Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2023

Nói, viết và làm đúng đường lối của Đảng – Mệnh lệnh từ trái tim mỗi quân nhân

Ngày 28-12-2021, Quân ủy Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (Nghị quyết 847).

Nghị quyết 847 đã “điểm mặt, chỉ tên” 10 biểu hiện cụ thể của chủ nghĩa cá nhân và một trong những biểu hiện đó là: “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

Việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện nêu trên, phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

Những biểu hiện không thể chủ quan, xem thường

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất về ý chí và hành động. Nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là vấn đề có tính nguyên tắc, quy định pháp lý mà mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội phải tuyệt đối chấp hành, thực hiện thống nhất. Vì vậy, mọi quân nhân khi đã đứng trong hàng ngũ của quân đội thì nhất thiết phải tự giác nói, viết và làm theo nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội.

Yêu cầu này đã được phổ biến, giáo dục sâu kỹ ngay từ khi mỗi người viết đơn xin tự nguyện nhập ngũ và tuyên thệ dưới Quân kỳ Quyết thắng, tuyên thệ trước cờ Đảng trong lễ kết nạp Đảng. Vinh dự, tự hào được đứng trong hàng ngũ của quân đội anh hùng, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của quân đội lên trên hết, tự giác phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó.

Vì vậy, những biểu hiện nói, viết, làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội cần phải được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Những biểu hiện này được thể hiện trước hết ở việc một số ít quân nhân phát ngôn, cung cấp thông tin, tham gia trả lời phỏng vấn, viết bài cho báo chí, trang tin điện tử, sử dụng các trang mạng xã hội để đăng tải, bình luận, chia sẻ thông tin với những nội dung không chính xác, chưa được kiểm chứng, thậm chí trái với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội.

Một số cán bộ, đảng viên còn có hiện tượng “tiền hậu bất nhất”, tự tạo “uy tín giả” của cá nhân, khi “tiền hô hậu ủng” trên diễn đàn, trong sinh hoạt, hội họp nhưng sau diễn đàn, bên ngoài hội nghị, khi xa cuộc họp, họ lại có những phát ngôn trái với tinh thần nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Một số quân nhân khi được tổ chức phân công nhiệm vụ có biểu hiện chấp hành gượng ép, “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, thậm chí có hiện tượng không chấp hành, hoặc chấp hành không triệt để sự phân công của tổ chức, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Nghiêm trọng hơn, đã xuất hiện một số ít cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị chấp hành không nghiêm nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây ra nhiều hệ lụy cho tổ chức và đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc.

Hiện tượng một số quân nhân nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, bản chất, truyền thống của Đảng, quân đội, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và quân đội. Không chỉ vậy, những thông tin, phát ngôn, bài viết, việc làm không đúng chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội của một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội vô hình trung tạo ra những sơ hở để các thế lực thù địch tạo cớ, lợi dụng đẩy mạnh âm mưu hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội bằng những chiêu trò ngày càng thâm hiểm, xảo quyệt.

Nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng này có cả khách quan và chủ quan. Trước hết, do sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã làm cho một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vì vụ lợi cá nhân dẫn đến vi phạm, hoặc tìm cách “lách luật” không làm đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy để trục lợi cá nhân. Trước những âm mưu tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, một số cán bộ, đảng viên và quần chúng không tỉnh táo, thiếu bản lĩnh đã bị lôi kéo, dẫn đến sa ngã. Bên cạnh đó, công tác giáo dục chính trị tư tưởng ở một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; việc quản lý con người, các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ chưa chặt chẽ. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do một số cán bộ, đảng viên và chiến sĩ chưa nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thiếu tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu và thực hiện nhiệm vụ được giao.

Kiên quyết đấu tranh đẩy lùi các biểu hiện nói, viết và làm không đúng nghị quyết

Để đấu tranh phòng, chống, đẩy lùi các hiện tượng trên đây, trước hết, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ về nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu giúp cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nhận thức đầy đủ, toàn diện, hiểu đúng và sâu sắc các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng, kỷ luật quân đội; nâng cao bản lĩnh chính trị, góp phần tạo sự đoàn kết, thống nhất trong quân đội; ngăn ngừa cán bộ, đảng viên và chiến sĩ vin vào sự “thiếu hiểu biết” để biện minh cho những phát ngôn tùy tiện, bài viết, việc làm không đúng với nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy.

Các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới, nhất là Kết luận số 01-KL/TW ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị khóa XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 “Quy định về những điều đảng viên không được làm”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phương pháp làm việc khoa học cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; nâng cao tính tiền phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên trong chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội. Tích cực rèn luyện cán bộ, đảng viên, chiến sĩ theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới. Chú trọng rèn luyện phong cách làm việc khoa học, sáng tạo, nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và chiến sĩ; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đơn vị.

Mỗi cán bộ, đảng viên và chiến sĩ cần nêu cao tính đảng, tính kỷ luật khi phát ngôn, viết bài, đăng tải, tuyên truyền những vấn đề liên quan đến nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệ, kỷ luật quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh của người chỉ huy. Thực hiện nghiêm quy định của Đảng, của quân đội về quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin; quy chế công bố sản phẩm nghiên cứu khoa học, nhất là những vấn đề mới, nhạy cảm chính trị, chưa được kiểm chứng trên các ấn phẩm sách, báo chí, các phương tiện thông tin, các trang mạng xã hội. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ bản thân không bị tác động tiêu cực bởi các thông tin xấu độc.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với đảng viên trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội. Quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ. Kịp thời phê bình, nhắc nhở, kiểm điểm đảng viên khi mới có dấu hiệu vi phạm, tránh để vi phạm nhỏ kéo dài dẫn đến gây hậu quả nghiêm trọng. Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với những cán bộ, đảng viên và chiến sĩ nói, viết, làm việc không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội.

Có thể khẳng định rằng, việc chủ động phòng ngừa, đấu tranh và kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện “Nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội” phải được coi là mệnh lệnh từ trái tim của mỗi quân nhân để góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong tình hình mới.

Sưu tầm

Tống Văn Trinh đã khiến Mỹ ôm hận ở “Chiến dịch Lam Sơn 719” ra sao?

Dưới vỏ bọc là nhân viên Sở Công chánh Viêng Chăn, Tống Văn Trinh đã có mối quan hệ rộng rãi với viên chức Lào và Sứ quán chính quyền Sài Gòn ở thủ đô Viêng Chăn để thu thập tin tức về âm mưu hoạt động quân sự trên chiến trường Lào báo cho trung tâm (Cục 2) ở Hà Nội.

Thành tích nổi bật nhất của Tống Văn Trinh là phát hiện âm mưu địch mở “Chiến dịch Lam Sơn 719” (còn gọi là “Chiến dịch đường 9 Nam Lào” do Trung tướng Việt Nam Cộng hòa Hoàng Xuân Lãm chỉ huy từ 30/1/1971 – 30/3/1971) và sau đó là “Chiến dịch Kou Kèo” hay còn gọi là “Chiến dịch Cánh đồng Chum” tháng 4/1971) của Mỹ-Việt Nam Cộng hòa đánh vào căn cứ quân Pathét Lào.

Bữa “tiệc rượu” và chiến dịch “Opération Lam Sơn 719” …

Những ngày đầu năm 1971, có nhiều xe của Sứ quán Việt Nam Cộng hòa cắm cờ ba sọc chạy trên đại lộ Lane Xang ở Viêng Chăn. Bằng sự nhạy bén của người tình báo, Tống Văn Trinh đoán biết có lẽ đoàn quân sự và dân sự từ Sài Gòn sang để đàm phán với phía Lào vấn đề quan trọng.

Qua Trung tá Bảo, tùy viên quân sự của Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa, Trinh được biết có hai cuộc hội đàm về quân sự và dân sự để đi đến ký kết một thỏa hiệp quan trọng giữa hai nước.

Trinh gợi ý với Bảo, nhân có nhiều sĩ quan cao cấp của Bộ Tổng tham mưu sang công cán ở Lào, nên có cuộc gặp thân tình và chiêu đãi đặc biệt. Bảo tán thành ngay vì 7 tên sĩ quan này, theo Bảo biết, rất “chịu chơi”.

Thế là tiệc rượu được tổ chức tại một biệt thự trên đường đi That Luông, vừa là nơi làm việc của Phòng tùy viên quân sự, vừa là chỗ ở của Bảo (Bảo không đem vợ con theo nên rất tự do). Quan khách Việt – Lào trên 25 người, có 5 cô gái Thái gốc Hoa đưa từ Băng-Cốc sang góp vui nên bữa tiệc càng thêm rôm rả.

Có rượu ngon, gái đẹp nên các sĩ quan tham mưu tác chiến tha hồ khoác lác, trong lúc no say để lộ nhiều bí mật quan trọng khiến Trinh mừng thầm vì nếu muốn nắm được những tin tức này anh phải mất nhiều thời gian và công sức.

Tiệc tàn, các cô gái bày ra hai mâm hút thuốc phiện và trổ tài làm thuốc, khiến các sĩ quan nằm hút hết sức hài lòng. Kế bên là sòng bạc chơi “xì phé” ăn thua bằng đô-la Mỹ. Không khí lúc này rất sôi nổi và dung tục.

Để tạo cớ vào phòng làm việc của Bảo, Trinh kêu nhức đầu vì uống rượu hơi nhiều. Bảo đề nghị Trinh vào phòng làm việc của hắn nằm nghỉ. Trinh tỏ ra ngần ngại, đợi Bảo giục đôi ba lần mới vô phòng khép cửa lại. Anh quan sát thấy trên tường treo tấm bản đồ quân sự khổ lớn, có cắm cờ nhỏ và các mũi tên tiến công.

Anh cẩn thận tìm quanh phòng xem có máy móc nghe nhìn gì không, rồi bước lại nhìn qua lỗ khóa thấy bọn chúng đang say sưa chơi bời, anh vững bụng đến bàn làm việc thấy tập hồ sơ đề chữ “tuyệt mật” bên góc trái và dòng chữ đậm ở giữa “Opération Lam Sơn 719”. Trinh mừng còn hơn bắt được vàng, vội mở ra đọc chớp nhoáng, thấy mục tiêu cuộc hành quân là đường 9 Nam Lào, các lực lượng tham gia đủ phiên hiệu, các địa điểm nhảy dù từ Khe Sanh đến Tchépone và ngày giờ bắt đầu hành quân chiến dịch.

Sau khi ghi lại trong đầu toàn bộ kế hoạch, Trinh mở cửa bước ra. Thấy Trinh, Bảo gọi: “Đỡ nhức đầu rồi hả? Lại đây làm một điếu cho khỏe đi!”, Trinh vờ nhăn mặt kêu: “Phải về nhà uống thuốc thôi. Còn nhức đầu lắm!”, rồi lặng lẽ rút lui.

Đêm hôm ấy, Trinh thức đến gần sáng để viết cho xong báo cáo. Báo cáo được viết bằng mực hóa học theo mật mã và gửi khẩn cấp về trung tâm ở Hà Nội một tháng trước khi chiến dịch nổ ra. Kế hoạch quân sự mà Trinh đã báo cáo gồm ba giai đoạn:

– Giai đoạn I: bắt đầu từ ngày 30/1/1971, trực thăng Mỹ vận chuyển hai tiểu đoàn đến từ căn cứ Khe Sanh, hành quân theo đường 9, chở tiếp hai tiểu đoàn pháo và ba tiểu đoàn dù.

– Giai đoạn II: bắt đầu từ ngày 8/2/1971, 12.000 quân tiến sâu vào đất Lào, tập kết tại Tchépone ngày 6/3/1971.

– Giai đoạn III: mở rộng hành quân càn quét ra hai hành lang ven đường 9 để thiết lập vành đai an toàn cho con đường này.

Khi chiến dịch Lam Sơn 719 nổ ra, Đại tướng Lê Trọng Tấn là Tư lệnh chiến dịch đường 9, đã chỉ huy cuộc phản công ở khắp nơi, nện ngay các tiểu đoàn địch.

Các tiểu đoàn pháo được trực thăng đổ quân đến, đều đúng ngay vào tầm pháo của ta, bị đánh tan tác ngay từ những phút đầu tiên trên tất cả các ngọn đồi. Một số sống sót cố bám trận địa chống trả yếu ớt, cầm cự chờ quân tiếp viện.

Qua báo đài nước ngoài thì ngoài số quân bị chết, còn có một số đông sĩ quan bị bắt trong đó có Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù 3. Trực thăng Mỹ phải đến chở quân lính sống sót rút lui, bọn này hoảng loạn đạp nhau để leo hoặc bám càng trực thăng, chạy trốn chết. Hình ảnh đó được đăng tải trên báo chí, trên đài truyền hình lúc bấy giờ.

Tờ Paris Macth (Pháp) đăng bài về chiến dịch này, trong đó có đoạn viết: “Mọi việc được kết thúc ngày 24 tháng 3 và tổn thất về phía quân đội Sài Gòn là khoảng 10.000 người, gần phân nửa lực lượng đưa vào đất Lào, còn quân đội Hoa Kỳ chỉ có một nhiệm vụ hỗ trợ đã bị tổn thất 107 trực thăng, và thiệt mạng 176 phi hành đoàn”.

Những năm sau giải phóng, có đoàn quay phim của đài BBC, Luân Đôn sang làm phim về Đường mòn Hồ Chí Minh, họ cũng xin quay phim đường Nam Lào. Họ nhận xét: “Đây là một trận đánh có ý nghĩa quyết định của các ông để đẩy lùi quân Mỹ, và từ đây, bắt đầu quá trình thất bại của Mỹ. Nếu các ông không thắng trận này thì cục diện chiến tranh sẽ khác”.

Tướng K.X. và cuộc hành quân “Opération Kou Kèo”

Bị thất bại nặng nề ở đường 9 Nam Lào, quân Lào hết sức hoang mang, tinh thần chiến đấu của chúng bị ảnh hưởng rất lớn. Mỹ vội vã mở cuộc hành quân vào cánh đồng Chum – nơi căn cứ của quân Pathét Lào – bằng chiến thuật trực thăng vận một cách thần tốc, hòng vớt vát uy tín và củng cố tinh thần quân ngụy Lào. Chúng đặt tên cuộc hành quân này là “Opération Kou Kèo” bắt đầu từ tháng 4/1971.

Vào 11 giờ trưa, Tống Văn Trinh vừa về đến nhà thì đồng chí Th. liên lạc đến trao cho anh bức điện khẩn của trung tâm, nội dung: “Địch đã đổ quân nhảy dù xuống cánh đồng Chum, hãy báo cáo hỏa tốc: âm mưu, ý đồ quân sự địch, các lực lượng tham gia, địch sẽ chiếm đóng hay hành quân rồi rút. Ngày giờ rút, nếu rút thì rút bằng đường bộ hay bằng gì, rút theo con đường nào… Điện trả lời trước 24 giờ đêm nay”.

Trước tình hình khẩn cấp như vậy, Trinh lập tức rà soát lại các mối quan hệ có thể đáp ứng yêu cầu trên thì thấy có K.X. ở Bộ Tổng tham mưu là có khả năng nhất, và cũng có mối quan hệ tốt với Trinh nhiều năm qua. Anh lập tức điện cho K.X. hẹn khi tan sở 5 giờ chiều, sẽ gặp nhau ở nhà hàng Au bon goưt chuyên bán cơm Tây rất ngon.

Sau món rượu khai vị, câu chuyện giữa Trinh và K.X. thêm rôm rả, và kết quả là Trinh nắm được tin tức như: lực lượng hành quân gồm 1 trung đoàn của 5è_RM Chinaimo, 1 binh đoàn của quân khu Hạ Lào Savanakhet, trong đó có tiểu đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo của Paksme (cùng 5è_RM), 2 tiểu đoàn lính Mèo ở Sầm Thông, Long Chẹng của tướng Vàng Pao, trực thăng Mỹ từ các căn cứ Thái Lan qua đổ quân, chở quân nhảy dù và máy bay F4 (con ma) yểm hộ bắn phá, ném bom các mục tiêu trên đất Lào nhằm tiêu diệt căn cứ hậu cần Pathét Lào chứ không có kế hoạch chiếm đóng…

… Sau ba ngày càn quét (Opération de nettoyage) thì rút quân về theo Phone Hồng và Ban Ban Paksame (tức là có hai đường rút quân). Như vậy là còn 2 ngày nữa sẽ rút quân. Tin của K.X., sĩ quan cao cấp trong Bộ Tổng tham mưu độ chính xác là 100%.

Về nhà, Trinh vội vàng thảo báo cáo với đầy đủ chi tiết rồi đem đến đồng chí Th. để mã hóa và điện về trung tâm kịp trong đêm.

Sau này, khi về nước, làm việc với trung tâm, Trinh được đồng chí Ch. trợ lý Phòng tình báo Lào – Thái kể lại: “Khi địch mở chiến dịch Cánh đồng Chum, sau khi Cục điện cho anh thì tối đêm ấy đồng chí Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng thức đến 12 giờ khuya chờ bức điện báo cáo, đồng chí rất phấn khởi và chỉ thị ngay kế hoạch tác chiến cho Tư lệnh chiến dịch Cánh đồng Chum, cũng là Đại tướng Lê Trọng Tấn, đặc phái viên của ta bên cạnh quân giải phóng Lào”.

Thế là quân giải phóng Lào anh em có sự tăng viện của ta, đã chặn đánh quyết liệt các con đường rút quân gây tổn thất nặng nề cho quân địch. Và trong chiến thắng vẻ vang ấy, có phần đóng góp không nhỏ của Tống Văn Trinh, người tình báo Việt Nam trên đất nước “Triệu Voi” anh em năm xưa.

Tống Văn Trinh sinh ở Châu Đốc (An Giang), tham gia cách mạng từ năm 1945, vào Đảng năm 1948. Nhiều năm ông hoạt động chủ yếu trong ngành Quân báo Khu 9, từng là Trưởng chi quân báo tỉnh Cần Thơ.

Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc, được đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ rồi được cử sang hoạt động ở Viêng Chăn (thủ đô nước Lào) từ năm 1959 cho đến khi nước Lào hoàn toàn giải phóng (2/12/1975). Sau khi về nước, ông chuyển ngành làm Giám đốc Sở Tư pháp Hậu Giang cho đến khi nghỉ hưu năm 1988.

Với thành tích công tác trong nước và ngoài nước qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, trong đó có huân chương của nước bạn Lào. Hiện nay, ông nghỉ hưu ở thành phố Cần Thơ…

Sưu tầm


Anh hùng LLVTND Trần Thị Lý – Người con gái Việt Nam

Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, các thế hệ Việt Nam sau này nhiều người không biết đến chị. Nhưng tên tuổi chị sẽ còn sống mãi với non sông đất Việt. Xin thêm một lần gọi chị bằng cái tên quen thuộc giản dị như Nhà thơ Tố Hữu đã viết: Người con gái Việt Nam!

“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây, là mây hay là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

Thịt da em hay là sắt là đồng ?”

… “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

Em đã sống lại rồi em đã sống !

Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

Ko giết được em, người con gái anh hùng !”

… “ Từ cõi chết, em trở về, chói lọi

Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi

Em trở về, người con gái quang vinh

Cả nước ôm em, khúc ruột của mình.”

Chị Trần Thị Lý tên thật là Trần Thị Nhâm, sinh năm 1933 ở Quảng Nam, tham gia hoạt động cách mạng và được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Năm 1956, chị bị địch bắt và chuyển qua rất nhiều nhà tù. Để khuất phục chị, địch đã không từ bất cứ thủ đoạn tra tấn dã man tàn ác nào: lấy móc sắt xuyên qua bàn chân rồi treo ngược lên xà nhà, lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt...

Sau hơn 2 năm giam cầm, tù đầy, tra tấn dã man mà không khai thác được gì, địch vứt chị Lý ra ngoài nhà lao vì tưởng chị đã chết.

Tổ chức đã quyết định đưa chị ra Bắc trong một hành trình rất đặc biệt: từ Quảng Nam vào Sài Gòn, sang Phnômpênh (Campuchia) rồi từ đó bay bằng máy bay ra Hà Nội, trong lúc chị Lý mình đầy thương tích.

Lúc đó là vào giữa năm 1958. Phòng bệnh số 8, Nhà A1, Bệnh viện Việt - Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: “Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục”.

Nhà thơ Tố Hữu đã đến bên giường bệnh thăm chị và ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động. Bài thơ “Người con gái Việt Nam” xuất hiện tháng 12 năm đó. Bài thơ sau đó được đưa vào sách giáo khoa, được dịch ra nhiều thứ tiếng, gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Trần Thị Lý chính là bằng chứng sống tố cáo tội ác chiến tranh lúc đó.

Trong thời gian dưỡng bệnh ở Hà Nội, chị có tình cảm với một thương binh đồng hương. Hai người đã có một đám cưới đơn giản và đến năm 1978 mới làm đăng ký kết hôn. Do bị tra tấn, chị mất khả năng sinh nở nên hai người nhận một con gái nuôi. Năm 1979, Trần Thị Lý từ Hà Nội về sống tại Đà Nẵng, trong điều kiện sức khỏe được phục hồi một phần. Tháng 02 năm 1992 chị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối năm đó, chị mất tại Đà Nẵng.

Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi, các thế hệ Việt Nam sau này nhiều người không biết đến chị. Song tên tuổi chị sẽ còn sống mãi với non sông đất Việt. Xin thêm một lần gọi chị bằng cái tên quen thuộc giản dị như Nhà thơ Tố Hữu đã viết: Người con gái Việt Nam!

Sưu tầm

“… MUỐN THẮNG, THÌ TA PHẢI TÍCH CỰC, TỰ ĐỘNG, BÍ MẬT, MAU CHÓNG, KIÊN QUYẾT, DẺO DAI. CHẮC THẮNG MỚI ĐÁNH. NHƯNG TUYỆT ĐỐI CHỚ CHỦ QUAN KHINH ĐỊCH...”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình”, Người viết tháng 11 năm 1951.

Đây là thời điểm Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là sự chỉ đạo sát sao, sự động viên khích lệ của Bác, thể hiện nhãn quan chính trị, quân sự thiên tài nhạy bén của Người đã đánh giá đúng tình hình địch, ta, phán đoán trước được âm mưu, hành động xảo quyệt của những tên đế quốc, thực dân xâm lược. Đó còn là phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, đồng thời phản ánh rõ nét tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, đem lại niềm tin, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để tiếp thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Quán triệt lời dạy của Người, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc, đập tan cuộc tiến công lên Hòa Bình cùng với âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội thuận lợi cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến và mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” đối với cách mạng nước ta và sẵn sàng can thiệp bằng vũ trang khi cần thiết. Để đánh thắng các thế lực thù địch, Quân đội ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra; phát hiện kịp thời âm mưu, hành động của chúng để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi từ xa; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, nhất là các khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

QĐND

Tấm lòng của Bác

Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi (vì tôi được phụ trách theo dõi sức khoẻ và đời sống của đoàn):

- Cô Bi phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô các chú ấy ốm.

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

- Chú Đảnh bị sốt ra sao?

Tôi báo cáo tình hình của đồng chí Đảnh cho Bác, Bác nhắc:

- Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

- Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện quê hương miền núi nghèo khổ của mình. Bác cảm động nói:

- Thống nhất Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

Trong những ngày sống ban Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi.

- Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

Theo 117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

(Ban Tuyên giáo TW, Nxb. CTQG - 2007)

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 11 NĂM 1962!

     “… Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục…”!

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một buổi họp của Bộ Chính trị tiếp tục cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ, ngày 06 tháng 11 năm 1962, đăng trên Báo Nhân dân, số 3148, ra ngày 07/11/1962.

Sáng ngày 06 tháng 11 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp của Bộ Chính trị để cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ. Khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi một đợt thực tế dài hạn ở nông thôn, Người đã tán thành chủ trương này và có những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này. Đây là sự nhắc nhở sâu sắc, có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với mỗi văn nghệ sĩ cần nêu cao ý thức trách nhiệm, bám sát thực tiễn, khen, chê phải đúng mức; nói cách khác, Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải phản ánh trung thực và khách quan cuộc sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân ở vùng nông thôn.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, các thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà đã thường xuyên bám sát đời sống nông thôn, lăn lộn trên đồng ruộng, gò đồi, cũng như trên các chiến trường đầy khói lửa; hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, từ đó cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn… góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Ngày nay, trước bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học sâu sắc định hướng nhận thức, tư tưởng, phương châm hành động của các văn nghệ sĩ; bồi dưỡng cái tâm và cái tài, cổ vũ động viên các văn nghệ sĩ bám sát cơ sở, đi sâu khám phá cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, qua đó sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Quân đội ta, thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ văn nghệ sĩ Quân đội đã thường xuyên bám sát các đơn vị cơ sở, nhất là những đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; lăn lộn cùng với bộ đội trên các thao trường, bãi tập, nơi bộ đội làm công tác dân vận, tham gia phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… để phản ánh trung thực cuộc sống học tập, công tác và sinh hoạt của bộ đội. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền, cổ vũ động viên kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những cái xấu, cái tiêu cực, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh, để mỗi đơn vị quân đội thực sự là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất ”Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./.
Môi trường ST.

Trong xã hội tư bản, có tự do báo chí không ?

Báo chí trong một xã hội nhất định hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Trong xã hội tư bản, báo chí hoạt động trong môi trường của pháp luật tư sản. Cái mà họ gọi là "tự do báo chí" đã bị cắt xén để phục vụ lợi ích của họ, thể hiện ở các điểm sau :

Một là, khi lợi ích của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ngày càng trở thành đối kháng, giai cấp tư sản luôn luôn tìm mọi cách để hạn chế và ngăn cấm hoạt động của các tờ báo bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân.

Ngay từ khi chủ nghĩa cộng sản còn đang là "bóng ma ấm ảnh châu Âu”, giai cấp tư sản đã rất cảnh giác với các tờ báo mà C. Mác tham gia viết bài, sau đó là chủ bút, như tờ Rênani (mới). Các bài báo mà C. Mác, Ph.ăng ghen và các nhà cách mạng khác viết đã bị giai cấp cầm quyền kiểm duyệt chặt chẽ, cắt bỏ những đoạn không "phù hợp" với lợi ích của họ. V.I.Lê nin gặp biết bao khó khăn khi xuất bản báo "Tia lửa" tuyên truyền cho chủ nghĩa bônsêvích. Trong thời kỳ chiến tranh, các chính quyền tư sản đều kiểm soát chặt chẽ báo chí. Chính quyền phát xít độc đoán ở Đức, ở Tây Ban Nha đã cấm toàn bộ báo chí tiến bộ. Trên thế giới ngày nay, nhiều nước vẫn đặt Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật. Vì vậy, không thể nào có "tự do báo chí" đối với những người cộng sản và cho tư tưởng cộng sản ở những nước này. Vậy là "tự do báo chí" vì ai và dành cho ai đã được giai cấp tư sản cầm quyền xác định rất rõ ràng.

Hai là, với các nước thuộc địa và phụ thuộc, các nước đế quốc đã thực hiện chính sách ngu dân, thủ tiêu tự do dân chủ, hạn chế hoạt động của báo chí tiến bộ, đàn áp những nhà báo tiến bộ. Điều này được phản ánh khá rõ trong chính sách báo chí của chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương . Ngày 29-7- 1881 , nước Pháp ban hành Luật báo chí. Về nguyên tắc, luật này có hiệu lực ở Nam Kỳ, đất thuộc địa của họ, từ ngày 22-9-1881 . Nhưng đến ngày 30-12-1898, bằng Sắc luật của Thống đốc Nam Kỳ, quyền tự do báo chí dã bị thủ tiêu. Còn đối với Bắc Kỳ và Trung Kỳ, thì không có chế độ báo chí nào cả, vì "nhà Vua chưa ban hành một luật pháp quy định một chế độ báo chí trung điều kiện đáp ứng lợi ích của người Pháp" (!).

Theo quy định của Toàn quyền Đông Dương lúc đó, báo tiếng Việt hoạt động theo sự quản lý sau:

- Muốn ra báo phải xin phép trước, có được phép hay không tuỳ thuộc vào ý muốn của quan Toàn quyền.

- Báo chí không được đề cập các vấn đề chính trị. Tất cả tin tức, bài vở đều phải kiểm duyệt trước qua bản dịch tiếng Pháp, mà mỗi toà báo phải tự mình thuê người phiên dịch lấy.

- Tờ báo có thể bị tịch thu. Toà báo có thể bị phạt tiền, hoặc bị đóng cửa bất cứ lúc nào hoặc vì bất cứ lý do gì.

- Người làm báo và những người chịu trách nhiệm liên đới như chủ bút, quản lý "có thể bị phạt tiền, xử tù hoặc chịu những hình thức chế tài khác như đưa về nguyên quán, bị đưa đi quản thúc".

Trong chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, không chỉ các báo cách mạng bị tịch thu, cấm phát hành, mà cả những nhà báo tiến bộ cũng bị quản thúc, những tờ báo kêu gọi lòng yêu nước cũng bị kiểm duyệt chặt chẽ. Nhà báo Trần Huy Liệu viết : "Có miệng không được nói, có tư tưởng không được giãi bày, đó là số kiếp của 25 triệu đồng bào ta... Lịch sử báo chí nước ta đã trải qua mấy chục năm, những người làm báo hoàn toàn là những người miệng câm, tai điếc,.. Mỗi khi ta cầm đến ngòi bút, cầm đến tờ báo, không khỏi bầm gan, tím dạ, then ruột, đau lòng". Còn những tờ báo được phép tồn tại, được nâng đỡ, được chi tiền đã cúc cung tận tụy phục vụ sự cai trị của chính quyền thực dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch trần sự thật về chính sách báo chí của chính quyền thực dân: "Tôi gọi báo là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thường thấy ở châu âu và các nước châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca ngợi công ơn của nền khai hoá và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế thì Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy".

Ba là, với sức mạnh của phương tiện và kỹ thuật, giai cấp tư sản dã và đang sử dụng báo chí làm công cụ chủ yếu để xoá bỏ tư tưởng tiến bộ, tiến công lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa, thực hiện "diễn biến hoà bình".

Sử dụng cái gọi là "tự do báo chí", các nước tư bản đã khuyến khích các báo đối lập ở các nước xã hội chủ nghĩa để lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tờ báo của Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan đã làm vai trò xung kích tấn công vào Nhà nước Ba Lan, kích động dư luận, tập hợp lực lượng để giành chính quyền. Ở Liên Xô, từ những chuyện “lật án", "sám hối"... qua các tờ báo như "Ngọn lửa nhỏ", "Tin tức Matxcơva", "Thế giới mới", ... họ đã dồn dập "nã đại bác" vào lịch sử, xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo những người cộng sản. Khi có bài viết của một độc giả : "Tôi không thể từ bỏ nguyên tắc của mình", lên án sự sai lầm trong cải tổ ở Liên Xô, thì báo chí đối lập đã phối hợp và dồn dập tấn công, đưa ra những luận điệu sai trái, làm nhiễu thông tin. Nhiều tờ báo và đài truyền hình ở Rumani là công cụ chỉ huy cuộc đảo chính đẫm máu ở Bucarét. Các thế lực thù địch đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, kể cả vu cáo, bịa đặt, đưa tin thất thiệt nhằm lật đổ nhà nước của một dân tộc không chịu tuân theo chiếc gậy chỉ huy của họ. Hằng ngày, hằng giờ trong hơn 40 năm qua, các đài phát thanh, đài truyền hình với công suất lớn từ Phloriđa trên đất Mỹ, đã phát sóng chưa vào Cu ba. Chỉ bằng một tin thất thiệt từ một tờ báo ở Campuchia, họ đã triệt để lợi dụng để kích động sinh viên xuống đường, đập phá Đại sứ quán Thái - Lan ở Phnôm bênh, hạ uy tín Chính phủ của Thủ tướng Hun xen... Trong các nước tư bản phương Tây, bên cạnh việc đàn áp các báo tiến bộ, sát hại những người tiến bộ, họ còn khuyến khích, nuôi dưỡng những tờ báo phản động để tác động vào các nước xã hội chủ nghĩa. Tại Mỹ, một người nước ngoài sống trên đất Mỹ muốn nói lên tình yêu Tổ quốc mình, treo cờ Tổ quốc tại cửa hàng, đã bị kẻ xấu đe doạ. Trong khi đó, hàng trăm tờ báo của những người Việt Nam lưu vong chung lại đất nước thì được họ nâng đỡ, khuyến khích. Một vài tờ báo có xu hướng hướng về Tổ quốc cũng bị cản ngăn, khủng bố. Họ đã cung cấp tiền để nuôi dưỡng 48 đài phát thanh, truyền hình, 40 nhà xuất bản, 429 tờ báo và nhiều website chống cộng. Những người rêu rao "tự do báo chí" lại vi phạm nghiêm trọng tự do báo chí trong quan hệ quốc tế. Người ta đã chi hàng trăm triệu USD cho các đài "Châu Âu tự do", "Châu Á tự do"..., chĩa vào các nước độc lập, có chủ quyền, để xuyên tạc, bôi nhọ, kích động, lật đổ chế độ hợp pháp do nhân dân lựa chọn. Người ta đưa bất hợp pháp hàng nghìn tài liệu vào những quốc gia độc lập, có chủ quyền để tuyên truyền chống chính phủ được nhân dân bầu ra; kích động chủ nghĩa ly khai, tự trị...

Bốn là, tự do báo chí ở các nước phương Tây đã và đang bị cắt xén nhằm phục vụ quyền lợi trực tiếp của chính quyền trong từng vấn đề cụ thể.

Vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, Trung Quốc, Cu ba... luôn luôn là đề tài được "ưu chuộng" trên báo chí phương Tây. Để thực hiện chiến lược "đánh đòn phủ đầu và kế hoạch của Mỹ tấn công xâm lược Irắc vì mục đích bá chủ thế giới, báo chí Mỹ đã làm rùm beng cái gọi là "khả năng hạt nhân" và "tàng trữ vũ khí giết người hàng loạt" của Irắc, đưa tin Irắc mua plutoni của một nước châu Phi để chế tạo bom hạt nhân ( ! ) . Khi cuộc chiến tranh Irắc nổ ra, nhiều hãng thông tấn, nhiều tờ báo đưa tin không hợp “khẩu vị" của họ, bị cấm đưa tin, bị kiểm duyệt. Chính quyền Mỹ đã kiểm soát rất chặt chẽ các báo, đài đưa tin chiến sự. Những nhà báo đưa tin về sự thật tàn bạo của quân đội Mỹ đã bị đe doạ. Một phóng viên nổi tiếng của Hãng Truyền hình CNN bị đuổi việc ngay lập tức, vì đã thông tin một sự thật không có lợi cho nhà cầm quyền Mỹ. Đài BBC bị Chính phủ Anh kiện ra toà... Hãng tin An Jeria bị cấm hoạt động trong các trung tâm báo chí. Chính những người đứng đầu nước Mỹ đã ra lệnh buộc các nhà báo không được đưa hình ảnh các khu dân cư, bệnh viện bị trúng bom Mỹ; không được đưa cảnh "máu chảy đầu rơi" diễn ra trong cuộc chiến tranh do Mỹ phát động. Khi xảy ra cuộc chiến tranh chống Ápganixtan, họ lệnh cho các đài phát thanh, truyền hình không được đưa lại lời của Bin La den qua cuốn băng do một đài quốc gia phát. Những ví dụ tương tự có thể kể ra rất nhiều.

Như vậy, cái mà họ gọi là "tự do báo chí" thực chất là sử dụng báo chí để bảo vệ quyền lợi và sự thống trị của họ. Đó chính là thứ tự do giả dối, lừa gạt dư luận, thủ tiêu vai trò tiến bộ của báo chí.

Một nền dân chủ thực sự là mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân

Việc hiến pháp 1992 của nước ta quy định tại điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội không phải là sự áp đặt, mà là ý nguyện của toàn dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng của Việt nam trong thế kỷ XX đã chứng minh hùng hồn rằng, chỉ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta mới đánh bại đế quốc và phong kiến, giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội như ngày nay. Không phải từ khi ra đời, năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có được ngay sự thùa nhận này của toàn dân. Chính là bằng đường lối cách mạng đúng đắn, sự tận tuỵ trung thành hy sinh quả cảm của hàng triệu đảng viên cộng sản, trong đó có biết bao thế hệ phải trải qua nhục hình của nhà tù, trại giam, máy chém của thực dân, đế quốc.... Đảng Cộng sản Việt nam mới được dân tin, dân yêu, trao cho sứ mệnh cao cả đó.

Nói độc đảng tất yếu dẫn đến độc đoán, độc quyền, độc tài là một cách suy diễn võ đoán, đầy ác ý, cố tình nhắm mắt trước sự thật. Đúng là chúng ta độc đảng, nhưng chính tại Hiến pháp 1992 đã ghi rõ " Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Trong hệ thống chính trị của chúng ta, Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam bằng cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, lợi ích của đất nước, của dân, do dân. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, là cơ quan quyền lực cao nhất. Quốc hội bầu ra Chính phủ để điều hành mọi công việc của đất nước. Nhân dân cũng có quyền tham gia vào việc soạn thảo các văn bản có tính chiến lược, có quyền góp ý kiến vào nhân sự các cấp uỷ của Đảng.

Những người có ý kiến phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam từ độc đảng sinh ra độc đoán, độc tài, độc quyền mất dân chủ... thường bỏ qua một thực tế là trong đường lối lãnh đạo của mình, Đảng Cộng sản Việt nam luôn luôn kiên trì giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phấn đấu không mệt mỏi vì dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng lãnh đạo nhân dân ta xây dựng, là xã hội do nhân dân lao động làm chủ và thực sự làm chủ. Trong xã hội này, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân". Trong hơn 70 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh, phấn đấu vì một nền dân chủ thực sự của nhân dân, gắn liền với công bằng xã hội, xoá bỏ áp bức, bất công. Từ thân phận nô lệ, nhân dân ta trở thành chủ nhân đất nước. Từ thân phận làm thuê, chịu bóc lột, nhân dân ta làm chủ cuộc sống của mình, đang từng bước xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Dân chủ trong chế độ ta thực hiện dưới nhiều hình thức, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và được pháp luật đảm bảo. Đó là chế độ dân chủ được thực thi, nói đi đôi với làm, tổ chức xã hội. Chúng ta đang tích cực thực hiện nhiều hình thức để dân chủ ngày càng mở rộng và nâng cao trong đời sống xã hội, như đang thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, nhằm hoàn thiện một bước, cả hình thức dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và dân chủ tham dự.

Tuy nhiên, chúng ta cũng thừa nhận là trong hoạt động lãnh đạo của mình, Đảng cũng còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm, trong đó có những khuyết điểm nghiêm trọng. Một trong những khuyết điểm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vừa qua đã chỉ rõ là: "chưa ngăn chặn và đẩy lùi được suy thoái về tư tưởng, chính trị và đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn, dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết"...

Để thực sự phát huy quyền làm chủ của mỗi người dân, để mỗi công dân thể hiện đầy đủ nhất quyền và trách nhiệm làm chủ của mình, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, trong đó có việc không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới hoạt động của cả hệ thống chính trị, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy Đảng, chính quyền, các đoàn thể và tổ chức chính trị - xã hội. Tuy nhiên, phải khẳng định, có dân chủ hay không có dân chủ, dân chủ nhiều hay ít, dân chủ thực sự hay dân chủ hình thức... không tuỳ thuộc vào chế độ một đảng hay nhiều đảng. Không phải chỉ thực hiện "đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập" mới có dân chủ. Dân chủ hay không, xét đến cùng và quan trọng nhất, thể hiện ở chỗ quyền lực và quyền lợi có thuộc về người dân hay không?

Cũng cần khẳng định dứt khoát rằng, trong khi phấn đấu để có dân chủ thực sự đối với nhân dân, chúng ta không chấp nhận em gọi là "dân chủ đa nguyên" - dân chủ với cả những thế lực chống lại nhân dân. Không thể có chuyện các cá nhân và tổ chức chống đối, phản cách mạng, có những hành vi chống lại Đảng, Nhà nước, vi phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, đất nước... lại đòi hỏi được hưởng quyền dân chủ như mọi người. Không có nước nào, kề cả những nước tự cho mình là dân chủ nhất, lại đi dung túng cho những hành vi vi phạm pháp luật, chống lại lợi ích quốc gia, dân tộc và chống lại chính quyền của tổ chức, cá nhân nào đó. Cũng phải vạch rõ, núp dưới khẩu hiệu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng lãnh đạo, những người phê phán chế độ một đảng ở nước ta thực ra là muốn hợp pháp hoá vai trò của các lực lượng chính trị phản động đã bị nhân dân ta đánh đổ.

Khi chúng ta nói dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, với trật tự, kỷ cương, có người nói đó là kiềm chế dân chủ. Họ nói ta coi nhẹ dân chủ mà nhấn mạnh kỷ cương, ta chưa có dân chủ mà đã vội phanh lại. Trên thực tế, dân chủ muốn được thực thi, nhất thiết phải có pháp luật bảo đảm. Pháp luật chính là công cụ để quản lý xã hội và thực thi quyền làm chủ của người dân. Pháp luật không cho phép bất cứ ai lợi dụng quyền dân chủ để vi phạm luật pháp và vi phạm quyền làm chủ của người khác.

Dân chủ không phải là thứ quà được ban tặng, mọi người chỉ cần giơ tay đón nhận và hưởng thụ. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng chế độ dân chủ là sự nghiệp cách mạng, là quá trình đấu tranh không ngừng giữa thực thi dân chủ với vi phạm quyền làm chủ giữa dân chủ thực sự với dân chủ hình thức, giữa thực hiện dân chủ trong khuôn khổ pháp luật với các khuynh hướng vô chính phủ, dân chủ cực đoan... Hiện nay, có những cá nhân và thế lực muốn lợi dụng dân chủ để gây mất ổn định chính trị, phá hoại chế độ dân chủ của nhân dân. Chúng ta kiên quyết đấu tranh và vạch trần âm mưu của những kẻ lợi dụng dân chủ, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc phá hoại công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.

Trong những năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu và phát triển kinh tế, Đảng ta đã thực hiện mở rộng dân chủ. Trước hết dân chủ trong nội bộ Đảng đã được thực hiện trên cả các lĩnh vực tư tưởng, tổ chức, cán bộ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều đặc biệt ở đây là: dân chủ trong nội bộ Đảng thống nhất với dân chủ của toàn xã hội, vì Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp và dân tộc. Vì vậy, Đảng ta tự đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân, cơ quan đại diện của nhân dân và sự giám sát của công luận (Văn kiện TW 6 lần 2 tr 29 ). Như vậy, nếu so sánh chế độ đa đảng bảo vệ cho lợi ích của một giai cấp chiếm số ít, thì chế độ một đảng lại ưu việt hơn, vì nó bảo vệ lợi ích cho toàn xã hội, cho số đông./.

Thực trạng của nền dân chủ đa đảng

Các nhà tư tưởng phương tây hoan hỉ trước sự sụp đổ của một số nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (trước đây) và Đông Âu. Từ Níc-xơn đến Brêdinxki, từ Busơ đến Kitxinhgiơ đều đồng ca "Tư tưởng tự do đã thắng chế độ chuyên chế”, rằng nền dân chủ tư sản đã chiến thắng "độc tài cộng sản". Trong lúc đó, nhiều nhà lý luận tư sản phương Tây hơn bao giờ hết lại lên án nền dân chủ tư sản đang bị khủng hoảng nghiêm trọng và cần phải tái tạo. Theo Bơia Bếtham, Phó Tổng Biên tập báo Nhà kinh tế, trong thời kỳ hiện nay, khi chấm dứt sự đối đầu giữa hai phe cộng sản và tư bản "nền dân chủ đại nghị tư sản bộc lộ ra dưới một khía cạnh bất lợi hơn bao giờ hết". Lý do chính là ở chỗ, trong cuộc chiến tranh lạnh trước đây, giai cấp thống trị phương Tây lợi đụng cuộc đấu tranh tư tưởng để loè bịp, củng cố sự thống nhất bên trong và gây sự hấp dẫn bên ngoài. Họ đề cao cái gọi là "Thế giới tự do” mà cơ sở của nó là nền dân chủ tư sản, trong đó mọi công dân nhất thiết được tham gia một cách bình đẳng vào đời sống chính trị. Nhưng thực tế diễn ra ngược lại: đại đa số công dân bị gạt ra ngoài lề hoặc phải chịu sự chi phối của một thiểu số sung trong xã hội.

Đã có một thời, nhiều người tin rằng nền dân chủ đại nghị của phương Tây mà tiêu biểu là chế độ tam quyền phân lập của Mỹ là một nền dân chủ hoàn chỉnh. Song, thực tế đã chứng minh rằng, các nhà lãnh đạo chóp bu của các nước tư bản, những vụ xì căng đan ở các nước tư bản phát triển nhất đã chứng tỏ rằng: đó chỉ là một nền dân chủ của giai cấp tư sản mà đằng sau đó là các tập đoàn maphia chi phối.

Phải thừa nhận rằng, trong những thập niên vừa qua do lợi dụng được cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, do thích ứng được với điều kiện mới, do tạo ra những cơ chế thích ứng trong việc quản lý kinh tế xã hội, giai cấp tư sản đã đẩy lên một bước phát triển mới nhằm thoát khỏi cuộc khủng hoảng toàn cầu hiện nay. Chúng ta không khỏi kinh ngạc khi tổng giá trị GNP của Mỹ đã đạt trên 10.000tỷ USD/năm. Thu nhập bình quân theo đầu người một năm từ 14.000USD đến 27.000USD. Song, sự dư thừa về của cải vật chất ấy không đem lại bình đẳng và hạnh phúc cho những người lao động. Ngược lại, chưa bao giờ những người lao động trí óc và chân tay lại bị bóc lột thậm tệ như bây giờ. Theo công bố chính thức ở các nước tư bản, ở Mỹ 1 % dân số (gồm những người giàu có) chiếm tới 43,7% tài sản của nước Mỹ. Các nước tư bản khác cũng đạt trình độ của nước Mỹ. Chính Lextơthơ, tác giả cuốn "Đối đầu - cuộc chiến tranh kinh tế giữa Nhật - Mỹ - Tây Âu” phải thốt lên rằng: "Trong khoảng từ 1973 đến 1990, tổng sản phẩm quốc dân thực của Hoa Kỳ tăng 28% trong khi đó, lương giờ thực tế của công nhân thường giảm 12% và lương thực tế hàng tuần giảm 18%. Từ cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, lương thực tế giảm 1% năm". Tác giả kết luận: "Sống trong một xã hội có tổng thu nhập quốc dân thực gia tăng đã không đem lại lợi ích gì cho những công nhân Hoa Kỳ trong suất 20 năm qua. Làn sóng kinh tế chung - tổng sản phẩm quốc dân đầu người, gia tăng; trong khi đó, một số lớn tàu thuyền (lương công nhân) lại chìm dần. Nền dân chủ trước hết là sự tự quy định của nhân dân, biểu hiện sự công bằng xã hội đã bị phá vỡ từ chính cơ sở của sự phát triển kinh tế của họ đẻ ra".

Cũng do chính sự phát triển kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội đã dẫn đến thể chế chính trị tam quyền phân lập và chế độ đại nghị của các nước tư bản lâm vào tình trạng bế tắc.

Theo G.A. Van -lao - đa, tác giả cuốn "Thế kỷ 21 là của Mỹ", Nxb. LA Deccuverte Paris 4/1993 thì chính cuộc chạy đua vũ trang đã đưa tổng thống Hoa Kỳ ở vào trung tâm một tổ hợp quân sự - công nghiệp với nhà trắng là nền tảng của an ninh quốc gia. Ngân sách liên bang tăng vọt làm cho cán cân quyền lực nghiêng hẳn về phía hành pháp. Quốc hội không còn nắm quyền tuyệt đối kiểm soát chi tiêu nữa. Đầu những năm 30 ngân sách liên bang Mỹ không quá 4% tổng sản phẩm quốc dân, đến cuối những năm 80, ngân sách bằng 22% TSP. Tính theo giá đơm năm 1988, năm 1940 ngân sách này là 83,2 tỷ USD. Năm 1993 lên tới 900 tỷ USD. Năm 1994 lên tới 1.400 tỷ USD; năm 2004.lên tới trên 3000 tỷ; chỉ riêng thâm hụt ngân sách đã lên tới hơn 400 tỷ USD. Hầu hết các ngành phụ thuộc vào chính quyền liên bang về kinh phí. Các chính quyền địa phương trở thành khách hàng của chính quyền liên bang. Quốc hội chỉ còn là nơi đàm phán giữa các nhóm quyền lợi truyền thống, là những doanh nghiệp chuyên về vận động hậu trường để giành phần kinh phí của ngân sách liên bang hoặc thông qua các đạo luật có lợi cho những tập đoàn của mình. Mỗi hạ nghị sỹ có 18 nhân viên giúp việc. Mỗi thượng nghị sỹ có 38 nhân viên thư ký; chức năng đại diện của họ, theo Kit - xinh - giơ đã trở thành chức năng đại . Chức năng đại lý này được tác động bằng hai kênh. Kênh thứ nhất là, các công ty Lobby (vận động hành lang) nổi tiếng. Đó là những tập đoàn được tổ chức để bênh vực quyền lợi cho họ và được đăng ký chính thức với chính quyền. Nói trắng ra, đó là công ty chuyên chạy cổng hậu, vận động hành lang cho các quyết định có lợi cho mình. Kênh thứ hai là các uỷ ban hành động chính trị được tổ chức ra để đài thọ một cách hợp pháp cho các cuộc vận động tuyển cử. Cuộc phá sản của công ty Enron đã để lộ ra rằng công ty này đã góp hàng chục triệu đô la cho Đảng Cộng hoà vận động tranh cử, đã vận động hành lang (lobby) cho 115 nghị sỹ của nước Mỹ; cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ năm 2004 đã tiêu tốn gần 1 tỷ USD do các công ty đóng góp. Các công ty nước ngoài cũng lập ra các nhóm Lobby tại Mỹ để vận động hành lang, nhằm xúc tiến bảo vệ quyền lợi của họ. Hiện nay, ở Mỹ có 175 công ty Lobby.

Ngoài ra theo Le - xtơ - thơ, hệ thống chính trị Mỹ đang do một tổ chức hay một tập đoàn chính trí đầu sỏ điều hành. ở các nước tư bản khác cũng thế, có liên hệ tết với nhau, cả về quan hệ xã hội, tình cảm và kinh doanh, cùng điều hàng nước của họ. Mục tiêu của các nhóm này là kiểm soát chặt chẽ đất nước của họ. Song cũng có những tập đoàn chính trị đầu sỏ là một nhóm gồm những cá nhân bất an, tìm cách gom góp tiền vào các tài khoản bí mật ở ngân hàng Thuỵ Sỹ. Vì họ nghĩ rằng, họ phải luôn luôn để ý đến quyền lợi bản thân tức thời, họ không quan tâm đầu tư thì giờ hay nỗ lực của họ để cải tiến viễn cảnh lâu đài của đất nước họ. Họ không còn đại diện cho lợi ích của nhân dân nữa.

Tóm lại, theo giáo sư Mai - Cơn Oan - đơ, giáo sư Viện nghiên cứu cao cấp ở Prin - xê - tôn (Mỹ) việc sử dụng quyền lực một cách dân chủ và lâu dài, sẽ tỏ ra phức tạp hơn điều thường thấy hiện nay ở các nước phương Tây. Sẽ có nhiều thực tế hơn được khẳng định, có nhiều quyền lợi hơn được đòi hỏi, nhiều bộ máy hơn trên thực địa, nhiều người tranh cãi om sòm hơn (với những luận điệu mới), tất cả những điều đó có vẻ báo hiệu đời sống chính trị sẽ trở nên náo nhiệt hơn. Song bản chất của vấn đề đó vẫn là nhà nước đại diện cho giai cấp bóc lột, đang hoạt động vì lợi ích của giai cấp tư sản, chứ không phải vì lợi ích của nhân dân lao động như một số người nhầm tưởng và ngợi ca.

Dân chủ đa đảng và dân chủ một đảng

Hãy khoan nói về sứ mệnh lịch sử trao sự lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam, được cả dân tộc thừa nhận. Chỉ nói riêng về việc sử dụng luận cứ đa nguyên, người ta đã thấy rằng họ đã xuyên tạc lý luận Mác - Lê nin như thế nào. Họ rêu rao rằng: Khi đã chuyển sang kinh tế nhiều thành phần, tất yếu thượng tầng kiến trúc sẽ thay đổi thành thể chế chính trị đa nguyên, chế độ đa đảng. Theo học thuyết của Mác về hình thái kinh tế xã hội thì cơ sở hạ tầng - các quan hệ kinh tế phản ánh vào thượng tầng kiến trúc (Nhà nước, pháp luật, chính trị, văn học nghệ thuật) và quyết định thượng tầng kiến trúc. Song đó không phải là sự phản ánh máy móc, có bao nhiêu thành phần kinh tế thì có bấy nhiêu đảng phái và chính quyền tương ứng. Đối với nhà nước thì cơ sở hạ tầng chỉ phản ánh vào thượng tầng kiến trúc các quan hệ thống trị, chi phối. Ở các nước tư bản, đó thành phần kinh tế tư nhân giữ vai trò chi phối thì thượng tầng kiến trúc phản ánh các quan hệ ấy bằng việc các đảng của giai cấp tư sản thống trị. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, do kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tất nhiên cơ sở hạ tầng ấy quyết định, phản ánh vào thượng tầng kiến trúc: Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo. Đó là điểm cơ bản trong lý luận hình thái kinh tế xã hội. Chế độ một đảng hay đa đảng do các quan hệ kinh tế, chính trị và tương quan giữa các giai cấp của xã hội đó quy định, tuyệt đối không quyết định có dân chủ với tư cách là những nấc thang văn hoá của nhân loại. Dân chủ là thành quả đấu tranh của nhân dân lao động; đạt được nhiều hay ít phụ thuộc vào giai cấp thống trị trong xã hội đó có dại diện cho lợi ích của sự phát triển tiến bộ hay không. Một giai cấp đã lỗi thời, lạc hậu, lợi ích không phù hợp với lợi ích của sự phát triển thì dù có nhiều đảng hay một đảng vẫn không thể thực hiện được nền dân chủ thực sự. Trong lịch sử nhân loại, đã có trường hợp bọn phát xít Hitle đã lên cầm quyền thông qua một cuộc bầu cử dân chủ, nhưng mà không vì thế mà có dân chủ thật sự. Lịch sử cổ đại cũng đã chứng minh rằng một trong những thiết. chế dân chủ đầu tiên trong lịch sử, đó là nền dân chủ Aten (thế kỷ VI trước công nguyên), cũng là một nền dân chủ cho một giai cấp: giai cấp chủ nô. Thậm chí chỉ có chủ nô là đàn ông mới được quyền dân chủ. Những người lao động trong xã hội đó hoàn toàn không có một chút quyền dân chủ nào.

Cứ theo lập luận của “nhà dân chủ” này thì ở Malaixia, Singapo là những nước có một đảng cầm quyền duy nhất trong mấy chục năm qua là những nước mất dân chủ nhất.

Nền dân chủ tư sản là một bước tiến bộ lớn của nhân loại so với chế độ phong kiến. ở nhiều nước tư bản hiện nay, do thành quả đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản buộc phải điều chỉnh theo hướng cải cách dân chủ nhất định. Giai cấp tư sản buộc phải công nhận các lực lượng đối lập, kể cả các đảng cộng sản trong đời sống chính trị. Song, bản chất của chế độ dân chủ đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản. Mặc dù có nhiều đảng, nhưng quyền thống trị vẫn là đảng của giai cấp tư sản, V.I. Lênin đã từng nhận xét: "Đảng thống trị của chế độ dân chủ tư sản chỉ do một đảng tư sản được quyền bảo hộ thiểu số" . Như thế, vấn đề dân chủ không phải là ở chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng, hay một đảng; vì đa đảng ở các nước tư bản hiện nay về thực chất không phải dân chủ đối với nhân dân mà chỉ là loại hình dân chủ tư sản mà thôi.

Có vấn đề cần được làm rõ, đó là vấn đề "đảng chính trị", "đảng cầm quyền". Trong lịch sử nhân loại, từ khi xuất hiện giai cấp đối kháng là xuất hiện cuộc đấu tranh giai cấp. Nhưng không phải cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng xuất hiện đảng chính trị. Cuộc đấu tranh của nô lệ chống chủ nô thì xuất hiện các lãnh tụ cá nhân của chủ nô, như Spacta Quýt. Đấu tranh của nông dân chống phong kiến, cũng chỉ xuất hiện các lãnh tụ cá nhân, như Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ... Chỉ đến khi giai cấp tư sản bước lên vũ đài chính trị mới xuất hiện đảng chính trít trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. Cuộc đấu tranh này khác hẳn các cuộc đấu tranh giai cấp trước đó ở tính chất triệt để của nó, nên đảng chính trị thực hiện sự lãnh đạo khác các đảng tư sản. Giai cấp công nhân là khối thống nhất, nên chỉ có một chính đảng duy nhất. Vậy đa nguyên, đa đảng tức là khôi phục sự thống trị của giai cấp tư sản.

Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giai cấp nào chiến thắng thì giai cấp đó nắm chính quyền, và Bộ tham mưu chính trị của giai cấp đó sẽ trở thành đảng cầm quyền. Do đó, xét đến cùng không có đa nguyên, đa đảng. Hoặc là Đảng tư sản cầm quyền, hoặc là Đảng Cộng sản cầm quyền mà thôi.

Ở Mỹ có Đảng dân chủ, Đảng cộng hoà, vì thực chất cả hai đều là đảng của các tập đoàn tư sản Mỹ, vữa tranh giành, vừa thoả hiệp, để cùng nhau cầm quyền và thực hiện dân chủ dành cho cha đẻ của chúng là giai cấp tư sản Mỹ. Song càng mở rộng dân chủ nội bộ giai cấp thống trị thì dân chủ toàn xã hội càng bị thu hẹp, chẳng hạn: sự quy định về tài sản của ứng cử viên làm cho 80% dân số Mỹ không có quyền ứng cử. Nhân dân chỉ được quyền lựa chọn người lãnh đạo trong giai cấp tư sản dân chủ tư sản.

Đến đây, chúng ta hãy nhìn vào thực tế xem nền dân chủ tư sản mà "nhà dân chủ” của ta mơ ước như thế nào qua sự nhìn nhận của chính những nhà khoa học sống trong lòng xã hội tư bản phân tích.

Vu cáo và xuyên tạc

Để vu cáo Việt nam không có dân chủ, các thế lực thù địch thường nêu ra luận điệu: ở Việt nam thực hiện "chế độ độc Đảng". Các phần tử cơ hội chính lại hung hăng đòi bỏ điều 4 của Hiến pháp quy định sự lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội. Họ lặp đi lặp lại: Một Đảng lãnh đạo đã dẫn tới chế độ " Đảng trị", gây tai hoạ cho xã hội. Họ mô tả Đảng ta có "một bộ máy dã tạo nên một xã hội không có tự do dân chủ', "một bộ máy độc đoán, độc tài toàn trị, " đầy tham nhũng, phản dân chủ”. "Độc đảng thì kéo theo nhiều thứ độc ": độc tài, độc đoán, độc quyền". Những luận điệu trên đây đã được các nghị sỹ ở bên kia đại dương đưa vào bản dự thảo "Đạo luật về nhân quyền Việt Nam" trình và thông qua Hạ viện Hoa Kỳ ngày 06/9/2001 và 2004 đã ghi trong điều l: "Việt Nam là một quốc gia độc đảng, do Đảng Cộng sản Việt Nam cai trị và kiểm soát".

Trên mạng Website mang tến "Dân chủ” gần đây, có kẻ đã vu cáo trắng trợn: "Do sự hiện hữu của độc quyền chuyên chế đảng trị, dân tộc Việt Nam không chỉ khó thực hiện lý tưởng dân chủ mà còn khó tận hưởng các quyền tự do căn bản.

Ở một tài liệu khác đã được in ấn ở nước ngoài gửi về, một phần tử cơ hội chính trị lại chứng minh rằng sự lãnh đạo một đảng ở Việt Nam mâu thuẫn với triết học Mác-xít, bởi vì theo Mác, thượng tầng kiến trúc phản ánh cơ sở hạ tầng. Khi Việt Nam đã phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thì đương nhiên thượng tầng kiến trúc phải chuyển sang chế độ đa đảng. Họ cho rằng chỉ có chế độ đa đảng thì người lãnh đạo mới "chính đáng". Theo họ, nền dân chủ tư sản phương Tây mới là một nền dân chủ lý tưởng. Họ nhấn mạnh: "Thật rõ ràng là có một bộ phận người nắm quyền lực thực hành chuyên chính với toàn xã hội... Trong khi ấy, mọi người chỉ cần được dân chủ bằng một ngả dân chủ tư sản".