích lệ Mạnh.

Những tưởng từ “bó đũa” đã chọn được “cột cờ”! Nhưng không, đã mấy lần chi ủy, chi bộ họp về việc kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn (thay thế người đương nhiệm tuổi đã cao), mà chẳng lần nào Mạnh được quá bán, chẳng lần nào thành công. Trong các cuộc họp đó, những ý kiến ủng hộ Mạnh chỉ là số ít, còn những ý kiến ngược lại thì áp đảo với đủ lý do: Rằng, mới chỉ có bề nổi chứ chưa có chiều sâu; rằng, có nhiệt tình nhưng còn thiếu chín chắn; rằng, để làm được trưởng thôn thì cần phải học hỏi, tích lũy nhiều, nhiều nữa...

Điều dễ nhận ra là những ý kiến không ủng hộ Mạnh đều của các đảng viên thuộc một dòng họ lớn trong thôn (chiếm hơn 2/3 đảng số chi bộ). Thực tế những đảng viên của dòng họ này không đồng ý kết nạp Mạnh vào Đảng và chọn làm nguồn trưởng thôn chỉ đơn giản vì cậu Bí thư chi đoàn không có họ với mình. Những đảng viên có họ số đông này đã rỉ tai nhau không ủng hộ Mạnh, thậm chí khi họp dòng họ còn đưa ra bàn: Cố gắng chờ một người của dòng họ đang phiêu bạt làm ăn nơi xa trở về để làm trưởng thôn kiêm bí thư chi bộ. Họ mình to nhất làng thì không thể để người của dòng họ khác làm lãnh đạo, khiến họ mình bị "lép vế" (?).

Tư tưởng ích kỷ tiểu nông và ứng xử không vì tập thể, không khách quan như trên là xa rời văn hóa Đảng, gây mất đoàn kết, là biểu hiện của tính cục bộ. Ở góc độ khác, đó còn là cách nhìn phiến diện, tiêu cực, làm cho những người trẻ mất động lực phấn đấu, gây hậu quả tai hại cho cả tập thể và cá nhân, nhất là ảnh hưởng xấu đến công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, về công tác tạo nguồn, xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở. Điều hết sức nguy hại nữa là những tư tưởng, hành động tiêu cực nêu trên chính là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng, từ đó thổi phồng, kích động nhằm chống phá Đảng ta, chế độ ta, gây "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

Do đó, mỗi đảng viên đều phải nêu cao tính Đảng, thực hiện đúng những nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, bảo đảm nhìn nhận và giải quyết vấn đề thật công tâm, khách quan, vì sự phát triển của tập thể-như thế mới là người văn minh, tiến bộ. Đặc biệt, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình, không tham gia những cuộc họp họ tộc can thiệp vào công việc của chi ủy, chi bộ và của chính quyền các cấp mà nội dung trái với cả pháp luật và đạo lý; đồng thời lựa lời khuyên giải, góp ý, thuyết phục những người thân quen bỏ tư tưởng, suy nghĩ tiêu cực, thiển cận, cục bộ.

Đề cao vai trò, tầm quan trọng công tác tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng

Trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII, Đảng ta đã dự báo tình hình thế giới và đất nước trong những năm tiếp theo tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nói riêng. Bốn nguy cơ, trong đó có tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn nhiều diễn biến phức tạp. Đặc biệt, “các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”, “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn”. Đây được nhận định là một trong những nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta và tác động trực tiếp đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta trong thời gian tới.

Xuất phát từ cả những kết quả đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại, trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cần chú trọng đến các giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy và Ban Chỉ đạo 35 các cấp về vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là yếu tố đóng vai trò tiên quyết đến chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên tuyền, làm cho công tác tuyên truyền được tiến hành thường xuyên, liên tục, với nội dung và hình thức phù hợp, với các điều kiện bảo đảm đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Theo đó, cấp ủy đảng các cấp, trực tiếp là Ban Chỉ đạo 35 từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng những cách thức thiết thực, hiệu quả, sáng tạo, ngày càng đi vào thực chất để tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Hai là, đổi mới nội dung tuyên truyền về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng gắn với những biến đổi nhanh chóng của tình hình thực tiễn. Xuất phát từ những thay đổi nhanh chóng, khó lường của thực tiễn, nội dung tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay ngoài những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần tập trung vào những vấn đề cơ bản, trọng tâm trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng; nhận diện đầy đủ những cơ hội, thuận lợi cũng như những khó khăn, thách thức trong những năm tới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch gắn với bảo vệ những quan điểm, chủ trương, chính sách, sự kiện, sự việc cụ thể và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm “lấy xây làm chính”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”. Việc đổi mới, cập nhật nội dung tuyên truyền theo hướng này sẽ làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân, trở thành “kim chỉ nam” định hướng cho hoạt động của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Ba là, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng thiết thực, hiệu quả. Các hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú, gắn với đặc điểm của từng bộ phận quần chúng nhân dân. Ngoài việc tuyên truyền theo những cách thức truyền thống như quán triệt, học tập nghị quyết, viết tin bài trên báo chí, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên internet và mạng xã hội. Cách thức tuyên truyền cần có sự đổi mới linh hoạt gắn với nhu cầu, thị hiếu và xu hướng của xã hội. Ngoài ra, cần xây dựng các chiến dịch truyền thông chủ động trong các dịp đất nước có các sự kiện chính trị lớn hay trong những thời điểm khó khăn, nhiều thử thách để các dòng thông tin tích cực trở thành chủ lưu, tránh để các thế lực thù địch có cơ hội chiếm lĩnh trận địa thông tin để tung ra các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật hòng dẫn dắt, hướng lái dư luận theo ý đồ chống phá. Chú trọng tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả của các thông tin tuyên truyền.

Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước với các hoạt động tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cần tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, trong đó chú trọng đến việc “xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có sơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt đẹp đến dư luận xã hội”. Do đó, các cơ quan Nhà nước cần xiết chặt cơ chế quản lý hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, truyền thông… trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường quản lý và định hướng hoạt động của các cơ quan báo chí; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý báo chí, phóng viên, biên tập viên, cáo cáo viên có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và tinh thông nghiệp vụ để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền”. Giải pháp này giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền sẽ truyền tải đúng đường lối, chủ trương của Đảng, tinh thần của Nghị quyết; khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ do yếu kém về năng lực, nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm mà tuyên truyền không đúng, xa rời đạo đức nghề nghiệp, sẵn sàng chạy theo tâm lý đám đông mà bỏ qua tính đảng, tính chính trị trong các hoạt động tuyên truyền nên dễ dàng bị các thế lực thù địch mua chuộc, lôi kéo, đưa các thông tin tuyên truyền đi ngược lại với đường lối, chủ trương của Đảng.

Sáu là, tiếp tục đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, xây dựng, phát triển và tăng cường phối hợp các lực lượng trong tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong bối cảnh phát triển của truyền thông hiện đại, để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nhất thiết phải chú trọng đầu tư ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, đẩy mạnh chuyển đổi số để hiện đại hóa các cơ quan, phương tiện truyền thông, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng rãi trong toàn xã hội. Ngoài lực lượng cán bộ chuyên trách ở ban tuyên giáo các cấp, cần xây dựng và phát triển đội ngũ chuyên gia, lực lượng xung kích để tạo thành mạng lưới tuyên truyền rộng khắp. Bên cạnh đó các cơ quan tuyên truyền cần có sự phối hợp chặt chẽ để kết nối, lan tỏa những nội dung liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng để tạo thành mạng lưới thông tin tuyên truyền tích cực, góp phần “pha loãng”, đẩy lùi các thông tin tiêu cực./.

Tung hỏa mù... "chuyện thâm cung bí sử"

Chiều chủ nhật, tại quán trà đá vỉa hè Thủ đô có 4 người tuổi trung niên xì xào bàn tán:- Mấy hôm nay, facebook của các đối tượng “lề trái” liên tục đăng tin “hot” về một số cán bộ cấp cao phe nhóm, đấu đá nhau để tranh chức quyền các ông ạ!

- Có trang đăng cả những chuyện mà họ gọi là “thâm cung bí sử”, chuyện đời tư của cán bộ cấp cao, chuyện một vài cán bộ làm thế nào để chạy vào quy hoạch Trung ương...

- Thì thi thoảng các trang mạng “lề trái” vẫn đăng tin như vậy, nhưng dịp này nó đăng dày hơn, nhiều chuyện hơn. Dân thường như mình không biết đường nào mà lần, các ông nhỉ?

Ngồi ngay ghế bên cạnh uống trà để chờ đến giờ đón cháu đi học vẽ về, ông Hoàng là cựu chiến binh vô tình nghe được câu chuyện của 4 trung niên. Là người hiểu biết, có nhiều năm kinh nghiệm trong công tác đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tính tình lại cương trực “thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, không được sống thờ ơ, vô trách nhiệm”, nên ông Hoàng quay sang nói với 4 người ngồi bàn bên:

- Tôi vô tình nghe các chú nói chuyện. Biết các chú đang bị những thông tin suy diễn, xuyên tạc, bịa đặt trên một số trang mạng của các đối tượng bất mãn, phản động làm cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nên tôi xin phép được tham gia vài lời. Các chú có biết vì sao mấy hôm nay một số trang mạng "lề trái" lại đăng nhiều thông tin nói xấu lãnh đạo cấp cao không?

Sau khi cả 4 người trung niên đồng loạt trả lời: “Không ạ!”, ông Hoàng cười và nói:

- Các chú có vẻ không chú ý đến các sự kiện, thông tin chính trị chính thức, nhưng lại tò mò, quan tâm những tin tức giật gân, không hề có cơ sở. Sở dĩ mấy ngày nay, các đối tượng bất mãn, phản động tung nhiều tin xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu một số đồng chí lãnh đạo cấp cao là bởi từ ngày 2-10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tiến hành Hội nghị lần thứ 8 để bàn nhiều vấn đề quan trọng, trong đó có nội dung quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Chúng tận dụng cơ hội này, cố tình tung tin hỏa mù, nói xấu, hạ thấp uy tín lãnh đạo cấp cao hòng tạo dư luận xấu, chống phá công tác cán bộ của Đảng ta nhằm thực hiện âm mưu nham hiểm, sâu xa là chống phá Đảng, Nhà nước; làm cho nhân dân mất niềm tin vào chế độ và sự lãnh đạo của Đảng. Thực tế, trước các kỳ Đại hội Đảng, bầu cử Quốc hội hay những lần lấy phiếu tín nhiệm, khi Trung ương bàn công tác cán bộ thì các phần tử phản động, bất mãn đều tung hỏa mù, xuyên tạc, nói xấu cán bộ cấp cao như vậy. Các chú thấy tôi nói có đúng không?

4 người đàn ông “dạ, vâng”, nhưng một người vẫn hỏi ông Hoàng:

- Vì sao bác lại khẳng định những thông tin “thâm cung bí sử” mà các trang mạng “lề trái” đăng tải là sai sự thật, là suy diễn, xuyên tạc?

Là cử nhân luật, được tín nhiệm bầu làm hội thẩm nhân dân cấp quận và nhiều lần tham gia xét xử tại các phiên tòa nên ông Hoàng đã trả lời hết sức thuyết phục:

- Tôi khẳng định những thông tin nói xấu lãnh đạo cấp cao mà các đối tượng phản động, bất mãn tung ra với chiêu trò “chuyện thâm cung bí sử” để thu hút người đọc là sự suy diễn, xuyên tạc trắng trợn và vu khống, bởi vì không có bất kỳ bằng chứng xác đáng nào để chứng minh đó là sự thật. Bản thân những kẻ tung tin đó cũng không dám chịu trách nhiệm trước pháp luật về thông tin chúng đăng tải, như thế thì sao các chú lại tin? Chưa kể, đa số những kẻ tung tin “chuyện thâm cung bí sử” của nước ta lại đang sống ở nước ngoài, làm sao được chứng kiến sự việc trong nước, nhất là chuyện đời tư, chuyện quan hệ, công việc của các đồng chí lãnh đạo, nên chúng chỉ "ăn ốc nói mò". Ngay chúng ta sinh sống và làm việc trong nước, cách trung tâm chính trị của đất nước chỉ vài bước chân mà còn không biết “chuyện thâm cung bí sử” nữa là những đối tượng ở xa đất nước hàng nghìn cây số. Chưa kể, hằng ngày, chúng ta xem thời sự, thấy các đồng chí lãnh đạo cấp cao gặp gỡ, tiếp xúc với nhau thân tình, cởi mở, thể hiện tinh thần đoàn kết, thống nhất rất cao, thế mà chúng tung tin "phe nhóm đấu đá kịch liệt để tranh giành quyền lực, cán bộ này đang tìm cách hạ bệ cán bộ kia để đưa nhau ra khỏi diện quy hoạch, bổ nhiệm"(!)... Chuyện bịa như thế thì các chú thử hỏi có lừa được đứa trẻ thông minh không?

Nghe ông Hoàng phân tích thấu đáo, 4 người đàn ông cứ gật đầu lia lịa, rồi bắt tay ông Hoàng rất chặt thay cho lời cảm ơn ông đã giúp họ tỉnh táo nhận rõ đúng-sai, hiểu rõ những ai đang có âm mưu đen tối hòng chống phá Đảng ta và đất nước.