Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

Nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách phòng ngừa sự suy thoái về tư tưởng chính trị

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là trường hợp hiện hữu của lịch sử khi đã “trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống” và thời gian càng lùi xa, sức sống và giá trị trong tư tưởng của Người càng tỏa sáng.

Việc luận giải sức sống bất hủ của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn, vững tin hơn vào nền tảng tư tưởng của Đảng mà tự thân những giá trị to lớn trong tư tưởng của Người là sự phủ nhận hữu hiệu đối với các ý kiến lệch lạc, xuyên tạc Hồ Chí Minh của các phần tử cơ hội chính trị. Mặt khác, việc khẳng định những giá trị trường tồn trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là một cách giúp cán bộ, đảng viên phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị và những biểu hiện lười nhác, xem nhẹ việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Thế kỷ 20 đầy bão tố đã khép lại cùng với sự đóng góp của nhiều vĩ nhân, trong đó có Hồ Chí Minh. Điều làm nên sức mạnh và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là những đặc tính tiêu biểu toát lên từ tư tưởng của Người.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với học sinh Trường Nghệ thuật sân khấu Trung ương ở Khu Văn công Mai Dịch, Hà Nội. Ảnh tư liệu

1. Nội dung căn cốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.

Khát vọng tự do là đặc tính của con người nên khi chủ nghĩa thực dân đẩy vô số dân tộc vào vòng nô lệ, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc là xu thế tất yếu của thời đại. Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở thành đại diện của các dân tộc bị áp bức đấu tranh cho quyền được làm người, quyền được sống trong bình đẳng và tự do.

Được trang bị phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin và bằng trải nghiệm thực tiễn, Hồ Chí Minh đưa ra những phát kiến ở tầm thời đại về con đường cứu nước và phương hướng dựng nước của dân tộc Việt Nam: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Hồ Chí Minh có hệ thống quan điểm hết sức sáng tạo về phương thức giải phóng, đó là cách mạng thuộc địa phải tiến hành một cách chủ động, sáng tạo, không thụ động trông chờ vào cách mạng chính quốc và sẽ thành công trước cách mạng chính quốc. Thực hiện tư tưởng của Người, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập, tự do mà thắng lợi của nhân dân Việt Nam còn góp phần làm tan vỡ hệ thống thuộc địa trên quy mô toàn thế giới. Vì thế, Hồ Chí Minh được mệnh danh là người đã đẩy bánh xe lịch sử theo hướng tiến bộ. Nhà bác học người Anh Béctơrăng Rútxen đã viết: “Sự nghiệp vô tư và quên mình của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho nền độc lập và thống nhất của Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ nay đã làm cho Người trở thành không những là lãnh tụ của dân tộc Việt Nam mà còn là kiến trúc sư nổi tiếng của thế giới đã thoát khỏi chủ nghĩa thực dân”.

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh kết tinh những giá trị vĩnh hằng của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Thế giới tôn vinh Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa hòa bình bởi Người luôn nỗ lực giải quyết xung đột với dân tộc khác bằng con đường đối thoại văn hóa, khi buộc phải tự vệ thì Người chủ động hạn chế không gian chiến tranh ở Việt Nam để bảo vệ hòa bình khu vực và thế giới. Hồ Chí Minh rất yêu chuộng hòa bình nhưng đó phải là hòa bình thực sự-hòa bình trong độc lập, tự do bởi đúng như Người đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Với Hồ Chí Minh, độc lập, tự do không chỉ là mục tiêu chính trị mà còn là giá trị đạo đức. Một con người yêu nước, một dân tộc có lòng tự tôn sẽ không cam tâm sống cuộc đời nô lệ. Khi thế giới còn đầy rẫy sự bất công, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý lớn của thời đại.

3. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện khát vọng đoàn kết và hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc.

Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên khẳng định: “Cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mạng thế giới. Ai làm cách mệnh trên thế giới đều là đồng chí của dân An Nam”. Có thể coi đây là khởi phát của chiến lược đoàn kết quốc tế của Người. Cần nhấn mạnh rằng, chiến lược ấy ra đời không chỉ vì mục tiêu chính trị mà còn xuất phát từ tình cảm đồng loại: “Quan sơn muôn dặm một nhà/ Vì trong bốn biển đều là anh em”. Tình cảm ấy ở người cộng sản Nguyễn Ái Quốc hết sức sâu đậm nên từ năm 1923, nhà thơ Xô viết Ôxip Manđenxtam đã cảm nhận: “Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy được ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”.

Khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người không ngừng giáo dục nhân dân về tình hữu nghị, về đạo lý “giúp bạn là tự giúp mình”. “Chiến tranh lạnh” đẩy các quốc gia vào thế “đối đầu” nhưng Hồ Chí Minh vẫn kiên trì khẳng định: “Các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”. Hồ Chí Minh là người luôn tìm cách quy tụ thay cho loại trừ, luôn nỗ lực tìm ra “mẫu số chung” chứ không “khoét sâu” sự khác biệt. Với tinh thần “tìm sự thống nhất trong đa dạng”, Hồ Chí Minh không chỉ là người có tư duy quốc tế hiện đại, tinh thần khoan dung văn hóa mà còn là đại sứ của Việt Nam trên toàn cầu.

4. Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần đổi mới và hội nhập-xu thế lớn của thời đại ngày nay.

Hồ Chí Minh là người đặc biệt nhạy bén với cái mới. Người định nghĩa cách mạng cũng từ góc độ này: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”. Trung thành với Chủ nghĩa Mác nhưng Người vẫn đặt câu hỏi: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”. Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng mà còn phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin bằng một loạt luận điểm mới, phù hợp với cách mạng Việt Nam. Lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người căn dặn cán bộ tuyệt đối không được giáo điều, bảo thủ. Trong "Di chúc" để lại, mặc dù không trực tiếp sử dụng khái niệm “đổi mới” nhưng Người đã phác thảo một chiến lược đổi mới trên nét lớn và căn dặn: “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Sự nghiệp đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề xướng đã trở lại đúng tinh thần đó và thành tựu do đổi mới mang lại thực sự vĩ đại. Đó là minh chứng cho khả năng dự báo chiến lược của Hồ Chí Minh. Khi thế giới đang phát triển với tốc độ nhanh chưa từng có như hiện nay, tư tưởng đổi mới của Hồ Chí Minh càng trở nên ý nghĩa.

Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Ngay khi nhà nước cách mạng mới ra đời và chưa được quốc gia nào công nhận, chủ trương mở cửa, kêu gọi đầu tư đã được Người khẳng định trong “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” (tháng 12-1946). Trong thương mại quốc tế, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Việt Nam sẽ giao dịch với tất cả các nước nào trên thế giới muốn giao dịch với Việt Nam một cách thật thà”. Ngày nay, hội nhập quốc tế toàn diện đã trở thành xu thế tất yếu nhưng vào thập niên 1940, chủ trương của Hồ Chí Minh về hợp tác kinh tế với các nước có sự khác biệt về ý thức hệ và thể chế chính trị, thực sự là tư duy hết sức mới mẻ, tiến bộ.

5. Tư tưởng văn hóa-đạo đức Hồ Chí Minh không chỉ thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc mà còn để lại hình mẫu về văn hóa làm người.

Với Hồ Chí Minh, văn hóa không phải là cái gì quá cao siêu mà phải trở thành “văn hóa đời sống”, tức là văn hóa phải góp phần loại bỏ những gì lạc hậu, dốt nát, phù hoa, xa xỉ trong tập tục và nâng cao dân trí để mỗi người giải phóng hết “năng lực người” của mình.

Hồ Chí Minh rất sâu sắc khi cho rằng, việc tiếp thu văn hóa nhân loại phải song hành với việc quảng bá văn hóa dân tộc vì ngoài vấn đề lợi ích thì đó còn là sự dâng hiến theo tinh thần “mình đã hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng”. Hàm chứa những quan điểm hết sức sâu sắc, cho nên, UNESCO đánh giá: Tư tưởng Hồ Chí Minh “là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”.

Hồ Chí Minh còn là nhà tư tưởng đặc biệt quan tâm đến đạo đức. Nói về tầm quan trọng của đạo đức, Hồ Chí Minh luôn khẳng định đạo đức là cái gốc của con người, là sức mạnh của người cách mạng và Đảng cách mạng, là điều kiện để con người vươn tới tài năng, là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của học thuyết cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cao nhất chính là suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, hạnh phúc của nhân dân và nhân loại.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh giàu sức thuyết phục không chỉ bởi đặc tính khoa học, nhân văn mà còn vì cuộc đời “trong như ánh sáng” và sự hiến dâng trọn vẹn cho dân, cho nước của Người. Không chỉ nhân dân Việt Nam, các trí tuệ lớn của thời đại cũng đã thừa nhận: "Nói tới một con người mà cả cuộc đời mình đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Hồ Chí Minh". Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và đạo đức Hồ Chí Minh-mẫu mực điển hình về sự trong sáng, cao thượng, luôn hòa quyện trong nhau và có ý nghĩa thời sự rất lớn đối với một thế giới nhiều nghịch lý hiện nay.

Thế giới ngày càng giàu có và hiện đại nhưng do sự phát tác thái quá của chủ nghĩa cá nhân, sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng giữa các tầng lớp và dân tộc, không ít người đã rơi vào khủng hoảng lẽ sống, niềm tin. Điều đó dẫn đến sự gia tăng bạo lực và lối sống lệch lạc của một bộ phận dân chúng. Đến mức, có người dùng cụm từ “dã man trong văn minh” để nói về thế giới hiện đại. Sinh thời, Thủ tướng Ấn Độ Nêru đã kết luận rất đúng rằng: “Thế giới ngày nay đang trải qua một cuộc khủng hoảng... Cái cần bây giờ là tiếp cận hòa bình, hữu nghị và tình bạn. Hồ Chí Minh là biểu tượng cho sự tiếp cận đó”. Tư tưởng nhân văn-đạo đức Hồ Chí Minh với triết lý nhân sinh “chính tâm và thân dân” sẽ đánh thức phần “thiện” trong mỗi con người, giúp họ tìm ra lẽ sống đúng đắn và cách hành xử hợp đạo lý để có được hạnh phúc đích thực.

Năm tháng trôi qua nhưng Hồ Chí Minh “không phải là một kỷ niệm của quá khứ. Người là một con người diệu kỳ cho tất cả mọi thời đại”. Đó là sự đánh giá xác đáng mà nhân loại đã dành cho Bác Hồ của chúng ta.

VIỆT NAM TRONG SỰ NHÌN NHẬN CỦA BẠN BÈ QUỐC TẾ

 

1. Việt Nam nằm trong top 20 quốc gia đẹp nhất thế giới do độc giả tạp chí du lịch nổi tiếng của Anh - Rough Guides bình chọn 2014.

2. Việt Nam là điểm đến di sản hàng đầu thế giới do World Travel Awards bình chọn 2022.

3. Việt Nam sở hữu 8 di sản thế giới bao gồm: vịnh Hạ Long, Hoàng thành Thăng Long, thành nhà Hồ, Cố đô Huế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, khu danh thắng Tràng An, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

4. Việt Nam có tới 5 địa danh (Hà Giang, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Ninh Bình, Vịnh Hạ Long - Quảng Ninh, Quy Nhơn) lọt top 20 điểm đến hàng đầu thế giới 2020.

5. Thủ đô Hà Nội là điểm đến nghỉ dưỡng thành phố hàng đầu thế giới do World Travel Awards bình chọn 2022, thành phố có ẩm thực ngon nhất Châu Á do chuyên trang du lịch nổi tiếng SkyScanner bình chọn.

6. Thành phố Hồ Chí Minh xếp thứ 4 trong danh sách 50 thành phố có ẩm thực đường phố ấn tượng nhất thế giới do tạp chí CEOWORLD (Mỹ) bình chọn 2019.

7. Phú Quốc là điểm đến biển đảo thiên nhiên hàng đầu thế giới do World Travel Awards bình chọn 2022.

8. Vịnh Hạ Long đứng đầu bảng xếp hạng top 10 vịnh biển đẹp nhất hành tinh do trang mạng du lịch nổi tiếng thế giới Touropia bình chọn.

9. Hang Sơn Đoòng được nhóm thám hiểm hang động Anh - Việt cùng tạp chí Nationnal Geographic công bố là hang động đá vôi lớn nhất thế giới năm 2009, được tổ chức kỷ lục thế giới Guinness ghi nhận là hang động tự nhiên lớn nhất thế giới 2013, xuất hiện trong bộ phim “Pan và vùng đất Neverland” của Hollywood.

10. Việt Nam đã có quan hệ chính thức với 189/193 quốc gia; đã ký 15 hiệp định thương mại tự do - FTA (năm 2020 phê chuẩn và triển khai hiệu quả EVFTA; tham gia ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP và ký FTA Việt Nam - Anh), đang đàm phán hai FTA; có 79 nước đã công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường .…Trong bảng xếp hạng về Đổi mới sáng tạo toàn cầu của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam thăng hạng liên tục. Năm 2020, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam vẫn duy trì được thứ hạng khi xếp thứ 42/131 nền kinh tế và xếp thứ 3 trong ASEAN. Bên cạnh đó, Liên hợp quốc thăng hạng Chính phủ điện tử Việt Nam năm 2020 thêm 2 bậc so với năm 2018, xếp hạng 86 trên tổng số 193 quốc gia và xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Ngoài ra, các chỉ số về môi trường kinh doanh theo bảng xếp hạng về Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) giai đoạn 2016 - 2020 tăng 20 bậc, xếp thứ 70/190 quốc gia; năng lực cạnh tranh toàn cầu theo xếp hạng của WEF giai đoạn 2018 - 2020 tăng 10 bậc, từ 77 lên 67/141 quốc gia. Năm 2020, Việt Nam cũng ghi dấu ấn tượng khi lần đầu tiên có mặt trong danh sách các nền kinh tế “tự do trung bình” trong xếp hạng Chỉ số tự do kinh tế do Quỹ Di sản công bố (2021), hiện Việt Nam đứng thứ 17 trong số 40 nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và điểm tổng thể của Việt Nam cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Trong khi đó, theo Báo cáo chỉ số quyền lực mềm toàn cầu năm 2021, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khối ASEAN thăng hạng. Báo cáo Chỉ số Logistics thị trường mới nổi 2021 do nhà cung cấp dịch vụ kho vận hàng đầu thế giới Agility công bố, Việt Nam đã tăng 3 bậc xếp hạng so với năm 2020, đứng ở vị trí thứ 8 trong top 10 quốc gia đứng đầu. Mới đây nhất, Tổ chức Xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings đã thông báo quyết định giữ nguyên hệ số tín nhiệm của Việt Nam ở mức BB, nâng triển vọng từ “ổn định” lên “tích cực”. Năm 2020, kinh tế Việt Nam có quy mô thứ 40 trên thế giới, thứ 4 trong ASEAN và bình quân GDP/người đứng thứ 6 trong ASEAN. Fitch đánh giá kinh tế Việt Nam tiếp tục tỏa sáng với mức tăng trung bình 6,5% trong vòng 10 năm tới./.

VINH DANH "TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH"

 

“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Những chiếc xe từ trong bom rơi
Đã về đây họp thành tiểu đội
Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới
Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:
Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Hầu như ai trong chúng ta cũng đã từng học qua bài thơ này, đó là bài thơ “Tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật (bài thơ đã được nhạc sỹ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành bài hát cùng tên), nhưng có lẽ không nhiều người biết rằng “nguồn cảm hứng” và “nguyên mẫu” của bài thơ ấy chính là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Đại tá Công giáo Giuse Đỗ Văn Chiến.

Chàng trai Giuse Đỗ Văn Chiến sinh ra tại Hải Hậu, Nam Định. Đây là một vùng quê Công giáo từng che chở cho bộ đội thời chống Pháp, cất giấu vũ khí và không ít người lính từ vùng quê này tham gia lực lượng Việt Minh. Tháng 9/1966, vợ của anh Chiến sinh con giữa lúc chiến trường miền Nam vào giai đoạn khốc liệt… Anh Chiến nói với vợ rằng: đất nước lâm nguy, là một người con của Việt Nam, anh không thể thờ ơ, mong rằng Chúa sẽ soi đường, giúp anh bình an trở về với vợ con khi Tổ quốc hòa bình. Anh Chiến trở thành chiến sĩ đoàn 559 lái xe Trường Sơn tại tỉnh Khăm Muộn ở nước bạn Lào. Từ năm 1966 đến 1979, người lính Giuse Đỗ Văn Chiến đã tham gia hơn 700 chuyến xe, vượt qua bão táp bom đạn… Có lần, đoàn lái xe của anh bị tập kích tại ngã ba Phu Kheng, anh điều khiển xe trú ẩn theo lệnh của chỉ huy rồi lao ra ngoài bom đạn cứu đồng đội. Nhưng tiếc thay, những người đồng đội của anh đã hy sinh và thịt nát xương tan dưới bom đạn. Anh và các đồng đội làm lễ truy điệu nhanh và anh cầu nguyện cho đồng đội xong rồi tất cả lại lên đường. Cứ mỗi khi bắt đầu chuyến đi, anh thường dành một chút thời gian để cầu nguyện. Anh bảo với đồng đội rằng “Tớ là người Công giáo và tớ yêu đất nước này”. Anh Chiến có rất nhiều đồng đội theo đạo Phật, đạo Mẫu, .… Dù có theo tôn giáo nào, anh và các đồng đội đều đặt mục tiêu rằng sẽ sẵn sàng hy sinh cho Tổ quốc. Năm 1968, sau khi trả hàng hóa tại điểm tập kết. Anh Chiến và đồng đội bị địch tập kích bất ngờ. Anh bị đứt rời ngón tay, đồng đội của anh bị thương dập mu bàn tay, còn chiếc xe Zil 3 cầu 157 nát tươm, vỡ toang kính xe, mặc dầu vậy các anh vẫn bình tĩnh phóng xe giữa làn bom đạn. Các anh tâm niệm phải quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ dẫu có phải hy sinh và nếu xe mình có bị nổ tung thì khi đó máy bay địch sẽ rút đi, tạo điều kiện để các xe khác an toàn về đích …. Mùa Giáng Sinh 1969, vào ngày Quốc phòng toàn dân và kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1969, anh Giuse Đỗ Văn Chiến được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành người lính Công giáo đầu tiên được phong tặng danh hiệu cao quý này./.

Cảnh giác với hiện tượng lợi dụng, xuyên tạc hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

 

Gần đây, trên không gian mạng xuất hiện ngày càng nhiều tài khoản TikTok, Facebook, YouTube... với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Màu xanh biên cương”; “Bộ đội của dân”...

Thoạt nhìn, không ít người lầm tưởng đó là tài khoản chính thức của một cơ quan, đơn vị nào đó trong Quân đội, song kỳ thực không phải như vậy. Đây là những trang cá nhân đang lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để "câu view", "câu like", đánh bóng tên tuổi, bán hàng, xuyên tạc... nhằm thu hút và “thao túng tâm lý” người xem. Đáng lo ngại hơn là một số cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận một cách thấu đáo hiện tượng này, đã vội vàng ủng hộ bằng cách nhấn yêu thích, thả tim và có những bình luận tỏ ra a dua, đồng lõa.

Chiếc áo không làm nên thầy tu

Qua theo dõi và tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng các trang này phần lớn là của những người thiếu hiểu biết về Quân đội, trong đó có không ít bạn trẻ đã lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để kiếm tiền một cách bất chính. Đáng nói là mặc dù họ muốn làm giàu nhưng năng lực tư duy lại hạn chế, không có khả năng sáng tạo nội dung mà thường xuyên cóp nhặt, cắt ghép, dàn dựng, đăng tải những thông tin, hình ảnh làm sai lệch bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa:VTV 

Việc một số cá nhân lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để trục lợi ngày càng nhiều trên không gian mạng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín, danh dự của cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Còn nhớ, đầu tháng 7-2023, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất hiện một đối tượng tự xưng là Phan Quốc Khải, công tác tại Ban CHQS huyện Xuân Lộc, gọi điện cho ông Nguyễn Duy Sáu, chủ cửa hàng dụng cụ nông nghiệp tại huyện Cẩm Mỹ để chèo kéo, môi giới nhằm thực hiện hành vi lừa đảo nhưng bất thành. Ông Sáu cho biết: Họ thường đặt một số mặt hàng giá trị lớn mà cửa hàng không có, sau đó cung cấp một đơn vị khác có những loại hàng hóa trên để chúng tôi đặt mua qua mạng cho kịp thời gian giao hàng và thanh toán bằng hình thức chuyển khoản.

Tiếp đó, trên cổng thông tin chính thức của một số bệnh viện uy tín như: Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Quân y 175, Bệnh viện Quân y 103 cũng đã đưa ra cảnh báo về việc gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều trang, nhóm mạo danh các cơ sở y tế quân sự để thực hiện hành vi chào bán thuốc, thực phẩm chức năng, dịch vụ y tế kém chất lượng, làm tổn hại sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của ngành y học Quân đội. Tất nhiên, các đối tượng này đã bị vạch trần và xử lý theo pháp luật.

Nguy hại hơn, lợi dụng sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), nhiều đối tượng đã giả mạo một số chức danh lãnh đạo, chỉ huy, quản lý của các cơ quan, đơn vị Quân đội để gọi video trực tuyến, nhắn tin qua Messenger, Zalo... “thông báo” đến các gia đình có quân nhân tại ngũ về một số vấn đề liên quan đến pháp luật, kỷ luật như: Làm hư hỏng, thất thoát tài sản chung, phải bồi thường; tham gia cá độ, chơi lô đề, cờ bạc, vay nặng lãi quá khả năng chi trả; mất đoàn kết, gây thương tích... Từ đó đe dọa, buộc gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản để “chạy án”, nếu không sẽ bị “xử lý nghiêm khắc”...

Có thể thấy rằng, trong những vụ việc nêu trên, mặc dù thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo rất đa dạng, tinh vi, xảo quyệt nhưng đều có chung một phương thức, đó là lợi dụng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ để “mua chuộc” lòng tin của nhân dân nhằm phục vụ hành vi lừa đảo. Nếu không tỉnh táo, không chủ động xác minh thông tin kỹ lưỡng, chúng ta sẽ bị đánh lừa bởi những “vở kịch” mà kẻ gian đã công phu dàn dựng, để rồi... “tiền mất tật mang”.

Không dừng lại ở đó, một số tài khoản vốn đã núp bóng Bộ đội Cụ Hồ nhưng lại thường xuyên tuyên truyền xuyên tạc về hình ảnh người quân nhân cách mạng theo kiểu “ăn không nói có”, “chuyện bé xé ra to”, “vơ đũa cả nắm”... Đặc biệt, các đối tượng xấu còn thường xuyên giật tít “rất kêu” nhằm kích thích sự tò mò của cộng đồng mạng, dạng như: “Thông tin mật”, “góc khuất của lính”, “ma cũ bắt nạt ma mới”, “sự thật về bộ đội”... Thời điểm đăng tải, tán phát thông tin cũng rất nhạy cảm, nhất là những lúc đơn vị thực hiện nhiệm vụ khó khăn, đột xuất; trước mỗi mùa tuyển quân; trong các kỳ huấn luyện chiến sĩ mới; khi quân nhân chuẩn bị hoàn thành nghĩa vụ quân sự... Từ đó gây tâm lý hoài nghi, dao động, làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào môi trường quân ngũ.

Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Trường Quân sự Quân khu 7 hồi tháng 1-2023. Chỉ vỏn vẹn vài giờ sau khi bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài đăng tải nội dung bịa đặt, sai sự thật về việc một nữ sinh viên bị hiếp dâm tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh trên fanpage UFH Confession, bài viết đã tạo ra “làn sóng” tương tác dữ dội với hàng trăm nghìn lượt tiếp cận, bình luận, chia sẻ. Trong đó có rất nhiều người phản ứng một cách thái quá, mặc dù chưa rõ bản chất của vấn đề. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá. Hậu quả là Tòa án Quân sự Quân khu 7 đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lê Tấn Tài mức án 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đưa trái phép thông tin mạng máy tính” theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Quân đội là trường học lớn của tuổi trẻ. Bên cạnh hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đang ngày đêm ra sức thi đua huấn luyện giỏi, rèn luyện tốt, kỷ luật nghiêm, vẫn còn đó những quân nhân, những cán bộ, đảng viên chưa thực sự gương mẫu, tự giác trong chấp hành điều lệnh, điều lệ, dẫn tới vi phạm các chế độ quy định. Tuy nhiên, cấp ủy, chỉ huy các cấp tuyệt đối không bao che, giấu giếm khuyết điểm mà đã xem xét, xử lý nghiêm minh; đồng thời thông báo rộng rãi để rút kinh nghiệm trong toàn đơn vị nói riêng, toàn quân nói chung. Điều đó lại càng khẳng định bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đúng với tư tưởng: “Quân đội mạnh là nhờ giáo dục khéo, nhờ chính sách đúng và nhờ kỷ luật nghiêm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngọc càng mài càng sáng...

Trong bom đạn, giữa tâm bão hay trên tuyến đầu chống dịch... không có bất cứ nơi nào trên đất nước này vắng bóng Bộ đội Cụ Hồ. Chính bởi gần dân, trọng dân, sẵn sàng hy sinh vì dân mà các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã được nhân dân gửi trọn niềm tin. Do đó, không thể vì một vài sự việc đơn thuần, cộng thêm hành động “hà hơi thổi ngạt” của những đối tượng xấu mà dễ dàng làm lay chuyển tình cảm, phai nhạt truyền thống gắn bó keo sơn, máu thịt giữa quân với dân.

Không chỉ sáng trong lòng nhân dân mà Bộ đội Cụ Hồ còn đẹp trong lòng bạn bè quốc tế. Tinh thần "tương thân tương ái", “lá lành đùm lá rách”, giúp bạn như giúp mình, trong hoạn nạn vẫn dốc lòng, dốc sức giúp đỡ về tài chính, thiết bị, vật tư y tế để nước bạn Lào, Campuchia, Myanmar... chống dịch Covid-19; hay gần đây, trước thảm họa động đất kinh hoàng tại Thổ Nhĩ Kỳ, đoàn cứu hộ của Quân đội ta đã không quản khó khăn, gian khổ, ngày đêm tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai... là minh chứng sống cho những nỗ lực, quyết tâm của cán bộ, chiến sĩ hôm nay trong việc gìn giữ, phát huy truyền thống ông cha.

Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương lần thứ 6, nhiệm kỳ 2020-2025, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã căn dặn: “Quân đội đã làm tốt rồi, nay cần làm tốt hơn nữa”; đã là Bộ đội Cụ Hồ thì phải luôn “chủ động đến với nhân dân, giúp nhân dân những thứ nhân dân cần, hỗ trợ nhân dân những thứ nhân dân thiếu”. Bên cạnh đó, người lãnh đạo cao nhất của Đảng ta cũng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên cần đề cao trách nhiệm, quyết tâm thực hiện “7 dám”: “Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”, để có đủ phẩm chất, năng lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.

Có thể thấy rằng, từ lịch sử đến hiện tại; từ chức năng, nhiệm vụ đến thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, công tác... của Quân đội nhân dân Việt Nam đều hoàn toàn khác xa với những gì mà các TikToker, Facebooker, YouTuber vì bị “đồng tiền làm mờ con mắt” nên đã thường xuyên thêu dệt, đăng đàn một cách phiến diện, làm méo mó cách nhìn của một bộ phận công chúng, nhất là trong cộng đồng mạng về hình ảnh và phẩm chất cao đẹp trong nhân cách người quân nhân cách mạng. Và những hành động đáng xấu hổ, đáng lên án ấy cũng tựa như tư duy tầm gửi, mặc dù đã mang “phận ký sinh”, sống nhờ dinh dưỡng từ “cây mẹ” nhưng chẳng những không làm cho “vật chủ” tốt lên mà còn làm phương hại đến chính “nguồn sống” của bản thân mình.

Để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn tác động tiêu cực của những thông tin xấu độc, sai sự thật đến đời sống tinh thần của bộ đội và nhân dân, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên, công nhân viên, chiến sĩ cần đề cao trách nhiệm trong đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh liên quan đến cá nhân, đơn vị và Quân đội lên các nền tảng mạng xã hội; hay nói cách khác là phải “cắt nguồn cung”, không “tự tạo cớ”, không a dua, cổ xúy, tiếp tay... để đối tượng xấu lợi dụng xuyên tạc, chống phá. Bởi lẽ, Quân đội là môi trường đặc thù nên không phải ai cũng có thể dễ dàng tự do, tự tiện quay phim, ghi hình, chụp ảnh để đăng đàn. Hơn nữa, nếu mỗi người mỗi ngày đều lan tỏa những hình ảnh đẹp, đúng với bản chất người quân nhân cách mạng và thực tiễn những gì diễn ra trong môi trường quân ngũ thì đâu có “tài nguyên” để cho những kẻ trục lợi “chế biến”, nhào nặn?

Hơn ai hết, mỗi quân nhân đều nhận thức sâu sắc được những thông tin, hình ảnh nào là sai sự thật về bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Do đó, bên cạnh việc “cắt cung”, chúng ta cũng cần “giảm cầu” đối với những sản phẩm do các đối tượng lợi dụng tán phát trên nền tảng mạng. Phải tự nâng cao “sức đề kháng” cho chính bản thân, tuyệt đối không tiếp cận, tương tác với những nội dung xấu độc để tránh “nối dài cánh tay” kiếm tiền bất chính của kẻ xấu và âm mưu, thủ đoạn chống phá Quân đội của các thế lực thù địch.

ĐỂ TÊN ĐƯỜNG, TÊN TRƯỜNG NHƯ VẬY COI ĐƯỢC SAO?

 

Ngày 05/01/2022 Ban Tuyên giáo Trung ương đã có công văn số 2224-CV/BTGTW “V/v đặt tên đường, phố, công trình công cộng liên quan một số nhân vật lịch sử còn những ý kiến trái chiều”. Nội dung công văn này nêu rõ: “Cho đến nay, các cơ quan chức năng vẫn chưa làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến hai nhân vật Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký đối với lịch sử Việt Nam. Để tránh dư luận trái chiều, không thuận trong xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương đề nghị các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương khi đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng cần thực hiện nghiêm quy định tại Mục 2, Chương 2 của Nghị định số 91/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng. Cụ thể: Không xem xét lấy tên hai nhân vật nêu trên đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng; chỉ đặt tên “Danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức, có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như của địa phương hoặc có đóng góp đặc biệt cho đất nước, có công lớn trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộc, được nhân dân suy tôn và thừa nhận”. “Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì xem xét chưa đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng”.

          Trong hai nhân vật nêu trên, Trương Vĩnh Ký là nhân vật gây khá nhiều dư luận trái chiều, không thuận trong xã hội. Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1889) là một nhà báo, nhà ngôn ngữ, một quan chức cao cấp trong bộ máy cai trị thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp thế kỷ XIX. Trương Vĩnh Ký bị triều đình Huế khinh bỉ vì làm “tay trong” cho Pháp trong quá trình từng bước biến Việt Nam thành thuộc địa hoàn toàn. Cuối đời, Trương Vĩnh Ký cũng bị Chính phủ Pháp bỏ rơi vì không còn giá trị lợi dụng. Những đóng góp quan trọng giúp Trương Vĩnh Ký nhận được nhiều huân chương khen thưởng của Chính phủ Pháp chính là công trạng giúp Pháp đàn áp phong trào Cần Vương, đánh chiếm Bắc Kỳ, tích cực và ra mặt ủng hộ chính sách “đồng hóa” của thực dân Pháp. Ngay từ khi còn sống, dân gian đã xếp Trương Vĩnh Ký vào hàng ngũ “đại gian thần” cam tâm làm tay sai cho giặc, “chung mâm” với Hoàng Cao Khải, Lê Hoan .... Có nhiều nhân vật lịch sử, lúc đầu bị hiểu nhầm, sau này khoa học lịch sử đã tìm ra những bằng chứng xác đáng để minh rõ công - tội của họ, nhưng đối với Trương Vĩnh Ký, từ khi còn sống cho đến nay, cái nhìn xuyên suốt và nhất quán, cả trong dân gian và hầu hết các nhà sử học đều cho rằng Trương Vĩnh Ký là người có tội với đất nước, dân tộc và thực sự là tay sai đắc lực cho thực dân Pháp. Việc một vài nhà sử học cố tình tuyên truyền Trương Vĩnh Ký “yêu nước theo cách của mình” là hành động “viết lại lịch sử”, một thứ cơ hội đã bị phê phán từ lâu. Nếu cứ lấy lý do “vì thực dân Pháp quá mạnh” nên Trương Vĩnh Ký đành “hùa theo” dù vẫn yêu nước, thì Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... và rất nhiều kẻ tay sai bán nước khác cũng có quyền nhận rằng, chúng là “người yêu nước”(!) và “yêu nước theo cách riêng”(!).

Mặc dầu vậy, sử dụng chức năng tìm kiếm của Google ta dễ dàng thấy có khá nhiều tên đường phố, tên trường học hiện đang mang tên của kẻ bán nước cầu vinh Trương Vĩnh Ký này; chẳng hạn như đó là: đường Trương Vĩnh Ký tại phường Tân Thành (quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh), đường Trương Vĩnh Ký tại huyện Cam Lâm (tỉnh Khánh Hòa), đường Trương Vĩnh Ký tại phường Phước Long (TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), đường Trương Vĩnh Ký tại khóm 6 (phường 7, TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng), đường Trương Vĩnh Ký tại TP. Quảng Ngãi (tỉnh Quảng Ngãi), đường Trương Vĩnh Ký tại TP. Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang), đường Trương Vĩnh Ký tại TP. Bến Tre (tỉnh Bến Tre), đường Trương Vĩnh Ký tại TP. Quy Nhơn (tỉnh Bình Định), đường Trương Vĩnh Ký tại TX. Thuận An (tỉnh Bình Dương), đường Trương Vĩnh Ký tại phường 7 (TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang), …, Trường tiểu học, THCS, THPT Trương Vĩnh Ký (phường 5, quận 11, TP. Hồ Chí Minh), Trường tiểu học, THCS, THPT Trương Vĩnh Ký (170 Hồ Thị Hương, phường Xuân Trung, TP. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai), Trường tiểu học Trương Vĩnh Ký (khóm 8, Nguyễn Viết Xuân, TT. Đăk Đoa, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai), Trường tiểu học Trương Vĩnh Ký (khu phố 6, phường Long Phước, TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước), Trường THCS, THPT Trương Vĩnh Ký (thôn Vinh Đức, xã Đức Minh, huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông), Trường THCS Trương Vĩnh Ký (xã Ninh Hòa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu), v.v…. Tình trạng nhức nhối này đã tạo ra những dư luận trái chiều, không đồng thuận trong xã hội hiện nay, đòi hỏi phải sớm có biện pháp điều chỉnh thích hợp để bảo đảm giá trị hiệu lực thực thi của các văn bản nêu trên. /.

CHIẾN DỊCH LINEBACKER II

 

Trong phim Hà Nội 12 ngày đêm có mô tả lại cảnh một viên tướng chỉ huy Mỹ nói với các phi công rằng radar phòng không của Việt Nam sẽ bị vô hiệu, các phi công chỉ cần bay đến Hà Nội và ném bom như chỗ không người - một nhiệm vụ quá dễ dàng, như là một giấc ngủ tối mà thôi. Đây là một đoạn hội thoại dựa trên một sự kiện có thật. Vị tướng phát biểu chính là tướng John C. Meyer, tư lệnh Chiến dịch Linebacker II - hay Việt Nam gọi là Điện Biên Phủ trên không.

Nhưng không như những gì John C. Meyer đã nói, những phi công B-52 và F-111 đã phải chịu những thiệt hại ngoài sức tưởng tượng bởi radar Việt Nam không hề bị vô hiệu, mà ngược lại còn "khóa cứng" siêu pháo đài bay. Biến những phi công ngạo nghễ hút thuốc trong buồng lái rồi “tim đập chân run”, chứng kiến những cỗ quan tài phủ cờ hoa khi trở về sân bay vào sáng hôm sau… 

Và rồi sau này, khi họp với các phi công ở đảo Guam vào đầu tháng 1/1973, John C. Meyer đã bị các phi công ném vỏ lon nước giải khát, thìa, đĩa với lời nguyện rằng: “Ông đã nói dối chúng tôi và khiến những người đồng đội của chúng tôi tan nát trên bầu trời chết tiệt đó”.

Trích dẫn từ: ‘Like walking on missiles’: US airman recalls the horror of the Vietnam ‘Christmas bombings’ 50 years on – CNN. Vietnam - An Epic Tragedy - Max Hastings

ĐÁNH TRÁO QUỐC HIỆU THỜI NHÀ LÝ

 

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, ở mỗi giai đoạn, nước ta từng có những quốc hiệu khác nhau. Thời đại Hùng Vương đã dựng nên nước Văn Lang, tồn tại từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ 3 trước Công nguyên. Từ năm 208 trước Công nguyên, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương) đặt tên nước là Âu Lạc. Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế (lấy tên hiệu là Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 968, Đinh Bộ lên ngôi Hoàng đế (lấy tên hiệu là Đinh Tiên Hoàng) và cho đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt lớn); Quốc hiệu này duy trì suốt thời Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053). Năm 1054, Lý Thái Tông cho đổi tên nước là Đại Việt và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần. Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Đại Ngu (“ngu” tiếng cổ có nghĩa là “sự yên vui”). Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược toàn thắng, Lê lợi lên ngôi, đặt lại tên nước là Đại Việt; Quốc hiệu Đại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1801). Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên nước là Việt Nam. Cuối thời vua Minh Mạng, năm 1838 quốc hiệu được đổi thành Đại Nam. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc hiệu này đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946. Sau ngày miền Nam được giải phóng (30/4/1975), trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, ngày 02/7/1976 toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định quốc hiệu đó, đưa quốc hiệu Việt Nam trở thành chính thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế.

Chúng ta đều biết về “bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam. Đó là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng văn ngôn không rõ tác giả (một số nguồn cho rằng Lý Thường Kiệt là người viết ra); bản phiên âm Hán-Việt như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phân định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bài thơ này ngân vang trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Tống, có tác dụng khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt, làm cho giặc hoảng loạn. Trong văn hóa, ý nghĩa và giá trị của bài thơ này được người Việt công nhận rộng rãi.

Đã có nhiều bản dịch bài thơ này với những sự bình xét, đánh giá khác nhau, trong đó có bản dịch của nhà thơ Ngô Linh Ngọc như sau:

“Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự

Sách trời định phận rõ non sông

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

Bay hãy chờ coi chuốc bại vong.”

Bản dịch này dường như nhận được sự công nhận chính thức khi đã được đưa vào Tổng tập văn học Việt Nam (tập I, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980) và sách giáo khoa (sách học sinh môn Ngữ văn lớp 8, tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo). Tuy nhiên, đáng tiếc rằng bản dịch này đã dùng quốc hiệu “Đại Nam” dưới thời vua Minh Mạng năm 1838 đánh tráo quốc hiệu nước ta tại thời điểm lịch sử khi bài thơ ra đời dưới thời nhà Lý là “Đại Việt” (cách xa gần 8 thế kỷ). Ngoài ra, còn có những ý kiến trái chiều khi so sánh bản dịch này với các bản dịch khác ….

Với tư cách là bản dịch chính thức của “bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam được tuyển vào Tổng tập văn học Việt Nam và đưa vào sách giáo khoa hiện hành để giảng dạy cho học sinh trong các trường phổ thông mà có sai sót kiến thức lịch sử như vậy thì thật khó chấp nhận, cần sớm có biện pháp điều chỉnh thích hợp./.

Ấm áp nghĩa tình đồng đội

ày gia đình cựu chiến binh (CCB) Lê Đình Thái, ở thôn Hữu Từ, xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì (Hà Nội) khánh thành nhà “Nghĩa tình đồng đội” do Hội Doanh nhân CCB TP Hà Nội phối hợp với Hội CCB TP Hà Nội hỗ trợ, bà con lối xóm ai cũng mừng cho gia đình ông. Sáng hôm ấy, ông Thái dậy thật sớm để nấu nước đón khách và cùng con cháu lau dọn lại ngôi nhà mới vừa hoàn thành. Thỉnh thoảng, ông lại nhắc nhở các cháu lau nhà cẩn thận kẻo dính bẩn vào tường. Trong niềm vui về nhà mới, CCB Lê Đình Thái phấn khởi chia sẻ: “Gia đình tôi cảm ơn hội CCB các cấp và các doanh nhân CCB đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ một phần nguồn kinh phí để gia đình xây dựng lại ngôi nhà mới khang trang, sớm ổn định cuộc sống”. CCB Nguyễn Phóng Sự, thuộc Chi hội CCB thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai (Hà Nội) có hoàn cảnh khó khăn về nhà ở. Nhập ngũ năm 1975, vào miền Nam chiến đấu tại Sư đoàn 565, đến tháng 12-1978, ông Sự phục viên về địa phương, được UBND xã cấp cho một thửa đất tại xóm Trại Mới, thôn Ngọc Than làm nhà ở. Gia đình có 7 nhân khẩu sống trong ngôi nhà cấp 4 làm từ năm 1990, đã xuống cấp nghiêm trọng. Bản thân vợ chồng ông đều già yếu, thường xuyên đau ốm, không đủ khả năng xây mới nhà ở. Vừa qua, với sự giúp đỡ một phần kinh phí của Hội Doanh nhân CCB TP Hà Nội và Hội CCB huyện Quốc Oai, sau một thời gian xây dựng, ngôi nhà đã hoàn thiện đưa vào sử dụng bảo đảm kỹ thuật và mỹ thuật. Ngôi nhà có diện tích mặt sàn 180m2, Hội Doanh nhân CCB TP Hà Nội hỗ trợ 60 triệu đồng, số còn lại gia đình, họ hàng anh em hỗ trợ. Đồng chí Hoàng Mạnh Cường, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Doanh nhân CCB Việt Nam, Chủ tịch Hội Doanh nhân CCB TP Hà Nội nhấn mạnh: “Việc hỗ trợ xây nhà tình nghĩa tặng đồng đội là nghĩa cử cao đẹp của doanh nhân CCB, thể hiện truyền thống đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, hưởng ứng Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, tri ân các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng, đồng thời khơi dậy lòng tự hào và ý thức trách nhiệm của thế hệ sau đối với thế hệ trước”. Trong 5 năm qua, hoạt động tình nghĩa, an sinh xã hội luôn được các hội viên thuộc Hội Doanh nhân CCB TP Hà Nội hưởng ứng nhiệt tình, sôi nổi như: Ủng hộ đồng bào bão lụt miền Trung hơn 645 triệu đồng; ủng hộ công tác phòng, chống dịch Covid-19 hơn 2,7 tỷ đồng; ủng hộ Quỹ "Vì người nghèo" cũng như các hoạt động xã hội của địa phương hơn 2,5 tỷ đồng; hỗ trợ xây nhà "Nghĩa tình đồng đội" hơn 880 triệu đồng... Nguồn: Báo QĐND

Nhận diện và phòng ngừa các thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam hiện nay

 

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, những năm qua, tôn giáo là một trong những nội dung chiến lược được các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội (ANCT, TTATXH), tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng coi đó là một yếu tố quan trọng để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống phá từ bên trong.

Nhận diện các thủ đoạn, phương thức thâm độc

Qua nghiên cứu, có thể khái quát một số thủ đoạn, phương thức cơ bản mà các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo thời gian gần đây để chống phá nước ta như sau:

Một là, chúng tìm mọi cách tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, tích cực thúc đẩy liên kết hoạt động giữa các tôn giáo hòng từng bước biến tôn giáo thành lực lượng chính trị đối trọng với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chúng đẩy mạnh phát triển các hội đoàn tôn giáo, khuếch trương thanh thế, kết hợp với tăng cường truyền đạo trái phép, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở Tây Bắc, Tây Nguyên để tập hợp quần chúng, gây áp lực với chính quyền địa phương. Chúng đã lập ra các hội, nhóm liên kết bất hợp pháp núp dưới danh nghĩa tôn giáo như “Hội đồng liên tôn Việt Nam”,“Hội đồng nhân quyền Việt Nam”, “Văn phòng Công lý-Hòa bình”... để lôi kéo, mua chuộc quần chúng, tín đồ nhằm tập hợp lực lượng tiến hành các hoạt động phá hoại ANCT, TTATXH ở một số địa phương. Đáng chú ý, kẻ địch triệt để đẩy mạnh hoạt động lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, như: Vụ lấn chiếm đất đai trái pháp luật tại Giáo xứ Sở Kiện (Hà Nam); vụ lấn chiếm, chuyển nhượng đất đai trái phép tại Giáo xứ Xuân Hòa (Bắc Ninh); vụ dòng Thiên An lấn chiếm đất rừng ở Hương Thủy (Thừa Thiên Huế)... Thông qua đó, đòi tư hữu hóa đất đai, gây mâu thuẫn giữa các chức sắc, tín đồ với chính quyền, kích động chức sắc, tín đồ tôn giáo cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật, chống người thi hành công vụ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình ANCT, TTATXH tại địa phương...

Hai là, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc” để thâm nhập, lôi kéo, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng thông qua các tôn giáo đã phát triển ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... thực chất là hình thành các tổ chức phản động chống phá Nhà nước ta. Đáng chú ý, gần đây, tổ chức phản động “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” (CHPC) do A Đảo (Sa Thầy, Kon Tum) làm “Giáo hội trưởng” đã kết nối với các đối tượng trong nước tuyên truyền, lôi kéo chức sắc, tín đồ và người dân tập hợp lực lượng, từng bước công khai hóa hoạt động. Chúng móc nối, lôi kéo, hướng dẫn các tín đồ theo đạo Tin lành thuần túy trong nước tham gia các buổi tập huấn trực tuyến về nhân quyền mà thực chất chính là các buổi đào tạo kỹ năng hoạt động “xã hội dân sự”; hướng dẫn phương pháp thu thập, cung cấp các thông tin sai lệch về tình hình trong nước để xuyên tạc, vu cáo ta trên mạng xã hội và các diễn đàn quốc tế.  

Ba là, lợi dụng thần quyền, giáo lý, giáo luật để kích động, ép buộc đồng bào tôn giáo chống lại chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; lôi kéo, kích động tín đồ và nhân dân biểu tình, gây rối để lấy cớ can thiệp từ bên ngoài. Đó là những biểu hiện như hoạt động chỉ đạo, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc ta, kêu gọi đa nguyên, đa đảng, lật đổ chế độ...  

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>
Ảnh minh họa: TTXVN 

 

Bốn là, triệt để tác động, lôi kéo các chính khách cực đoan trong chính trường một số nước để tác động quốc hội, nghị viện các nước này thông qua các báo cáo, nghị quyết, thông cáo xuyên tạc tình hình tôn giáo, dân tộc ở trong nước, vu cáo Nhà nước vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo. Thông qua các cuộc hợp tác song phương, đa phương giữa Mỹ và các nước đồng minh với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế-xã hội để gây sức ép với Việt Nam về dân tộc, tôn giáo, tìm cách gắn “các yêu sách về vấn đề tôn giáo, dân tộc”, “dân chủ, nhân quyền” trong quan hệ song phương, đa phương với Việt Nam; từ đó hòng tìm cách can thiệp vào nội bộ nước ta. Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ráo riết vận động Việt kiều, người nước ngoài ủng hộ kinh phí, vật chất, phương tiện rồi tìm cách đưa vào trong nước để “nuôi dưỡng, hậu thuẫn” các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt, tích cực hơn. Chúng còn móc nối với số cơ hội chính trị trong nước thu thập tin tức, tình hình dân tộc, tôn giáo, việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật, những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở địa phương rồi bóp méo, xuyên tạc trên các diễn đàn, trên mạng xã hội, phương tiện truyền thông nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chủ động, đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, đồng bào có đạo và nhân dân tích cực tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Các lực lượng chức năng đã kịp thời giải quyết bức xúc trong cộng đồng các tôn giáo và nhân dân, ổn định an ninh trật tự tại địa bàn, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật; tranh thủ được sự ủng hộ của đa số quần chúng và đồng bào các tôn giáo. Các bộ, ngành chức năng và các địa phương đã chủ động rà soát hệ thống pháp luật về tôn giáo hiện hành, xác định nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phù hợp thực tế; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, chủ động tuyên truyền đối nội kết hợp với tuyên truyền đối ngoại nhằm tuyên truyền mạnh mẽ về thành tựu của ta trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần đấu tranh, phản bác các luận điệu, thông tin xuyên tạc tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước, vu cáo Nhà nước ta đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền.   

Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác này phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị. Trong đó, tiếp tục chú trọng xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là ở cấp cơ sở vững mạnh, trong sạch, thực hiện tốt hơn dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của các dân tộc; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ; xây dựng LLVT nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Các ban, bộ, ngành chức năng cần tiếp tục chủ động, thường xuyên tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo về chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về tín ngưỡng, tôn giáo và âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá ta thông qua nhiều kênh, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú khác nhau; làm cho tín đồ, chức sắc và người dân hiểu rằng, đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật cũng là bảo vệ tôn giáo chân chính và quyền lợi của chính họ. Để từ đó khuyến khích, thúc đẩy nhân dân, tín đồ, chức sắc tự giác tham gia vào công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo vi phạm pháp luật của kẻ địch. Làm tốt công tác nắm tình hình, phát hiện, phối hợp giải quyết kịp thời, dứt điểm các mâu thuẫn, khiếu kiện, “điểm nóng” liên quan đến dân tộc, tôn giáo, không để lây lan, kéo dài, vượt cấp. Chú trọng đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, phát huy tác dụng của các đoàn thể tôn giáo yêu nước. Kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành vi phát triển các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo, tà đạo, đạo lạ, kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xuyên tạc, chống phá Việt Nam.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và đấu tranh đối ngoại; thông qua các phương tiện thông tin truyền thông, qua kênh ngoại giao, hợp tác quốc tế, làm cho các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân thế giới hiểu đúng, hiểu đầy đủ về chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, kết quả xử lý những vụ việc, đối tượng lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật Việt Nam. Đặc biệt, cần tuyên truyền tới đông đảo quần chúng trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng bản chất hoạt động vi phạm pháp luật của các đối tượng lợi dụng tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua. Vận động nhân dân tích cực ủng hộ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, vu cáo của những phần tử xấu.

Bóc mẽ cái gọi là giải thưởng dành cho người âm ỉ chống phá Việt Nam

 

Chúng ta luôn trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng, bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

1. Một “sự kiện” văn học vừa làm xôn xao văn đàn Việt: Viện Hàn lâm Pháp trao giải thưởng văn học Prix Mondial Cino Del Duca cho Dương Thu Hương, một nhà văn Việt Nam nhưng đã rời bỏ Tổ quốc sang sinh sống tại Pháp. “Sự kiện” tạo ra dư luận trái chiều không chỉ trong văn giới mà lan rộng ra xã hội, vì đây là “giải thưởng” của nước Pháp-một quốc gia có nhiều tác gia văn học lại nổi tiếng văn minh. Giá trị “giải thưởng” lại cao (200.000 euro), chỉ sau giải Nobel. Rất nhiều người băn khoăn: Liệu giải có mang màu sắc chính trị? Có kẻ cơ hội còn “tát nước theo mưa” rằng vì “trong nước không có tự do sáng tạo nên những nhà văn tài năng như Dương Thu Hương bị vùi dập”. Lại có người than thở “muốn mở mày mở mặt với thế giới thì nhà văn Việt Nam phải sang phương Tây”... Vậy bản chất của “giải thưởng” này là gì, việc trao giải có công tâm, khách quan, trung thực hay vì một lẽ gì khác?

Là người Việt Nam, chúng ta vui mừng trước những thành tựu của các văn nghệ sĩ Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài. Đã là người Việt thì ở đâu cũng là đồng bào. Nghĩa “đồng bào” của Việt Nam rất được thế giới chú ý. Dù ở trong nước hay ở ngoài nước, đã là người Việt Nam thì đều coi nhau là người trong một nhà. Thế nên Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới có ngày Giỗ Tổ. Do vậy, người mang dòng máu Việt thành công ở đâu cũng thật đáng quý, đáng tự hào. Dĩ nhiên “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, có người thế này có người thế khác, chắc chỉ có người nào nhạt nghĩa nguồn cội, thờ ơ với lịch sử dân tộc mới đem lòng đố kỵ với thành công của đồng bào mình.

<a title="Báo Quân đội nhân dân | Tin tức quân đội, quốc phòng | Bảo vệ Tổ quốc" style="text-align:center;" href="https://www.qdnd.vn"><img src="https://file3.qdnd.vn/data/images/0/2021/08/11/linh/bannerv2.png" class="vllogo"></a>

Hội thảo quốc tế: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại được tổ chức ngày 6-9-2022. Ảnh minh họa: quocte.vn

Trên thế giới có rất nhiều giải thưởng văn học, mỗi nơi có một tiêu chí riêng nên tất yếu sẽ có dư luận đồng tình hay phản đối. Đó là chuyện bình thường. Giải thưởng mang tên Prix Mondial Cino Del Duca của Viện Hàn lâm Pháp không phải là một giải thưởng chuyên về văn học mà còn trao cho nhiều người ở nhiều ngành nghề khác nhau, mà theo họ là có “đóng góp”. Là công dân Việt Nam, chúng ta tôn trọng việc làm ấy của họ, theo tiêu chí, quan niệm của họ. Tất nhiên, chúng ta cũng tiếp nhận những thông tin về giải thưởng, chất lượng và đóng góp cho sự tiến bộ, văn minh chung của giải thưởng theo quan niệm của chúng ta. Đó cũng là lẽ thường tình. Bởi một trong những căn cứ để hội nhập, toàn cầu hóa mà triết học văn hóa đề ra là “tôn trọng sự khác biệt”.

Ban tổ chức trao giải cho Dương Thu Hương với căn cứ đó là “một nhà văn lớn mà tác phẩm và nhân cách độc đáo chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chúng ta thấy ngay cách dùng các khái niệm là thiếu chính xác, dễ gây ngộ nhận, dễ đánh lừa người đọc. Dương Thu Hương là nhà văn có thể có năng khiếu viết văn nhưng chưa phải là “nhà văn lớn”. Thế nào là nhà văn lớn? Xin phép không định nghĩa ở đây mà chỉ xin nói những điều được thế giới khẳng định. Dương Thu Hương có thể có nhiều “tác phẩm” nhưng rõ ràng bà ta chưa tương xứng với những nhà văn cùng thời, như: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu...; càng chưa thể so sánh với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng... Thế giới, và chính nước Pháp cũng khẳng định, những nhà văn lớn phải là những nhà tư tưởng, thì chỉ có là những Victor Hugo, Balzac... Nói Dương Thu Hương là “nhà văn lớn” thì vô hình trung lại hạ thấp những bậc đại văn hào ấy sao (?). Bà ta có thể có “cá tính” chứ chưa thể là “nhân cách độc đáo”.

Cũng không thể nói tác phẩm của Dương Thu Hương “chứa đựng thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại”. Chủ nghĩa nhân văn nào thì cũng hướng con người tới chân-thiện-mỹ. Trong khi đó, một số “tác phẩm” đã công bố của Dương Thu Hương thì không như vậy. Thậm chí với thái độ bất mãn, hằn học, cực đoan, bà ta thể hiện rõ sự khinh bỉ, rẻ rúng, hạ thấp con người. Những cuốn sách (chứ không thể gọi là tác phẩm) như “Bên kia bờ ảo vọng”, “Những thiên đường mù”, "Đỉnh cao chói lọi", “Chốn vắng”... của bà ta chứng minh rất rõ điều đó. Nguy hiểm hơn, những cuốn sách này còn hàm chứa nội dung công kích, hạ bệ, phủ nhận thành tựu cách mạng, thể hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam rất tinh vi, nham hiểm.

Xin nói về trường hợp “Đỉnh cao chói lọi” của Dương Thu Hương. Là người có nghiên cứu về tiểu sử, cuộc đời và trước tác Chủ tịch Hồ Chí Minh, sau khi đọc cuốn này, chúng tôi khẳng định đây là cuốn sách xuyên tạc rất ác ý về Bác Hồ. Nhân đây xin cập nhật những đánh giá mới nhất của thế giới về Bác. Cuộc Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh gần đây nhất vào ngày 18-4-2023 tại thủ đô Roma (Italia) có tên “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italia”. Trước đó, ngày 14-5-2022 tại Ấn Độ có Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” (Ho Chi Minh and India) tổ chức ở Kolkata. Trước nữa, tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” (Global Ho Chi Minh) được tổ chức tại thành phố New York (Mỹ). Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp ba luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều khách quan nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người đang được cả nhân loại đón nhận. Thế mà có một người Việt Nam đã đi ngược lại thế giới thì thử hỏi người đó có lương tâm Việt Nam không?

Nhân “sự kiện” về Dương Thu Hương, có người “kêu gọi” cần “cởi trói” cho “tự do sáng tạo” của văn nghệ sĩ. Xin được nói rõ cần hiểu khái niệm “tự do” trong mối quan hệ rộng rãi ở bất kỳ chế độ xã hội nào sẽ đều thấy không có một “tự do tuyệt đối” mà chỉ có tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà văn cũng là một công dân. Dù nhà văn có tài năng đến đâu, khi sáng tạo tác phẩm cũng chịu sự quy chiếu quyền lợi chung của quốc gia, dân tộc, con người. Không thể có chuyện lấy “quyền” nhà văn đi công kích, phủ nhận, chối bỏ dân tộc mình, đất nước mình. Có người còn kêu gọi “tự do tư tưởng” cho văn nghệ sĩ (!). Mục đích của “tự do tư tưởng” chẳng phải là để tìm ra chân lý sao? Ngày hôm nay thế giới càng khẳng định chân lý chẳng phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Điều này Bác Hồ đã nói 67 năm trước (năm 1956): “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân-tức là phục tùng chân lý”. Hãy viết về nhân dân, vì nhân dân, vì đất nước, dân tộc. Đó là tự do của văn nghệ sĩ. Trên thực tế đã có ai cấm hay ngăn cản văn nghệ sĩ quyền tự do sáng tạo theo chân lý ấy đâu?

2. Hôm nay thế giới đã vượt qua quan niệm nhà văn là “thư ký của thời đại” vì cho rằng thư ký là ghi chép thôi nên nhà văn phải là người góp phần “kiến tạo hiện thực”, tức là phải tạo ra một mô hình thế giới riêng. Mô hình này luôn thoát thai từ đời sống nên là mô hình của đời sống chứ không phải bản thân đời sống. Do vậy, chất lượng tác phẩm phụ thuộc chủ yếu vào chủ thể sáng tạo nhà văn. Gọi tác phẩm là “con đẻ tinh thần” của nhà văn là vì thế. Nhà văn sống với đời sống thế nào thì có tác phẩm như vậy. Cho nên “tự do sáng tạo” là khái niệm chỉ mối quan hệ tác giả với đời sống. Chỉ có “tự do” ngụp lặn xuống tận đáy dòng chảy cuộc đời, phải lam lũ sống cùng đời sống nhân dân, vui cái vui, đau cùng nỗi đau của người lao động mới có “vật liệu” để xây dựng tác phẩm. Lịch sử văn chương thế giới cho thấy chưa có nhà văn lớn nào thành công mà thoát ly thực tế đời sống lao động của nhân dân, tách ra khỏi số phận của đất nước họ.

Đạo lý Việt Nam là “Uống nước nhớ nguồn”, “Chim có tổ người có tông”... Người Việt trân trọng những anh hùng liệt sĩ và bao người con ưu tú đã hy sinh cuộc sống vì hạnh phúc của nhân dân, tương lai của đất nước, nhưng cũng khinh bỉ những kẻ vô ơn bất nghĩa. Chúng ta ghi nhớ công ơn những người đã làm nên chiến thắng năm 1975. Họ đã hy sinh một phần tuổi trẻ, có người hy sinh một phần thân thể, có người mãi mãi ngã xuống để mang lại độc lập tự do cho Tổ quốc, mở ra tương lai rạng rỡ cho dân tộc. Nhưng với riêng Dương Thu Hương, trong một lần trả lời phỏng vấn về ngày Giải phóng miền Nam 30-4-1975, thì ngay cách nói của bà ta đã cho thấy bà sớm đi ngược lại dân tộc mình, nhân dân mình: “Mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc”. Như vậy bà ta đã nhận thức sai từ rất sớm, ngay sau ngày giải phóng miền Nam.

Chúng ta trân trọng quá khứ, trân trọng những người góp phần làm nên giá trị Việt Nam, nhưng chúng ta cũng lên án việc làm sai trái của những ai đi ngược lại tương lai tốt đẹp của dân tộc. Trong số đó có bà Dương Thu Hương. Tất nhiên, chúng ta không chấp nhận việc tung hô, cổ xúy những con người như bà Hương. Người Việt rất ân nghĩa, ân tình: “Ăn quả nhớ người trồng cây”. Thế hệ đi trước đã “trồng” cây độc lập tự do, thế mà có những kẻ vô lương đi “chặt” cây ấy thì tất nhiên chúng ta phải lên án thì mới phần nào xứng đáng với tiền nhân. Còn nếu cứ dửng dưng bàng quan thì lại là có lỗi, thậm chí đó cũng là một cách tiếp tay cho kẻ xấu và các thế lực thù địch, phản động chống phá cách mạng Việt Nam.

3. Quay trở lại vấn đề trên thì giải thưởng nói chung ở bất kỳ đâu vì luôn đặt ra tiêu chí, mục đích riêng nên tự giới hạn không gian, thời gian. Do vậy có những giải thưởng không thể tồn tại ý nghĩa lâu dài. Chưa nói tới việc giải thưởng bị lạm dụng ý nghĩa. Ví như giải Nobel tầm quốc tế thế mà có thời điểm còn bị điều chỉnh để thiên về mục đích chính trị. Chúng ta nhớ lại Giải Nobel Hòa bình năm 1973 từng được Ủy ban Nobel trao cho đồng chí Lê Đức Thọ và cho cả ông Henry Kissinger, tức họ “đánh đồng” kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược, để thế giới hiểu rằng người Mỹ “đem lại hòa bình cho Việt Nam” chứ không hề xâm lược. Sự phi lý này, đã qua nửa thế kỷ mà cho đến hôm nay vẫn còn dư luận bàn tán chế giễu, chê bai. Là bạn của nước Pháp, chúng ta tôn trọng họ, ủng hộ những việc làm của họ vì hòa bình, vì tương lai tốt đẹp của nhân loại. Chúng ta coi việc họ trao giải cho Dương Thu Hương là quyền của họ và họ chịu trách nhiệm trước việc làm ấy. Nhưng chúng ta không coi việc đó là có giá trị đối với dân tộc, đất nước Việt Nam chúng ta.