Thứ Ba, 3 tháng 10, 2023

 Trong những năm qua, cùng với sự chống phá trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… thì các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng mạng Internet, mạng xã hội để tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Đặc biệt, trong giai đoạn Internet bùng nổ như hiện nay việc đẩy mạnh công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết, lâu dài và có ý nghĩa sống còn đối với cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, Đảng viên.



Ảnh minh họa.
Với những tiện ích to lớn, ứng dụng hữu ích, cùng tốc độ lan truyền nhanh chóng, mạng xã hội đã trở thành diễn đàn chia sẻ và phản biện xã hội của người dân trên toàn cầu. Tại Việt Nam theo ước tính đến nay có khoảng hơn 72,1 triệu người sử dụng Internet (chiếm 73,2% dân số). Trước tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị, chống đối không ngừng lợi dụng “mảnh đất màu mỡ” này để tán phát các quan điểm sai trái thù địch nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta.

Hàng ngày, trên các trang mạng xã hội, các kênh đài, các tờ báo không mang tính chính thống… đã “sản xuất” ra hàng trăm nghìn tin bài, phóng sự có nội dung sai trái thù địch. Không gian mạng đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta thông qua việc phát tán những thông tin xấu độc, xuyên tạc, chống phá gây tác động xấu đến tư tưởng cán bộ, Đảng viên và quần chúng nhân dân.



Về hình thức tuyên truyền chống phá, các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông, Internet, blog, mạng xã hội, sử dụng hàng chục đài phát thanh, phát hình bằng Tiếng Việt qua các kênh internet, hàng trăm báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, hàng ngàn Website… Ngoài ra, chúng lập ra nhiều trang web nhân danh các tổ chức với tên gọi “chính nghĩa” như: “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”,… để bình luận, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, làm mất niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước. Nội dung, bản chất của các quan điểm sai trái, thù địch là tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng giả danh Mác xít, “giả khoa học” để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Chúng lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội và quy kết vô căn cứ rằng: Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng chính là nguyên nhân gốc rễ của những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội để đi đến phủ nhận giá trị con người, phủ nhận hệ tư tưởng Mác xít và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích của chúng là chia rẽ nội bộ trong Đảng, làm suy yếu sức mạnh và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng từ đó tạo điều kiện để chúng thực hiện các mưu đồ như: Phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ định các quan điểm, chủ trương đường lối đúng đắn của Đảng; phủ định giá trị lịch sử và thành quả cách mạng của dân tộc ta. Về lâu dài, những thông tin sai trái, bịa đặt sẽ thúc đẩy và làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Nguy hiểm hơn, để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, các thế lực phản động đã sử dụng phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt. Chúng triệt để khai thác các thông tin liên quan đến mặt trái của xã hội, những thông tin tiêu cực, không chính thống rồi đưa lên trên các trang mạng xã hội và Internet để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Thúc đẩy hình thành các tổ chức “xã hội dân sự trá hình”, từ đó cho ra đời các tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam. Khi lượng thông tin này được chia sẻ, phát tán rộng rãi với tần suất nhiều lần với nhiều hình thức khác nhau nếu chúng ta chủ quan, lơ là, mất cảnh giác khi để những thông tin sai lệch, bịa đặt này “phủ sóng” những thông tin chính thống của các trang báo, truyền hình chính thống của Đảng và Nhà nước ta sẽ gây nên hệ lụy hết sức khôn lường đối với nhận thức của Đảng viên và quần chúng nhân dân.

Chính vì lẽ trên, ngày 22/10/2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tăng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, bảo vệ cương lĩnh Chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Không những thế, tại Đại hội XIII của Đảng đã đề cập trực tiếp và nhấn mạnh việc quản lý và phát triển thông tin trên không gian mạng, trong đó có việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cụ thể “Tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin trên Internet. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị – xã hội, thuần phong mỹ tục”.

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, xu hướng trong thời gian tới, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng sử dụng không gian mạng là một trong những mặt trận chính để chống phá nền tảng tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, chúng ta cần hoàn thiện các nội dung, phương thức, thực hiện hiệu quả các giải pháp công nghệ. Đồng thời, xác định rõ công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng trên không gian mạng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài, tránh tư tưởng xem nhẹ, mất cảnh giác và có hình thức xử lý nghiêm đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi vi phạm trên không gian mạng góp phần giữ vững nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng.

Chúng ta tin tưởng và khẳng định chắc chắn rằng: Dưới sự lãnh đạo của Đảng chúng ta sẽ làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng nói riêng và chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nói chung. Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo và đưa cách mạng Việt Nam giành mọi thắng lợi

Không được núp bóng tôn giáo để chống phá đất nước

“Hội đồng liên tôn Việt Nam”, tổ chức được thành lập trên cơ sở liên kết của một bộ phận chức sắc có tham vọng chính trị trong các tôn giáo bao gồm: Công giáo, Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo...Thời gian gần đây, tổ chức này có nhiều hoạt động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Gần đây nhất, tổ chức này đã ra cái gọi là “Tuyên bố về tình hình Việt Nam và thế giới”, trong đó, xuyên tạc trắng trợn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn tại, trong đó có một số tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo,... và một số tôn giáo ra đời trong nước như Cao Đài, Hòa Hảo... Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước. Chính vì thế, trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng đồng thời giành tự do cho nhân dân, trong đó có đông đảo đồng bào theo các tôn giáo, theo nguyên lý đất nước có độc lập thì tôn giáo mới tự do. Cuộc đấu tranh chung đã gắn kết đồng bào các tôn giáo với cả dân tộc. Và đồng bào các tôn giáo đã đồng hành cùng dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Ngày nay, trên đất nước ta, từ Bắc vào Nam, từ thành thị, nông thôn đến miền núi, ở đâu cũng có đền, chùa, tháp chuông, nhà nguyện, tòa thánh,… được xây dựng khang trang, cùng với các nghi lễ mang đậm bản sắc tôn giáo ở mỗi vùng miền. Quan trọng hơn, các tôn giáo được tự do hành lễ, dù ở nhà riêng hay các nơi thờ tự; được tạo điều kiện mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự, được mở các trường đào tạo những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu phát triển của Giáo hội… Không chỉ chăm lo cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày một tốt hơn, Đảng và Nhà nước Việt Nam cũng hết sức có trách nhiệm đối với các hoạt động tôn giáo quốc tế. Việt Nam từng 3 lần tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak). Đặc biệt, đã tổ chức rất thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2019 tại Chùa Tam Chúc (Kim Bảng, Hà Nam), với sự tham dự của hàng nghìn đại biểu quốc tế thuộc 570 phái đoàn đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ… được bạn bè quốc tế đánh giá hết sức tích cực.

Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ chức sắc và tín đồ một số tôn giáo không nhận ra thực tế này. Họ có nhiều tham vọng chính trị và bị tác động, ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền, lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, nên đã có những hành động cực đoan, quá khích chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo nói riêng và trên các lĩnh vực nói chung. Họ đã lợi dụng tôn giáo, lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ xã hội chủ nghĩa dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”. Họ đã liên kết và phụ họa với các thế lực thù địch, các phần tử phản động, chống đối ở cả trong và ngoài nước trong hoạt động chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là một tổ chức như vậy.

Tổ chức này được lập ra với danh nghĩa tranh đấu cho tự do tôn giáo và dân chủ nhân quyền, trụ sở hiện nay tại chùa Giác Hoa, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, do Thích Không Tánh trụ trì. Nghe tên “Hội đồng liên tôn Việt Nam” có vẻ rất mỹ miều nhưng thực chất tổ chức này lại bao gồm số tu sỹ bất mãn, biến chất trong các tôn giáo ở Việt Nam, có thể liệt kê một số đối tượng cầm đầu, cốt cán như: Thích Không Tánh, Thích Vĩnh Phước (Phật giáo); Linh mục Nguyễn Văn Lý, Đinh Hữu Thoại (Công giáo); Hứa Phi, Nguyễn Kim Lân (Cao Đài); Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Nguyễn Mạnh Hùng (Tin Lành); Lê Quảng Hiển, Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa Hảo)… 

Gần đây, “Hội đồng liên tôn Việt Nam” luôn tìm cách để gặp gỡ các quan chức phương Tây, các tổ chức quốc tế để cung cấp các thông tin xuyên tạc về tình hình chính trị của đất nước, các vụ việc nhạy cảm, vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”,“tự do tôn giáo”, qua đó vẽ nên một bức tranh méo mó, phản cảm về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam. Hồi tháng 1-2020, “Hội đồng liên tôn” đã gặp gỡ với các đoàn lâm thời như đoàn Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế của Hoa Kỳ (USCIRF), phái đoàn ngoại giao của các quốc gia như Mỹ, Canada, Pháp, Anh, Tây Ban Nha… tại chùa Giác Hoa. Tại buổi gặp gỡ, các đối tượng đã cung cấp những thông tin xuyên tạc về vấn đề tự do tôn giáo, vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. 

Gần đây nhất, tổ chức này ra cái gọi là “Tuyên bố tình hình Việt Nam và thế giới”. Tổ chức này xuyên tạc trắng trợn rằng: “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã đàn áp tôn giáo có hệ thống. Vì không thể tiêu diệt được, họ đã tìm cách khống chế. Những tôn giáo độc lập bị chính quyền sách nhiễu, cô lập, khử trừ bằng mọi cách. Các chức sắc “Hội đồng liên tôn” lúc nào cũng bị theo dõi”. Về nhân quyền, tổ chức này cũng xuyên tạc: “Nhà cầm quyền gia tăng bắt bớ, giam cầm, xử án bất công đối với những công dân ôn hòa lên tiếng bênh vực cho công bằng xã hội, cho tự do dân chủ và nhân quyền, chống tham nhũng bất công và chống Trung Cộng bành trướng”. 

Như vậy, có thể thấy, hành động của số chức sắc cực đoan trong “Hội đồng liên tôn Việt Nam” là hành động của những nhân vật không muốn đất nước được bình an. Còn dưới góc độ tôn giáo, các chính đạo đều coi trọng việc tu luyện loại bỏ nhân tâm, dục vọng, đề cao tâm tính làm căn bản để hướng tới chân-thiện-mỹ, tức là đến những giá trị tốt đẹp nhất của con người. Giáo luật Công giáo khẳng định: “Không biến mình thành một lực lượng chính trị vì như thế là sai với bản chất và sứ mạng của Giáo hội”. Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhấn mạnh: “Mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là điều hòa, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương phật pháp và tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hòa bình, an lạc cho thế giới”. Vậy mà hoạt động của “Hội đồng liên tôn” lại vì động cơ chính trị không trong sáng, làm trái lời dạy của các đức tin trong tôn giáo của mình, đi ngược lại những giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc Việt Nam. 

Nhận thức rõ bản chất của “Hội đồng liên tôn” để chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của tổ chức này là việc làm cần thiết

 Nhận diện và đấu tranh với các thủ đoạn chống phá trên không gian mạng

Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng mang lại những thách thức to lớn đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới.
Lợi dụng không gian mạng, các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Hoạt động của các tổ chức chống phá có mục tiêu tôn chỉ được tổ chức khá chặt chẽ, bài bản. Mục tiêu xuyên suốt của chúng là tuyên truyền chống phá, lôi kéo kêu gọi tụ tập, biểu tình, bạo loạn, gây rối trật tự công cộng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” phá hoại sự ổn định phát triển đất nước. Hầu hết các tổ chức phản động đều xây dựng tài khoản mạng xã hội tổ chức thành hệ thống các kênh truyền thông chống phá.

Theo thống kê của cơ quan chức năng, trung bình mỗi tháng có hàng chục nghìn bài viết, video trên internet, mạng xã hội có nội dung liên quan đến Việt Nam, trong đó tỷ lệ không nhỏ các bài viết, video có nội dung xuyên tạc, chống phá cách mạng nước ta (có khoảng 67% bài viết được phát tán trên mạng xã hội Facebook, số còn lại phát tán trên các kênh mạng xã hội Youtube, Blog cá nhân hoặc các kênh tin tức phản động).

Qua thực tiễn tình hình trong nước, có thể nhận thấy âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trên không gian mạng cơ bản vẫn tập trung vào một số nội dung, như: Xuyên tạc phá hoại nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; gây mâu thuẫn nội bộ, công kích, bôi nhọ và hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, thông qua truyền thông mạng xã hội để kêu gọi, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội. Kích động hoạt động chống phá của số đối tượng chống đối chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền và “tự do Internet”, khuyến khích các đối tượng này chống phá quyết liệt hơn bằng cách trao các giải thưởng, đề cử vinh danh hay đưa Việt Nam vào danh sách “kẻ thù của Internet”, vi phạm tự do dân chủ, nhân quyền.

 

Lịch sử ra đời ngày động vật thế giới

Người tổ chức ban đầu của Ngày Động vật Thế giới là một nhà văn người Đức tên là Heinrich Zimmermann (1887-1942), ông cũng là người đã xuất bản một tạp chí hai tháng một lần. Trong tạp chí của mình, Mensch und Hund / Man And Dog, ông đã quảng bá quan điểm của mình về quyền lợi động vật và thành lập Ủy ban Ngày Động vật Thế giới. 

Heinrich Zimmermann đã tổ chức Ngày động vật đầu tiên tại Cung thể thao ở Berlin, Đức, vào ngày 24/3/1925. Sự kiện đầu tiên có sự tham gia của hơn 5.000 người. Sự kiện này ban đầu được lên kế hoạch vào ngày 4 tháng 10 trùng với ngày lễ của Thánh Phanxicô Assisi, nhưng địa điểm không có sẵn vào ngày hôm đó. 

Sau đó, Ngày Động vật Thế giới được chuyển sang ngày 4 tháng 10 năm 1930. Vì thế, ngày nay Ngày Động vật Thế giới được tổ chức trên toàn thế giới để ủng hộ động vật. Trang web về Ngày Động vật Thế giới đã được tổ chức Naturewatch Foundation ra mắt vào năm 2003. 

Quyền con người ở Việt Nam

            Trong khi cộng đồng quốc tế và người dân trong và ngoài nước vui mừng, ủng hộ việc Việt Nam được Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu vào Hội đồng Nhân quyền, khẳng định sự công nhận vị thế của Việt Nam, đồng thời khẳng định và ghi nhận nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy bảo vệ quyền con người suốt thời gian qua, thì một số đối tượng phản động, thù địch, thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã tỏ ra cay cú, lợi dụng sự kiện này để ra sức xuyên tạc, phản đối, bằng mọi cách hạ uy tín Việt Nam cả trước, trong và sau khi sự kiện diễn ra.

          Bất chấp những nỗ lực và thành tựu mà Việt Nam đã đạt được, các đảng phái chống cộng cực đoan ở hải ngoại đã liên tục lên tiếng bôi nhọ vị thế của Việt Nam, họ bịa đặt hoặc dựa vào những thứ gọi là "báo cáo nhân quyền" để tham gia các diễn đàn dân chủ quốc tế, liên minh các nhóm nhân quyền phi chính phủ thuộc châu Âu, Canada, Mỹ hòng gây sức ép đối với Việt Nam. Tổ chức khủng bố "Việt tân" đã vận động được 8 tổ chức nhân quyền đề nghị Liên hợp quốc không cho Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền vì "không xứng đáng", vì "Việt Nam đang vi phạm nhân quyền"...

          Tuy nhiên, sự chống phá, cay cú từ những hội nhóm, thế lực thù địch trong nước và ngoài nước nói trên chỉ là những cản trở cục bộ, không thể xuyên tạc được sự thật, ngăn cản được sự phát triển của Việt Nam. Những thành tựu của Việt Nam đã được thế giới và bạn bè quốc tế ghi nhận. Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ là thắng lợi của sự thật và chân lý. Trả lời phỏng vấn nhân dịp Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định: "Là đối tác tin cậy, thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước thành viên, đóng góp thực chất vào công việc chung của Hội đồng Nhân quyền, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế trên tinh thần tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy quyền con người, đáp ứng điều kiện, nhu cầu và lợi ích chính đáng của các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển".

          Việc Việt Nam là một trong 14 quốc gia trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao, và được các thành viên ASEAN nhất trí ủng hộ là ứng viên duy nhất của ASEAN vào vị trí này là "minh chứng cho nỗ lực bền bỉ của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người, mà còn khẳng định sự ủng hộ, tín nhiệm cũng như kỳ vọng của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp quan trọng và có trách nhiệm của Việt Nam vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới". Với vai trò này, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội đóng góp, tham gia tích cực trong các hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc./.

Quyền tự do Internet ở Việt Nam

        Bắt đầu từ năm 1997, dù việc hòa mạng Internet muộn hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, tuy nhiên Việt Nam đã thu về nhiều thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển. Tuy nhiên, vì mục đích riêng, vẫn có cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cố tình phớt lờ mọi nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, quyền tự do internet, đưa ra những đánh giá phiến diện, định kiến, sai sự thật, bỏ qua những điểm sáng, mặt tích cực để xếp Việt Nam nằm trong danh sách các quốc gia không có tự do internet. Điển hình là Báo cáo thường niên Freedom on the Net 2022 (Tự do trên mạng 2022) được tổ chức Freedom House (FH) công bố ngày 18/10/2022, trong đó xếp hạng Việt Nam là một trong năm quốc gia kém tự do internet nhất trên thế giới.

          Tổ chức này đã không hề quan tâm đến những chính sách hiện hành ở Việt Nam như: Nghị định số 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 28/8/2008 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet đưa ra hàng loạt chính sách phát triển internet quan trọng như: khuyến khích việc ứng dụng internet trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội để nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; đưa internet đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và bảo đảm an ninh, quốc phòng; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/7/2013 về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng nhấn mạnh người sử dụng internet có quyền được sử dụng các dịch vụ trên internet trừ các dịch vụ bị cấm theo quy định của pháp luật (khoản 1, Điều 10).

          Hay từ những số liệu thự tế như: Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, trung bình cứ 100 người dân Việt Nam có 83 thuê bao internet di động, trong khi thuê bao cố định là 21. Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam 2022 của Bộ Công thương cho thấy người Việt dành 6 giờ 38 phút mỗi ngày để truy cập internet. Đây đều là những thống kê cao hơn mức trung bình của thế giới. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các quốc gia có giá cước internet rẻ nhất thế giới. Hiện tại, Việt Nam có 1.952 trang thông tin điện tử tổng hợp và 935 mạng xã hội trong nước đã được cấp phép hoạt động, là những diễn đàn trực tuyến để người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân.

          Thực tế nêu trên cho thấy quyền tự do trên internet tại Việt Nam luôn được bảo đảm, phát huy, trái với luận điệu xuyên tạc của một số cá nhân, tổ chức không thiện chí. Không những vậy Việt Nam luôn sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều kiện để các cá nhân, tổ chức quốc tế có thể tìm hiểu, nghiên cứu một cách trung thực, khách quan về công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, bao gồm quyền tự do trên internet, tự do ngôn luận, tự do báo chí trên không gian mạng.

 

Giá trị cốt lõi của Chủ nghĩa Xã hội

          Chủ nghĩa xã hội là một trong ba ý thức hệ chính trị lớn hình thành trong thế kỷ 19. Khi các quốc gia tìm kiếm cho mình một cách thức hợp lý trong phát triển và xây dựng nhà nước. Bên cạnh chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa bảo thủ. Trong tính chất lựa chọn đối với mức độ và tính chất chi phối trong hoạt động quản lý nhà nước. Nó bao gồm một loạt các định hướng chính trị. Chủ nghĩa xã hội ở Việt nam gắn liền với đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam.

          Đây được coi là cách thức và hình thái chính trị phù hợp và tiến bộ nhất. Những hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước được phản ánh. Với sự lãnh đạo và dẫn dắt của một tầng lớp lãnh đạo. Vạch ra những chính sách, hoạch định và đường lối cho phát triển, ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Bên cạnh các phối hợp, phân chia quyền lực và thực thi. Mang đến sự đảm bảo cho công bằng, dân chủ và văn minh. Các công dân được đảm bảo cho các quyền lợi bên cạnh những nghĩa vụ cơ bản với nhà nước. Trong đó, các quyền lợi vừa mang đến lợi ích cho phát triển nền kinh tế nói chung.

          Những người theo chủ nghĩa xã hội thường nhấn mạnh giá trị cơ bản của bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Khi những kết hợp giữa tự do và quản lý, chi phối được thực hiện. Khi có những định hướng đúng đắn, hệ thống chính trị giúp cho những mong muốn và nhu cầu của cộng đồng có nhiều thuận lợi. Bên cạnh sự đảm bảo cho một xã hội ổn định và nề nếp. Các trật tự được đặt ra thông qua luật pháp là phương tiện điều phối chính. Từ đó mà những chính sách được xem là thiết thực, phù hợp, vì lợi ích chung của dân tộc.

          Chủ nghĩa xã hội đề cao mối quan hệ chặt chẽ giữa những phong trào xã hội thiết thực và phê phán xã hội lý thuyết. Tức là những giá trị cần thiết phải được phản ánh là giá trị cho cộng đồng. Có thể là mang đến những bù đắp cho sự công bằng. Cũng như lợi ích mang đến phải đảm bảo phản ánh và tận dụng được trên thị trường. Có thể là những lợi ích vật chất hay tinh thần. Tuy nhiên, nó không được xây dựng trên lý tưởng lý thuyết mà phải vận hành vào thực tế.

          Theo đuổi mục tiêu nhằm hòa hợp một trật tự xã hội và kinh tế công bằng xã hội. Đó mới chính là các lý tưởng thực tế. Việc thâu tóm quyền lực không xảy ra như chủ nghĩa bản thủ. Việc nhà nước với các quyền lực phải đảm bảo với tính chất quản lý xã hội. Tức là mang đến công bằng và thay thế cho tiếng nói chung cộng đồng. Trật tự cũng vì vậy mà được tạo ra, giúp cho các công bằng được đảm bảo. Đây là chủ nghĩa với những lý tưởng cần thiết. Khi con người cần được đối xử công bằng, bình đẳng. Ai sinh ra cũng xứng đáng được hưởng các quyền lợi này.

Trăm sự phi lý phía sau “bộ cánh tự do tôn giáo”

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực. Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

          Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân...

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định. Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo.

Từ thực tiễncủa đất nước bác bỏ mọi sự xuyên tạc

Trong tiến trình cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh (1945 - 2021) dưới sự lãnh đạo của Đảng, bên cạnh thời cơ là thách thức không nhỏ chi phối đến quá trình phát triển của dân tộc; trong đó, nổi lên là sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đối với Đảng, chế độ. Các “lý luận gia” có tư tưởng chống cộng cực đoan, cơ hội chính trị, phản động đều tìm mọi cách chứng minh rằng con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn là sai lầm (!) Đi theo con đường này thì đất nước Việt Nam sẽ không thể giành được độc lập thật sự, nhân dân Việt Nam sẽ mãi trong đói nghèo, lạc hậu,...(!) Thực tế có phải như vậy?

Có thể khẳng định rằng, quan điểm đó chỉ là những chiêu trò lừa gạt của những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị, mang tư tưởng thù hận dân tộc, nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bởi, thực tiễn đất nước Việt Nam là minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của các “lý luận gia” nêu trên.

Từ khi đất nước giành được độc lập cho đến nay (1945-2023), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Cách mạng tháng Tám, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đoàn kết, đồng lòng giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước, con người Việt Nam đều được đổi mới, có nền chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh được tăng cường, quyền con người, quyền công dân được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Từ năm 1975 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đoàn kết, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, văn minh và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Từ một đất nước bị chia cắt, nhân dân chịu sự đô hộ của các thế lực thực dân, đế quốc, Việt Nam đã giành được độc lập, có chủ quyền lãnh thổ thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, tạo sức mạnh “dời non, lấp biển” để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước.

Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế phụ thuộc, hành chính, bao cấp, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín trên thế giới đánh giá có nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

          Nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội. Việt Nam đã trở thành “Đất nước của những di sản”, với những con người cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện, là điểm đến của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tư duy của Đảng về quốc phòng - an ninh có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện. Nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân dựa trên sức mạnh toàn dân, của mọi nguồn lực. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia,

Việt Nam đã thực hiện hiệu quả phương châm và định hướng: “Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế

Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát, Việt Nam ghi nhận ca mắc đầu tiên vào ngày 23/01/2020. Từ đây, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta lại bước vào “cuộc chiến đấu trong thời bình” - Cuộc chiến phòng, chống dịch Covid-19 với  tư tưởng chỉ đạo hành động là “Chống dịch như chống giặc”. Khi dịch bệnh diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã đặt nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân lên trên hết, trước hết; nâng cao các biện pháp phòng, chống dịch, với phương châm mỗi tổ dân phố, khu phố, phường, xã, thị trấn, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp là một pháo đài phòng, chống dịch, đã nhận được sự đồng lòng của toàn dân và sự đóng góp không nhỏ của ngành y tế, dịch Covid-19 đã được kiểm soát, bảo đảm đời sống nhân dân theo hướng thích ứng, an toàn, linh hoạt, hiệu quả, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19. Cùng với việc nỗ lực phòng chống dịch, Việt Nam cũng đẩy mạnh công tác nghiên cứu và sản xuất các vaccine Covid-19, trở thành một trong những nước trên thế giới phân lập được virus SARS-CoV-2 và thử nghiệm vaccine trên người, chính vì vậy Việt Nam được các nước trong khu vực và thế giới đánh giá là một điểm sáng trong cuộc chiến chống dịch bệnh Covid-19.

Thực tiễn đất nước ta từ khi giành được độc lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” và trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Đó là những minh chứng hùng hồn, phủ nhận các luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Sự đánh giá thiếu khách quan về tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Trong số các nước tự cho mình “cái quyền nhận xét” về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở các nước, trong đó có Việt Nam, Hoa Kỳ là quốc gia ban hành nhiều đạo luật quy định các chế tài chống lại các nước mà họ cho là “vi phạm tự do tôn giáo”. Nhiều chính khách Hoa Kỳ và một số tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí khi tiếp xúc với cơ quan chức năng của Việt Nam luôn đặt vấn đề “cải thiện quyền con người”, đòi “tự do tôn giáo”, xin “phục hồi các tổ chức tôn giáo cũ” và đưa ra quan điểm, nhận định thiếu khách quan, xuyên tạc chính sách, pháp luật tôn giáo của Việt Nam. Họ cho rằng: Việt Nam chưa tiếp cận luật pháp quốc tế về “quyền con người”; chính quyền cơ sở gây khó khăn trong việc chấp thuận đăng ký điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo,.. Mới đây, ngày 15/5/2023, Ủy ban tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ công bố Báo cáo thường niên về tình hình tôn giáo thế giới năm 2022 đã tiếp tục kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các nước cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” (CPC). Như thường lệ, Ủy ban này vẫn đưa ra những nhận định thiếu khách quan dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam.

Đồng điệu với những nhận định thiếu khách quan đó, các thế lực thù địch vẫn ngày đêm lợi dụng, xuyên tạc trắng trợn về chính sách, pháp luật và tình hình tôn giáo tại Việt Nam. Chúng móc nối số phần tử cơ hội bất mãn chế độ và số chức sắc cực đoan trong các tôn giáo để kích động các hoạt động tôn giáo thoát ly khỏi sự quản lý của Nhà nước; tuyên truyền phủ nhận các văn bản pháp luật về tôn giáo của Nhà nước ta; tâng bốc, ca ngợi “quyền” tự do tôn giáo của các nước tư bản. Chúng tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung bịa đặt để tuyên truyền, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Lợi dụng những vấn đề phức tạp trong xã hội, như: thu hồi đất đai, đền bù, giải tỏa; vấn đề ô nhiễm môi trường,... để lôi kéo, kích động những người nhẹ dạ, cả tin, đặc biệt là một bộ phận tín đồ “cuồng đạo” tham gia tuần hành và khuếch tán các hoạt động chống phá trên mạng xã hội, v.v. Những hành động, việc làm đó đã tác động xấu đến xã hội, gây chia rẽ nội bộ trong tổ chức tôn giáo và gây mất đoàn kết tôn giáo…

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với nhiều hình thức tôn giáo khác nhau, từ các hình thức tôn giáo sơ khai, đến các tôn giáo của thời hiện đại, có tổ chức chặt chẽ. cùng tồn tại và bình đẳng với nhau, không có tôn giáo nào giữ vai trò chủ đạo, không phân biệt những tôn giáo có nguồn gốc du nhập từ bên ngoài hay những tôn giáo nội sinh. Cùng với sự đa dạng về tôn giáo, tại Việt Nam còn có sự đa dạng các loại hình tổ chức tôn giáo. Ở Việt Nam ngày nay, sự đồng thuận giữa các tôn giáo và Nhà nước được thể hiện rõ ở khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có đoàn kết các tôn giáo, tạo nguồn sức mạnh và là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây là thực tiễn khách quan sinh động, phản bác luận điệu cho rằng: ở Việt Nam “không có tự do tôn giáo”.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá với những thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn. Do vậy, việc chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược lâu dài và là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị; trong đó, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo đóng vai trò nòng cốt.

Đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng được đổi mới, bổ sung, hoàn thiện


          Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

          Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

          Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

          Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

          Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

          Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

          Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”.

HAIVAN

Sức sống Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện sâu sắc ở những thành quả đổi mới đất nước


          Hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đó là quá trình hiện thực hóa thành công những mục tiêu, 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã đề ra, đặc biệt là mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các đặc trưng khác cũng được nhận thức và thực hiện rõ hơn thể hiện bản chất tốt đẹp và tính hiện thực của chế độ XHCN ở Việt Nam.

          Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế-xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

          Thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới mà Đại hội VI đề ra và các đại hội tiếp theo bổ sung, phát triển. Đại hội XIII của Đảng (1-2021) đã khẳng định những thành tựu cơ bản. Đó là thước đo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Nhà nước và vai trò quyết định của Cương lĩnh, đường lối.

          Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng bình quân duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ tiếp tục được đổi mới và có bước phát triển. Phát triển văn hóa, xã hội, con người đạt nhiều kết quả quan trọng. Chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt.

HAIVAN

"Ngón nghề" khó bỏ

Có thể nói rằng, lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền về biển, đảo để xuyên tạc sự thật, kích động dư luận và gây rối vốn là “nghề” của các thế lực thù địch muốn chống phá Việt Nam. Và như một thói xấu cố hữu, thường thì cứ mỗi khi nước ta đứng trước những sự kiện trọng đại, ngón nghề này lại được chúng tung ra để phá bĩnh, làm đảo lộn tình hình.

Ở đâu đó, trên các trang mạng xã hội hay các diễn đàn quy tập nhiều phần tử bất mãn, rêu rao rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng việc tổ chức đại hội Đảng hơn vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo”; hoặc cố tình xuyên tạc quan điểm, đường lối, chủ trương đấu tranh giữ vững chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc thông qua những “thuyết âm mưu” nhuốm màu kích động như: Việt Nam lôi bè kéo cánh, đi với nước này, chống nước kia;  và rằng, không đánh nhau thì mất biển, mất đảo, thế nước lâm nguy... Chỉ cần bớt chút thời gian suy ngẫm, đối chiếu và nhìn nhận một cách thấu đáo, có thể kết luận đây là luận điệu của các phần tử cơ hội, phản động, thường xuyên rình rập cơ hội để chống Đảng, chống Nhà nước và gây xáo trộn cuộc sống ổn định, hòa bình hiện nay của nhân dân Việt Nam.

Vạch trần chân tướng và đường đi của những chiêu trò này là việc nhất thiết phải bàn, phải làm. Có thể tự hào khẳng định rằng, lịch sử quá trình dựng nước, giữ nước, xây dựng và phát triển đất nước đã chứng minh, trong mỗi người dân Việt Nam là một trái tim yêu nước. Khi chủ quyền lãnh thổ quốc gia đứng trước những thách thức hoặc bị xâm phạm, lòng yêu nước được người dân thể hiện bằng cách dồn tối đa sự quan tâm, thường xuyên dõi theo những thông tin liên quan. Lợi dụng tâm lý này, các đối tượng thù địch đưa ra những thông tin sai sự thật hòng bẻ lái dư luận, kích động người dân nhằm mục đích cuối cùng là xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và quân đội. Cụ thể, cùng với việc phê phán các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền Việt Nam, các đối tượng này cũng đồng thời quy chụp lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước ta "phản ứng chậm" hoặc "né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để chủ quyền lãnh thổ quốc gia bị đe dọa” (!). Mưu đồ cốt lõi của những luận điệu này là khiến lòng dân mất yên, dần mất niềm tin vào lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng lợi dụng vấn đề chủ quyền lãnh thổ, trong đó có chủ quyền biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá.

Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, gần như “miễn nhiễm” với những luận điệu xuyên tạc, hồ đồ và cũ rích ấy, thì vẫn còn khá nhiều người "sập bẫy", trong đó chủ yếu là những người mới hoặc ít tiếp xúc với internet, mạng xã hội. Sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước khiến họ chưa kịp chắt lọc thông tin đúng-sai, dễ bị cuốn vào “ma trận phản động” trên internet.

Cùng với việc nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch chống phá sự ổn định của Việt Nam thông qua chiêu bài về chủ quyền lãnh thổ, việc nắm vững chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tỉnh táo để hấp thụ đầy đủ bản chất của vấn đề là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Trước hết, phải nhắc lại rằng, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta là kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Điều này đã được nêu rõ trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và được chứng minh trong cách thức Việt Nam giải quyết vấn đề Biển Đông, với tinh thần thượng tôn pháp luật, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); kiềm chế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC).

Quan điểm xuyên suốt này còn được nêu rõ trong các phát biểu của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và quân đội. Trong cuộc tiếp xúc cử tri quận Ba Đình (Hà Nội) vào giữa tháng 10-2019, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan hệ đối ngoại của Việt Nam thời gian qua rất tốt, bằng chứng là 192 nước đã nhất trí bầu Việt Nam là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021. Cùng với đó, kinh tế đối ngoại cũng không ngừng được mở rộng. Tuy nhiên, một số khu vực, địa bàn còn tiềm ẩn sự phức tạp về an ninh-trật tự, nhất là về vấn đề lãnh thổ, biên giới, biển đảo. Cũng tại cuộc tiếp xúc đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kêu gọi cử tri cảnh giác với những quan điểm cực đoan về vấn đề Biển Đông và khẳng định cần phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, không bao giờ nhân nhượng trước những vấn đề thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Hay như tại lễ công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019, cùng với việc nhấn mạnh chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ của Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã nêu rõ: “Chúng ta mong muốn hòa bình, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Chúng ta xây dựng quốc phòng cũng vì mục đích hòa bình. Nếu một khi đất nước chúng ta bị chiến tranh, chúng ta buộc lòng phải cầm súng thì chúng ta cũng phải cầm súng vì hòa bình. Chúng ta chỉ sử dụng sức mạnh quốc phòng trong tình huống tự vệ khi đất nước bị xâm hại, trước hết là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia-dân tộc, sự ổn định của chế độ”.

Ngoài ra, Sách trắng Quốc phòng cũng khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là "không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế", "không tham gia liên minh quân sự", và bởi vậy, quan điểm cho rằng Việt Nam “bài nước này, thân nước kia” hay “đi theo nước này, chống nước kia”, suy cho cùng chỉ là dối trá, lừa phỉnh dư luận.

Những bài học đắt giá từ các cuộc chiến tranh trong quá khứ đã khiến nhiều nước, trong đó có cả những quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh, đang đi theo hướng lấy đối thoại, luật pháp quốc tế làm “kim chỉ nam” cho mọi hành động liên quan đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ, thay vì cổ xúy cho xung đột và đối đầu. Điều đó càng chứng minh rằng quan điểm, chủ trương, đường lối, đối sách của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và giải quyết các vấn đề liên quan là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cũng như cuộc sống hòa bình, ổn định hiện có, là vấn đề chiến lược, việc đại sự, đòi hỏi phải có chủ trương, đường lối, đối sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả và bền vững. Do đó, chúng ta cần hết sức tỉnh táo, cảnh giác trước các chiêu trò, luận điệu kêu gào, xuyên tạc, kích động để không mắc mưu những phần tử xấu và thế lực thù địch để rồi ngập chân trong thứ “ma trận” quái gở mà chúng cố tình giăng ở khắp nơi.

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng


          Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) hoạch định đường lối đổi mới toàn diện cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội, phát triển đất nước, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của nhân dân. Vượt qua thách thức, khủng hoảng và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở các nước Đông Âu, Liên Xô, Đại hội VII của Đảng (6-1991) tỏ rõ bản lĩnh chính trị, kiên định con đường XHCN với việc đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Từ thực tiễn của công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Cương lĩnh và đường lối được các đại hội Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, đã đưa công cuộc đổi mới của Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

          Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức về hệ tư tưởng.

          Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”.

          Nâng cao trình độ lý luận của toàn Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, bồi đắp lập trường, quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng những là để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, mà cũng chính là bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đó là sự bảo vệ chủ động, tự giác bởi trí tuệ, có khả năng bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động.

HAIVAN

Lời Bác dạy năm xưa

 

          Tháng 3/1955, trên báo “Nhân Dân” đăng bài “Người cán bộ cách mạng” trong đó Bác xác định: Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không.

          Đây là tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.

          Đối với người cán bộ cách mạng, để không ngừng tiến bộ, thì cần phải học tập lý luận, trau dồi đạo đức; nhận rõ điều gì là phải thì cố gắng làm, điều gì là trái thì kiên quyết tránh. Phải hiểu rằng bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải gần gũi nhân dân, học tập nhân dân, vì gần gũi nhân dân sẽ cảm thông những khó khăn, gian khổ của nhân dân, thấy rõ những gương anh hùng của nhân dân, giúp ta củng cố lập trường, trau dồi tư tưởng. Cách sửa chữa tốt nhất và quý nhất là thật thà tự phê bình và phê bình. Mỗi người cán bộ bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm, làm tròn nhiệm vụ Đảng và Chính phủ giao cho như thế mới là thiết thực góp phần vào công cuộc đấu tranh để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta.

          Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam còn luôn chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ để góp phần quan trọng tới việc hoàn thành nhiệm vụ, tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội. Nắm vững quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và đạo đức của người cán bộ cách mạng trong giai đoạn mới để quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện thật sự khoa học, công tâm, theo một quy trình dân chủ, trong đó chú trọng việc xây dựng cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ khoa học đầu ngành có trình độ chuyên môn giỏi, thật sự kiên định vững vàng, tin cậy về bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ, năng động, sáng tạo, có kiến thức cơ bản trong điều hành tổ chức, giải quyết mọi nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

HAIVAN

Giá trị tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản trong giai đoạn hiện nay


          Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời 175 năm, nhưng những giá trị của tác phẩm vẫn còn sống mãi. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn vận dụng tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam một cách sáng tạo, hiệu quả. Đó là những quan điểm về mục tiêu cách mạng, vai trò của Đảng Cộng sản, vai trò của giai cấp vô sản, vai trò của việc xây dựng ý thức xã hội mới - ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong khi chủ nghĩa xã hội thế giới lại đang ở bước thoái trào, những khó khăn và thách thức của thời đại đã và đang cản trở sự phát triển của cách mạng, song lịch sử xã hội loài người vẫn tiếp tục tiến lên theo những quy luật mà “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã dự báo; từ đó, khẳng định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử nhân loại.

          Trong giai đoạn hiện nay, khi Đảng ta nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiểu rõ tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, hiểu rõ mục tiêu, lý tưởng của những người cộng sản, hiểu rõ thế giới quan và phương pháp luận khoa học mà học thuyết mang lại, đó cũng chính là cách mà cán bộ, đảng viên tự bồi dưỡng lập trường tư tưởng, phương pháp cách mạng, hoàn thành tốt trách nhiệm mà lịch sử giao phó.

HAIVAN