Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

ĐÁNH TRÁO QUỐC HIỆU THỜI NHÀ LÝ

 

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, ở mỗi giai đoạn, nước ta từng có những quốc hiệu khác nhau. Thời đại Hùng Vương đã dựng nên nước Văn Lang, tồn tại từ đầu thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thế kỷ 3 trước Công nguyên. Từ năm 208 trước Công nguyên, Thục Phán xưng vương (An Dương Vương) đặt tên nước là Âu Lạc. Tháng 2 năm 544, Lý Bí lên ngôi Hoàng đế (lấy tên hiệu là Lý Nam Đế), đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Năm 968, Đinh Bộ lên ngôi Hoàng đế (lấy tên hiệu là Đinh Tiên Hoàng) và cho đổi quốc hiệu là Đại Cồ Việt (nước Việt lớn); Quốc hiệu này duy trì suốt thời Đinh (968-979), Tiền Lê (980-1009) và đầu thời Lý (1010-1053). Năm 1054, Lý Thái Tông cho đổi tên nước là Đại Việt và quốc hiệu Đại Việt được giữ nguyên đến hết thời Trần. Tháng 3 năm 1400, Hồ Quý Ly lập ra nhà Hồ và cho đổi tên nước thành Đại Ngu (“ngu” tiếng cổ có nghĩa là “sự yên vui”). Sau 10 năm kháng chiến (1418-1427), cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược toàn thắng, Lê lợi lên ngôi, đặt lại tên nước là Đại Việt; Quốc hiệu Đại Việt được giữ qua suốt thời Hậu Lê (1428-1787) và thời Tây Sơn (1788-1801). Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, mở đầu thời Nguyễn và cho đổi tên nước là Việt Nam. Cuối thời vua Minh Mạng, năm 1838 quốc hiệu được đổi thành Đại Nam. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quốc hiệu này đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946. Sau ngày miền Nam được giải phóng (30/4/1975), trong kỳ họp đầu tiên của Quốc hội nước Việt Nam thống nhất, ngày 02/7/1976 toàn thể Quốc hội đã nhất trí lấy tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 tiếp tục khẳng định quốc hiệu đó, đưa quốc hiệu Việt Nam trở thành chính thức cả về pháp lý lẫn trên thực tế.

Chúng ta đều biết về “bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam. Đó là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng văn ngôn không rõ tác giả (một số nguồn cho rằng Lý Thường Kiệt là người viết ra); bản phiên âm Hán-Việt như sau:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên phân định tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bài thơ này ngân vang trong cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Tống, có tác dụng khích lệ tinh thần quân sĩ Đại Việt, làm cho giặc hoảng loạn. Trong văn hóa, ý nghĩa và giá trị của bài thơ này được người Việt công nhận rộng rãi.

Đã có nhiều bản dịch bài thơ này với những sự bình xét, đánh giá khác nhau, trong đó có bản dịch của nhà thơ Ngô Linh Ngọc như sau:

“Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự

Sách trời định phận rõ non sông

Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?

Bay hãy chờ coi chuốc bại vong.”

Bản dịch này dường như nhận được sự công nhận chính thức khi đã được đưa vào Tổng tập văn học Việt Nam (tập I, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980) và sách giáo khoa (sách học sinh môn Ngữ văn lớp 8, tập 2, bộ sách Chân trời sáng tạo). Tuy nhiên, đáng tiếc rằng bản dịch này đã dùng quốc hiệu “Đại Nam” dưới thời vua Minh Mạng năm 1838 đánh tráo quốc hiệu nước ta tại thời điểm lịch sử khi bài thơ ra đời dưới thời nhà Lý là “Đại Việt” (cách xa gần 8 thế kỷ). Ngoài ra, còn có những ý kiến trái chiều khi so sánh bản dịch này với các bản dịch khác ….

Với tư cách là bản dịch chính thức của “bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam được tuyển vào Tổng tập văn học Việt Nam và đưa vào sách giáo khoa hiện hành để giảng dạy cho học sinh trong các trường phổ thông mà có sai sót kiến thức lịch sử như vậy thì thật khó chấp nhận, cần sớm có biện pháp điều chỉnh thích hợp./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét