Trong những năm qua, cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… thì các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng Internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Đặc biệt, trong giai đoạn Internet bùng nổ như hiện nay việc đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết, lâu dài và có ý nghĩa sống còn đối với cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, Đảng viên.
Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023
Không được núp bóng tôn giáo để chống phá đất nước
“Hội đồng liên tôn Việt Nam”, tổ chức được thành lập
trên cơ sở liên kết của một bộ phận chức sắc có tham vọng chính trị trong các
tôn giáo bao gồm: Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Thời gian gần đây,
tổ chức này có nhiều hoạt động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh
vực nói chung. Gần đây nhất, tổ chức này đã ra cái gọi là “Tuyên bố về tình
hình Việt Nam và thế giới”, trong đó, xuyên tạc trắng trợn tự do tín ngưỡng, tự
do tôn giáo ở Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng,
tôn giáo cùng tồn tại, trong đó có một số tôn giáo du nhập từ bên ngoài như
Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo,... và một số tôn giáo ra đời trong
nước như Cao Đài, Hòa Hảo... Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống
yêu nước. Chính vì thế, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng đồng
thời giành tự do cho nhân dân, trong đó có đông đảo đồng bào theo các tôn giáo,
theo nguyên lý đất nước có độc lập thì tôn giáo mới tự do. Cuộc đấu tranh chung
đã gắn kết đồng bào các tôn giáo với cả dân tộc. Và đồng bào các tôn giáo đã
đồng hành cùng dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân.
Ngày nay, trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam, từ thành thị, nông
thôn đến miền núi, ở đâu cũng có đền, chùa, tháp chuông, nhà nguyện, tòa
thánh,… được xây dựng khang trang, cùng với các nghi lễ mang đậm bản sắc tôn
giáo ở mỗi vùng miền. Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà
riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi
thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên
nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội… Không chỉ chăm lo cho đời sống
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày một tốt hơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam
cũng hết sức có trách nhiệm đối với các hoạt động tôn giáo quốc tế. Việt Nam
từng 3 lần tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak). Đặc biệt,
đã tổ chức rất thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 tại Chùa Tam
Chúc (Kim Bảng, Hà Nam), với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu quốc tế thuộc
570 phái đoàn đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ… được bạn bè quốc tế đánh
giá hết sức tích cực.
Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo
không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh
hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở
trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng
và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do
tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền,
chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân
chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần
tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là một tổ chức
như vậy.
Tổ chức này được lập ra với danh nghĩa tranh đấu cho tự do tôn
giáo và dân chủ nhân quyền, trụ sở hiện nay tại chùa Giác Hoa, quận Bình Thạnh,
Thành phố Hồ Chí Minh, do Thích Không Tánh trụ trì. Nghe tên “Hội đồng liên tôn
Việt Nam” có vẻ rất mỹ miều nhưng thực chất tổ chức này lại bao gồm số tu sỹ
bất mãn, biến chất trong các tôn giáo ở Việt Nam, có thể liệt kê một số đối
tượng cầm đầu, cốt cán như: Thích Không Tánh, Thích Vĩnh Phước (Phật giáo);
Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đinh Hữu Thoại (Công giáo); Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân
(Cao Đài); Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Nguyễn Mạnh Hùng (Tin Lành); Lê Quảng Hiển,
Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa Hảo)…
Gần đây, “Hội đồng liên tôn Việt Nam” luôn tìm cách để gặp gỡ các
quan chức phương Tây, các tổ chức quốc tế để cung cấp các thông tin xuyên tạc
về tình hình chính trị của đất nước, các vụ việc nhạy cảm, vấn đề “dân chủ”,
“nhân quyền”,“tự do tôn giáo”, qua đó vẽ nên một bức tranh méo mó, phản cảm về
vấn đề tôn giáo tại Việt Nam. Hồi tháng 1-2020, “Hội đồng liên tôn” đã gặp gỡ
với các đoàn lâm thời như đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ
(USCIRF), phái đoàn ngoại giao của các quốc gia như Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Tây
Ban Nha… tại chùa Giác Hoa. Tại buổi gặp gỡ, các đối tượng đã cung cấp những
thông tin xuyên tạc về vấn đề tự do tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt
Nam.
Gần đây nhất, tổ chức này ra cái gọi là “Tuyên bố tình hình Việt
Nam và thế giới”. Tổ chức này xuyên tạc trắng trợn rằng: “Nhà cầm quyền Cộng
sản Việt Nam đã đàn áp tôn giáo có hệ thống. Vì không thể tiêu diệt được, họ đã
tìm cách khống chế. Những tôn giáo độc lập bị chính quyền sách nhiễu, cô lập,
khử trừ bằng mọi cách. Các chức sắc “Hội đồng liên tôn” lúc nào cũng bị theo
dõi”. Về nhân quyền, tổ chức này cũng xuyên tạc: “Nhà cầm quyền gia tăng bắt
bớ, giam cầm, xử án bất công đối với những công dân ôn hòa lên tiếng bênh vực
cho công bằng xã hội, cho tự do dân chủ và nhân quyền, chống tham nhũng bất
công và chống Trung Cộng bành trướng”.
Như vậy, có thể thấy, hành động của số chức sắc cực đoan trong
“Hội đồng liên tôn Việt Nam” là hành động của những nhân vật không muốn đất
nước được bình an. Còn dưới góc độ tôn giáo, các chính đạo đều coi trọng việc
tu luyện loại bỏ nhân tâm, dục vọng, đề cao tâm tính làm căn bản để hướng tới
chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Giáo luật
Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế
là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa,
hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương
phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây
dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Vậy mà hoạt động của “Hội đồng liên tôn”
lại vì động cơ chính trị không trong sáng, làm trái lời dạy của các đức tin
trong tôn giáo của mình, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân
tộc Việt Nam.
Nhận thức rõ bản chất của “Hội đồng liên tôn” để chủ động đấu
tranh phản bác các quan điểm sai trái của tổ chức này là việc làm cần thiết
Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng
Lịch sử ra đời ngày động vật thế giới
Người tổ chức ban đầu của Ngày Động vật Thế giới là một nhà văn người Đức tên là Heinrich Zimmermann (1887-1942), ông cũng là người đã xuất bản một tạp chí hai tháng một lần. Trong tạp chí của mình, Mensch und Hund / Man And Dog, ông đã quảng bá quan điểm của mình về quyền lợi động vật và thành lập Ủy ban Ngày Động vật Thế giới.
Heinrich Zimmermann đã tổ chức Ngày động vật đầu tiên tại Cung thể thao ở Berlin, Đức, vào ngày 24/3/1925. Sự kiện đầu tiên có sự tham gia của hơn 5.000 người. Sự kiện này ban đầu được lên kế hoạch vào ngày 4 tháng 10 trùng với ngày lễ của Thánh Phanxicô Assisi, nhưng địa điểm không có sẵn vào ngày hôm đó.
Sau đó, Ngày Động vật Thế giới được chuyển sang ngày 4 tháng 10 năm 1930. Vì thế, ngày nay Ngày Động vật Thế giới được tổ chức trên toàn thế giới để ủng hộ động vật. Trang web về Ngày Động vật Thế giới đã được tổ chức Naturewatch Foundation ra mắt vào năm 2003.
Quyền con người ở Việt Nam
Trong
khi cộng đồng quốc tế và người dân trong và ngoài nước vui mừng, ủng hộ việc
Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền, khẳng
định sự công nhận vị thế của Việt Nam, đồng thời khẳng định và ghi nhận nỗ lực
của Việt Nam trong thúc đẩy bảo vệ quyền con người suốt thời gian qua, thì một
số đối tượng phản động, thù địch, thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã tỏ ra
cay cú, lợi dụng sự kiện này để ra sức xuyên tạc, phản đối, bằng mọi cách hạ uy
tín Việt Nam cả trước, trong và sau khi sự kiện diễn ra.
Bất chấp những nỗ lực và thành tựu mà
Việt Nam đã đạt được, các đảng phái chống cộng cực đoan ở hải ngoại đã liên tục
lên tiếng bôi nhọ vị thế của Việt Nam, họ bịa đặt hoặc dựa vào những thứ gọi là
"báo cáo nhân quyền" để tham gia các diễn đàn dân chủ quốc tế, liên
minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Mỹ hòng gây sức
ép đối với Việt Nam. Tổ chức khủng bố "Việt tân" đã vận động được 8
tổ chức nhân quyền đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân
quyền vì "không xứng đáng", vì "Việt Nam đang vi phạm nhân
quyền"...
Tuy nhiên, sự chống phá, cay cú từ
những hội nhóm, thế lực thù địch trong nước và ngoài nước nói trên chỉ là những
cản trở cục bộ, không thể xuyên tạc được sự thật, ngăn cản được sự phát triển
của Việt Nam. Những thành tựu của Việt Nam đã được thế giới và bạn bè quốc tế
ghi nhận. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là thắng lợi của sự
thật và chân lý. Trả lời phỏng vấn nhân dịp Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân
quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định:
"Là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam sẽ
tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên, đóng góp thực chất vào công
việc chung của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế trên
tinh thần tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quyền con người, đáp ứng điều
kiện, nhu cầu và lợi ích chính đáng của các quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển".
Việc Việt Nam là một trong 14 quốc gia
trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao, và
được các thành viên ASEAN nhất trí ủng hộ là ứng viên duy nhất của ASEAN vào vị
trí này là "minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc thực hiện
nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, mà còn khẳng định sự ủng hộ,
tín nhiệm cũng như kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan
trọng và có trách nhiệm của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế
giới". Với vai trò này, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội đóng góp, tham gia tích
cực trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc./.
Quyền tự do Internet ở Việt Nam
Bắt
đầu từ năm 1997, dù
việc
hòa mạng Internet muộn hơn so với
các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên Việt Nam đã thu về nhiều
thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển. Tuy nhiên, vì mục đích riêng, vẫn có
cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cố tình phớt lờ mọi nỗ lực và thành tựu của
Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền tự do internet, đưa ra những đánh
giá phiến diện, định kiến, sai sự thật, bỏ qua những điểm sáng, mặt tích cực để
xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet. Điển
hình là Báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được
tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022, trong đó xếp hạng Việt Nam
là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới.
Tổ chức này đã không hề quan tâm đến những chính sách hiện
hành ở Việt Nam như: Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2008 về
Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet
đưa ra hàng loạt chính sách phát triển internet quan trọng như: khuyến khích
việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để nâng cao
năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; đưa internet đến nông
thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng
tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh,
quốc phòng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/7/2013 về Quản lý,
cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhấn mạnh người sử
dụng internet có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ
bị cấm theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 10).
Hay từ những số liệu thự tế như: Báo cáo của Bộ Thông tin
và Truyền thông, trung bình cứ 100 người dân Việt Nam có 83 thuê bao internet
di động, trong khi thuê bao cố định là 21. Sách trắng Thương mại điện tử Việt
Nam 2022 của Bộ Công thương cho thấy người Việt dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để
truy cập internet. Đây đều là những thống kê cao hơn mức trung bình của thế
giới. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có giá cước internet rẻ nhất
thế giới. Hiện tại, Việt Nam có 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935
mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động, là những diễn đàn trực tuyến
để người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân.
Thực tế nêu trên cho thấy quyền tự do trên internet tại
Việt Nam luôn được bảo đảm, phát huy, trái với luận điệu xuyên tạc của một số
cá nhân, tổ chức không thiện chí. Không những vậy Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ
và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức quốc tế có thể tìm hiểu, nghiên cứu
một cách trung thực, khách quan về công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam,
bao gồm quyền tự do trên internet, tự do ngôn luận, tự do báo chí trên không
gian mạng.
Giá trị cốt lõi của Chủ nghĩa Xã hội
Chủ
nghĩa xã hội là một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ
19. Khi các quốc gia tìm kiếm cho mình một cách thức hợp lý trong phát triển và
xây dựng nhà nước. Bên cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ. Trong tính
chất lựa chọn đối với mức độ và tính chất chi phối trong hoạt động quản lý nhà
nước. Nó bao gồm một loạt các định hướng chính trị. Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam
gắn liền với đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam.
Đây được coi là cách thức và hình thái
chính trị phù hợp và tiến bộ nhất. Những hiệu quả trong công tác quản lý nhà
nước được phản ánh. Với sự lãnh đạo và dẫn dắt của một tầng lớp lãnh đạo. Vạch
ra những chính sách, hoạch định và đường lối cho phát triển, ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội. Bên cạnh các phối hợp, phân chia quyền lực và thực thi. Mang
đến sự đảm bảo cho công bằng, dân chủ và văn minh. Các công dân được đảm bảo
cho các quyền lợi bên cạnh những nghĩa vụ cơ bản với nhà nước. Trong đó, các
quyền lợi vừa mang đến lợi ích cho phát triển nền kinh tế nói chung.
Những người theo chủ nghĩa xã hội
thường nhấn mạnh giá trị cơ bản của bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Khi những
kết hợp giữa tự do và quản lý, chi phối được thực hiện. Khi có những định hướng
đúng đắn, hệ thống chính trị giúp cho những mong muốn và nhu cầu của cộng đồng
có nhiều thuận lợi. Bên cạnh sự đảm bảo cho một xã hội ổn định và nề nếp. Các
trật tự được đặt ra thông qua luật pháp là phương tiện điều phối chính. Từ đó
mà những chính sách được xem là thiết thực, phù hợp, vì lợi ích chung của dân
tộc.
Chủ nghĩa xã hội đề cao mối quan hệ
chặt chẽ giữa những phong trào xã hội thiết thực và phê phán xã hội lý thuyết.
Tức là những giá trị cần thiết phải được phản ánh là giá trị cho cộng đồng. Có
thể là mang đến những bù đắp cho sự công bằng. Cũng như lợi ích mang đến phải
đảm bảo phản ánh và tận dụng được trên thị trường. Có thể là những lợi ích vật
chất hay tinh thần. Tuy nhiên, nó không được xây dựng trên lý tưởng lý thuyết
mà phải vận hành vào thực tế.
Theo đuổi mục tiêu nhằm hòa hợp một
trật tự xã hội và kinh tế công bằng xã hội. Đó mới chính là các lý tưởng thực
tế. Việc thâu tóm quyền lực không xảy ra như chủ nghĩa bản thủ. Việc nhà nước
với các quyền lực phải đảm bảo với tính chất quản lý xã hội. Tức là mang đến
công bằng và thay thế cho tiếng nói chung cộng đồng. Trật tự cũng vì vậy mà
được tạo ra, giúp cho các công bằng được đảm bảo. Đây là chủ nghĩa với những lý
tưởng cần thiết. Khi con người cần được đối xử công bằng, bình đẳng. Ai sinh ra
cũng xứng đáng được hưởng các quyền lợi này.
Trăm sự phi lý phía sau “bộ cánh tự do tôn giáo”
Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu
thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo
vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu
khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt
Nam.
Điển
hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về
tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả
thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà
USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng”
để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt”
hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế
tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh
vực. Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu
đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì
khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín
ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.
Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo
năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều
được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình
tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong
chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng,
cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo
trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.
Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có
nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn
giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của
thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam
có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc
của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt
Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo
Hòa hảo...
Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn
hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên,
tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của
nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản
hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các
hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua
chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm
tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc
phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm
đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân...
Quyền
tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm
lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều
kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại
một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với
một bối cảnh và thực thể nhất định. Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân,
tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình
tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua
vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong
cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này.
Can
thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo
của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn
giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua
mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực
của nó?
Vì
lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để
áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác.
Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính
trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở
quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân
theo.
Từ thực tiễncủa đất nước bác bỏ mọi sự xuyên tạc
Trong tiến trình cách mạng
Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh (1945 - 2021) dưới sự lãnh đạo của Đảng, bên cạnh
thời cơ là thách thức không nhỏ chi phối đến quá trình phát triển của dân tộc;
trong đó, nổi lên là sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị
đối với Đảng, chế độ. Các “lý luận gia” có tư tưởng chống cộng cực đoan, cơ hội
chính trị, phản động đều tìm mọi cách chứng minh rằng con đường đấu tranh giành
độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Đảng,
Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn là sai lầm (!) Đi theo con đường này thì đất
nước Việt Nam sẽ không thể giành được độc lập thật sự, nhân dân Việt Nam sẽ mãi
trong đói nghèo, lạc hậu,...(!) Thực tế có phải như vậy?
Có thể khẳng định rằng, quan
điểm đó chỉ là những chiêu trò lừa gạt của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị,
mang tư tưởng thù hận dân tộc, nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và sự
nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bởi, thực tiễn đất nước Việt Nam là minh
chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các “lý luận
gia” nêu trên.
Từ khi đất nước giành được
độc lập cho đến nay (1945-2023), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao
ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Cách mạng tháng Tám,
lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết, đồng lòng giành được những thành tựu to
lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước, con người Việt Nam đều được đổi
mới, có nền chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển bền vững, quốc phòng
- an ninh được tăng cường, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, đời
sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ,
tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.
Từ năm 1975 đến nay, Đảng ta
đã lãnh đạo nhân dân đoàn kết, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua thách
thức, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoà
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh và đã đạt được những
thành tựu to lớn.
Từ
một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế
quốc, Việt Nam đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc
về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn
kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tạo sức mạnh “dời non, lấp biển” để
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ
chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp
luật Nhà nước.
Việt Nam từ một đất nước
nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế phụ thuộc, hành chính, bao cấp, Việt Nam đã
vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát
triển có thu nhập trung bình. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín
trên thế giới đánh giá có nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế
sâu rộng, hiệu quả.
Nền văn hoá Việt Nam tiến
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là
nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành
nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân
chủ hóa đời sống xã hội. Việt Nam đã trở thành “Đất nước của những di sản”, với
những con người cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện, là điểm đến
của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân” trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tư duy
của Đảng về quốc phòng - an ninh có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện.
Nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn
dân, thế trận an ninh nhân dân dựa trên sức mạnh toàn dân, của mọi nguồn lực.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh
thổ, an ninh biên giới quốc gia,
Việt Nam đã thực hiện hiệu
quả phương châm và định hướng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối
ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và
thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế
Năm 2020, trong bối cảnh đại
dịch Covid-19 bùng phát, Việt Nam ghi nhận ca mắc đầu tiên vào ngày 23/01/2020.
Từ đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại bước vào “cuộc chiến đấu trong
thời bình” - Cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 với tư tưởng chỉ đạo
hành động là “Chống dịch như chống giặc”. Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp,
Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đặt nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người
dân lên trên hết, trước hết; nâng cao các biện pháp phòng, chống dịch, với
phương châm mỗi tổ dân phố, khu phố, phường, xã, thị trấn, cơ quan, nhà máy, xí
nghiệp là một pháo đài phòng, chống dịch, đã nhận được sự đồng lòng của toàn
dân và sự đóng góp không nhỏ của ngành y tế, dịch Covid-19 đã được kiểm soát,
bảo đảm đời sống nhân dân theo hướng thích
ứng, an toàn, linh hoạt, hiệu quả, kiểm
soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Cùng với việc nỗ lực phòng chống dịch,
Việt Nam cũng đẩy mạnh công tác nghiên cứu và sản xuất các vaccine Covid-19,
trở thành một trong những nước trên thế giới phân lập được virus SARS-CoV-2 và
thử nghiệm vaccine trên người, chính vì vậy Việt Nam được các nước trong khu
vực và thế giới đánh giá là một điểm sáng trong cuộc chiến chống dịch bệnh
Covid-19.
Thực tiễn đất nước ta từ khi
giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã “rũ bùn đứng
dậy sáng lòa” và trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc
lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, trong một
thế giới còn nhiều bất ổn. Đó là những minh chứng hùng hồn, phủ nhận các luận
điệu xuyên tạc, sai trái nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt
Nam.
Sự đánh giá thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Trong số các nước tự cho mình “cái quyền nhận
xét” về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở các nước, trong đó có Việt Nam, Hoa Kỳ là
quốc gia ban hành nhiều đạo luật quy định các chế tài chống lại các nước mà họ
cho là “vi phạm tự do tôn giáo”. Nhiều chính khách Hoa Kỳ và một số tổ chức phi
chính phủ thiếu thiện chí khi tiếp xúc với cơ quan chức năng của Việt Nam luôn
đặt vấn đề “cải thiện quyền con người”, đòi “tự do tôn giáo”, xin “phục hồi các
tổ chức tôn giáo cũ” và đưa ra quan điểm, nhận định thiếu khách quan, xuyên tạc
chính sách, pháp luật tôn giáo của Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam chưa tiếp cận
luật pháp quốc tế về “quyền con người”; chính quyền cơ sở gây khó khăn trong việc
chấp thuận đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo,.. Mới đây, ngày 15/5/2023, Ủy
ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ công bố Báo cáo thường niên về tình hình tôn giáo
thế giới năm 2022 đã tiếp tục kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại
danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (CPC). Như thường lệ, Ủy
ban này vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin
chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam.
Đồng điệu với những nhận định thiếu khách quan
đó, các thế lực thù địch vẫn ngày đêm lợi dụng, xuyên tạc trắng trợn về chính
sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Chúng móc nối số phần tử cơ
hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan trong các tôn giáo để kích động các
hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước; tuyên truyền phủ nhận
các văn bản pháp luật về tôn giáo của Nhà nước ta; tâng bốc, ca ngợi “quyền” tự
do tôn giáo của các nước tư bản. Chúng tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”,
soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung bịa đặt để tuyên truyền, xuyên tạc
Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn
giáo”. Lợi dụng những vấn đề phức tạp trong xã hội, như: thu hồi đất đai, đền
bù, giải tỏa; vấn đề ô nhiễm môi trường,... để lôi kéo, kích động những người
nhẹ dạ, cả tin, đặc biệt là một bộ phận tín đồ “cuồng đạo” tham gia tuần hành
và khuếch tán các hoạt động chống phá trên mạng xã hội, v.v. Những hành động,
việc làm đó đã tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn
giáo và gây mất đoàn kết tôn giáo…
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với nhiều
hình thức tôn giáo khác nhau, từ các hình thức tôn giáo sơ khai, đến các tôn
giáo của thời hiện đại, có tổ chức chặt chẽ. cùng tồn tại và bình đẳng với
nhau, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, không phân biệt những tôn giáo
có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài hay những tôn giáo nội sinh. Cùng với sự đa dạng
về tôn giáo, tại Việt Nam còn có sự đa dạng các loại hình tổ chức tôn giáo. Ở
Việt Nam ngày nay, sự đồng thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước được thể hiện rõ
ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết các tôn giáo, tạo nguồn
sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước. Đây là thực tiễn khách quan sinh động, phản bác luận điệu
cho rằng: ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo”.
Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục lợi
dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn.
Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn
giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách
nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản
lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.
Đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được đổi mới, bổ sung, hoàn thiện
Những
năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước
Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của
họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.
Sự
thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ
thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung
tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị
là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội
vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt
quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.
Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật,
thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật;
Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt
Nam.
Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn
kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã
hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng
lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc
gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng
Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng
đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để
xây dựng Đảng.
Thực
hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và
bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính
trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ
môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch
Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.
Sự
lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh,
đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội
XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong
thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và
xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi
mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo
đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn
thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã
hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo,
Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp
chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy
luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới
của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với
thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán
triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”.
HAIVAN
Sức sống Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước
Hiện
nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát
triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công
những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung,
phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện
rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.
Bảo
vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo
vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển
tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách
thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến
tới CNXH.
Thành
tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng
đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung,
phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ
bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết
định của Cương lĩnh, đường lối.
Nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định,
vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng
trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng
lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và
công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã
hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc
phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được
hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng
và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả
rõ rệt.
HAIVAN
"Ngón nghề" khó bỏ
Có thể nói rằng, lợi dụng vấn đề chủ quyền
lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo để xuyên tạc sự thật, kích động dư
luận và gây rối vốn là “nghề” của các thế lực thù địch muốn chống phá Việt Nam.
Và như một thói xấu cố hữu, thường thì cứ mỗi khi nước ta đứng trước những sự
kiện trọng đại, ngón nghề này lại được chúng tung ra để phá bĩnh, làm đảo lộn
tình hình.
Ở đâu đó, trên các trang mạng xã hội hay
các diễn đàn quy tập nhiều phần tử bất mãn, rêu rao rằng: “Đảng, Nhà nước Việt
Nam coi trọng việc tổ chức đại hội Đảng hơn vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”;
hoặc cố tình xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương đấu tranh giữ vững chủ
quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động
như: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia; và rằng,
không đánh nhau thì mất biển, mất đảo, thế nước lâm nguy... Chỉ cần bớt chút
thời gian suy ngẫm, đối chiếu và nhìn nhận một cách thấu đáo, có thể kết luận
đây là luận điệu của các phần tử cơ hội, phản động, thường xuyên rình rập cơ
hội để chống Đảng, chống Nhà nước và gây xáo trộn cuộc sống ổn định, hòa bình
hiện nay của nhân dân Việt Nam.
Vạch trần chân tướng và đường đi của những
chiêu trò này là việc nhất thiết phải bàn, phải làm. Có thể tự hào khẳng định
rằng, lịch sử quá trình dựng nước, giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước đã
chứng minh, trong mỗi người dân Việt Nam là một trái tim yêu nước. Khi chủ
quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, lòng yêu
nước được người dân thể hiện bằng cách dồn tối đa sự quan tâm, thường xuyên dõi
theo những thông tin liên quan. Lợi dụng tâm lý này, các đối tượng thù địch đưa
ra những thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm
mục đích cuối cùng là xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia
rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội. Cụ thể, cùng với
việc phê phán các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt
Nam, các đối tượng này cũng đồng thời quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước
ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm
để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa” (!). Mưu đồ cốt lõi của những luận
điệu này là khiến lòng dân mất yên, dần mất niềm tin vào lãnh đạo Đảng, Nhà
nước.
Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng lợi
dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo để kích động,
kêu gọi người dân “xuống đường” thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh,
trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.
Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong
khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của
Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gần như “miễn nhiễm”
với những luận điệu xuyên tạc, hồ đồ và cũ rích ấy, thì vẫn còn khá nhiều người
"sập bẫy", trong đó chủ yếu là những người mới hoặc ít tiếp xúc với
internet, mạng xã hội. Sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối
ngoại của Đảng, Nhà nước khiến họ chưa kịp chắt lọc thông tin đúng-sai, dễ bị
cuốn vào “ma trận phản động” trên internet.
Cùng với việc nhận diện âm mưu của các thế
lực thù địch chống phá sự ổn định của Việt Nam thông qua chiêu bài về chủ quyền
lãnh thổ, việc nắm vững chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước,
tỉnh táo để hấp thụ đầy đủ bản chất của vấn đề là nghĩa vụ và trách nhiệm của
mỗi chúng ta.
Trước hết, phải nhắc lại rằng, quan điểm
nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta là kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền
biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn
định để phát triển bền vững đất nước. Điều này đã được nêu rõ trong Nghị quyết
Đại hội XII của Đảng và được chứng minh trong cách thức Việt Nam giải quyết vấn
đề Biển Đông, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh
chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982
(UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực
hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm
đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).
Quan điểm xuyên suốt này còn được nêu rõ
trong các phát biểu của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội. Trong
cuộc tiếp xúc cử tri quận Ba Đình (Hà Nội) vào giữa tháng 10-2019, Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan hệ đối ngoại của Việt Nam
thời gian qua rất tốt, bằng chứng là 192 nước đã nhất trí bầu Việt Nam là Ủy
viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Cùng
với đó, kinh tế đối ngoại cũng không ngừng được mở rộng. Tuy nhiên, một số khu
vực, địa bàn còn tiềm ẩn sự phức tạp về an ninh-trật tự, nhất là về vấn đề lãnh
thổ, biên giới, biển đảo. Cũng tại cuộc tiếp xúc đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
kêu gọi cử tri cảnh giác với những quan điểm cực đoan về vấn đề Biển Đông và
khẳng định cần phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất
nước, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không bao giờ nhân nhượng trước những vấn
đề thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Hay như tại lễ công bố Sách trắng Quốc
phòng Việt Nam 2019, cùng với việc nhấn mạnh chính sách quốc phòng mang tính
chất hòa bình và tự vệ của Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng
Bộ Quốc phòng đã nêu rõ: “Chúng ta mong muốn hòa bình, chủ trương giải quyết
mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Chúng ta xây dựng quốc phòng cũng vì
mục đích hòa bình. Nếu một khi đất nước chúng ta bị chiến tranh, chúng ta buộc
lòng phải cầm súng thì chúng ta cũng phải cầm súng vì hòa bình. Chúng ta chỉ sử
dụng sức mạnh quốc phòng trong tình huống tự vệ khi đất nước bị xâm hại, trước
hết là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia-dân
tộc, sự ổn định của chế độ”.
Ngoài ra, Sách trắng Quốc phòng cũng khẳng
định quan điểm nhất quán của Việt Nam là "không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế", "không tham gia liên minh quân
sự", và bởi vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam “bài nước này, thân nước kia”
hay “đi theo nước này, chống nước kia”, suy cho cùng chỉ là dối trá, lừa phỉnh
dư luận.
Những bài học đắt giá từ các cuộc chiến
tranh trong quá khứ đã khiến nhiều nước, trong đó có cả những quốc gia có tiềm
lực quân sự mạnh, đang đi theo hướng lấy đối thoại, luật pháp quốc tế làm “kim
chỉ nam” cho mọi hành động liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, thay vì cổ
xúy cho xung đột và đối đầu. Điều đó càng chứng minh rằng quan điểm, chủ
trương, đường lối, đối sách của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc
gia và giải quyết các vấn đề liên quan là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu
thế chung của thế giới.
Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cũng như
cuộc sống hòa bình, ổn định hiện có, là vấn đề chiến lược, việc đại sự, đòi hỏi
phải có chủ trương, đường lối, đối sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả và bền
vững. Do đó, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước các chiêu trò, luận
điệu kêu gào, xuyên tạc, kích động để không mắc mưu những phần tử xấu và thế
lực thù địch để rồi ngập chân trong thứ “ma trận” quái gở mà chúng cố tình
giăng ở khắp nơi.
Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng
Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về
kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa
đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời
sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng
hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên
Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường
XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây
dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các
đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt
Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử.
Bảo
vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì
Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo
vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học,
bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy
luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng
được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương
pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương
lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi
sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn.
Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý
luận và nhận thức về hệ tư tưởng.
Sinh
thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu
dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ
nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách
đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần
hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường
lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình
nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung
của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”.
Nâng
cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư
tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là
sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc,
phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.
HAIVAN
Lời Bác dạy năm xưa
Tháng
3/1955, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Người cán bộ cách mạng” trong đó Bác xác
định: Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập
trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ
chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không.
Đây
là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách
mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới
chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta
quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc
phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng
phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không
ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống
cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song,
có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng,
còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải,
trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.
Đối
với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý
luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là
trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng
là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng
thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi
nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn,
gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng
cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật
thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị
nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng
và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu
tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ
trong cả nước ta.
Thực
hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú
trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng
tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững
quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán
bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự
khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây
dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ
chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và
năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ
chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
HAIVAN
Giá trị tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong giai đoạn hiện nay
Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản ra đời 175 năm, nhưng những giá trị của tác phẩm vẫn còn
sống mãi. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn vận dụng tác phẩm
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin vào thực tiễn Việt Nam một cách sáng tạo, hiệu quả. Đó là những quan điểm
về mục tiêu cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sản, vai trò của giai cấp vô sản,
vai trò của việc xây dựng ý thức xã hội mới - ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trong khi chủ nghĩa xã hội thế giới lại đang ở bước thoái trào, những khó khăn
và thách thức của thời đại đã và đang cản trở sự phát triển của cách mạng, song
lịch sử xã hội loài người vẫn tiếp tục tiến lên theo những quy luật mà “Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản” đã dự báo; từ đó, khẳng định con đường độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là hoàn
toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử nhân loại.
Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng ta
nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiểu rõ tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản
và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng
của những người cộng sản, hiểu rõ thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà
học thuyết mang lại, đó cũng chính là cách mà cán bộ, đảng viên tự bồi dưỡng lập
trường tư tưởng, phương pháp cách mạng, hoàn thành tốt trách nhiệm mà lịch sử
giao phó.